Tam Tòng Tứ Đức

Phụ nữ Việt Nam không bị thiêu sống để chết theo chồng trên dàn lửa như phụ nữ Chàm và Ấn Độ. Phụ Nữ Việt Nam không phải che mặt như phụ nữ theo Hồi giáo. Phụ Nữ Việt Nam không phải bó chân như phụ nữ Trung Hoa. Đằng khác mọi sách lược đồng hóa người Việt vào khối Trung Quốc chưa bao giờ hoàn toàn thành công, kể từ những quan thái thú Tích Quang, Nhâm Diêm sang khai hoá cũng đều do công quả của phụ nữ Việt Nam. Tổ chức gia đ́nh, tục lệ cưới hỏi phải có sự mối mai không bao giờ bám rễ vào đại đa số quần chúng nông thôn. Trai gái thường vẫn gặêp gỡ nhau trong các kỳ lễ hội thàng ba ngày tám, rồi tiến tới hôn nhân. Chính v́ tục lệ này mà Tổng Tiết tướng của nhà Ngô thời Tam Quốc, sang kinh lư đất Giao Châu đă làm sớ tâu lên Tôn Quyền nhà Ngô là những thành quả khai hóa của các thái thú đời trước đă bị xóa nḥa. Truyện này chép trong sử Trung Quốc (Tam Quốc Chí, quyển 53).

Cho tới đời nhà Nguyễn, một triều đại triệt để theo Trung Quốc, không những xây cung điện theo mẫu mực cấm thành Bắc Kinh, mà c̣n duy tŕ tổ chức gia đ́nh theo tậâp tục Trung Quốc. Điều này, theo giới sử học là kết quả của nhiều đời chúa Nguyễn muốn cầu triều đ́nh Trung Quốc phong vương. Có người lại cho rằng do bởi trong phủ chúa Nguyễn có nhiều bà phi người Trung Quốc do những thương gia người Minh Hương cống tiến. Số cung phi này đông đến nỗi trong phủ chúa Nguyễn mọi người dùng tiếng Trung Quốc. Sự kiện này khiến nhiều tập tục theo phụ hệ tuyệt đối dần dần thấm sâu vào những giai tầng quan lại và tiểu tư sản người Việt. Trong khi đó, tại nông thôn, người dân đen vẫn sống trong cảnh chồng một vợ một, cảnh vợ nọ con kia chỉ tthường có trong những gia đ́nh quan liêu phú nông trưởng giả. Người cha trong gia đ́nh nông thôn it ai một ḿnh lo đủ cho gia đ́nh nếu không có vợ cộng tác, ngày mùa thời chồng cầy vợ cấy, nếu không thời cùng nhau hàng xay hàng xáo, trong t́nh cảnh kinh tế đó người chồng người cha khó nắm được phụ quyền tuyệt đối, như người chủ gia đ́nh trong giới phú nông quan liêu.

Trong giới tư sản trưởng giả to åchức gia đ́nh thường coi như là dập khuôn theo lề lối Khổng Mạnh. Điều quan trọng nhất đối với phụ nữ là chữ trinh trưóc khi lấy chồng và chữ tiết đối với chồng khi c̣n sốâng cũng như khi ở goá. Thật ra hai chữ trinh tiết trói buộc người phụ nữ này không phải là giáo điều của Khổng Mạnh mà là lời dậy dỗ của Chu Hi, một nhà Tống Nho, sống sau Khổng Tử cảø ngàn năm. Sau đó là giáo điều tam ṭng tứ đức. Tam ṭng gồm ba điều: tại gia ṭng phụ, xuất giá ṭng phu, phu tử ṭng tử, nghĩa là ở nhà theo theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con trai lớn. Tứ đức gồm công dung ngôn hạnh. Công là phải biết vá may thêu thùa, cỗ bàn nấu nướng, thựng không cần phải biết đọc biết viết. Dung là phải biết trau dồi nhan sắc không phải là lộng lẫy hấp dẫn với ngoài đời nhưng cốt ngon mắt đẹp ḷng chồng. Ngôn là lời nói phải dịu dàng lễ phép mà không cần nói điều giàng buộc. Hạnh là nết ăn ở sao cho trên thuận dưới ḥa. Ngoài ra c̣n cả trăm điều khác mà người con gái nết na phải tôn trọng theo lề lối tục lệ địa phương mỗi nơi một khác. Tục trọng nam khinh nữ tạo ra câu: nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô, cho phép người chồng đi lấy vợ lẽ khi người vợ cả hiếm muộn để người chồng tṛn chữ hiếu, bởi lẽ bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại. Điểm đáng lưu ư là những giàng buộc người phụ nữ tóm tắt trên đây đều là những câu chữ nho du nhập vào thói tục người Việt Nam, và trở thành nền móng truyền thống gia đ́nh của giai cấp tư sản khoa hoạn quan liêu. Tác phẩm chữ nôm nói tớiù truyện nề nếp gia đ́nh là tập Gia Huấn Ca, gồm 796 câu, tục truyền là của Nguyễn Trăi (1380-1442) gồm sáu đoạn, trong đó có bài Dạy Con Gái như sau:

