Trong tiếng Trung Quốc, chữ tài 財, phiên âm là cái, biểu thị cảnh giầu có vì buôn bán phát đạt. Chữ lộc 祿 trong tiếng Trung Quốc biểu thị sự thăng tiến địa vị xã hội, khác hẳn với chữ tài biểu thị sự sinh lợi tiền bạc .

Chữ Tài trong tiếng Trung viết theo lối thư pháp kiểu phồn thể

Lộc thần dường như được coi trọng hơn là Tài thần. Phải chăng vì tài thần bảo hộ giới buôn bán và lộc thần che chở cho kẻ sĩ ra làm quan? Ngược lại, trong dân gian thì ông thần tài lại được nhiều người van vái hơn ông lộc thần: tại nhà riêng, tại tiệm buôn, quán hàng, ở đâu cũng thấy bàn thò thần tài.

Thần tài hay Tài thần là ai?

Có hai vị thần tài, một vị là quan văn một ông là quan võ. Vị thần tài văn quan tên là Bỉ Can, vị thần tài võ tướng là Triệu Công Minh.

Mạn đàm về chữ Lộc trong tiếng Hán


Hình 38. Thần Tài Võ Tướng Bỉ Can.
Bỉ Can nguyên là chú của vua Trụ, vị hôn quân tàn ác nhất lịch sử Trung Quốc và là vị vua cuối cùng nhà Thương (1600-1027 trước công nguyên). Ông là một người tài đức, hết lời căn ngăn vua, nhưng không những vua Trụ không nghe mà còn đòi moi tim Bỉ Can ra xem vì vua nghe nói là tim người hiền có bẩy lỗ.  Bĩ Can tự tay móc tim cho vua Trụ xem, nhưng ông không chết vì đã uống thuốc trường sinh bất tử. Ông chán nản bỏ đi, mang tài sản ra phân phát cho nhân dân. Nhân dân tôn làm thấn tài, đời đời khói hương thờ phụng.


Hình 39. ThầnTài Văn Quan Phạm Lãi.
Vị thần tài, gốc văn quan thứ hai, là Phạm Lãi, người nước Việt thời Xuân Thu. Ông xuất thân là một nhà đại phú thương nhờ có tài kinh doanh. Phạm Lãi đắc lực giúp Việt Vương Câu Tiễn đánh bại quân nước Ngô lấy lại được ngôi vua. Đến ngày Câu Tiễn tưỏng thưởng công thần, Phạm Lãi bỏ nước Việt sang nưóc Tề sống đời ẩn dật, khai khẩn trồng trọt và lại trở nên một đại phú gia. Nhưng Phạm Lãi không màng cả tài lẫn lộc, ông thường mang tiền của ra giúp người nghèo khổ cùng bạn bè bà con. Lòng rộng lượng của ông đã khiến người đời suy tôn làm thần tài.


Hình 40. Thần Tài Võ Tướng Triệu Công Minh.
Triệu Công Minh là vị thần tài gốc võ tướng, tu tại vùng núi Nga My, từng đắc đạo thành tiên. Ông nghe lời mời của vua Trụ nhà Thương ra làm tướng. Vua sai ông đem quân giao chiến với quân của Vũ Vương nhà Chu có Khương Tử Nha làm quân sư. Quân của Khương Tử Nha thắng trận, tịch biên tài sản của Triêu Công Minh. Triệu Công Minh phải lui về núi thế thủ. Khương Tử Nha làm phép, bện rơm thành hình nộm Triêu Công Minh, và trong hai mươi ngày liền sai quân bắn tên gỗ đào vào mắt vào ngực hình nộm. Triệu Công Minh đuối sức dần dần rồi chết. Sau khi diệt được nhà Thương, Khương Tử Nha khao quân, phong tước cho cả các tử sĩ. Biết Triệu Công Minh là người đáng trọng, ông phong cho Triệu Công Minh làm thần tài với bổn phận phân phối tài sản cho công bình và hợp pháp.

Biểu tượng của tài là gì?

