Bài viết của tác giả Từ Uyên được chúng tôi đăng lại. Trong quá trình biên tập lại có một số lỗi chính tả nhỏ chúng tôi mong độc giả hết sức thông cảm.

Vào đúng năm đầu của thế kỷ 20, Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới về chính trị và văn học.

Năm 1900, vua Thành Thái đã lên ngôi được 12 năm và đã bước vào tuổi thành niên (ngài được đặt lên ngôi năm 10 tuổi vua khi vua Đồng Khánh băng năm 1888) và không còn bị các vị phụ chánh chi phối. Các cụ phụ chánh Miên Trinh (Tuy lư vương) Nguyễn trọng Hợp và Trương quang Đản người đã mất, người đã về hưu nên nhà vua đã có thể tự thực hiện nhửng điều mong muốn. Nhưng ảnh hưởng của các đại thần thân Pháp cũng còn nhiều. Đệ nhất giai phi lại là con của Nguyễn Thân cựu phụ chánh thời Đồng khánh và ảnh hưởng của ông này còn rất lớn. Tai mắt của cựu Kinh lược Bắc kỳ Nguyễn hữu Độ, (cha vợ của Đồng Khánh và là người đã giết Phan đ́nh Bình cậu ruột vua Thành Thái v́ nghi kỵ.) còn rất nhiều Cũng v́ lẽ đó các hành động của vua Thành Thái bị theo dơi rât kỹ và nhà vua cũng đã tỏ nhiều hoạt động khác thường: cắt tóc ngắn, lái xe, học tiếng Pháp, thích cải trang vi hành thăm dân, tỏ ra vẻ hiếu sắc và tuyển lựa phụ nữ sung vào đoàn nữ nhạc, thích coi tuồng và đánh trống chầu thành thạo. Bề ngoài có vẻ điên dại khác tác phong các vua khác nhưng Thượng thư Trương như Cương vẫn chú ý nhiều tới các hành động của nhà vua.

Tuy nhiên những lương đống của triều đình cũng vẫn còn. Ba vị đại thần : Đào Tấn người Bình Định, Hoàng giáp Nguyễn thượng Hiền gốc phủ Ứng Ḥa miền Bắc con rể cựu phụ chánh lưu vong Tôn thất Thuyết và Tiến sĩ Khiếu năng Tĩnh một nhân vật đặc biệt nhưng ít được nhắc tới đã đóng góp vào việc đào tạo nên một nhân vật cách mạng nổi tiếng sau này. Mổi người đều có những ư riêng tư nhằm chống đối người Pháp nhưng chưa tìm ra giải pháp.

Trong kỳ thi Hương năm 1897 tại Nghệ An, một tin động trời đã xảy ra: Đầu sứ Phan bội Châu có tiếng văn hay, bị loại không được vào dự vào thi kỳ đệ nhị nhằm các đề thi phú, một môn đắc ư của người trai đã 30 tuổi đã nổi danh về tâm tư kháng Pháp từ thuở nhỏ, đã hướng về Cần Vương và người đã nổi tiếng qua bài hịch Bình Nam Thu Bắc và đã cùng bạn thân Trần văn Lương lập đoàn Sĩ tử cần vương đội chống Pháp từ năm 17 tuổi, nhưng không thành, tạm trở lại với sách đèn tìm học hỏi các vị khoa bảng, đồng thời tìm đồng chí và trong khi ngồi dạy học đã qui tụ được khá nhiều bạn bè tâm huyết..

Nhân khi làm bài phú “Bái thạch vi huynh” lúc theo học Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền và Tiến sĩ Khiếu năng Tĩnh vài năm trước, khi hai vị này còn giữ chức Đốc học Ninh Bình và Đốc học Nam định, người trẻ này đã được các vị này chú ý tới văn tài và hiểu rõ tâm tư muốn làm cách mạng. Nhưng biến cố đã bất ngờ xảy ra. Phan bội Châu bị bạn đống chí Trần văn Lương vô t́nh hay hữu ư giấu vào hành trang của ông khi vào kỳ đệ nhị một số tài liệu về thơ. một môn vào trường ba mới cần thi thố. Và Phan bội Châu bị cấm thi. Các thí sinh khác bị cấm thi không được ai chú ý, nhưng Phan bội Châu bị cấm thi v́ mang tài liệu váo trường thi là một tin trọng đại. Chủ khảo Nguyễn hàm Quang với tước Quang lộc tự khanh và cũng là H́nh bộ Biện lư, bắt buộc phải đệ tŕnh về kinh và đương nhiên Phan bội Châu bị cấm thi vĩnh viễn. Nhưng vị phó chủ khảo lại là Nguyễn duy Miễn đang giữ chức Quốc tử giám tư nghiệp, phụ tá của vị Quốc tử giám tế tửu Khiếu năng Tĩnh nên chắc có những trợ giúp ít nhiều.

Ư thức được Phan bội Châu là người rất cần thiết cho việc lớn nên các quan trong triều phải tìm cách cứu và không những chỉ tìm cách cứu để Phan bội Châu trở thành vô tội được dự thi trở lại, để được đậu đấu và trở thành một nhân vật cần thiết cho con đường cách mạng..

Vai trò quan trọng của cụ Phan bội Châu là gì?

Thời thế tạo anh hùng hay anh hùng tạo thời thế.

Tới 1895 cuộc khởi nghĩa Cần Vương của cụ Phan Đình Phùng tan vỡ, Nguyễn Thân đã thành công. Các nhà yêu nước theo họ Phan người lần lượt bị bắt, kẻ bị tử h́nh, kẻ khác ra hàng, một số khác ra Bắc liên lạc với Đề Thám hoặc qua Trung Hoa trốn lánh hay cầu viện.

Trong thời gian này, một chàng học sinh còn ít tuổi sinh năm 1867 nhưng đã ôm lư tưởng chống xâm lăng qua việc soạn và phổ biến bài hịch Bình Tây Thu Bắc và cũng một thời tham gia kháng chiến với nhóm “sĩ tử cần vương đội ” nhưng không bị bắt. Quê quán tại Đan nhiễm huyện Nam Đàn, bên cạnh phủ Đức Thọ quê hương Phan đ́nh Phùng. Cả hai đều cùng tỉnh cùng họ nhưng không liên hệ gia đ́nh.Nhưng Phan Bội Châu rất hâm mộ và mong ước noi theo con đường khởi nghĩa chống Pháp và như vậy chứng tỏ Phan bội Châu từ tuổi thiếu niên đả là một người yêu nước và chắc chắn bị nhà cầm quyền theo Pháp chú ý. Theo các sách để lại ngoài bài hịch Bình Tây Thu Bắc làm thời trẻ, sau này ông theo học Hoàng giáp Nguyễn thượng Hiền một danh sĩ hai lần á khoa trong các kỳ thi chỉ sau thần đồng khoa bảng Vũ Phạm Hàm. Có thể trong thời gian kháng chiến Hương sơn trong 10 năm, các trường học vùng Nghệ Tĩnh không yên nên Phan bội Châu theo học Nguyễn thượng Hiền lúc này làm Đốc học Ninh Bình chăng. Cũng có sách cho biết Phan bội Châu có theo học Đốc học Nam định Khiếu năng Tĩnh một thời gian.

Và nhờ bài phú “ Bái thạch vi huynh “ làm khi thụ giáo Nguyễn thượng Hiền, vị thày này chú ý và hiểu rõ tâm sự, nên sau này vị thày này cho Phan đọc nhiều sách của Montesqieu và Jean Jacques Rousseau được dịch qua Hán tự như Vạn Pháp tinh lư vàv Xă ước với những tên phiên âm ra Mạnh đức tư cưu và Lư Thoa. Nhờ đó Phan bội Châu bắt đầu làm quen với tư tưởng cách mạng Âu châu.

Phan bội Châu như vậy tài học không dở, tại sao khi đi thi lại phạm tội mang tài liệu vào trường thi và bị cấm thi. Mang tài liệu vào trường thi bị đóng gông, hạ ngục và phạt 100 trượng và bị cấm thi vĩnh viễn. Tài học cao như Phan bội Châu làm sao lại sơ xuất để phạm trọng tội này? Hơn nữa tuy đã thi Hương vài lần nhưng Phan vốn không coi khoa cử làm trọng (lập thân tối hạ thị văn chương) tại sao lại mang tài liệu vào trường thi và đương nhiên phạm tội và bị cấm thi. Rất nhiều giả thuyết đã đưa ra trước nghi vấn về hoàn cảnh gian lận này. Nghi vấn này sau này chắc được sáng tỏ v́ năm 1900 Phan được bộ Lễ tha tội và được nhận cho thi Hương trở lại tại trường Nghệ An và được chấm đậu Giải nguyên.

Tước vị Giải nguyên chưa chắc đã do hoàn toàn do tài học của Phan, qua các giai thoại chúng tôi được nghe và được phối kiểm với hậu duệ của vài nhân vật đã giúp Phan giải trừ oan ức và thi đậu Giải nguyên nên đã được biết qua cuộc thảo luận kín của ba vị: Hoàng giáp Nguyễn thượng Hiền thày học của họ Phan khi đó lănh chức Quốc sử quán toản tu, Phủ doăn Thừa Thiên Đào Tấn và quan trọng nhất Quốc tử giám Tế tửu Khiếu năng Tĩnh. Ba vị trí thức khoa bảng này đang giữ những chức vị quan trọng trong ngành sử, văn, và hành chánh thủ đô không bị tai mắt của nhóm thân Pháp theo dơi, Các vị đã nghĩ rằng trong thời gian nhân dân còn tôn quân và trọng kẻ sĩ, và chỉ có người mang danh khoa bảng thật xuất xắc nhưng đầy tinh thần cách mạng mới có thể trở thành lănh tụ cần vương lần nữa. Và các cụ đã chọn Phan bội Châu và chính Quốc tử giám Tế tửu Khiếu năng Tĩnh đã tŕnh Bộ Lễ xét lại và tha Phan bội Châu khỏi nghi án mang tài liệu vào trường thi và sau đó cụ Đào Tấn khi ra làm Tổng đốc Nghệ Tĩnh cũng như cụ Nguyễn thượng Hiền thúc dục Phan ra thi trở lại. Muốn chắc hơn, cụ Khiếu năng Tĩnh còn tự nguyện nhận làm Chánh chủ khảo khoá thi Hương Nghệ An năm 1900. Các bạn theo tân học thường chỉ nghĩ văn hay chữ tốt nếu xuất xắc hơn người th́ đậu Giải nguyên là lẽ tất nhiên, nhưng sự thực không phải vậy. Văn có hay có giỏi nhưng Chánh Chủ khảo là người hoàn toàn định đoạt chức phận các thí sinh và việc cụ Khiếu năng Tĩnh khi đó tuổi đã cao nhận ra trường Nghệ An chấm thi, nhất định đã có ư chọn Phan bội Châu đậu Giải nguyên. Nhưng tại sao Đào Tấn người Bình Định lại đóng góp đắc lực vào việc giúp đỡ Phan bội Châu. Đào Tấn, gốc Bình Định ắt căm hận Nguyễn Thân, người đã tàn sát và diệt Cần Vương tại Quảng ngăi và Bình Định khiến hai lănh tụ Mai xuân Thưởng và Lê Trung Đ́nh bị hại chắc chắn khiến Đào Tấn căm hận Nguyễn Thân nên cố kiếm người tiếp tục công nghiệp cách mạng. Qua các tài liệu khác nhau được biết Đào Tấn là hậu duệ của Lộc Khê Hầu Đào duy Từ nên rất giỏi về môn hát tuồng và tạo dựng rất nhiều vở tuồng chê trách Nguyễn Thân. Vua Thành Thái cũng thích coi tuồng và mượn cớ tập hát tuồng đã mộ một số nữ nghệ sĩ nhờ Đào Tấn huấn luyện tập tuồng ngoài việc các nữ nghệ sĩ này sẽ trở thành nữ binh trong một cuộc khởi nghĩa trong tương lai. Nhờ vậy Đào Tấn rất gần vua và được vua Thành Thái tin tưởng nên vị vua này chắc đã đóng góp nhiều khi giúp hai vị Nguyễn thượng Hiền và Khiếu năng Tĩnh giải oan cho Phan bội Châu. Và kết quả như mong muốn Phan bội Châu được chấm đậu Giải nguyên. Với tước vị Giải nguyên họ Phan có đủ hành trang học vấn và uy tín của một nhân vật trí thức tiến vào đường cách mạng không mặc cảm. Một điểm nữa chúng tôi nghĩ rằng Phan bội Châu biết rõ chức phận Giải nguyên quan trọng hơn một chức phận sẽ đạt được khi thi Hội và thi Đ́nh v́ khi vào Đ́nh đối, với lối suy nghĩ cuả Phan bội Châu, ông khó có thể đạt được kết quả tốt, có khi còn bị chủ khảo theo hướng thân Pháp cách tuột vị thế Giải nguyên.

Và một anh hùng được coi như cha đẻ ra tư tưởng cách mạng cứu nước đã chính thức ra đời.

Ngay ban đầu năm 1901 chưa đủ thực lực quân sự Phan, đã lại định đánh chiếm Nghệ An như dự tính trước đây, nhân ngày lễ 14 tháng bảy dương lịch mỗi năm, quân Pháp không nghiêm chỉnh canh pḥng v́ vui chơi ngày hội nên canh pḥng sơ khoáng, cách mạng dễ khởi binh, nhưng mưu này bại lộ và may mắn lúc này lại chính cụ Đào Tấn vừa được thăng tới chức Tổng đốc Nghệ Tĩnh nên đã nhận ch́m nội vụ và khuyên Phan nên thận trọng và tìm con đường cách mạng rộng răi hơn. Một tư tưởng cách mạng mới phải h́nh thành và cần được một khoa bảng hướng dẫn v́ tinh thần tôn quân và sùng bái khoa bảng vẫn còn sâu đậm trong nhân dân thời đó.

Phan Bội Châu có xứng đáng để khỏi phụ ḷng tin tưởng của các vị này không/

Chúng ta hăy cùng nhau tìm hiểu các hoạt động của ông từ tuổi thanh niên tới khi bị bắt cóc tại tô giới Pháp rồi bị giải về Việt Nam và bị kết án đại h́nh

Không biết có thể cho rằng Thời thế và các Đại thần yêu nước nhưng bị bó tay đã tạo nên Phan Bội Châu hay không? Nhưng chắc chắn Phan bội Châu nếu đơn côi một ḿnh không thể tự tạo nên Thời thế.