Phận con gái ở cùng cha mẹ
Ḷng phải chăm học khéo học khôn
Một mai xuất giá hồi môn,
Phận bồ liễu giá trong như ngọc.
Khéo là khéo bánh trong bánh lọc
Lại ngoan nghề dệt vóc may mền
Khôn là khôn lẽ phải đường tin
Lại trọn đạo nâng khăn sửa túi
Khôn chẳng tưởng mưu lừa chước dối
Khéo chẳng khoe vẻ lịch chiều trai
Xưa nay hầu dễ mấy người
Miệng khôn tay khéo cho ai được nhờ
Phận làm gái nay lời giáo khuyến
Lắng tai nghe cổ truyện mới nên
Hăy xem xưa những bậc dâu hiền
Kiêm tứ đức dung công ngôn hạnh
Công là đủ mùi sôi thức bánh
Nhiệm nhặt thay đường chỉ mũi kim
Dung là nét mặt ngọc trang nghiêm
Không tha thướùt không chiều lơi lả
Ngôn là dạy tŕnh thưa vâng dạ
Hạnh là đường ngay thảo kính tin
Xưa nay mấy bậc dâu hiền
Dung công ngôn hạnh là tiên phàm trần.

Người nay, đọc Gia Huấn Ca có người nói rằng tác giả tôn vinh người phụ nữ tự ép ḿnh trong ṿng luân lư cổ truyền. Chữ trinh tiết của phái nữ coi ngang với chữ trung nghĩa của phái nam là kỹ thuật đặêt người đàn bà lên bệ cao để tôn vinh điều trói buộc người đàn bà.

Đăng Trần Côn viết Chinh Phụ Ngâm là để ca tụng chữ tiết của người vợ lính, chồâng đi thú phương xa, biết toan tính việc thay chồng thờ cha mẹ chồng biết điều dạy con:

Ngọt bùi thiếp đỡ hiếu nam
Dậy con đèn sách thiếp làm phụ thân

Nhưng tới Nguyễn Du, quan niệm về chữ trinh có phần thay đổi như trong câu 3161:

Chữ trinh c̣n một chút này

mà ông đặt trên môi Thúy Kiều trong đêm tái hợp cùng Kim Trọng, sau muời lăm năm lưu lạc, thanh y hai bận thanh lâu hai lần. Quan niệm vềâ chữ trinh này là một trong những điểm quan trong gây sóng gío trong trựng văn trận bút mấy trăm năm qua. Điều đó cũng là điều Công Tằng Tôn Nữ Thị Nha Trang bàn sâu rộng thêm trong luận án tiến sĩ The Traditional Roles of Womenas Reflected in Oral and Written Vietnamese Literature, trường đại học Berkley tại California nă “The Traditional

Sau Nguyễn Du đến Nguyễn Đ́nh Chiểu viết Lục Vân Tiên. Truyện kể mối t́nh giữa Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga hai người thương yêu nhau trong công thức khoan khoan ngối đó chớ ra, nàng là phận gái ta là phận trai, phản ảnh luân lư Tống Nho. Để rồi, dẫu chỉ gặp nhau một laần, xướùng họa cùng nhau một bài thơng Kiều Nguyệt Nga đă tự vẫn khi chữ trinh chữ tiết nàng dành cho Lục Vân Tiên bị đe dọa. May nhờ Phật Quan Âm ra tay cứu độ, Kiều Nguyệt Nga mới lại cùng Lục Vân Tiên tái hợp. Chữ trinh tiết của Kiều Nguyệt Nga là h́nh ảnh chữ trung nghĩa của Nguyễn Đ́nh Chiểu từ chối không cộng tác với chính quyền thuộc địa đương của người Pháp.