Hình tượng tiêu biểu thực tế cho chữ tài là đồng tiền. Tiền đồng lưu hành tại Trung Quốc từ đời Chiến Quốc (480-221, trước công nguyên) Đồng tiền hình tròn ỡ giữa có một lỗ vuông. Hình tròn tiêu biểu cho Trời, hình vuông tiêu biểu cho mặt đất, đồng tiền là hình tương tiêu biểu cho ước mong giầu có phát đạt. Trên mặt đồng tiền thưòng khắc bốn chữ như 長  命  富  貴, trường mệnh phú quý, nghĩa là sống lâu giầu bền, hay 吉  祥  如  意 cát tường như ý, nghĩa là may mắn toại ý. Trên cửa chính nhiều thương điếm thuờng có trạm hai đồng tiền,  tiêu biểu cho ước mong thần tài che chở cho việc buôn bán của gia chủ. Hình tượng một sợi giây nối hai đồng tiền tiêu biểu cho hai chữ 連  錢 liên tiền, như một lá bùa phù hộ cho việc buôn bán. Lỗ đồng tiền gọi là 眼, nhãn nghĩa là con mắt.  Kết hợp  chữ tiền 錢  đồng âm với chữ 前, nghĩa là trước, thành  từ ngữ  眼  前, nhãn tiền, nghĩa là trưóc mắt. Trong ý nghĩa đó, người ta có thể kết hợp được nhiều hình tượng tiêu biểu cho những ước mong khác với đồng tiền để có một câu cầu chúc mới, tỷ như kết hợp hình con chim thước, tượng trưng chữ hỷ, ngậm đồng tiền thành lời cầu ưóc  喜  在  眼  前, hỷ tại nhãn tiền, nghĩa là cái vui trước mắt.

Chữ tài thường đi sau chữ phát, thành từ ngữ phát tài, một ước mong hay một lời chúc tụng thông dụng trong giới doanh thương. Trong tiếng Trung Quốc, chữ phát đồng âm với chữ 八 chỉ số 8. Thế nên có câu: 要  得  發, 不  離  八, yếu đắc phát, bất ly bát, nghĩa là muốn được phát, chẳng dời bát (số 8). Thế nên bảng số xe, số điện thoại của nhiều thương gia nguời Trung Quốc thường chọn lựa, dầu phải trả thêm nhiều tiền, miễn sao cho có số 8 hay nhiều số 8. Cùng một lý do, Thế Vận Hội Bắc Kinh khai mạc vào lúc 08 08 chiều  ngày 8 tháng 8 năm 08.

Dưới triều nhà Minh, người ta thường dùng tám biểu tượng Phật Giáo để trang trí đồ sứ, và y phục. Tam biểu tượng đó gọi chung là Bát Cát Tường gồm: Pháp Luân, Pháp Loa, Bảo Tản, Bạch Cải, Liên Hoa, Bảo Bình, Kim Ngư và Bàn Trường.


Hình 41.  Bát Cát Tường.
Tranh dân gian có bức mang tên 劉  海  戲  金  蟾 Lưu Hải hý kim thiềm, dùng làm tranh thần tài. Theo truyền thuyết đạo Giáo, Lưu Hải là một nhân vật thời Ngũ Đại, là người nghĩ ra việc đúc tiền cho dân chúng tiêu dùng. Trong tranh Lưu Hải hai tay câm một xâu tiền dưới chân có con cóc ba chân gọi là Kim Thiềm. Con cóc này là cóc thần, có thể đưa Lưu Hải tới bất nơi nào. Nhưng cóc thần có tật ẫn dưới đáy giếng sâu, mỗi lần Lưu Hải muốn gọi cóc, phải dùng một xâu tiền vàng, thì cóc mới chịu ra khỏi giếng.

Nhiều đời sau, tại Tô Châu, có một thiếu niên tên là A Bảo, tới gõ cửa nhà đại phú thương gia Bối Hoành Văn, xin làm gia nhân. Được thâu nhân, A Bảo trở thành một người làm thân tín. Khi Bối Hoành Văn tính tiền công cho A Bảo, thì A Bảo lễ phép khước từ. Thêm truyện lạ là A Bảo có thể không ăn mấy ngày liền. Tối một bữa A Bảo kéo nước thì kéo từ đáy giếng lên được một con cóc ba chân. Mừng như điên dại, A Bảo chơi với con cóc bằng một sợi dây ngũ sắc. A Bảo nói với Bói Hoành Văn là hắn đã tìm lại được con Kim Thiềm lạc mất cả năm qua. Cả làng tới xem Kim Thiềm. Giữa đám người làng, A Bảo vác Kim Thiềm lên vai rồi bay lên mây biệt tích. Người làng cho rằng A Bảo là hậu thân của thần tài Lưu Hải, giả danh làm A Bảo đi tìm Kim Thiềm. Tìm được lại trở về trời.


Hình 42. Lưu Hải Hỳ Kim Thiềm.
Chữ cóc vàng của người Việt Nam cũng phát xuất từ điển này.