Hoạt động của Phan Bội Châu có thể tóm thâu qua các giai đoạn sau đây:
Đi tìm đồng chí và chiến hữu (1901- 1903)
Tôn dựng Minh chủ. 1903
Xuất ngoại qua Nhật 1905-1908
Tạo phong trào Đông du.1906
Bị trục xuất khỏi Nhật 1909
Hoạt động tại Xiêm và Trung Hoa.. 1908-1925
Bị bắt cóc và giải về Hỏa ḷ Hà Nội.1925
Ra ṭa lănh án.1925
Quản thúc tại Bến Ngự (Huế) 1925-1940

Hành trạng này theo những tài liệu của các nhà viết sử hay khảo cứu vê Phan Bội Châu cả từ hai phía người không cộng sản và người cộng sản không khác nhau nhiều và có thể ghi nhận như sau:

Tiểu sử và các bước đi của Phan Bội Châu trước năm 1900

Ý chí của Phan ban đầu quyết làm cuộc cách mạng bạo động trước hết chống trả quân xâm lược theo lư tưởng của Cần Vương và như vậy vẫn tôn quân. Nhưng sau khi vua Hàm Nghi bị bằt và lưu đầy Phan không tin tưởng vào vương quyền bù nh́n nữa. Thực vậy lúc này vua đương triều Thành Thái và đ́nh thần dưới sự kiềm tỏa của chánh phủ bảo hộ lại thêm ảnh hưởng quyền thế của Nguyễn Thân và Trương như Cương, không một hành động chống đối nào có thể công khai biểu lộ và chưa có cách nào thành tựu được.

Phan bội Châu đi thi được đậu Giải nguyên trường Nghệ An năm 1900 và cũng vào kinh thi Hội năm 1901 nhưng không đậu. Khoa thi Hội và Đ́nh này Ngô đức Kế đậu Tiến sĩ thứ nh́ và Phan chu Trinh đậu Phó bảng. Huỳnh thúc Kháng, Giải nguyên trường Thừa Thiên năm 1900 không thi v́ đang cư tang. Trần quư Cáp chưa đậu ǵ cả. Các vị này sau này cũng đóng góp nhiều vào chính trị và cách mạng Việt Nam. Nổi tiếng nhất sau Phan bội Châu là Phan chu Trinh mà chúng ta sẽ tìm hiểu phần sau.

Nhờ ra Huế thi Hội Phan bội Châu mới bắt đầu quen các vị trí thức cùng dự thi và chắc mới bắt đầu quen biết sơ giao như các bạn đi thi một khoá. Sau đó Phan Bội Châu được học tại Quốc tử giám và có dịp tìm hiểu tư duy của vua đương triều và các quan trong triều đ́nh. Lúc này Ngô đức Kế tuy đậu Tiến Sĩ nhưng không ra làm quan và Phan chu Trinh đã đậu Phó bảng và nhận chức Thừa biện bộ Lễ tương đương với quan ngũ phẩm.

Phan Bội Châu đi tìm đồng chí, thành lập Duy tân hội, Tôn dựng Minh chủ 1901-1904

Năm 1901 Phan nhờ học Quốc tử giám sau khi dự và hỏng kỳ thi Hội năm này nhưng thực ra ông chủ tâm tìm gặp các đồng chí có tước vị để cùng bàn chuyện chống Pháp. Ông gập được Huỳnh thúc Kháng cũng Thủ khoa trường Thừa Thiên năm 1900 nhưng không thi Hội năm 1901 v́ cư tang, Phan châu Trinh tuy đậu Cử nhân thứ ba sau Huỳnh thúc Kháng năm 1900 nhưng đậu Phó bảng khoa 1901 này và đã bước vào hoạn lộ với chức quan nhỏ Thừa biện tương đương ngũ phẩm và chắc bắt đầu thấu hiểu t́nh trạng của quan trường dưới chế độ quân chủ tuy vẫn mang tiếng chuyên chế nhưng thực sự bù nh́n. Trong buổi gập gỡ này còn có Ngô đức Kế cũng đã đậu Tiến sĩ nhưng không ra làm quan. Chưa thấy tài liệu cho biết ông có gập Trần quí Cáp hay không. Lúc này ǵũa các vị này cũng chỉ còn trong t́nh trạng sơ giao ḍ ư, nhưng sau này lại cùng nhau chung sức mong xây việc lớn.

Trong khi Phan bội Châu được Nguyễn Quỳnh đưa đi gập Nguyễn Thành, Phan chu Trinh lại được Hoàng giáp Đào nguyên Phổ cung ứng một số tân thư tương tự như những sách Phan bội Châu được Nguyễn thượng Hiền truyền dạy trước đây. Cùng tham khảo một loại sách mới nhưng hai họ Phan suy nghĩ khác nhau và mỗi người xây dựng nước trên hai con đường khác.

Nguyễn Quỳnh hướng dẫn Phan và Đặng thái Thân, Lê Vơ,Đặng văn Bách tới gặp cụ Tiểu La Nguyễn Hàm nay đổi tên là Nguyễn Thành đang khai thác cơ sở nông trại Nam Thịnh tại Quảng Nam.

Cụ Tiểu La Nguyễn Thành là một chiến sĩ còn sống sót sau ngày tan vỡ của cuộc khởi nghĩa cần vương tại Quảng Nam sau khi các lănh tụ cần vương xứ Quảng là Tiến Sĩ Trần văn Du, và phó bảng Nguyễn duy Hiệu đều thất bại và chịu tử h́nh. Được Nguyễn Thân tha và cho về làm ruộng, Nguyễn Thành bề ngoài tỏ ra làm ăn chăm chỉ nhưng ư chí chống Pháp vẫn còn và vẫn đi tìm đồng chí để tiếp tục việc chống trả kẻ thù ngoại xâm..

Nay thấy có Phan bội Châu tới yết kiến ông rất vui mừng và sau khi có chung ư kiến, hai vị này đầu đồng ư tái lập cuộc chống Pháp tạm tan vỡ vài năm trước..

Và tại đây Phan bội Châu được Nguyễn Thành chỉ cho ba điểm đi tới thành công

THU PHỤC NHÂN TÂM
QUYÊN TIỀN
MUA KHÍ GIỚI
     -Theo Nguyễn Thành-

Hai điểm sau dễ đạt nhưng thu phục nhân tâm là yếu tố quan trọng nhất. Lúc này tư tưởng của Nguyễn Thành đã khác trước v́ đã nhận thấy những khuyết điểm của mọi cuộc bạo động vũ trang do các địa phương tự tổ chức, thiếu liên kết và vũ khí quá đơn sơ nên các cuộc khởi nghĩa cần vương lần lượt tan vỡ. Nay cần các nhân vật mới và các chiến thuật mới.

Nguyễn Thành sau khi thất bại trong công cuộc Cần vương tại Quảng Nam đã được một đồng chí là Đổ đãng Tuyển sưu tầm cung ứng các tài liệu học tập như :” Thiên hạ đại thế luận “ của Nguyễn Lộ Trạch và các sách báo hán tự cuả hai nhà cách mạng Trung hoa đang dùng các biện pháp đổi mới để chống Thanh triều và để đem lại sức mạnh cho Trung Hoa. Hai nhà cách mạng Khang hữu Vi và Lương khải Siêu đang lưu vong tại Nhật, Nguyễn Thành cũng được đọc các sách tân thư qua các bản dịch qua Hán văn của các tư tưởng gia Âu châu nên kiến thức của ông lúc này rất cao thâm và sau này các sử gia cho rằng chính ông sau cuộc khởi nghĩa quân sự cần vương không thành đã chuyển hướng qua cách mạng văn hoá và kinh tế nhằm hỗ trợ các cuộc khởi nghĩa quân sự và cần thu phục nhiều đồng chí với chí hướng mới.

Ông coi Phan bội Châu như người xứng đáng tiếp tục công cuộc cách mạng nên khuyên nhủ và khuyến khích Phan bội Châu rất nhiều.

Muốn thu phục nhân tâm trong giai đoạn này Nguyễn Thành khuyên Phan cần tôn dựng một minh chủ trong hoàng phái v́ ḷng tôn quân của nhân dân còn nhiều, chưa thể một sớm một chiều một nhân vật xuất thân trong nhân dân như Phan bội Châu hay ai khác dù tài giỏi tới đâu cũng chưa thể mang lại niềm tin trong dân chúng. Và để thay thế nhà vua đương triều đang bị tước đoạt quyền hành nhưng có thể vẫn ngầm mang nặng ḷng yêu nước và sẵn sàng từ bỏ ngai vàng khi có thân tộc chịu hy sinh v́ đại nghĩa, Phan và Nguyễn Thành phải tìm một vị trong hoàng tộc có tinh thần yêu nước và Nguyễn Thành đề nghị Tôn thất Toại, một người đã được ông giúp đỡ khi hoạt động cần vương cùng ông, nay thất bại và vẫn được ông trợ giúp, nhưng Phan nhờ quen biết và thấu hiểu tư tưởng của Kỳ ngoại hầu Cường Để, người cùng Phan học tại Quốc tử giám nên Phan đề nghị tôn vị này làm minh chủ và Nguyễn Thành cũng tán thành và tháng 03 năm 1903, Phan và Nguyễn Thành cải trang ra Huế yết kiến Kỳ ngoại hầu Cường Để và mời ông nhận làm minh chủ và Kỳ
goại hầu cho biết ông đã có ư làm cách mạng đã lâu nhưng chưa tìm được đồng chí, nay Nguyễn Thành và Phan bội Châu yêu cầu, ông vui ḷng nhận lănh. Vào đầu tháng 06- 1903, 20 đồng chí trong đó có Trần đ́nh Phác, Đào Tấn và Đốc vạn Hiến và Nguyễn hữu Bài cùng tới trang trại Nam Thịnh và bí mật tôn Kỳ ngoại Hầu làm Minh Chủ” Duy tân Hội“. Phan lănh nhiệm vụ ra Bắc tìm gập Hoàng hoa Thám.

Rời Quang Nam ra Bắc tìm gập Hoàng hoa Thám để bàn kế liên hoàn khởi nghĩa nhưng chưa được gập v́ Hoàng đang đau nặng (có tài liệu khác cho rằng Thám chưa tin nên chưa muốn tiếp), nhưng các bộ tướng của Hoàng là Cả Trọng (con Hoàng hoa Thám) và hai tướng Cả Rinh và Cả Huỳnh tiếp đãi trọng hậu và cuộc liên kết đã dự tính thành h́nh. Đại diện của Hoàng hưá sẽ gia nhập Duy Tân Hội do Kỳ ngoại Hầu làm thủ lănh và Phan bội Châu là hội phó. Lúc này trong Nam ngoài Bắc đã có nhiều người hưởng ứng và cũng đã quyên góp được tiền bạc khá nhiều. Vấn đề chính là mua khí giới nhưng mua ở đâu và do ai cung cấp. Toàn thể nghĩ rằng chỉ nước Nhật thể trợ giúp được và cử Phan ra đi thực hiện công tác đó

Tháng mười một năm 1904 sau khi hội nhóm họp tại nhà Nguyễn Thành, có thêm Phan chu Trinh tham dự và do Cường Để chủ toạ, Phan bội Châu được cử sang Nhật cầu viện.

Cũng trong năm 1904 để cảnh tỉnh Triều đ́nh, Phan viết :” Lưu cầu huyết lệ thư “, đệ tŕnh các đ́nh thần đang mang chức trọng với năm điều ước nguyện. (Lưu Cầu là đảo Okinawa ngày nay).

Sở dĩ Phan bội Châu mang địa danh Lưu Cầu vào bản huyết lệ thư v́ nhằm vào sự kiện lịch sử quần đảo Lưu Cầu năm 1890 hoàn toàn rơi vào tay Nhật và vị vua Lưu Cầu cuối cùng là Sho Tai hay Thiệu Thái đã mất nước vào tay Nhật và bị giam lỏng nhưng được mang tước Hầu và phải lưu vong ở Nhật và Nước Lưu Cầu từ nay trở thành Xung thằng và gia nhập Đế quốc Nhật.

Việc Thiệu Thái bị mất quyền năm 1890 và bị lưu đầy không khác cảnh Việt Nam phải chấp nhận hoà ước bảo hộ 1884 và sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn, bị bắt và lưu đày, các vị vua kế tiếp bị Pháp kiềm tỏa không khác số phận của Sho Tai trong ṿng kiểm soát của Nhật.

Lưu cầu huyết hệ thư như vậy được viết năm 1904 và nhằm vào Triều đ́nh, nhưng không được triêu đ́nh đáp ứng và chấp nhận mặc dầu các Đại thần đều khen hay và đúng. Tuy nhiên bức huyết lệ thư này cũng lọt ra ngoài và các giới sĩ phu vô cùng khâm phục và đem lại nhiều ảnh hưởng thuân lợi.Theo Phan,các vị danh sĩ như Phan chu Trinh, Trần quí Cáp, Huỳnh thúc Kháng và Ngô đức Kế đã bẳt đầu làm quen thân mật với Phan qua bản Lưu cầu huyết lệ thư..

Lưu Cầu Huyết Lệ Thư nhằm đưa ra năm điểm chính:

a/ Nhắc lại nỗi nhục nhằn mất nước, mất quyền, mang lại thảm họa cho tương lai dân tôc.
b/ Đê nghi mở mang dân trí sửa đổi thi cử, bỏ lối học cử nghiệp và xin giảng dạy những khoa học ứng dụng khác..
c/ Nhằm tái khích động dân khí đã tạm suy giảm qua việc Văn Thân Cần vương thất bại.
d/ Vun trồng nhân tài qua các phương tiện mới học kinh tài, công nghệ.
e/ Kỳ vọng những người đang làm quan cổ động các nhân sĩ và những người cầm quyền đem tài sức giúp nước.

Khi đưa bản Lưu cầu huyết lệ thư ra Hồ Lệ, Thượng Thư Bộ Hộ và là người gốc Quảng Nam tuy thích nhưng không dám tỏ thái độ, Đào Tấn ngầm ủng hộ, Nguyển Thuật hững hờ.Các đ́nh thần tỏ ra tiêu cực, trái lại vua Thành Thái rất lưu tâm và có tài liệu cho biết chính vua Thành Thái đã tạo dễ dàng cho Hoàng thân Cường Để ra ngoài để cùng Phan bội Châu mưu đồ việc lớn. Sau thất bại trước phản ứng tiêu cực của triều đ́nh đối với 5 điều ước nguyện do Lưu cầu huyết lệ thư đưa ra và ngay cả trong các cuộc hội kiến với Huỳnh thúc Kháng và tân Phó bảng Phan chu Chinh cả ba chỉ cùng đồng thuận trong điểm cần mạnh bạo chống trả mức đàn áp của ngoại nhân và sửa đổi phương pháp học và thi cử, nhưng chưa đồng thuận trong việc giữ nguyên thay đổi chính thể quân chủ hay hoàn toàn dùng biện pháp vũ trang bạo động. Phan bội Châu tin tưởng vào việc tái tạo dân khí, khai mở dân trí nhưng lưu lại một vương triều cứng rắn, mới có thể chống đối thực dân Pháp.