Ngược lại, trong đại quần chúng, người phụ nữ dường như vẫn ở ngoài ṿng trói buộc của những chữ trinh tiết, tam ṭng tứ đức. Truyện cổ từ đời Hùng Vương cho phép công chúa Tiên Dung tự do chọn Chử Đồng Tử làm chồng ngày nàng gặêp chàng trần truồng lộ h́nh dưới cát, khi nàng cũng đang khỏa thân tắm trong ṿng màn quây trướng rủ. Rồi tới công chúa Qùynh Nga đính ưóc cùng Thạch Sanh trong hang Măng Xà Vương. Lại c̣n truyện công chúa Liễu Hạnh trong Vân Cát Thần Nữ Truyện của Đoàn Thị Điệm cũng tự ư đính ước cùng chàng Sinh, hoá thân người chồng trước của công chúa. Theo cổ tục này nhiều thôn nữ vẫn tự do chọn bạn đời. Ngoài việc học may vá cơm nước người gái quê c̣n học buôn học bán tần tảo, ngoài việc tát nước be bờ cấy hái cùng chồng. Ca dao có nhiều câu phàn ánh chân thực tương quan nam nữ như sau:

Nàng về anh chẳng cho về
Anh nắm lấy áo anh đề câu thơ
Câu thơ ba chữ rành rành
Chữ trung chữ tiết chữ t́nh là ba
Chữ trung th́ để phần cha
Chữ tiết phần mẹ đôi ta chữ t́nh.

Rồi khi thắm thiết hơn:

Anh ngỡ ḿnh hăy c̣n son
Chợt đi ngang cửa thấy con ḿnh ḅ
Con ḿnh những trấu cùnh tro
Anh đi lấy nước tắm cho con ḿnh.

Nhưng trong thực tế c̣n nạn cường hào
ác bá, nên c̣n truyện bán vợ đợ con, thế nên thân phận người gái nghèo thôn dă cũng c̣n chịu nhiều điều giàng buộc chặt chẽ hơn người phụ nữ trong giới tư sản
trưởng giả quan liêu.

Hồ Xuân Hương là một nữ thi sĩ của đại chúng Việt Nam vào thời Lê mạt Nguyễn sơ, khoảng cuối thế kỷ thứ 18 sang đầu thế kỳ thứ 19, đă ghi lại trong thơ h́nh ảnh nữ tính và là người đă nói tới nữ quyền đầu tiên trong văn học Việt Nam mà không dùng tới hai chữ nữ quyền. Trái lại Hồ Xuân Hương đă đưa người phụ nữ tới địa vị mẹ thiên hạ mà Lăo Tử đă dùng làm h́nh ảnh của Đạo trong chương 25 và 52 sách Đạo Đức Kinh.

Tới đầu thế kỷ thứ XX, nhân phong trào chống Pháp và cải cách đất nước cũa những nhà nho tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục, phụ nữ được khuyến khích tham gia vào những buổi diễn thuyết về lịch sử, văn học và chánh trị. Phong trào đấu tranh này bị chính quyền Pháp đương thời dập tắt liền sau đó, nên không gây được kết quả cụ thể. Tiếp tới là Phan Bội Châu (1867-1940) là một nhà nho học từng suy nghĩ và hoạt động cho việc giải phóng phụ nữ. Ông viết tuồng Trưng Nữ Vương, vào khoảng năm 1911 khi ông lưu lạc tại Thái Lan, và vở tuồng viết tay đă được lưu truyền từ năm 1913 tại Việt Nam. Chủ ư của Phan Bội Châu là huy động phụ nữ tham gia phong trào chống Pháp. Theo Phan Bội Châu th́ Trưng Trắc v́ thù chồng mà trả nợ nước, Trưng Nhị là người thực t́nh yêu nước dựng cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân nhà Hán.

Tới năm 1917, một khuôn mặt mới tham gia việc cải cách nền giáo dục phụ nữ. Ngựi đó là Phạm Quỳnh (1892-1945) với bài Sự Giáo Dục Đàn Bà Con Gái đăng trên tạp chí Nam Phong. Ư kiến của Phạm Qùnh được giới thượng lưu và trung lưu đương thời, cả nam và nữ phái hoan nghênh nhiệt liệt. Ông là ngựi đầu tiên chủ trương nam nữ b́nh quyền. Theo ông nếu phụ nữ muốn tự lực tự cường th́ cần có một nền học vấn thích ứng bằng không sẽ sa vào hố thẳm lạc hậu. Đằng khác ông đả kích nề nếp cổ hủ không muốn phụ nữ theo đ̣i học hỏi. Từ đó Phạm Quỳnh đề ra kế hoạch giáo dục theo tầng lớp xă hội để giúp người phụ nữ đương đầu với thời đại mới. Ông chia nữ giơiù thành hai: thượng lưu và trung lưu. Ông không nói tới tầng lớp hạ lưu bởi lẽ gia đ́nh của người phụ nữ thuộc giai tầng này cần họ trong công việc kiếm sống hàng ngày. Với giới thượng lưu ông đề nghị mở học việân tư thục như thường lệ cho người trẻ, nhung thêm các lớp đăc biệt cho người quá tuổi đi học. Chương tŕnh bắt đầu bằêng những áng văn quốc ngữ, như Truyện Thúy Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung oán Ngâm Khúc, Lục Vân Tiên. Học sinh xuất sắc được học thêm những truyện Trung Quốc và đôi ba truyện Pháp. Ông nhận xét thêm rằng phụ nữ không có nhiều thời giờ dành cho việc học hỏi, v́ c̣n phải lo chuyện lấy chồng sinh con. Với giai tầng trung lưu, Phạm Quỳnh thấy cần phải cho họ một học vấn thực dụng hơn.Ông đăc biệt chú ư tới đức công. Theo ông là học may vá thêu thùa, thêm chút it toán pháp để ngưởi phụ nữ trung lưu biết cách tính toán sổ sách, nhưng phụ nữ giai tầng thượng lưu được học thêm chút it khoa học thiên nhiên, và phép vệ sinh, cùng sử địa. Phụ nữ phái thương lưu được học tiếng Pháp, nhưng phụ nữ trung lưu chỉ cần học một vốn tiếng Pháp đủ để giao dịch buôn bán với người Pháp. Chỉ vài năm sau, Phạm Quỳnh đi ngược lại chủ trương nam nữ b́nh quyền. Trong bài Giáo Dục Đă Đến Ngày Từ Chức Chăng, ông đả kích phụ nữ muốn cáng đáng những công việc vượt khỏi ṿng gia đ́nh.

Năm 1918, phủ Toàn Quyền Đông Dương cử Phạm Quỳnh vào Nam để chiêu dụ phái cựu học trong Nam cộng tác với
chính quyền Pháp. Phạm Quỳnh đặêc biệt chú ư tới gia đ́nh Nguyễn Đ́nh Chiểu, biểu tượng cho nhóm bất hợp tác. Ông mời được Sương Nguyệt Ánh, con gái thứ năm của Nguyễn Đ́nh Chiểu, nổi tiếng về tài thơ chữ nho và chữ nôm, đứng ra lập tờ Nữ Giới Chung, tờ báo đầu tiên bằng quốc ngữ, xuất bản ngảy thứ sáu hàng tuần, tại Saigon, dành riêng cho nữ giới. Việc tài chánh do Henri Blaquière, chủ nhiệm tờ Le Courrier Saigonnais lo liệu. Trong số ra mắt, ngày 2 tháng 2 năm 1918, Sương Nguyệt Ánh ngỏ lời cám ơn Toàn Quyền Đông Dưông, nguyện cộng tác với chương tŕnh giáo dục bằng quốc ngữ, và hứa không tham gia chính trị. V́ nhiều lư do, trong đó có điểm eo hẹp tài chánh, tờ báo đóng cửa vào cuối năm 1918. Trong giới hâm mộ, Sương Nguyệt Ánh là hiện thân của Kiều Nguyệt Nga trong tác phẩm Lục Vân Tiên của thân phụ bà. Sự kiện một phụ nữ đứng ra đảm dương một tờ báo đương thời, khiến bà có nhiều ngươiø mến kẻ ghét, trong giới nam văn gia.

Trong thập niên 1920, số nữ sinh các trường tiểu học tăng tiến đều đều. Thống kê năm 1930 của chính quyền Pháp tại Đông Dương cho biết có 45,750 nữ sinh trong các trường công tư, hầu hết là con cái tầng lớp thượng lưu và trung lưu. Con số trên, ngày nay thật quá it ỏi so với một dân sốâ trong ngoài 25 triệu dân. Dầu sao, sĩ số trên cũng đủ tạo ra thị trường sách giáo khoa dành cho nữ sinh. Cuốn xuất bản đầu tiên là cuốn Nữ Học Luân Lư Tập Đọc, của Phan Đ́nh Giáp, in 100 cuốn, giá 25 xu một cuốn, tại Hà Nội năm 1918. Trong thập niên kế tiếp, có chừng 25 cuốn sách giáo khoa tương tự liên tiếp xuất bản, thường thường vào khoảng 1000 cuốn, có một dôi cuốn in tới 5000 hay 10,000 cuốn. Nội dung những sách này vẫn dựng theo đường hướng tam cương ngũ thường. Điển h́nh là cuốn Đạo Nam Huấn Nữ cũa bà giáo Đinh Thị Nhiêm. dậy học tại Lạng Sơn. Cuốn sách chia ra lạm 5 tiết mục: ở nhà nghe lời cha, lấy chồng theo chồng, ǵn giữ bào thai, coi sóc gia đ́nh kể cả việc khoan dung với vợ lẽ của chồng và tôi tớ, và sau cùng là chồng chết theo con. Giới Tây học lúc dó so sánh cuốn sách này với lời Napoleon: có hai điều đáng qúy, một là ḷng can đảm của phái nam hai là đức thủ tiết của phái nữ. Tiếp theo là cuốn Nữ Học Thương Hạnh của Đỗ Đức Khôi, xuất bản tại Hà Nôi, sách được sở học chính chọn làm sách giáo khoa, mục đích không ngoài việc dậy cho phụ nữ biết đảm đang nội trợ. Nộâi dung gồm những bài vệ sinh thân thể thường thức; những bệnh truyền nhiễm thông thường; ích lợi của việc mở cửa sổ để ánh sáng vao nhà và cửa thay không khí; giữ giường chiếu sạch sẽ, bếp núc tươm tất; kiêng rượu chè, ăn trứng ăn thịt bồi bổ sức khỏe; tóm lại toàn những điều mà rất it gia đ́nh Việt Nam b́nh dân đạt nổi.