Phan được cử qua Nhật để cầu viện v́ sau khi ra Bắc lần thứ hai và được Hoàng tiếp kiến và sau khi quan sát cơ sở kháng Pháp của lực lượng của Hoàng hoa Thám, tất cả đều đồng ư phải hỗ trợ quân sự nhưng việc sản xuất hay tìm mua vũ khí trong nuớc không thể thực hiện và cần nguồn viện trợ bên ngoài và nước duy nhất hùng mạnh tại Á Châu thời đó là Nhật bản mới có thể trợ giúp v́ Trung hoa đương vào cảnh hỗn loạn. Ngay tới Khang hửu Vi và Lương khải Siêu đã phải tạm lánh qua Nhật.

Tăng bạt Hổ trước đây là người của Cần Vương trốn chạy được qua Nhật nay đã trở về và nhận giúp đỡ đưa Phan bội Châu qua Nhật năm 1905.

Phan Bội Châu xuất dương qua Nhật (1905)

Ý định của Duy tân hội muốn tìm Nhật làm đồng minh xuất phát từ tiếng vang lừng lẫy khi quân Nhật đánh tan hạm đội Nga trong năm 1904 tại Lữ Thuận và Đối mă đã chứng tỏ người Á châu không thua người da trắng từ xưa vốn đàn áp da vàng v́ vậy trông cậy vào Nhật là con đường tốt đẹp nhất.

Phan bội Châu xuất ngoại qua Nhật năm 1905 cùng Tăng bạt Hổ và Đặng tử Kính, Phan đã tìm gặp Lương khải Siêu và đưa ra ư định dựa vào Nhật. Ông đã bút đàm với Lương khải Siêu để thảo luận con đường phục quốc và kiến quốc và sau khi đuợc Lương hỏi thăm t́nh trạng áp bức của Pháp tại Việt Nam, Phan viết Việt Nam vong quốc sử kể lại mọi áp bức dă man của Pháp và mang nguyện vọng tranh đấu bạo động và thành lập Quân chủ lập hiến để thay chế độ quân chủ hiện nay không còn quyền thế và hoàn toàn do Pháp tuy là bảo hộ nhưng quyết định mọi việc.

Lương khải Siêu đã một mặt dịch Việt Nam vong quốc sử ra anh ngữ và phổ biến trong các báo Trung Hoa và bài này được vô cùng tán thưởng và được coi như một thành phần trong sách Ẩm băng thất (tập hợp các bài viết của Lương khải Siêu) tại Trung hoa. Lưong cũng khuyên Phan đừng quá tin vào sự giúp đỡ trực tiếp của Nhật và đưa Phan đi gập các yếu nhân Nhật

TUYÊN TRUYỀN BẰNG VĂN CHƯƠNG CHỮ HÁN CỦA PHAN BỘI CHÂU

Phan nhờ Lương khải Siêu giới thiệu với nhiều lănh tụ các đảng chính trị tại Nhật như Bá tuớc Đại Ôi đã ba lần làm Thủ tướng Nhật và Khuyển dưỡng Nghị Chủ tịch đảng Tiến bộ và Phan đã nhân dịp này đề nghị xin chánh phủ Nhật trực tiếp can thiệp trợ giúp Duy tân hội đánh đuổi Pháp, nhưng chánh phủ Nhật cho biết không thể công khai giúp đỡ v́ sợ phương hại bang giao Nhật Pháp, và các đảng đối lập đồng ư giúp Phan huấn luyện cán bộ từ trong nước gửi ra. Phan thấy thất bại trong việc yêu cầu Nhật tham gia viện trợ quân sự trực tiếp nhưng nhận thấy nước Nhật rất tiến bộ và nếu các người Việt yêu nuớc muốn mở mang kiến thức th́ đây là một nơi lư tưởng để học hỏi và phát triển mọi mặt. Phan bèn nhân dịp này viết Việt Nam vong quốc sử để bày tỏ nỗi nhục mất nuớc bằng hán tự năm 1905 và cuốn này được Lương khải Siêu dịch ra Anh ngữ và đãng trong nhiều báo tại Trung Hoa, Phan nghĩ nay nên mang về phổ biến tại Việt nam. Các bản viết bằng chữ hán được chính Phan và Đặng tử Kính chuyển về VN chừng 50 cuốn và chỉ có thể lưu truyền trong giới thông hiểu hán tự nhưng đã gây được tiếng vang lớn, và người Pháp đọc qua các bản dịch ra anh ngữ của Lương khải Siêu bắt đầu chú ý tới Phan và bắt đầu tầm nă.

Khi Phan ở Nhật, các yếu nhân Nhật cho biết mong muốn gập vị Minh Chủ cho việc tiếp xúc tương xứng hơn. Phan cũng có dịp ngoài việc trao đổi ư kiến và tiếp xúc với các yếu nhân Nhật, còn gập các nhà cách mạng Trung Hoa đang lưu vong v́ đang bị Thanh triều truy nă. Phan có cơ hội gập Trần Kỳ Mỹ một yếu nhân Trung Hoa đang lánh qua Nhật.

Phan Bội Châu khởi xướng phong trào Đông du (1906)

Sau khi Kỳ ngoại Hầu Cường Để nhận làm Minh chủ Duy tân hội trong công cuộc Phục quốc và sau khi nghe Lương khải Siêu khuyên nhủ, và có dịp gập các yếu nhân Nhật, các vị này cũng muốn gập Kỳ ngoại hầu Cường để trao đổi ư kiến trên vị thế cao hơn Phan quyết định về nước để mời Kỳ ngoại hầu qua Nhật, một mặt báo cáo t́nh h́nh trợ giúp vũ khí tuy không thành nhưng cũng cho các đồng chí biết những cái hay cái mới của Nhật hơn xa các điều từ trước ta tin vào Trung Hoa và nhất là nhờ các đồng chí phổ biến mạnh bản Việt Nam vong quốc sử trong nhân dân.

Phan về nước nhờ Đặng tử Kính đón Kỳ ngoại hầu đi Nhật v́ Phan phải trở lại Nhật ngay nhờ được một vị quan Tổng đốc cho biết lúc này Pháp đã ra lệnh tầm nă Phan ráo riết và các đồng chí cũng khuyên Phan nên trở lại Nhật, và may mắn Phan được Trần đông Phong giúp 15 nén bạc và 200 đồng làm lộ phí.

Trở lại Nhật, Phan được biết 2 thanh niên trẻ Lương lập Nham và Lương nghị Khanh hay Lập Nghi, con cụ Cử Lương văn Can cũng vừa tới. Cha con cụ Lương văn Can sau này nổi tiếng trong các cuộc đấu tranh trong nước nhưng đều, người tử trận, người tù đầy trong thời gian sau.

Cùng lúc này Lương khải Siêu cũng khuyên Phan nên kêu gọi người Việt ra nước ngoài học để đào tạo nhân tài và Lương xác nhận với Phan, chính phủ Nhật chỉ có thể gíúp Cường Để và Phan về ngoại giao và huấn luyện mà thôi, không trông mong hơn được và nếu Phan có ư định gửi vũ khí về Việt Nam nên dùng con đường tiếp tế khí giới cho Hoàng hoa Thám tiện nhất qua hai đường Quảng Đông và Quảng Tây gần biên giới Việt Nam hơn. Nhờ Lương khuyên bảo, Phan biết rõ cần thêm nhiều nhân tài mới mong phục quốc và xây đựng nuớc. Phan suy nghĩ và viết nên bài văn Khuyên Thanh niên du học và lại nhờ Tăng bạt Hổ chuyển về nuớc. Cùng lúc đó Nguyễn hải Thần cũng qua và nguyện phụ trách phần quyên tiền gíup sinh viên du học.

Phan liền phát động phong trào Đông Du qua Nhật để học hỏi mọi tư tưởng tiến bộ thực hiện việc mở mang nhân trí, một trong năm mục tiêu nêu ra trong Lưu cầu huyết lệ thư. Phan tin rằng từ sau 1905 đã đến lúc phải cần canh tân xứ sở và cần cử thật nhiều thanh niên qua Nhật để học hỏi tạo nên những thực tài ṇng cốt cho sự nghiệp phục quốc” khai dân chí, chấn nhân trí, thụ nhân tài” là những điểm Phan nêu ra trong Lưu cầu huyết lệ thư được coi như Cương lănh của Cách mạng Phan bội Châu. Nhận được thư ” Khuyên du học “, số thanh niên và nhân sĩ Đông Du hưởng ứng nồng nhiệt. Sồ người xuất ngoại qua Nhật lên tới trên 200 và Phan phải tìm nơi học và nuôi sống họ, và ban đầu 4 người trong đó có Lương lập Nham hay Lương khắc Quyến được vào học Chấn Vơ học hiệu.năm 1906, Lương Nghị Khanh được vào Đồng Văn thư viện một trường đặc biệt được thành lập để huấn luyện sinh viên Đông du.

Cùng năm đó Đặng tử Kính cũng pḥ tá Kỳ Ngoại hầu qua được Hương Cảng cùng lúc với Phan chu Trinh. Tất cả cùng gập mặt tại Hương Cảng rồi cùng qua Nhật vào tháng 04-1906. Phan bội Châu đưa Phan chu Trinh đi coi các cơ sở học vấn tại Nhật và Phan chu Trinh nhận thức mọi tiến bộ ở Nhật sau khi đã thảo luận với Phan chu Trinh và thẳng thắn cho Phan bội Châu biết ôngsuy nghĩ khác Phan bội Châu, Phan chu Trinh nghiêng về tư tưởng dân chủ và dân quyền nhưng không chống đối Phan bội Châu, Phan chu Trinh bèn chia tay với Phan bội Châu và hứa về nước ngay để tổ chức công cuộc cải tiến về học vấn và kinh tế và đồng ư Phan bội Châu nên ở lại Nhật để tiếp nối các liên lạc tại đây và đồng thời tránh cho Phan bội Châu việc bị Pháp bắt giữ v́ lúc này việc làm của Phan bội Châu đã được cơ quan an ninh Pháp vô cùng lưu ư.

Một việc cũng đáng chú ý, tại Nhật, Phan bội Châu cũng có dịp tiếp kiến với Tôn Trung Sơn cha đẻ ra nền Dân quốc tại Trung Hoa và tuy Tôn Trung Sơn đồng ư sau này khi phục quốc Trung hoa sẽ tìm cơ hội giúp Phan nhưng cũng đồng thời bàn với Phan về chế độ dân chủ có lẽ hay hơn quân chủ. Hai chính kiến đã không gập nhau v́ Tôn trung Sơn đang chủ tâm xây dựng Trung Hoa Dân quốc còn Phan mong muốn lưu giữ chế độ quân chủ. Hai tư tưởng và môi trường chính trị khác nhau, việc tranh đầu ắt phải khác nhau. Nhưng giao t́nh vô cùng thân thiện.

Nhân dịp này Phan bội Châu trao cho Phan chu Trinh mang về phổ biền “ Hải ngoại huyết thư “ để khuyến khích trong nhân dân tinh thần chống thực dân.

Tuy nhiên Phan cũng không yên ḷng với t́nh h́nh quân sự trong nuớc. Phe cấp khích đang mong chóng khởi nghĩa tiếp và Phan trở về Việt nam lần thứ hai qua đường Quảng Đông nghiên cứu đường chuyển vũ khí qua đường biên giới và tìm gập Lương tam Kỳ và Hoàng hoa Thám.

Tại Quảng Đông Phan gặp Thống lănh Trần Thế Hoa và nhờ ông này giới thiệu với đàn em cũ là Lương Tam Kỳ (dư đảng của Lưu vĩnh Phúc) lúc này ḥa với Pháp được Pháp cho thống lănh vùng Thái Nguyên trong khi đó Hoàng hoa Thám đang được Pháp nhượng một phần đất tại Bắc Giang trong khi trận chiến hai bên tạm ngưng. Tuy nhiên cả phía Pháp và Hoàng vẫn còn tìm dịp gây chiến tiếp.

Tháng 09 năm 1906 Phan gập Lương tam Kỳ nhưng Lương tam Kỳ chỉ hứa hẹn xuông v́ đã đưọc Pháp dành cho nhiều quyền lợi tại vùng Thái nguyên nhưng vẫn giúp Phan tới gập Hoàng sau đó vài tuần.

Sau khi hội kiến với Hoàng và được Hoàng hứa dành cho một cứ điểm gần Phồn Xương để Phan tập hợp đồng chí để thao luyện và làm nơi phổ biến các tài liệu khởi nghĩa.

Phan cũng lén xuống Hà Nội và gập Ngô đức Kế từ Hà tĩnh ra cùng hội họp với các nhân sĩ Bắc hà. Ngô đức Kế lúc này có lẽ đã nhận nhiệm vụ đóng góp vào việc thành lập Đông kinh nghĩa thục trong năm 1907. Ngô đức Kế cũng đồng thời đang phụ trách các công tác của Phong trào Duy tân do Phan chu Trinh khởi xướng tại vùng Nghệ Tĩnh.

Phan trở lại Hương cảng và thành lập một cơ quan Việt Nam Thương đoàn công hội để quyên tiền và giúp đỡ sinh viên trên đường Đông du. Sau đó Phan về Nhật và tiếp tục quyên tiền và mua vũ khí trợ giúp Hoàng hoa Thám và trang bị lực lượng vũ trang tại miền Trung.

Phan cũng thành lập Tân Việt Nam Cống hiến hội như h́nh thức một chính phủ lưu vong lâm thời và thanh thế càng nổi lên cao.

Trong khi đó nhờ sức vận động của Phan chu Trinh, Huỳnh thúc Kháng và Trần quư Cáp, tại nhiều tỉnh miền Trung các Thương điếm và các trường học chữ Pháp và chữ quốc ngữ được thành lập nhiều nhất tại Quảng Nam, Bình thuận và Khánh ḥa. Học sinh theo học rất đông và thật sự phong trào duy tân đã xuất hiện tại nhiều nơi trong nước. Cao điểm học hỏi phát sinh nhờ Phan chu Trinh đã vận động được Cử nhân Lương văn Can, Huấn đạo Nguyễn Quyền thành lập nổi cơ sở Đông kinh nghĩa thục tại Hà Nội, một cơ quan giảng huấn mới khuynh hướng cách mạng văn hoá thật rõ rệt vào ngày 04-03-1907. Ban giảng huấn thật đa diện và hùng hậu, tài giỏi, các buổi diễn thuyết được tổ chức và có thể các bài hiệu triệu của Phan bội Châu cũng được bí mật phổ biến. Rất tiếc Pháp đã rút giấy phép trường này sau 9 tháng hoạt động v́ nghi là ḷ đào tạo cán bộ cách mạng và sau này các giáo sư bị tù đầy rất nhiều. Nhưng để đối phó Pháp cũng mở một chương tŕnh giáo dục mới cũng khuyến khích học quốc ngữ và mở trường Đại học tại Hà Nội để thu hút thanh niên học theo ảnh hưởng Pháp.