Cuốn Nữ Sinh Độc Bản của Trịnh Đ́nh Rư (1893-1962) xuất bản tại Hải Pḥng năm 1926, cũng noi theo những tiêu chuẩn như hai cuốn trên, nhưng tác giả có lập trường rơ rệt trong những bài viết về lịch sử hay bản tính người Việt Nam. Trong bài thứ nhất ông viết:muốn cho đất nước thoát cảnh ngu dốt không phải chỉ có con trai đi học mà cả con gái cũng phải vậy. Trong nhiều bài khác, ông nêu gương các liệt nữ như bà Trưng, bà Triệu. Trong bài chót, ông kể lại truyện một phụ nữ Nhật Bàn dốc hết tiền dành dụm đệ giúp nhà nưg viết:?muốn trận thủy chiến với hạm đội Nga năm 1904.

Năm 1927, Phan Bội Châu tái hiện trên thương trường sách giáo khoa với cuốn Nữ Quốc Dân Tu Tri, xuất bản tại Huế. Thời gian này cụ đang bị quản thúc tại gia, có lẽ v́ vậy lời cụ nhắn nhủ các nữ độc giả rất kín đáo. Sách vẫn dụa trên khuôn mẫu tam ṭng tứ đức. Tuy nhiên dưới đề mục ngôn cụ đưa ra làm thí dụ sự tích những nữ anh hùng Pháp trong cuộc cách mệnh 1789 và Trung Hoa trong cuộc cách mệnh 1911. Cụ chủ trương phải tuyệt đối phục tùng cha mẹ, nhưng vợ chồng phải cùng nhau chia xẻ việc nhà cũng như việc làng việc nước. Trách nhiệm của người mẹ là nuôi dậy con cái, nhưng không v́ thế sao nhăng việc giúp nước. Sau hết cụ nhấn mạnh về chữ hợp quần. Sách có lời bạt của Huỳnh Thúc Kháng, một khuôn mặt cách mệnh đươề mục

Trong số sách giáo khoa viết cho phụ nữ đương thời có tới 13 cuốn bi coi là sách quốc cấm, tuy nhiên trong đại chúng những cuốn này vẫn được ưa chuộng và truyền tay sao chép lưu hành. Sau các sách giáo khoa dành cho phái nữ, phải kể tới những cuốn sách gia chánh và sách dậy làm bếp và sách dậy vệ sinh thường thức, như việc rửa tay trước khi làm bếp. Loại sách này dĩ nhiên cũng chỉ dành cho giới thượng lưu và trung lưu. Tiếp theo là một vài cuốn sách dậy cách nuôi con, vệ sinh trong truyện pḥng the cùng ngừa bệnh hoa liễu, tỷ như cuốn Nam Nữ Hôn Nhân Vệ Sinh do Nguyễn Văn Khai dịch tái bản lần thứ hai năm 1924 tại Hải Pḥng; cuốn Sản Dục Chỉ Nam của bác sĩ Nguyễn Văn Luyện in tại Hà nội năm 1925; cuốn Hoa Liễu Bệnh Phiếm Đàn của Nguyễn Mạnh Bổng, in tại Hải Pḥng năm 1929. Ngoài những sách này c̣n những cuốn sách dịch từ sách Trung Quốc tỷ như cuốn Lương Y Vị Tế Sanh của nhà Nhị Thiên Đường sản xuiất dầu cù là con cọp, in tới 100 000 cuốn dầy 370 trang. Nhưng giới nho học bảo thủ có nhiều người lên tiếng kết tội những cuốn sách này là loại dâm thư làm đồi phong bại tục.