Trong khi đó trong nước xảy ra nhiều biến cố lớn.

Hoàng hoa Thám bí mật tổ chức đầu độc quân nhân Pháp qua vụ Hà Thành đầu độc ngày 27-08-1908 phần v́ bại lộ, phần sử dụng thuốc độc không mạnh (dùng cà độc dược) nên việc không thành và những người chủ động đầu chịu cực h́nh.

Trong khi đó tại các tỉnh miền Trung từ tháng 03-1908 khởi đầu từ Quảng Nam, lan Quảng Ngăi, Bình định Phú yên dân chúng chịu không nổi sưu cao thuế nặng và cảnh bắt làm sâu tàn bạo nên phong trào phản đối càng ngày càng lan rộng trong ṿng 6 tháng có nơi phản kháng ôn ḥa có nơi bạo động nên Khâm Sứ Pháp khủng bố, tàn sát người tham gia và bắt giử các sĩ phu nghi là lănh tụ. Các vị tham gia có một số người bị tội nhẹ còn những người coi như thủ lănh bị tù đầy rất nhiều. Phan chu Trinh bị bắt tại Hà Nội khi đang diễn thuyết v́ bị nghi thủ xướng việc Trung kỳ dân biến tuy ông không trực tiếp tham gia.Trước đó vào tháng 11-1907 Đông kinh nghĩa thục bị thu hồi giấy phép và các giảng viên đều bị giam giữ sau khi có biến động tại miền Trung và sau vài tháng các vị giáo sư cũng bị đầy ra Côn đảo v́ Pháp cho rằng cách giảng dạy và các bài giảng dạy đều nhằm mục đích bài Pháp và họ có chứng cớ các bài viết từ ngoại quốc cuả Phan bội Châu cũng được phổ biến tại các trường Nghĩa thục này.

Thực dân Pháp buộc tội họ liên hệ tới Phan bội Châu và các hoạt động dù thương hiệu hay cơ sở giáo dục cũng liên quan tới việc xúi dục dân chống sâu chống thuế nên giam giữ và lưu đầy các vị được nghi là có dính líu trong các biến loạn này tại Côn đảo.

Các cuộc phản đối thuế tan vỡ sau sáu tháng, các cơ sở kinh tế, văn hóa đóng cửa, các nhân sĩ đây ra Côn đảo và cuộc tấn công vào căn cứ của Hoàng hoa Thám lại tái diễn qui mô hơn từ đầu năm 1909 cho tới năm 1913 mới chấm dứt.

Cùng thời gian 1907-1909 Pháp nhất quyết dứt điểm với Phan bội Châu nên tăng cường ngoại giao với Nhật và kư hiệp ước cho Nhật vay 300 triệu francs với điều kiện bắt đóng cửa Đồng văn học hiệu và tống xuât các sinh viên Đông du về nước lănh án. Pháp cũng đ̣i Nhật trục xuất Phan bội Châu và Cường Để.

Phan Bội Châu hoạt động tại Xiêm và tại Trung Hoa

Các sinh viên đông du này phần lớn bị cảnh sát Nhật giải giao cho Pháp, phần nhỏ lấy quốc tịch Trung hoa và ở lại Nhật, một số sau này theo Phan về sinh sống và hoạt động tại Xiêm khi Phan và Cường Để cũng bị cũng bị trục xuất khỏi Nhật và qua Xiêm nương náu năm 1909.

Tại Xiêm Phan vẫn chưa chịu ngưng tranh đấu, môt mặt khuyên sinh viên làm ruộng kiếm ăn, mặt khác tiếp tục vận động quyên tiền mua vũ khí gửi về nước.

Phan quyên được tiền mua nổi 500 khẩu súng nhưng không tìm được tàu chuyên chở, Phan tạm gửi vũ khí lại tại Hương cảng và bị nhà cầm quyền Anh tại Hương cảng tịch thu. Cũng có tài liệu cho biết Phan đã tặng số súng này cho Tôn Trung Sơn?.

Tới năm 1911 Phan bá Ngọc, trưởng nam của Phan đ́nh Phùng qua Xiêm cho Phan biết cách mạng Vũ Xương thành công, Phan bội Châu và Cường Để trở lại Trung hoa và lần này không còn giữ chủ nghĩa quân chủ nửa, Cường Để và Phan thành lập tổ chức mới mang tên Việt Nam Quang Phục hội do Cường Đê làm Hội trưởng kiêm trưởng Bộ Tổng vụ, Phan làm phó.

Ngoài ra còn các bộ Binh nghị do Nguyễn thưọng Hiền phụ trách miền Bắc, Phan bội Châu tự đặc trách miền Trung và Nguyễn thần Hiến phụ trách miền Nam.

Các ủy viên quan trọng có Hoàng trọng Mậu và Lương lập Nham (Lương ngọc Quyến) phụ trách quân sự và Đặng tử Kính phụ trách kinh tế.

Lấy lá cờ Ngũ tinh liên châu (nền vàng 5 sao đỏ) coi như quốc kỳ.

Binh thuyết được Hoàng trọng Mậu soạn và binh sĩ được tuyển mộ mang tên Quang phục quân.

Phan cũng cùng Kỳ ngoại Hầu lên gập Tôn Trung Sơn xin viện trợ quân sự, nhưng Tôn từ chối v́ cho rằng Trung hoa dân quốc vừa thành lập còn nhiều việc phải làm. Phan chỉ nhận được một số tiền và ít vũ khí do Trần kỳ Mỹ, người bạn Trung hoa cùng lưu vong tại Nhật nay làm Đô đốc Thượng Hải và Hồ hán Dân Đô đốc Quảng Đông trợ giúp.

Từ Trung hoa Phan không có cách giúp được ǵ cho Hoàng hoa Thám đang lui binh và Phan cũng chưa ra khỏi cùng quẫn nhưng nhưng Phan vẫn quyết gây bạo động và đưa người và tạc đạn về nhằm giết Toàn quyền Albert Sarraut khi ông này ra coi thi Hương tại Nam định khoa Nhâm Tư 1912 (Duy tân thứ 6), lúc này vua Thành Thái đã bị Pháp hạ bệ v́ nghi chống Pháp bắt buộc thoái vị để con là Duy Tân thay thế. Nhưng kết quả hai trái tạc đạn mang về Nam không tới nơi còn hai trái dùng tại miền Bắc chỉ được tài xế Phạm văn Tráng ném và giết chết Tuần phủ Thái Bình Nguyễn duy Hàn, còn trái tại Hà Nội ném vào Khách sạn Hanoi Hotel và chỉ làm hai thiếu tá Pháp tử nạn.

Sau vụ này Pháp bắt 254 người, xử tử 6 người và lên án tử h́nh vắng mặt Cường Để, Phan bội Châu, Nguyễn thượng Hiền và Nguyễn hải Thần.

Toàn quyền Albert Sarraut còn qua yêu cầu quan tỉnh Quảng Đông giải giao các vị thụ án tử h́nh vắng mặt về trả cho Pháp. Trước đây Hô hán Dân Đô đốc Quảng Đông là người quen cũ của Phan đã bị Long Tế Quang đánh chạy và Long Tế Quang năm 1913 đã bắt nhốt Phan và Mai lăo Bạng chờ ngày trao cho Pháp. Tại trong tù Phan viết cuốn Ngục Trung Thư kể lại những đoạn đời đã trải qua và đợi ngày về Việt Nam lănh án tử h́nh. Nhưng sau đó năm 1917 Long Tế Quang mất chức và người thay thế đã trả lại tự do cho Phan. Trong khi Phan ở ngục tù. Cường Để đã đi được Âu châu rồi qua Nhật trở lại và cùng Nguyễn thượng Hiền qua Xiêm tiếp xúc với người Đức. Sau đó Kỳ ngoại hầu qua Âu châu rồi lại trở về Nhật và tiếp tục hoạt động. Sau này các vị như Ngô đ́nh Diệm, Vũ đ́nh Dy, Nguyễn xuân Chữ cũng liên lạc và gia nhập tổ chức mới của Cường Để.

Cũng trong khi Phan còn ở trong ngục Lương ngọc Quyến bị người Anh bắt giao cho Pháp năm 1914 và bị Pháp tra tấn liệt hai chân và giam giữ tại Thái Nguyên.

Cũng chính Lương ngọc Quyến trong khi tù tội đã thuyết phục được Trịnh văn Cấn khởi nghĩa tại Thái nguyên ngày 31-08- 1917.

Trước những biến cố này Pháp càng căm hận Phan và tìm cách cô lập hoá Phan nhờ các tay sai hoạt động tại Trung hoa.

Năm 1917 khi Phan được trả tự do, t́nh trạng vật chất rất eo hẹp phải viết báo mưu sinh nhưng Phan cũng cùng một số đồng chí lập nên một đảng mới mang danh Việt Nam quốc dân đảng (không có liên hệ ǵ với VNQD đảng sau này do Nguyễn Thái Học làm lănh tụ.) Phan cũng bắt đầu tìm hiểu chủ thuyết Cộng Sản đang thành h́nh và có dịp gập người Nga nhưng chưa bị thuyết phục hoàn toàn và trao đổi thư từ với Nguyễn Tất Thành nhưng không gặp mặt chỉ v́ quen biết với Nguyễn Sinh Sắc cha của Tất Thành khi thi Hội năm 1901. Phan cũng có lúc nghĩ tới đổi thay tư tưởng và có ư mong tạo nên hoà hoăn với Pháp nhưng chưa rõ phương thức.

Năm 1922 ông có liên hệ với Tâm Tâm xă và hai phần tử trẻ của phong trào này đã ném bom mưu giết Toàn quyền Merlin tại Sa điện trong Tô giới Pháp tại Quảng châu. Sau vụ này Pháp nhất quyết hại cho đuợc Phan bội Châu và, Phan được tin báo Pháp đang tầm nă ḿnh tại Trung hoa nhưng không thận trọng đã bị một kẻ đồng hương (Lâm đức Thụ và Lư Thụy) báo cho Pháp lộ tŕnh di chuyển và Pháp bắt cóc Phan và bí mật đưa về giam tại Hoả ḷ dưới tên là Trần Văn Đức.

Nhưng nhờ Mai lâm Nguyển đắc Lộc bạn của Bác sĩ Nguyễn xuân Chữ vào Hoả ḷ thăm một tù nhân h́nh sự, và nhờ anh này cho biết tin Phan bội Châu bị Pháp bắt cóc và Pháp dự tính thủ tiên dưới tên Trần văn Đức. Tin lọt ra ngoài và được loan báo rộng răi trong nhân dân. Pháp bắt buộc phải đưa Phan ra Hội đồng Đề h́nh do Thanh tra Brides chánh thẩm.(Brides trước đây thoát chết trong vụ Trịnh văn Cấn khởi nghĩa tại Thái Nguyên nên hết sức thâm thù Phan)

Phan được hai luật sư khuynh hướng nhân quyền biện hộ và Phan cũng qua Thông dịch viên hùng biện tự bào chữa. Phan chỉ nhận những hành động trước năm 1913 v́ từ 1913 Phan đang bị Long tế Quang giam giữ. Phan cũng phủ nhận đã nhúng tay vào các biến động của nhân dân trong vụ chống thuế năm 1908 v́ Phan ở nước ngoài không liên lạc trực tiếp với nhân dân miền Trung và nhất là Hà Tĩnh quê hương của Phan, chưa có khởi biến và Ngô đức Kế bị bắt oan và được trả tự do và khôi phục công quyền phẩm tước năm 1921 nay lại là một kư giả danh tiếng của tờ Hữu Thanh.

Trước tin Phan bị ra toà xử, nhân dân rung động, biểu t́nh, băi khoá nổi lên từ khắp mọi nơi. Báo chí lúc này đã có rất nhiều và loan tin rộng răi, sau cùng Phan chỉ bị Khổ Sai chung thân, nhưng sau đó trước sức phẫn nộ của nhân dân Toàn quyền Varenne đã hủy án của Phan và chỉ bắt Phan an trí tại Bến Ngự (Huế) cho tới khi Phan mầt.

Hai mươi lăm năm hoạt động cách mạng của Phan nơi hải ngọai, đã đem lại cho nhân dân một sức đấu tranh mănh liệt và văn chương của Phan dành nhiều cho khích động đấu tranh bằng bạo lực đã in vào tim óc những thế hệ sau dù họ theo đuổi các nền giáo dục khác. (sau khi phong trào Đông kinh nghĩa thục phải giải tán Pháp đã cải tổ chuơng tŕnh giáo dục như mở các cơ sở học quốc ngữ và Pháp văn và mở cả Đại học để cản đường Đông du và đã rất nhiều người theo tân học)

Phê phán về tư tưởng và hành động chính trị của Phan, các sử gia có nhửng nhăn quan khác nhau nhưng cả hai phía quốc gia và cộng sản đều nh́n nhận Phan bội Châu là cha đẻ ra tư tưởng cách mạng chống người Pháp ngoại xâm qua vũ lực và có người còn cho rằng việc bạo động chỉ là giai đoạn đầu của một cuộc tranh đấu giành độc lập v́ theo Phan bội Châu nếu không có nước th́ lấy dân đâu mà áp dụng dân chủ. Đường hướng này hoàn toàn khác tư tưởng của Phan chu Trinh ngay từ khi hai người gập nhau tại Quảng Nam và tại Nhật.

Cuộc Đông du không thành nhưng đã đẩy một số đồng chí tiếp tục tham gia các cuộc bạo động, có người trở thành sĩ quan Trung Hoa cũng có người qua phía Cộng Sản quốc tế, nhưng cũng không thiếu người vẫn kiên quyết tranh đấu không theo đường lối của cộng sản.

Tóm lại Phan Bội Châu bắt đầu hoạt động cách mạng theo phong trào Cần vương khi vua Hàm Nghi xuất bôn năm 1885 và từ khi còn một chàng trai từ thuở thiếu thời đã nhất quyết tham gia việc chống trả ngoại xâm. Ngay ban đầu đã có tác phong lănh đạo và tuy tài học khoa cử cao thâm nhưng không coi khoa bảng là con đường tiến thân, chỉ tin rằng vũ lực bạo động mới trả được quốc thù. Nhưng sau các cuộc khởi nghĩa văn thân cần vương từ Bình định, Quảng ngăi, Quảng Nam và nhất là tại Nghệ Tĩnh cũng thất bại, chắc tâm tư hẳn cũng lâm vào một khoảng trống và đành qua trở lại học vấn nhưng không quên cơ hội đi tìm minh chủ hay đồng chí để tiếp tục chí hướng.