Đến năm 1930, Trương Hoan xuất bản tại Saigon cuốn Nguyễn Tuyết Hoa gồm năm tập. Bộ tiểu thuyết này có thể là bộ tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên mang chủ đề nữ quyền, trong lập trường nữ giới thượng và trung lưu đương thời. H́nh b́a là h́nh vai nữ chính, mang y phục nửa ta nửa tây, trái cầm một cuốn sách, tay phải dơ cao một lưỡi kiếm. Nàng xuất thân trong gia đ́nh tạm đủ bát ăn, nên cũng được đến trường học nghề dệt. Rồi lần lần, cô Hoa mở được một hăng dệt nhỏ, kết hợp mấy phụ nữ trẻ cùng mấy bà góa cùng học cùng làm nghề dệt và học chữ, kể cả sách tam ṭng tứ đức. Lỗ lăi hăng dệt chia đều. Truyện kể vai chính du hành sang Nhật Bản để thấy tận mắt sự tiến bộ của nước này, rồi mua về mấy máy dệt dể cùng mấy bạn học cách xử dụng máy và tăng số lượng sản xuất. C̣n về ư nghĩa thanh kiếm, th́ phầncuối truyện, vai chính luyện kiếm pháp Nhật Bản để trừ gian diệt ác giúp ích xă hội. Tóm lại h́nh ảnh tay sách tay kiếm là h́nh ảnh ước vọng dấn thân cải cách của giới nữ lưu thời thượng thủa đó.

Ngoài sách báo, trong phong trào nữ quyền c̣n có một số hội phụ nữ. Điều đáng chú ư là hội phụ nữ đấu tiên xuất hiện tại Huế, một địa phương cùng cực thủ cựu, vào năm 1926, với bà Nguyễn Khoa Tùng, với bút hiệu Đạm Phương làm hội trưởng và mang danh hiệu là Nữ Công Học Hội. Hội khai trương ngày 28 tháng 6 năm 1928. Người đọc diễn văn khai mạc không phải là quan thống sứ Trung Kỳ cũng không phải là một vị thượng thư trong triều đ́nh Huế, mà là cụ Phan Bội Châu. Đó làmột hành động chính trị v́ cụ Phan lúc đó đang bị quản thúc tại gia. Trong diễn văn khai mạc, cụ Phan Bội Châu ca tụng việc lập hội, theo gương các nướùc Nhật Bản, Trung Hoa, Anh và Mỹ Quốc. Cụ bàn về mối tương giao tế nhị giữa cũ và mới qua gương sáng của những phụ nữ cổ kim Âu Á. Theo cụ th́ thật là hoàn toàn sai lạc, nếu người phụ nữ Việt Nam hoặc chỉ giam ḿnh trong xó bếp hay mài miệt chắn cạ. Không những chỉ riêng nam giới, mà cả nữ giới, nều có thực tài trong bất kỳ lănh vực nào, th́ thật là sai lầm lớn lao nếu giam hăm họ trong ṿng ràng buộc gia đ́nh. Theo cụ Phan Bộâi Châu th́ trướùc sự sống c̣n của đất nước, nước Việt cũng như phụ nữ Việt không có đườøng nào khác hơn là một sự thay đổi sâu rộng. Tuy nhiên, theo cụ Phan Bội Châu có những sự thay đổi lệch lạc cần phải tránh, tỷ như sự trai gái ôm nhau khiêu vũ theo thói Âu Mỹ, cũng như phung phí tiền bạc vào nước hoa son phấn trong khi đồng bào c̣n đang lo chết đói. Rồi tới việc tranh đấu cho tự do cá nhân, không phải là tự do bỏ bê bổn phận làm chồng làm cha cũng như bổn phận làm mẹ làm vợ.

Cụ Phan Bội Châu nhiều lần vạch ra những điểm khó khăn trên bước trường tồn của Nữ Công Học Hội: hội làhội phụ nữ đầu tiên từ trước tới thời đó, và hội mở ra tại Huế, cố đô thủ cựu của đất nước. Thế nào rồi trong hội cũng không khỏi không xẩy ra những vụ tranh chấp nội bộ khốc liệt.Nhưng, với ḷng nhiệt thành và can đảm, hội đă đạt được nhiều thành quả đáng kể. Trái với lời tiên đoán của cụ Phan Bội Châu cho rằng sự có mặt của nữ giới trên chính trường cũng như trong giới công chức, lúc đó quá sớm với t́nh h́nh Việt Nam, hội viên Nữ Công HoÏc Hội cũng đạt được it nhiều thành quả chính trị và đặt việc tranh đấu nữ quyền xuống hàng thứ hai. Trong năm năm hoạt động, bà hội trưởng Đạm Phương, lúc đầu theo chủ trương của cụ Phan Bội Châu, nhưng sau đó Nữ Công Học Hội dần dần ngả theo một nhóm đấu tranh Quan Hải Tùng Thư, do Đào Duy Anh lănh đạo. Nguyễn Khoa Văn (1908-1954) bút hiệu Hải Triều, con trai của bà Đạm Phương, đứng ra lănh đạo phái cực tả đảng Tân Việt, cũng gia nhập đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930.