Cũng may trong thời gian ngay sau đó các đàn anh yêu nước đã giúp ông những dịp một mặt phát triển kiến thức qua cho đọc các bản dịch sách chính trị Tây phương và cứu vớt ông khỏi oan khiên mang tài liệu vào trường thi để tiếp tục dự thi. Hơn thế nữa còn cố gắng nâng đỡ kẻ có tài và có chí đạt được chức vị Giải nguyên. Hành động này mở rộng đường cho Phan bội Châu quan sát thực trạng của Triều đ́nh và có dịp gập gỡ và trao đổi ư kiền với Phan chu Trinh, Ngô đức Kế Huỳnh thúc Kháng, và nhất là có dịp gập Nguyễn Thành để nhận những lời khuyên nên tin tưởng vào một minh chủ Kỳ ngoại hầu Cường Để, liên lạc với Đề Thám ngoài Bắc và cổ vơ phong trào Đông Du. Và tư tưởng bạo động khởi nghĩa ban đầu nhờ người Nhật hỗ trợ và thành lập thể chế quân chủ lập hiến không thành nhưng Phan bội Châu vẫn theo đuổi lư tưởng tới khi bị bắt và tù đầy năm 1925.

Sự nghiệp cách mạng của Phan bội Châu không thành công như ư muốn nhưng lư tưởng dân tộc đã được toàn dân hưởng ứng. Nhờ sức tranh đấu của toàn dân ông không bị tử h́nh nhưng không còn phương tiện hoạt động.

Sự nghiệp cách mạng không thành nhưng tinh thần Phan Bội Châu đã nẩy mầm và đang phát triển trong mọi giới.

Các tác phẩm văn chương Phan viết, khi theo lối cũ khi, theo văn phong mới không mang nét bó buộc của văn chương khoa cử đã được truyền tụng rộng răi. Tuy nhiên ban đầu các sách của Phan Bội Châu chỉ có thể tới tay các nhà tinh thông hán tự nên còn giới hạn. Nhưng các tác phẩm như Lưu cầu huyết lệ thư, Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại Huyết thư và Thư khuyên du học đã được truyền tụng trong nhân dân và cũng đã được dùng giảng dạy trong Đông kinh nghĩa thục. Hầu hết các bản văn của Phan bội Châu chỉ nhắm các mục đích khích động dân khí và khuyến khích thanh niên tham gia Đông du để học hỏi những tiến bộ tại các nước ngoài, đồng thời đả phá những khuôn sáo cử nghiệp dựa trên đường lối văn chương áp dụng từ triều Lê và tồn tại tới triều Nguyễn khiến các vị khoa bảng không nh́n thấy những tiến bộ của thế giới tây phương. Những bản đệ tŕnh của các sứ bộ từ ngoại quốc trở về cũng như những bản sớ dâng xin chú ý tới cải cách của Phan thanh Giản, Phạm phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện đều không được cứu xét v́ cả
nhà vua lẫn triều đ́nh e ngại mọi cuộc cải cách này sẽ mang lại những đổi thay thất lợi cho địa vị của cá nhân và chế độ. Bản Lưu cầu huyết lệ thư thực ra cũng chưa mạnh bạo lắm v́ chỉ xin sửa đổi nhưng vẫn tôn trọng vương quyền cũng đã bị bác bỏ, Phan chỉ còn con đường cách mạng vũ trang.

Các văn bản sau mạnh bạo hơn v́ viết từ ngoại quốc và mang tính chất sách động nhiều hơn, tuy nhiên chỉ gây được ảnh hưởng trong các giới còn thông hán tự trong thời gian trước 1908.

Thế nhưng nhờ Phan chu Trinh, Ngô đức Kế, Huỳnh thúc Kháng trong Trung và nhờ Đông kinh nghĩa thục ngoài Bắc, phong trào học qưốc ngữ, học chữ Pháp mạnh mẽ ra đời và ngoài các sách nổi tiếng của Phan Bội Châu viết từ hải ngoại được phiên dịch ra quốc ngữ cộng thêm vào công tŕnh phổ biến các tư tưởng mới của các phong trào duy tân, tuy bất bạo động nhưng nhờ quốc ngữ phát triển, lại thêm hán học và khoa cử dần dần bị băi bỏ, chương tŕnh học mới được ban bố năm 1908, người dân đã có các phương tiện học hỏi và sử dụng truyền thông mới. Trường Đông Kinh Nghĩa Thục sau vài tháng hoạt động bị đóng cửa, tuy các giáo sư của trường bị giam giữ lưu đày, nhưng chữ quốc ngữ đã có chỗ đứng vững chắc. Báo chữ Nho đi vào dĩ văng. Các báo Việt ngữ ra đời và người ba miền Nam Trung Bắc từ nay nhờ quốc ngữ đã có dịp đọc các tác phẩm văn chương của mỗi miền. Người Nam bắt đầu đọc báo Bắc và người Bắc bắt đầu dễ dàng trở thành độc giả các tác phẩm miên Nam.

Và dĩ nhiên các đảng phái âm thầm ra đời. Có đảng vẫn chủ trương bạo động, có đảng nghiêng về lập hiến, có đảng hoàn toàn tin vào nhân quyền và đã có mầm mống của Cộng Sản quốc tế xuất hiện.

Cuộc đời và sự nghiệp của Phan chu Trinh

Ngoài Phan bội Châu với chủ trương bạo động, duy tŕ chế độ quân chủ và tạo nên phong trào Đông du và được coi như một nhà cách mạng hàng đầu nhưng dựa trên bạo lực, Việt Nam còn có vị họ Phan thứ hai cũng nổi tiếng không thua Phan bội Châu, nhưng không theo chính sách bạo động và chủ trương duy tân trong phạm vi văn học kinh tế trong tinh thần dân chủ pháp trị.

Phan chu Trinh quen biết Phan bội Châu từ 1901 và tuy tham dự các cuộc họp thành lập Duy tân hội tại Nam Thịnh với Nguyễn Thành và ngay sau khi đọc Lưu cầu huyết lệ thư cũng chỉ đống ư với một phần tư tưởng cuả Phan bội Châu và không có chân trong Duy tân hội nhưng không bác bỏ các hành động của Phan bội Châu. Trái với Phan bội Châu, Phan chu Trinh nghĩ rằng cần phải hủy bỏ chế độ quân chủ và thành lập một nền dân chủ mang lại nhân quyền cho nhân dân từ nhiều thế kỷ bị chế độ quân chủ và ngoại xâm chi phối.

Ông tích cực theo các tư tưởng được học qua các tân thư lần này do Hoàng giáp Đào nguyên Phổ, người đã đậu Đ́nh nguyên Hoàng giáp năm 1898 nhưng theo học trường Pháp tự quốc gia, một học đựng do Pháp thành lập, tiền thân của trường Hậu bổ và tuyển chọn sinh viên ưu tú nên Đào nguyên Phổ thông hiểu pháp ngữ và pháp văn nên thấu đáo trực tiếp nhiều hơn trong khi các vị khác chỉ được biết về các tư tưởng này qua các bản dịch qua hán tự. Phan chu Trinh và Huỳnh thúc Kháng và Ngô đức Kế cũng được tuyển chọn vào học trường này nhưng ba vị này không học.

Tưởng cũng nên tìm hiểu hành trạng khá dài của Phan chu Trinh để so sánh hai chủ thuyết Dân tộc Quân quyền của Phan bội Châu với chủ thuyết Dân chủ, Dân sinh mà Phan chu Trinh theo đuổi.

Thuở thiếu thời : 1872- 1900
Khoa cử và hoạn lộ : 1901-1904
Từ quan và Nam Du và Đông Du.
Hoạt động sau Đông Du : 1906-1908
Tù đầy tại Côn đảo: 1908 – 1910
Được trả tự do tương đối 1910
Qua Pháp và các hoạt động tại đây 1911- 1925
Về nước và qua đời: 1925-1926

Tiểu sử Phan Chu Trinh

Phan Chu Trinh gốc Quảng Nam sinh năm 1872 kém Phan Bội Châu 5 tuổi và theo học hai vị thày : Cử nhân Phạm Mẫn (đậu năm 1847) và từ 20 tuổi đã kết giao với Huỳnh thúc Kháng. Mối liên lạc này đã khiến Huỳnh thúc Kháng sau này thay mặt Phan chu Trinh thực hiện những hoạt động của Phan chu Trinh tại Quảng Nam quê hương chung của hai vị và cũng khiến Huỳnh bị lưu đầy tới năm 1921.

Khoa cử và hoạn lộ

Hai kỳ thi Hương 1894 và 1897 Phan đều rớt, sau đó năm 1898 theo học Đốc học Quảng Nam Trần đ́nh Phong (Tiến Sĩ năm 1979) và tới năm 1900 Phan chu Trinh đậu Cử nhân đệ tam danh còn Huỳnh thúc Kháng đậu Giải nguyên cùng trường thi Hương Thừa thiên.

Năm sau 1901 Huỳnh cư tang không thi Hội và Phan chuTrinh đậu Phó bảng, Ngô đức Kế đậu Tam giáp Tiến sĩ còn Phan bội Châu thi hỏng. Trần quư Cáp chỉ mới đậu Tú Tài nhưng sau cũng đậu Tiến sĩ năm 1904

Cũng nhờ kỳ thi Hội năm 1901 cả năm vị quen nhau và trở thành các nhà khoa bảng cách mạng từ đầu thế kỷ thứ 20 và tiếp tục trong vài chục năm sau.

Trong khi Phan bội Châu mưu tìm đường cách mạng quân sự, Phan chu Trinh ra làm quan Thừa biện trong triều nhưng tới 1904 ông từ quan về dạy học và được Đào nguyên Phổ đã đậu Hoàng giáp từ năm 1898 cho đọc các sách tân thư và Đào học cao hơn lại thông hiểu Pháp văn nên chỉ dẫn Phan rõ ràng hơn.

Phan chu Trinh trước đó đã cùng Phan bội Châu và Vũ phương Trứ (Cử nhân trường Nghệ An năm 1897) bàn chuyện dâng thư bỏ khoa cử nhưng không thành.

Phan Chu Trinh và phong trào Nam du và Đông du

Sau khi gặp Nguyễn Thành năm 1904, khác với Phan bội Châu tìm đường xuất ngoại tìm quân viện, Phan chu Trinh từ quan và cùng Huỳnh thúc Kháng, Trần qúi Cáp lên đường xuôi Nam tìm đồng chí và theo tư tưởng dân sinh mở trường học quốc ngữ, chữ Pháp và mở các thương hội để tự túc kinh tế ngoài nông nghiệp.

Ông cùng hai vị Tiền sĩ Huỳnh thúc Kháng và Trần quư Cáp đồng ḷng đi tìm con đường cứu dân cứu nước bằng mọi cách bất bạo động. Các ông đi về miền Nam và âm thầm tuyên truy& #7873;n chủ thuyết mới. Tới Bình Định nhân gập kỳ thi khảo hàng năm các ông lấy tên chung là Đào mộng Giác và làm bài thơ « Chí thành thông đạo thánh » và bài phú « Lương ngọc danh sơn »|
. Mượn đầu đề thi để đả kích các sĩ tử đừng mang giấc mộng học cử nghiệp không còn hợp thời trong khi cảnh đất nước mất chủ quyền, nếu tiếp tục con đường học phương pháp cũ, biết ngày nào dân trí mới phát triển để tháo cũi sổ lồng.

Hai bài này đã khiến sĩ tử ngạc nhiên suy nghĩ rất nhiều và được truyền tụng rộng răi. Nguyễn Thông, (theo Trần gia Phụng th́ do Nguyễn quí Anh) con Nguyễn trọng Lợi đã phổ biền bài này khiến Sĩ phu và cả nhà cầm quyền Bảo hộ cũng cố gắng tìm tác giả của hai bài thi, phú đặc biệt này.

Các ông lại xuôi tới Phan Thiết và cùng các ông Nguyễn trọng Lợi và Hồ tá Bang lập nên Trường học Dục Thanh và hội buôn Liên Thành sau này.

Đến năm 1906 ông ra Bắc và Nghệ An, tại Bắc ông gập một số nhân sĩ và sau các cuộc thảo luận với Lương văn Can, Nguyễn Quyền, Hoàng tăng Bí, Dương bá Trạc, trường Đông Kinh nghĩa thục ra đời với chương tŕnh học thật rộng răi nhằm phát triển phong trào học quốc ngữ, khuyến khích học chữ Pháp cũng như tìm hiểu các vấn đề đạo đức, kinh tế, xă hội mới nhưng cũng không quên tiếp tục dạy hán văn và qui tụ được một ban giảng huấn đầy đủ và được sự đóng góp của các học giả mọi thành phần. Trường Đông kinh nghĩa thục là trường miễn phí và nhận người tới học không phân tuổi tác nên rất đông học sinh tham dự và gây nên môt phong trào tìm hiểu các kiến thức mới. Trường này cũng được Nguyễn văn Vĩnh tới giảng dạy phần pháp văn và h́nh như chính Nguyễn văn Vĩnh đã giúp xin giấy phép mở trường

Sau khi lên Phồn xương gập Đề Thám và quan sát t́nh trạng quân sự tại đây, Phan chu Trinh cũng tới Nghệ an để gập Đặng nguyên Cẩn và Ngô đức Kế và vị Tiến sĩ này cũng bắt đầu nhập cuộc. Ngô đức Kế một mặt mở mang các cơ quan kinh tế tại vùng Nghệ Tĩnh và cũng ra Bắc để tham gia vào việc giảng huấn tại Đông kinh nghĩa thục.

Cùng năm Phan chu Trinh qua Hương cảng đồng thời với khi Kỳ ngoại hầu Cường Để khi Hầu được Đặng tử Kính đưa ra ngoài nuớc. Cùng các vị này tới Nhật, ông có dịp hội kiến và thảo luận trong nhiều tháng với Phan bội Châu và tuy không cùng chia sẻ tư tưởng quân chủ và phát động quân sự của Phan bội Châu, ông trở về nước và nhận nhiệm vụ tiếp tục tiến hành nhiệm vụ khai triển dân trí và khuyếch trương thương nghiệp trong nước trong khi Phan bội Châu tiếp tục thi hành sứ mạng tại quốc ngoại.