Tuy vậy trong vai hội trưởng, Đạm Phương luôn luôn tự giới hạn trong việc mở mang trường sở để nâng cao kiến thức cho phái nữ, bảo vệ trách nhiệm gia đ́nh trong đời sống của người làm mẹ và vào nam ra trung để lập hội phụ nữ. Bà chủ trương phụ nữ phải có một nghề trong tay để có phương tiện tự cường. Nhưng trong chuơng tŕnh giáo dục của hội, người ta chỉ thấy hội dậy cho phụ nữ biết nghê thêu, nghề dệt và nghề trồng dâu nuôi tằm, cùng một đôi bài luân lư, tính toán sổ sách gia đ́nh và văn chương. Theo gương phụ nữ Trung Quốc, bà chủ trương phụ nữ Việt Nam cũng phải được cởi bỏ cái giàng buôc trong chữ tam ṭng. Ngoài Nữ Công Học Hội, tại Huế, Đạm Phương c̣n mở thêm chi nhánh tại Đà Nẵng, Hội An và tại G̣ Công trong Nam.Chi nhánh G̣ Công chuyên chú vào việc xuất bản sách báo với cơ sở mang tên là Nữ Lưu Thơ Quán. Trong một trang quảng cáo, năm 1929, thơ quán có 16 tác phẩm đă xuất bản và 9 tác phẩm sắp phát hành.Trước đó một năm, Đặng Văn Bẩy, một giáo viên tại Vũng Liêm xuất bản một luận văn chừng sáu mươi trang dưới tựa đề Nam Nữ B́nh Quyền. Theo ông, phái triết trung bảo vệ nữ quyền đă thành công trong việc làm giảm bớt ảnh hưởng của Khổng Học khiến sự chênh lệch nam nữ nay đă phai nhạt. Ông phản đối câu nhất nam viết hữu thập nự viết không và đề nghị cho con mang họ cha cùng họ mẹ, nhưng đồng thời ông cũng thấy rằng điều này có thể gây rắc rối trong giấy tờ cũng như việc xưng danh trong thực tế. Về hai chữ trung trinh, ông thấy điều đó không phải là bổn phận riêng của phụ nữ mà cũng là bổn phận của phái nam. Ông dành quá nửa bài luận văn để chỉ trích cảnh chồng chúa vợ tôi trong gia đ́nh. Ông dẫn sách Đại Học cũa Khổng Học để kết luận rằng người chồng phải giữ trọn chữ ḥa, đồng thời người vợ phải giữ trọn chữ thuận. Có vậy gia đ́nh mới tránh được sự đổ vỡ. Sau hết ông chỉ trích sự cha mẹ chọn vợ gả chồng cho con theo lề thói môn đăng hộ đối theo thang giá trị xă hội mà không coi trọng sự hoà hợp của đôi trẻ. Đi xa hơn nữa, ông công nhận quyền chọn vợ chọn chồng là quyền tự nhiên của con trai con gái.

Năm 1929, chính quyền bảo hộ và thuộc địa tại Trung và Nam Kỳbắt đầu đề ư tới việc các đảng phái chính trị thâm nhập các tổ chức giáo dục và xă hội. Thật vậy, trong cuốn Sách Dậy Nấu Ăn Theo Phép Annam xuất bản tại Sài g̣n năm 1929 in trong trang quảng cáo, những câu tuyên truyền, khá lộ liễu, chống chính quyền thuộc địa của Phan Bội Châu, Đào Duy Anh và Trần Huy Liệu. Sở An Ninh Pháp theo rơi sự tiến triển của những học hội phụ nữ từ ngày đầu, nhân đó ra lệnh tịch thu và cấm lưu hành sách báo của những học hội này.