Mạnh hơn nữa ngày 15-08-1906 ông viết thơ gửi chính phủ Pháp :

» Đầu Pháp chính phủ thư »
để yêu cầu nhiều cải cách nhưng không được Toàn quyền Paul Beau trả lời và thư của ông cũng không được phổ biến công khai nhưng cũng được tuyên truyền ngầm trong nước. Ông luôn luôn đi diễn thuyết tại nhiều nơi nhất là tại Hà Nội. Tại đây bài T́nh quốc hồn ca 1 đã được nhân dân Hà Nội tán thưởng. Trong thời gian lưu lại Hà Nội ông đã kết thân với một Ernest Babut môt nhân vật Pháp ưa chuộng tư tưởng nhân quyền và đang làm chủ nhiệm tờ Đại Việt Tân báo hậu thân của tờ Đãng cổ tùng báo. Chủ bút tờ báo này lại là Hoàng giáp Đào nguyên Phổ người trước đây đã truyền thụ cho ông các bản tân thư nên giao t́nh với các nhân sĩ Pháp Việt tại miền Bắc rất thân thiết..

Phan Chu Trinh bị bắt giữ và lưu đầy Côn đảo.

Phan chu Trinh đang hoạt động bỗng nhận được tin Đông Kinh nghĩa thục bị rút giấy phép vào tháng 11- 1907 nhưng tờ Đại Việt Tân báo vẫn hoạt động, tuy nhiên ông cũng vẫn ra Hà Nội tiếp tục diễn thuyết tại nhiều nơi phụ cận trong đầu năm 1908.

Đột nhiên từ tháng 03-1908 cuộc chống thuế bắt đầu xảy ra tại Quảng Nam và lan qua các tỉnh khác. Tuy lúc đó Phan chu Trinh không có mặt tại Quảng Nam nhưng ngay khi đang ở Hà Nội tháng 4-1908, ông bị bắt giam và bị giải giao về Huế vào tháng 06 để triều đ́nh định tội. Lúc này các ông Huỳnh thúc Kháng, Trần quư Cáp, Ngô đức Kế và nhóm Đông kinh nghĩa thục chưa bị giam giữ.

Ngay trong tháng 06-1908 Khâm sứ Trung kỳ đưa ông ra Hội đồng Phụ chính (lúc này Duy Tân mới 12 tuổi và đã được Pháp đưa lên thay cha là Thành Thái bị truất ngôi) xét xử và đề nghị ngay án tử h́nh, nhưng Hội đồng Phụ Chính tìm cách giảm tội xuống là :

Trảm gian hậu lưu tam thiên lư ngộ xá bất lưu có nghĩa là không bị chém nhưng khổ sai chung thân, chung thân biệt xứ và không được trở về quê quán

Thế là trước mọi người ông bị đầy ra Côn đảo ngay vào tháng 06 – 1908

Tại Côn đảo, ông được đối xử đặc biệt hơn các bạn đồng tù và được tham biện Pháp chỉ huy Côn Đảo tiếp đón và cho sống tại làng An hải ngoài trại giam nhưng v́ là người tù chính trị và lại không phải dân làng nên bị tổng lư làng An hải chèn ép, ông lại xin vào ở trong tù và, vài tháng sau có dịp gập các ông Huỳnh thúc Kháng, Ngô đức Kế v.v. mới bị lưu đày rồi cả Nguyễn Hàm, Lương văn Can cũng bị đầy ra đảo và nhờ Huỳnh thúc Kháng lén xin được bản án dành cho từng nhà cách mạng nên ông được biết tội danh của mỗi người (tuy các vị trong triều khi xử án dấu kỹ các bản án) và được biết Trần quí Cáp đã bị chém ngay tại Khánh hoà trong một trường hợp bí ẩn và cấp tốc, và không được gửi về Triều đ́nh xét xử. Ông ghi nhận những lạm dụng này và sau đó khi được chính Toàn quyền Đông dương gửi Thống đốc Nam kỳ ra Côn đảo để thẩm vấn ông nhưng thật sự tìm hiểu ông có liên lạc mật thiết với Phan bội Châu hay không v́ qua các bản báo cáo của cơ quan an ninh Pháp, hai họ Phan đã gập Nguyễn Thành rồi lại gập nhau tại Nhật, chắc chắn Phan chu Trinh nhận nhiệm vụ nội công bất bạo động bằng giáo dục nâng cao dân trí, phát triển nông hội và thương nghiệp, trong khi đó Phan bội Châu sửa soạn ngoại kích để mở các cuộc vũ trang khởi nghĩa. Thêm vào đó và có lẽ có ư chia rẽ hai họ Phan nên Pháp biệt đãi Phan chu Trinh hơn các tù nhân khác. Nhờ gập vị Thống đốc này Phan chu Trinh có dịp tŕnh bày những sai lầm khi triều đ́nh kết án ông và các bạn khác v́ cho biết các ông chỉ tranh đấu bất bạo động và khuyến khích nhân dân học hỏi Quốc ngữ, Pháp ngữ và học hỏi những cái hay của Tây phương, các vụ chống thuế xảy ra là do lỗi chính quyền bảo hộ quá khắc nghiệt và các quan lại từ triều đ́nh tới các quan tỉnh và tổng lư quá lộng quyền. Ông yêu cầu Pháp và Triều đ́nh xét lại các vụ án, Sau đó ông lại được ra khỏi trại giam và trở lại làng An hải sinh sống, lúc này Tổng lư An hải đã rất nể sợ ông v́ thấy chính Thống Đốc Nam kỳ và Tham biện người Pháp tìm gặp ông.Tại đảo ông hoàn toàn sống tự do và nhờ đó được đọc báo và nhận được tin của Ernest
Babut cho biết các tổ chức nhân quyền can thiệp, ông sắp được trả tự do. Trong khi đó các ông Huỳnh thúc Kháng bị buộc tội tử h́nh nhưng giảm xuống « Côn lôn ngộ xá bất nguyên » và Ngô đức Kế bị buộc tội giảo giam hậu v́ « Tiềm thông dị quốc » và tới 1921 mới được trả tự do và phục nguyên vị nhờ đó Huỳnh và Ngô coi như trắng án nên có thể tự do người ứng cử vào Viện Trung kỳ dân biểu, người bước vào làng báo và mạnh bạo bày tỏ tư tưởng.

Phan chu Trinh được trả tự do tương đối năm 1910, tạm bị quản thúc tại Mỹ Tho, một mặt ông giao du thân thiện với Couzineau chủ tỉnh Mỹ Tho, một mặt xin đi Pháp để học hỏi thêm về tư tưởng nhân quyền và thực hiện tư tưởng Pháp Việt đề huề. Trước lời yêu cầu này Pháp phải cho ông qua Pháp cùng phái đoàn giáo dục hán học do chính Toàn quyền Đông dương hướng dẫn vào năm 1911.

Ông qua Pháp và Hoạt động tại Pháp.

Qua Pháp năm 1911 ông được chính quyền Pháp biệt đãi và cấp dưỡng, làm quen nhiều với các nhân sĩ trong Hội nhân quyền nhất là nhờ được Đại úy Jules Roux dịch dùm các thư gửi chính phủ Pháp. Trong các thư ông đều một mặt yêu cầu Pháp cải tổ mọi phương pháp cai trị cho người Việt thêm quyền và cần đối xử nhân đạo và thân thiện hơn với người Việt và mặt khác ông tố cáo người Pháp đối xử quá tàn ác với dân thuộc địa và dân bảo hộ. Ông nhờ được các báo có khuynh hướng tiến bộ đãng dùm và dư luận Pháp rất chú ý.

Ông viết tại Pháp các sách sau đây :

Năm 1911 Trung kỳ dân biến tụng oan kư mạt kư : nhằm thanh minh cho các vị đang bị tù đầy giam giữ v́ các vị này không trực tiếp chỉ huy phong trào dân biến, thủ phạm chính là chế độ hà khắc của Pháp và các tham quan ô lại đã quá tàn độc khiến nhân dân tự phát các cuộc phản kháng này. Thư cũng không hề được lưu ư và trả lời. Trong thư này ông đả kích Phan bội Châu kịch liệt và phủ nhận việc Triều đ́nh và Pháp nghĩ rằng ông và các bạn trong phong trào Duy tân như Huỳnh thúc Kháng, Ngô đức Kế Trần quí Cáp có liên hệ với Phan bội Châu.

Cũng trong thời gian 1911-1912 ông viết tiếp :

Đông dương chính trị luận : Trong tập này ông tố cáo Pháp bóc lột nhân dân bằng đàn áp, bằng lừa đảo, bằng gian giối. Ông tố cáo chính sách đánh thuế, chính sách khinh thường người Việt Nam và chính sách giam cầm hành hạ tàn nhẫn của Pháp.

Tập sách này làm chính trường Pháp và Đông dương càng giao động thêm và khiến những chính trị gia có khuynh hướng nhân quyền trách cứ chính phủ Pháp.

Cũng trong năm này ông viết tiếp :

Pháp Việt liên hiêp hậu chi tân Việt Nam : Trong tập này ông so sánh lịch sử Việt Nam và Trung Hoa và tuy ghi nhận Việt Nam tuy nhỏ nhưng đã chống trả Trung Hoa nhiều lần khi nước láng giềng này xâm lược Việt Nam, ông cũng chỉ trích nặng nề việc Phan bội Châu qua Trung Hoa nhờ trợ giúp và gây bạo động khiến giao hảo giữa người Pháp và người Việt luôn luôn căng thẳng, trái lại chủ trương của Phan chu Trinh là nhờ cậy người Pháp giúp dân Việt Nam phát triển và đối xử thân thiện hơn để có thể tiến tới một nền Pháp Việt Đề huề bền vững. Muốn như vậy phải mở mang dân trí, phải tôn trọng dân quyền và phải lọai bỏ nền quân chủ nhân trị. và thay vào nền dân trị hay pháp trị. Phan cho biết ông chủ trương tự trị nhờ vào Pháp nhưng không chủ trương thù oán Pháp.

Bộ Thuộc địa Pháp và Toàn quyền Pháp đã đọc tài liệu này nhưng không tin là thực v́ còn sợ đây là một cách hoà với Pháp nhưng sau đó lại tiếp tục đường lối của Phan bội Châu. Pháp vẫn chưa tin là Phan bội Châu và Phan chu Trinh chủ trương khác nhau và cả hai đang cùng theo phương thức giai đoạn.

Pháp chưa trả lời, th́ các vụ ám sát 1913 xảy ra và Hội đồng Đề h́nh Pháp đã xử tử các phạm nhân và kết án Kỳ ngoại hầu Cường Để, Phan bội Châu tử h́nh vắng mặt.

Tiếp theo đó chiến tranh 1914 bùng nổ Phan chu Trinh từ chối đi lính và bị nghi đã liên lạc với Kỳ ngoại Hầu Cường để đang ở Xiêm nên có thể Phan chu Trinh làm gián điệp cho Đức nên bị hạ ngục Santé tới tháng 04-1915 mới được trả tự do nhưng bị cắt tiền cấp dưỡng nên phải kiếm ăn vất vả và nghề rửa ảnh là nghề chính.

Trong thời gian này ông quen biết và rất thân với Luật sư Phan văn Trường và khi nghe tin Pháp đưa Khải định một hoàng thân tư cách kém lên thay vua Duy Tân bị truất phế, ông cực lực phản đối nhưng vô hiệu.

Giải pháp Pháp Việt đề huề trong một nền tự trị dân chủ lại không thành.

Năm 1922 khi Pháp đưa Khải định qua Pháp ông đã viết thư :Thư thất điều gửi cho Khải định. Thư này không phải là một lá thư nêu nguyện ước mà chính là một lá thư công kích, kết tội và sỉ vả vị vua bù nh́n phí phạn tiền của này rất nặng nề .

Phan Chu Trinh nêu ra những tội lỗi của Khải định như sau :

1/ Tội tôn quân quyền.
2/ Tội thưởng phạt không minh.
3/ Tội chuộng sự quỳ lậy.
4/ Tội xa xỉ vô đạo.
5 / Tội phục sức không đúng phép.
6/ Tội du hành vô độ.
7/ Tội qua Pháp làm chuyện ám muội.

Và ông nhắn rằng nếu Khải Định còn đủ thiên lương th́ nên thoái vị trả lại quyền cho nhân dân để họ cùng dân tộc Pháp tự mưu lấy lợi ích.

Tuy nhiên dù Thất điều thư được dịch ra Pháp văn và bản Quốc ngữ được tung ra trong nước nhưng Khải định vẫn tại vị.

Cũng nhân dịp này Pháp từ chối việc trở về nước của Phan chu Trinh và cho biết Triều đ́nh Huế sẽ xử tội ông nếu ông xin về nước.

Khải định sẵn bệnh nặng (lao xương) và nhiều người cho biết ông không có khả năng sinh sản nhưng phải nhận Vĩnh Thụy là Hoàng tử (giai thoại này cho tới nay vẫn được lưu truyền) nên sức khỏe suy yếu và việc tranh chấp ngôi vua rất gay go. Một vị Thượng thư Bộ Hộ họ Phạm đậu Phó Bảng và trước đây đã nhậm chức Tuần phủ Thái Bình thay thế Nguyễn duy Hàn bị ám sát đã ghi lại trong gia phả nhiều chi tiết vê việc tranh chấp này.

Có lẽ v́ biết tại triều đ́nh bận rộn về việc dựng vua mới và Phan bội Châu đã bị bắt cóc giải về Hà nội và lănh án tại Hội đồng Đề h́nh nên năm 1925 Pháp cho Phan chu Trinh trở lại Viêt Nam và ông cũng phản đối Pháp sau khi Khải định qua đời Pháp vẫn tiếp tục lưu giữ chế độ quân chủ bù nh́n tại Việt Nam.

Trong khi Phan chu Trinh ở ngoài nước các cuộc binh biến vẫn xảy ra

Tháng 06 năm 1917 cuộc binh biến tại Thái nguyên bùng nổ. Lương ngọc Quyến từ khi bị người Anh giao cho Pháp từ năm 1913 tuy bị gông cùm và trải qua h́nh phạt khổ sai tại Thái nguyên cũng đã vận dụng được Đội Cấn và một số lớn quân sĩ người Việt nổi dậy. Nhưng thiếu hậu cần cũng như không có chiến lược rõ rệt, tất cả đã tan vỡ và cùng lên đoạn đầu đài. Các cuộc bạo động tạm chấm dứt.

Tuy nhiên các tiếng vang đổi mới của Đông Kinh nghĩa thục và hậu quả của các cuộc binh biến thiếu phối hợp đã thức tỉnh quần chúng. Nếu Đông kinh nghĩa thục đã đem lại một cuộc cách mạng văn hóa thực sự th́ các hoạt động quân sự của Phan bội Châu cũng chứng tỏ nếu Tiên lễ không được th́ phải hậu binh.

Một mặt nho học hoàn toàn mất hết ảnh hưởng, các học sinh và sinh viên tiến lên trong việc tìm kiếm những kiến thức mới qua tân học và hội nhập rất mau.

Làng báo quốc ngữ từ Đông dương tạp chí của Nguyễn văn Vĩnh và với tờ Nam Phong do Phạm Quỳnh chủ trương đã mang lại một sinh khí mới.

Nam Phong tuy được biết như một tờ báo phát xuất từ người Pháp Louis Marty trợ cấp nhưng đem lại một con đường mới trong cách sử dụng văn phong và việc phổ biến và tranh luận về tư tưởng.

Sau khi Ngô đức Kế và Huỳnh thúc Kháng được trả tự do năm 1921 và qua các báo Phụ Nữ tân Văn, Tiếng Dân và Hữu Thanh, các vị này cùng các nhà văn gốc nhà nho cũ hay những vị theo tân học đã thay nhau dùng diễn đàn báo chí để phơi bày các tư tưởng đối nghịch nhưng chưa dựa trên những căn bản rõ rệt. Chưa bao giờ có một nền tự do tư tưởng như thế, mặc dầu vẫn có cơ quan kiểm duyệt nhưng không quá khắt khe, nên các cuộc tranh luận trên báo chí hay trong các buổi diễn thuyết thật vô cùng sôi nổi.

Sau khi Phan bội Châu bị quản thúc và không còn hoạt động và Phan chu Trinh được trở về và ngay lập tức Phan chu Trinh lại tiếp tục diễn thuyết về Xă hội và Chính trị.

Hai bài điễn thuyết sau đây vô cùng quan trọng :

Đạo đức và Luân lư Đông Tây Trong bài này ông tŕnh bày và giới thiệu

Luân lư gia đình
Luân lư quốc gia
Luân lư xã hội
tại các nước Tây phương

sau đó ông so sánh với cũng ba nền luân lư đó của chúng ta và nhận thấy nền luân lư tại nước ta hủ lậu, xă hội chậm tiến không tiếp thu các tiến bộ bên ngoài v́ bị ràng buộc vào áp dụng Khổng Nho không đúng chỗ, và tắc nghẽn v́ chế độ quân chủ dựa trên Nhân trị.

Ông khuyên cần có một nền đạo đức mới để san bằng các sai lầm đó

Sau đó ông lại đưa ra hai con đường lănh đạo đất nước khác nhau :

Quân trị chủ nghĩa và Dân trị chủ nghĩa

Trong bài này ông bác bỏ con đường nhân trị của chế độ quân quyền v́ tuy tại nước ta theo Quân chủ, bước khởi nghiệp bao giờ cũng do một người tài giỏi đoạt chính quyền nhưng v́ cha truyền con nối nên nhiều vị vua kế thừa sau tài hèn sức yếu mang lại t́nh trạng mất nước khiến toàn dân khổ cực theo.

Nếu theo chế độ dân trị người dân có thể bầu lên một nghị viện từ đó lập ra hiến pháp ấn định các quyền phân lập và cử người Giám quốc giữ trách nhiệm hành pháp trong 7 năm phải được bầu lại. Thế nhưng vẫn phải hợp tác với Pháp mới có thể tạo được tinh thần Pháp Việt đề huề và muốn thành h́nh cần có một đảng theo khuynh hướng xă hội nhân chủ thực hiện.

Qua hai bài diễn thuyết trên nhiều ư kiến đã h́nh thành tiếp, tiếc thay sau đó Phan chu Trinh qua đời ở tuổi 54 nên chưa ai hiểu rõ nền tự trị dân chủ trong tinh thần Pháp Việt đề huề được xây dựng ra sao ? và đảng như thế nào có thể một mặt mang lại dân chủ, một mặt mang lại tinh thần Pháp Việt đề huề !

Báo chí cũng đã tranh luận nhiều về thể chế nhất là các cuộc bút chiến quanh vấn đề trực trị ban đầu do Nguyễn văn Vĩnh đưa ra năm 1906 trên tờ Đông dương thời báo nhưng sau chuyển qua tư tưởng có Tổng thống nhưng vẫn do Pháp bảo hộ năm 1915, tư tưởng này lại được Nguyễn văn Vĩnh nhắc lại trên tờ Annam nouveau năm 1930 trong khi đó Phạm Quỳnh trong Nam Phong ủng hộ giải pháp Quân chủ lập hiến và sau đó khi tham chánh đã cùng Bảo đại qua Pháp đ̣i hỏi nhưng vô vọng. Với tư tưởng lập hiến còn duy tŕ chế độ quân chủ mà vẫn bị chính phủ Pháp dù đang do Mặt trận Bình dân cầm quyền từ chối, tư tưởng đ̣i dân chủ ôn ḥa còn là một vọng tưởng xa vời.

Dân trí đang chuyển động qua các bài tranh luận trên các cơ quan ngôn luận này và vào thời gian này Nam Phong chiếm thượng phong với tư tưởng quân chủ lập hiến

Nhưng các vụ bạo động khởi nghĩa cũng xảy ra qua sự ra đời của Nam đồng thư xă của Phạm tuấn Tài mở đầu cho cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân đảng tại Yên bái.

Cũng qua tự do tư tưởng và việc lập hội dễ dàng, Nam đồng thư xă do Phạm tuấn Tài chủ trương đã mở đường cho một đảng cách mạng dân tộc ra đời. Việt Nam quốc dân đảng ra đời và chủ trương dân quyền, dân chủ và bạo động.

Cuộc tranh đấu của đảng này ra ngoài bài viết này nhưng kết quả đem lại cái chết của Đảng trưởng của Nguyễn thái Học và các đồng chí sau cuộc khởi nghĩa tại Yên bái.

Sau đó cuộc khủng bố trắng của Pháp liên tiếp diễn ra. Các Hội đồng Đề h́nh đề h́nh đã được Pháp thiết lập và làm tan ră mọi tổ chức chính trị có khuynh hướng quốc gia và đẩy một số đảng viên gốc quốc gia qua hàng ngũ cộng sản đang ló h́nh năm 1930.

Tuy nhiên trên mặt trận văn hoá, các báo chí và các h́nh thức mới như báo chí châm biếm các hủ tục như Phong Hoá, Ngày Nay, các truyện xă hội, truyện người hùng của Nguyễn công Hoan, Vũ trọng Phụng, Lê văn Trương và sau đó các báo tồn cổ như Tri Tân, báo nghiên cứu cải cách như Thanh Nghị và các báo tranh đấu phần lớn bằng Pháp ngữ ra đời như La cloche fêlée trong Nam, Le Travail ngoài Bắc đã mang lại cho dân khí cũng như dân chí càng ngày càng phát triển và đứng trong vị thế mong chờ.

Luận công và so sánh ảnh hưởng của hai nhà cánh mạng Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh

Qua các tài liệu của nhiều vị biên khảo về hai nhà cách mạng họ Phan chúng ta có thể tạm ghi nhận sự nghiệp của hai vị trên hai phương diện chính trị và văn học.

Trên địa hạt chính trị, người thế hệ trước và thệ hệ sau đã nhiều vị viết về hai vị họ Phan này và h́nh như phần lớn đưa ra nhận xét và cho rằng Phan bội Châu chủ trương bạo động Lỗi thời

Phan bội Châu luôn luôn nghĩ rằng muốn lật đổ chính quyền thuộc địa bằng phương tiện quân sự duy nhất là chính đáng, nhưng trên thực tế không thể tự ḿnh đạt được và Phan đã không ngần ngại cầu viện cả Nhật lẫn Trung hoa dân quốc trực tiếp can thiệp bằng quân sự nhưng đều không được các chính phủ các nước này ủng hộ. Trái lại ông còn bị Nhật trục xuất khi nước này được Pháp cho vay tiền, còn Tàu cũng chẳng thương sót thân phận người bạn cùng cảnh ngộ trước đây, họ không ngần ngại bắt giam ông sau khi Toàn quyền Đông dương Albert Sarraut trực tiếp yêu cầu, và đau đớn hơn nữa khi bị chính một người Việt, Lâm đức Thụ tay sai của Hồ chí Minh bán cho Pháp và rồi bị bắt cóc mang về giam giữ tại Hoả Ḷ năm 1925.

Và tuy nhờ nhân dân cực lực phản kháng ông không chết v́ án tử h́nh nhưng cuộc đời cách mạng của ông tàn lụi trong cảnh an trí tại Bến Ngự và chỉ biết viết những bài hồi kư. Tuy nhiên các bài văn của ông cũng không thiếu người hưởng ứng.

Trong khi đó Phan chu Trinh được coi như con người thực hiện một cuộc cách mạng ôn hoà nhằm mở mang dân trí và thành lập các cơ sở thương măi nhỏ và hy vọng phát triển lớn hơn khi ngựi dân có kiến thức cao hơn. Phan chu Trinh không tham gia bạo động nhưng chú trọng tới tuyên truyền và phổ biến học vấn và đ̣i hỏi dân quyền qua các thư gửi chánh quyền chính quốc Pháp cũng như phản đối qua văn thư với chánh phủ bảo hộ. đồng thời cổ vơ cho tư tưởng Pháp Việt đề huề đưa tới nền tự trị cho Việt Nam với sự giúp đỡ của người Pháp..

Các cuộc xuôi Nam và ra Bắc đã tạo nên biết bao cơ sở và cũng tìm được nhiều nhân vật mọi giới tán đồng. Và Phan chu Trinh tới năm 1908 cũng còn tự do đi lại đủ nơi và làm quen đưọc với Ernest Babut người đang chủ trương tờ Đông dương thời báo.

Nhưng tới 1908 có thể v́ thực dân quá tàn nhẫn trong việc thu thuế làm sâu tại miền Trung khiến nhân dân tự phát hay hiểu lầm ư thức đ̣i dân quyền đã phát động phong trào chống đối mạnh khởi đi chính từ Quảng Nam quê hương của Phan chu Trinh, Huỳnh thúc Kháng và Trần quư Cáp. Và lúc này Pháp nhất quyết cho rằng Phan chu Trinh thủ xuớng các vụ tranh đấu và có liên lạc mật thiết với Phan bội Châu.

Pháp một mặt đàn áp nhân dân một mặt bắt ngay Phan chu Trinh tại Hà Nội mang về Huế xử tội trước tin Khâm sứ Pháp xin xử tử nhưng theo vài nguồn tin Phủ phụ chính và nhất là Thượng thư Lê Trinh đã cố chuyền án tử h́nh ra tù đầy và đem đầy ra Côn đảo trước mọi đồng chí khác, Nhưng cũng đặc biệt có lúc Phan chu Trinh được sống ngoài trại tù và sinh sống tại An hải. Phan chu Trinh cũng được trả tự do trước các nhà được coi là cách mạng khác. Hơn thế nữa ông còn được xung vào đoàn giáo dục đưa qua Pháp. Các hoạt động không ngừng của Phan chu Trinh tại Pháp dù gập khó khăn nhưng cũng khiến các nhà cách mạng nối tiếp nhận thấy các phương pháp tranh đấu theo Tây phương hữu hiệu hơn các phương pháp dựa trên quân sự trước đây. Bài học thất bại của Nguyễn thái Học năm 1930 v́ không được nhiều giới hỗ trợ và bài học của Trần trung Lập năm 1940 tại Lạng Sơn không những thất bại mà còn bị đồng minh Nhật bỏ rơi đã cho thấy bạo động khi chưa đủ lực lượng chỉ mang lại thất bại.

Không phải chỉ ḿnh Phan chu Trinh chủ trương Pháp Việt đề huề với điều kiện Pháp cần trao lại cho người Việt nhiều quyền lợi hơn. Nhưng thực hiện nguyện ước này ra sao. Tiếc rằng Phan chu Trinh tạ thế năm 1926 nên cho tới nay tư tưởng Pháp Việt đề huề trong một chế độ dân chủ mà Phan đã chủ trương chưa được biệt Phan làm cách nào đạt được.

Trong thời gian Phan bội Chậu còn phiêu bạt tại Xiêm sau khi bị Nhật trục xuất và sau đó qua Trung hoa và hoạt động tiếp tuy đã có lúc đã từ bỏ chế độ quân chủ nhưng chủ trương bạo động vẫn còn, và Phan chu Trinh sau khi ra khỏi ngục Santé vẫn liên lạc với các chính khách Pháp và cũng có những liên lạc với Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành và vẫn mong có Tự trị trong tinh thần Pháp Việt đề huề trong khi chờ đợi dân trí ngày một mở mang. Tại Việt Nam cũng đã có nhiều nguồn tư tưởng không xa.

Nguyễn văn Vĩnh qua tờ Đông dương tạp chí ban đầu chủ trương thân Pháp hoàn toàn và mơ ước có một nước Việt Nam dân chủ có Tổng thống nhưng vẫn được Pháp che trở (không khác với lá bài Việt Nam độc lập nhưng gia nhập khối Liên hiệp Pháp)

Phạm Quỳnh cũng có tư tưởng Pháp Việt đề huề với chủ trương quân chủ lập hiến trong thời gian 17 năm múa bút trên tờ Nam Phong và sau khi làm ThượngThư cũng đã tranh đấu đ̣i sửa lại Ḥa ước bảo hộ năm 1884. Cả hai ư kiến này đều bị Phan chu Trinh bác bỏ và sau khi Phan chu Trinh mất, các bạn thân Huỳnh thúc Kháng và Ngô đức Kế cũng tranh luận kịch liệt với Phạm Quỳnh. May mắn thay nhờ các cuộc tranh luận này báo chí phát triển, ngày một phong phú và ngoài báo chí các loại văn mới như Tiểu thuyết, Tập San Văn nghệ, Chính trị, Kinh tề ra đời mỗi ngày một nhiều và tư tưởng từ cổ điển qua lănh mạn rồi đấu tranh đều nhằm mục đích sửa soạn cho một nền tự chủ trong tương lai. Tự lực văn đoàn cũng góp công trong việc bác bỏ tàn tích phong kiến chuyển qua cách mạng tư sản. Và rồi các tiểu thuyết xă hội qua Vũ trọng Phụng, Nguyên Hồng, Ngô tất Tố, Nguyễn công Hoan cùng các tập sanThanh Nghị, Tri Tân, cùng nhóm Hàn Thuyên của Trương Tửu và Nguyễn đức Quỳnh mang lại những tư tưởng mạnh bạo, nhưng các tác giả không trực tiếp đ̣i chấm dứt chế độ quân chủ.

Cho tới nay nước chảy qua cầu, chính thể trong nước đổi thay nhiều lần nhưng các cuộc thảo luận về hai nhân vật cách mạng họ Phan vẫn chưa chấm dứt. Ai có lư hơn ai, chúng ta cũng chưa tìm ra đáp số.