Trong nội bộ, nhiều hội viên lên tiếng chỉ trích lập trường trung độ của Đạm Phương, và đề nghị những cải cách căn bản sâu rộng với chủ trương nữ quyền là tiếng gọi hơp quần của nữ giới chứ không phải là chỉ học trồng dâu chăn tằm. Trong thư trả lời, trên tờ Nữ Công Thường Thức, tháng hai năm 1928, Đạm Phương cho rằng giành quyền tham gia chính trị là mục tiêu dài hạn. Khi người phụ nữ chưa có nghề trong tay, chưa có vốn học vấn vững chắc trong đầu, hai chữ nữ quyền là hai chữ rỗng tuếch in trên giấy. Luận cứ này không làm phe chỉ trích hài ḷng. Trần Thị Như Mẫn, chủ biên tờ Phụ Nữ Tùng San, công nhiên nói ra những điều khác biệt giữa lập trường của Đạm Phưng với lập trường của bà,trong một bài luận vạn dài phân tách và buộc tội tổ chức gia đ́nh thời xưa và đương thời. Việc thủ tiết là bổn phận riêng của phụ nữ, việc cưới hỏi do mối manh và cha mẹ định đoạt, sự kiện người phụ nữ không có nghề trong tay và một vốn học vấn dở dang khiến người phụ nữ không bao giờ thoát khỏi ṿng giàng buộc tam ṭng tứ đức.

Năm 1930-1931, chính quyền thuộc địa phản công. Cả hai phái cực đoan và trung độ cùng thành nạn nhân của cuộc phản công này. Năm 1931 Phương Thanh tức bà Trần Quang Khải thay thế bà Đạm Phương. Nghị viên thuộc địa Trần Bá Vinh, làm môi giới cho nhà nườc tài trợ cho học hội. Phủ Thống Sứ Trung Kỳ chính thức cho phép học hội mở trường, đồng thởi khuyến cáo hội viên nên đề pḥng sự xâm nhập của những kẻ thù của gia đ́nh, xă hội và hoà b́nh. Trên mặt báo, những bài b́nh luận xă hội biến mất và thay thế bằng những trang quảng cáo và dậy nấu ăn. Phương Xuân, một hội viên mới dành nhiều trang ca tụng và bảo vệ tứ đức và công kích nhửng phụ nự theo đ̣i thói tục phương Tây tranh đấu cho tự do b́nh đẳng Học hội trở thành bóng mờ của hội những năm trước rồi tan ră không kèn không trống.

Nh́n mộtcách tổng quát, muời năm tranh đấu cho nữ quyền tại Trung và Nam Việt thực sôi nổi. Tuy nhiên phải nh́n nhận rằng công cuộâc bảo vệ nữ quyến này chỉ dành riêng cho tầng lớp thượng lưu và trung lưu, phụ nữ hàng b́nh dân không được nói tới. Điểm thứ hai là không ít th́ nhiều phong trào đấu tranh cho nữ quyền này đă bị những đảng phái chính trị lợi dụng. Trong thập niên 1930-1940, phong trào tranh đấu cho nữ quyền chuyền tới Hà Nội. Tiểu thuyết của nhóm Tự Lực Văn Đoàn c̣n nhiều cuốn tiếp tục việc đả phá tổ chức gia đ́nh theo lề lối cụ. Đồng thời có nhiều thay đổi trong thời trang phụ nữ. Chiếc áo tứ thân mầu nâu, chiếc váy đen nhường chỗ cho vạt áo mầu, chiếc quần trắng, mái tóc quấn trần thay thế mái tóc đuôi gà, răng đen cạo trắng tạo nên h́nh ảnh người phụ nữ tân thời. Công cuộc tranh đấu cho nữ quyền trong thời gian này là một đề tài c̣n bỏ ngỏ chờ giới chuyên môn nghiên cứu tường tận.

Mười lăm năm sau, dưới chế độ cộng sản ngoài bắc và cộng ḥa trong nam, nam nữ b́nh quyền là điều có ghi trong hiến pháp. Trên thực tế, nữ giới được đi bỏ phiếu như nam giới. Quyền đi bầu này không làm thay đổi cảnh huống của phụ nữ. Lá phiếu trong chính thể đảng trị không có giá trị thực dụng trong việc bảo vệ nữ quyền. Đồng thời, trên khắp nơi trên thế giới, việc bảo vệ nữ quyền chuyển từ địa hạt chính trị sang địa hạt văn hóa. Riêng trong cộng đồng người Việt Nam sống khắp đó đây trên hoàn cầu, vấn đề nữ quyền càng rơ là vấn đề dung ḥa sự khác biệt văn hóa.

Một câu chuyện cần được mở ra đễ cùng nhau bàn căi. .

Tài Liệu Tham Khảo

David Marr, The 1920s Women’s Rights debates in Viet nam, Journal of Asian Studies, vol.35, no.3 1976.