Phần lớn các nhà viết sử đều cho Phan chu Trinh có lư v́ tranh đấu trong hoà Bình và mong Pháp Việt đề huề ngay từ lúc khởi đầu trong khi Phan bội Châu chủ trương bạo động

Qua các bài viết phần lớn các nhà nghiên cứu đều ủng hộ đường lối của Phan chu Trinh và chê Phan bội Châu không thức thời, muốn dùng biện pháp bạo động, thậm chi còn mong nhờ hết Nhật lại tới Trung hoa trực tiếp can thiệp và không có những trợ giúp từ ngoài các cuộc khởi nghĩa vũ trang đều thất bại

Các nhà nghiên cứu trong nước đều thiên về chủ trương của Phan chu Trinh tuy có một vài vị cho rằng Phan bội Châu có lư và dùng bạo động như giai đoạn đầu tiên trong công cuộc giải phóng đất nước. Cũng có các vị nghiên cứu Triết cho rằng Phan bội Châu đã đưa ra một Triết lư mới : Phối hợp Tam giáo với tư tưởng Tân thư lănh hội qua sách dịch từ chữ Pháp qua Hán tự.

Tuy nhiên các vị thiên về Phan chu Trinh tuy nhiều nhưng cũng không khai triển được phương thức nào Phan chu Trinh áp dụng để khiến Pháp giao trả Độc lập một cách ḥa Bình cho Việt Nam theo một công thức Pháp Việt đề huề.. Rất tiếc Phan chu Trinh đã mất năm 1926 và được nhân dân đi đưa đám một cách tự nguyện đông tới cả trăm ngàn, nhưng nếu tất cả đều kính trọng tinh thần dân chủ, dân quyền thực xứng đáng nhưng chưa ai giúp kẻ hậu sinh chứng minh được phép lạ nào giúp Phan chu Trinh đạt được độc lập mà không phải nổ một phát súng nào.

Phạm Quỳnh bị trói tay v́ không có cơ may lưu vong qua nước ngoài nhưng dù tờ Nam Phong có nguồn gốc chính do người Pháp cấp vốn lúc ban đầu nhưng cũng dám lên tiếng đ̣i một chế độ quân chủ lập hiến nhưng với tư tưởng ôn ḥa này Pháp cũng bác bỏ tới hai lần.

Nhờ cuộc Thế chiến thứ hai chấm dứt và chủ trương giải tán chế độ thuộc địa của cố Tổng thống Roosevelt của Hoa kỳ, các nước đang sống trong chế độ thuộc địa bắt đầu nh́n thấy ánh sáng cuối đường hầm. Nhân dân Việt Nam cũng thức tỉnh và những tư tưởng này như trên đã nhắc qua được bày tơ rộng răi trên các báo chí, tập san, tiểu thuyết, thơ mới trong cuối thập niên 1930 và đầu thập niên 1940.

Không dựa được vào Nhật, các cuộc bạo động năm 1940 đã xảy ra và bị dẹp tắt ngay, nhưng khi Nhật đầu hàng 1945, những đảng thân Nhật cũng không giành lại được chủ quyền v́ không có hậu thuẫn quốc tế. Trong khi đó tại Tân Trào qua hồi kư của Hoàng văn Hoan, Hồ chí Minh hay Nguyễn Aí Quốc đã chấp nhận ngay đường lối của Nguyễn văn Vĩnh : Nước Việt Nam độc lập và đứng trong Liên hiệp Pháp ngay từ khi Pháp chưa trở lại Đông dương. Các hiệp định 6 Mars 1946 với Sainteny và thoả ước tạm với Marius Moutet ngày 14-09-1946 không khác ǵ tư tưởng của Nguyễn văn Vĩnh khi viết trong Đông dương tạp chí báo năm 1915.

Giải pháp này cũng không thành công và phải bạo động rồi dựa vào thế lực cộng sản quốc tế mới đạt được độc lập nhưng dân không tự do, áp dụng đúng đường lối sau cùng của Phan bôi Châu lập Dân quốc với Tổng Thống chế theo cương lănh của Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912 tại Trung Hoa.

Có lẽ cũng v́ vài điểm so sánh đó, các nhà sử học cũng như các nhà nghiên cứu chính trị cũng chỉ đồng ư một cách khái quát cho rằng Phan chu Trinh và Phan bội Châu khác nhau trong tư tưởng nhưng cùng chung mục đích tranh đấu cho nền độc lâp của đất nước. Cho tới nay sách nghiên cứu đã nhiều, ai là người dám quyết đoán con đường tranh đấu nào là đúng.

Trên phương diện văn học thực sự Phan bội Châu và Phan chu Trinh đã khai sáng cho một cuộc cách mạng văn hoá lớn lao.

Các tác giả nghiên cứu văn học việt nam có khuynh hướng cho rằng thời gian cổ đại trước triều Lư không có trường học nên người biết hán văn không nhiều và hán tự chỉ được dùng trong các văn bản chính thức. Họ còn đặt câu hỏi chử Cồ trong quốc hiệu Đại Cồ Việt thời Đinh tiên hoàng có phải chính gốc hán tự hay không hay chỉ dùng Đại Việt là đủ chữ CỒ kể như thừa.

Thời kỳ mang danh là trung đại được tạm công nhận từ ngày thành lập Quốc tử giám 1070 đem lại các kỳ thi tuyển và từ đó hán tự và nho học phát triển mạnh dần tại Việt Nam. Thời kỳ trung đại kể như bắt đầu đi vào dĩ văng khi hán văn bị lấn át và chấm dứt khi các kỳ thi hương thi hội bị hủy bỏ và một hệ thống giái dục mới theo ảnh hưởng của tây phương được áp dụng tại Trung và Bắc kỳ.

Nhưng sự chuyển biến đó tự đâu phát khởi. Người Pháp tuy đã sử dụng chữ việt việt theo kư âm la mă sau này mệnh danh quốc ngữ tại Nam kỳ từ lâu nhưng vẫn chưa làm thay đổi tư duy và phương tiện chuyên chở văn chương tại hai xứ bảo hộ. Các kỳ thi hương, thi hội vẫn tiếp tục được triều đ́nh tổ chức dù kháng Pháp thời Tự Đức tới thời bảo hộ sau hiệp ước Patenôtre 1884 và nho giáo nhất là Tống Nho do nhà Minh mang vào Việt Nam vẫn được các sĩ phu một mực tuân theo và dĩ nhiên vẫn tôn quân ái quốc nhưng vẫn bưng bít kiến thức trong các kinh điển cũ.

Có những vị thức thời đua ra những điều trần xin mở rộng ngoại giao, có những phái bộ qua Pháp từ thời Tự Đức tới thời Thành thái trở về tŕnh bày những tiến bộ tại nuớc ngoài nhưng triều đ́nh vẫn không muốn tin và chỉ nh́n vào Thiên triều Trung quốc.

Nhưng hai vị họ Phan đã nghĩ và làm khác. Nguyễn thượng Hiền, Đào nguyên Phổ hai vị được đọc và thấu hiểu tầm quan trọng của tư tưởng tân tiến nhưng không có điều kiện thực hiện v́ đã chót bước vào hoạn lộ và bị các phần tử nặng tư tưởng an phận bao vây. Các vị này đang mong có hậu duệ có năng lực học vấn cao nhưng có tư tưởng tiến bộ và hoàn toàn không bị hoạn lộ kiềm chế mới có thể tìm được con đường khai thông bế tắc chính trị và văn học.

Dịp may đã tới. Phan bội Châu với tâm huyết đấu tranh sau khi thất bại trong cuộc cần vương nay được hấp thụ tư tưởng mới đã nhất quyết xuất dương vừa cầu viện vừa khuyến khích người ra nước ngoài học hỏi qua phong trào Đông du.

Và cũng chính Phan bội Châu đã bỏ văn phong cổ điển viết theo lối văn cử nghiệp trong các kỳ thi đê soạn thảo các bản hịch, bản văn từ Bình Tây Thu Bắc, Lưu cầu huyết lệ thư viết trong nước cũng như Việt Nam vong quốc sử. Hải ngoại huyết thư, Thư khuyên du học, Việt Nam quốc sử khảo luận.

Các nhà biên soạn văn học sử ghi nhận các sáng tác của Phan bội Châu đã là dấu nối chấm dứt h́nh thức và nội dung văn chương cũ. Với tinh thần yêu nước và cách mạng, văn chương ban đầu còn mang dư âm của văn biền ngẫu hay thi phú cử nghiệp nhưng tư tưởng không còn mang tính cách yếm thế, nay đang chuyển qua sách động và tranh đấu đồng thời kêu gọi nhân dân hướng ngọai tìm các phương tiện tiến bộ. Sau này từ khi được tiếp súc với Lương khải Siêu và nhờ ông này Việt Nam vong quốc sử đã được viết theo h́nh thức mới và được phổ biến rộng răi ngoài nước trước khi được mang về nước. Được coi như một tác phẩm ngang với các tác phẩm khác trong Ẩm băng thất của Lương khải Siêu, văn phong Việt Nam vong quốc sử đã đi vào kỷ nguyên mới. Từ đó các tác phẩm viết sau đều không lệ thuộc với văn phong cử nghiệp trước đây. Chỉ tiếc Phan bội Châu viết các văn bản bằng chử Hán nên ban đầu việc phổ biến tư tưởng không đi sâu ngay vào quần chúng mặc dầu ông đã thể nghiệm ng̣i bút trên khắp thể loại v́ vậy một số nhà phê Bình văn học cho rằng văn chương của Phan bội Châu mới chỉ khơi mào cho văn chương mới.

Phải đợi công trạng của Phan chu Trinh và các vị chủ trương Đông kinh nghĩa thục thành công trong việc giảng dạy rộng răi chữ Việt theo la tinh hoá và trở thành Quốc ngữ khi đó các tư tưởng của Phan bội Châu mới có dịp phổ biến rộng răi trong quần chúng và từ đó ngoài Phan chu Trinh với hành trạng chính trị và văn chương quan trọng từ năm 1906 ông đã tổ chức các Trường Tân học và cơ sở kinh tế tại Trung kỳ, sau này góp phần lớn với Đông kinh nghĩa thục phát triển tân học cải cách văn phong xóa bỏ tư tưởng hủ nho cũ, diễn thuyết cổ động các con đường canh tân và đ̣i hỏi nhân quyền và nhất là tại Pháp ông viết rất nhiều văn bản biện hộ cho các tù nhân chính trị bị xử ngoài luật lệ,và dám lớn tiếng tố cáo Khải định đả kích nền quân chủ lỗi thời và rồi chủ trương Pháp Việt Đê Huề trong một thể chế dân chủ. Ông ban đầu viết bằng Hán văn nhưng sau này đã học thông quốc ngữ và các bài viết bằng quốc ngữ đã xuất hiện, nhờ đó sau ông các chính trị gia, các văn sĩ và các kư giả đã mang vào văn học việt nam một sinh khí mới. Từ văn học thời trung đại kéo dài từ Triều Lư, hai họ Phan đã góp công vào cuộc chuyển đổi qua văn học hiện đại điển h́nh qua cách phân tách của Vũ ngọc Phan năm 1943 trong cuốn Nhà văn hiện đại.

Sau 1945 văn học lại bị phân hoá theo thể chế chính trị nhưng dù bị áp bức tại miền Bắc dưới độc tài toàn trị nhưng phong trào Nhân Văn, Giai phẩm cũng ra đời, dù bị dẹp tan sau đó nhưng cũng đánh dấu tinh thần bất khuất của văn nhân.

Tại miền Nam trong thời gian 1954-1975 nhiều khuynh hướng văn nghệ khác nhau xuất hiện nhưng thời gian tồn tại chưa tới 21 năm cũng khiến văn học miền Nam tự do và nhân bản hơn miền Bắc.

Sau 1975 khuynh hướng văn học Việt Nam tạm gọi là thời đại hay đương đại dù tại hải ngoại hay trong nước còn là việc thảo luận dài hạn nhưng chúng tôi chỉ dám ghi nhận định, văn học Việt Nam ra khỏi bế tắc của thời khoa cử Hán học chắc chắn do công đầu của hai nhà cách mạng họ Phan. Cũng rất tiếc ít ai nhắc tới những vị trí thức khoa bảng thời Thành Thái đã có công tạo nên hai vị cách mạng họ Phan này. Trong sử sách còn nhắc tên Hoàng giáp Nguyễn thượng Hiền nhưng chẳng ai nhớ tới Hội nguyên Tiến sĩ Khiếu năng Tĩnh và Cử nhân Đào Tấn nhà soạn tuồng nổi tiếng trong công nghiệp dựng nên Phan bội Châu cũng như chẳng ai còn nhớ Hoàng giáp Đào nguyên Phổ đã tiếp tay chỉ dẫn cho Phan chu Trinh trong phong trào duy tân và mở kỷ nguyên văn học quốc ngữ sau này.

Tài liệu tham khảo :

Phan bội Châu Wipekedia
Phan chu Trinh như trên
Phan bội Châu Vietgke CTT trí thức CĐHTTVN
Danh nhân Việt Nam : Họ Phan
Phan bội Châu và Phan chu Trinh :
Vietnamsciences Vọng Đông
Dân luận : Vĩnh Sính
Mai thái Lĩnh
Ngục trung thư Đào trinh Nhất
Phong trào Đông du Wipekedia
Việt báo vn/vi: Tiểu La Thành người khai sáng phong trào Duy tân
Đông tác: Phan bội Châu, nhà cách mạng.
Bút đàm đẫn lệ. BBC
Phan bội châu niên biểu : Nam hải tùng thư
Việt Nam quốc sử khảo: Bùi thị Đào Nam hải tùng thư 
Vụ án Phan boi Châu: Chuyển luân.net
Phan bội Châu Vinhan online. net
Lê thị Lan. Dân tộc chủ nghiă của của Phan bội Châu. Viện Triết học
Nguyễn văn Hoà
Phan bội Châu, Bắc đẩu trời Nam: yahoo 360oT
Phan bội Châu theo Cộng Sản. Phan huy Lam : New
Trần xuân An. Chủ nghĩa Pháp Việt đề huề của Phan chu Trinh : 
Giao điểm bộ mới 
Đỗ thông Minh: 22 điểm tương đồng giữa Phan bội Châu và Phan chu Trinh
Phan đông Thanh: chúng ta.com suy ngẫm:Chủ trương lập hiến cuả Phan chu Trinh
Trần gia Phụng: Người Việt Boston: Phan chu Trinh
Trần gia Phụng Trung kỳ dân biến 1908
Trần trọng Kim. Việt Nam sử lược.
Phạm văn Sơn : Lịch sử Việt Nam chống Tây xâm
Phạm thế Ngũ:Việt Nam văn học sử giản ước tân biên 
Nguyễn văn Dương ; Tuyển tập Phan châu Trinh.
Chương Thâu, Đào duy Mẫn:Đ́nh nguyên hoàng giáp Đào nguyên Phổ
Phong trào Đông kinh nghĩa thục Wikepedia
Country studies:Phan bội Châu and the rise of nationalism
Paul Roden: Southeast Asian Nationalism and the Russo Japan war.
Từ Uyên : Đàm luận với Giáo sư Khiếu đức Long

 

Write A Comment