Người Hoa Kỳ thường nói Mỹ Kim không mọc trên cây để mô tả cảnh phải ra sức làm lụng mới có được mỹ kim. Người Trung Hoa, có búc tranh khôi hài  搖  錢  樹  Diên Tiền Thụ , nghĩa la bừc tranh Rung Cây Tiền, vẽ một thân cây cành mang những xâu tiền thay quả, thêm những đồng tiền lớn nhỏ thay hoa, quanh gốc có đủ loại người già trẻ lớn nhỏ giầu nghèo sang hèn,  như đứng chờ tiền rụng.


Hình 43. Diên Tiền Thụ
Đầu năm, đón xuân, người Đông Nam Á thường dùng những chậu quất, hay văn hoa hơn gọi là Kim Quất. Chữ quất 橘 người Trung Quốc coi như đồng âm với chữ  cát 吉, nghĩa là tốt đẹp may mắn,  nên  nhiều tranh dân gian viết hai chữ 大  利 đại lợi lên trên hình một trái quất. Toàn thể bức tranh bây giờ là lời chúc tụng hay hy vọng ước mong được bốn chữ 大  吉  大  利, đại cát đại lợi, nghĩa là may mắn lớn thu nhiều lợi nhuận. Trên mâm quả bày hai trái thị cùng với trái quất là lời chúc hay lòi cầu xin 事  事  大  吉, sự sự đại cát, nghĩa là mọi sự tốt đẹp, bởi với người Trung Quốc, chữ 事  đồng âm với chữ  柿 thị.

Đêm ba mươi tết, tại miền bắc Trung Quốc có tục ăn 交  子, giao tử  để đón giao thừa, bởi chữ 子 tử và chữ 承 thừa đồng âm trong tiếng Trung Hoa . Giao chi trông giống như  một miếng vằn thắn, nhân thịt và rau, hoặc tôm gói trong một miếng giấy làm bằng bột. Tại các vùng Thượng Hải, Hàng Châu và Tô Châu, nguời ta dùng thêm lòng đỏ trứng làm miếng giao chi đổi sang mầu vàng, trông giống như môt thoi vàng. Lại có tục bỏ một đồng tiền trong một miếng giao chi, người nào gắp được miếng giao chi đó thì năm tới may mắn phát tài cả năm. Tục này có từ đời nhà Tống, và tới nay còn thịnh hành tại miền Bắc Trung Quốc.

Ngày Tết người Đông Á có tục cho con cháu tiền mừng tuổi, để trong một phong bì đỏ mầu đỏ. Phong bì đỏ này người trung quốc gọi là 紅  包, hồng bao, và họ tin rằng đó là điều ước mong con cháu khỏe mạnh học hành tiến tới suốt năm. Tục dùng hồng bao ngày tết, theo nhiều ngưòi cho biết  xuất xứ từ giai thoại dưới đây.

Ngày xưa, có một con yêu tinh, tên là Tuế, hàng năm cứ đến đêm trừ tịch lại hiện ra làm hại dân chúng. Yêu tinh chờ cho trẻ em ngủ say mới hiện ra, mặc áo toàn đen, chỉ để hở đôi bàn tay và cái mặt trắng, vào từng nhà sờ đầu nạn nhân. Nạn nhân đều là bọn trẻ, sợ hãi khóc ré lên, phát sốt thật cao, rồi nói mê nói xảng. Đến khi hết sốt, đứa bé  thành ra khùng khùng. Rồi tới một lần, có một em nhỏ chơi với một tờ giấy đỏ và tám đồng tiền, hết gói lại rồi mở ra cho tới lúc ngử gục, miếng giấy đỏ và tám đồng tiền còn bên gối. Bỗng có một cơn gió mạnh, làm cữa bật mở, ngọn đèn tắt phụt. Yêu tinh Tuế hiện ra bên giường, đưa tay sờ đầu em nhỏ, nhưng bất thình lình có một tia sáng từ tờ giấy đỏ bên gối em nhỏ vụt sáng, Yêu tinh sợ hãi biến mất. Từ đó thành tục, đêm ba mươi tết, trẻ em được thức cùng cha mẹ đón giao thừa, được mừng tuổi một túi hồng bao để trừ tà rồi mới đi ngủ.

Vẽ cá là một ngành hội họa cổ điển của Trung Quốc.  Tranh dân gian Trung Quốc vào dịp tết cũng có nhiều bức vẽ cá, bởi chữ 魚, ngư nghĩa là cá, đọc gần giống chữ 餘  nghĩa là nhiều.


Hình 44. Liên Niên Hữu Dư
Bức tranh con cá ngày tết vẽ một em nhỏ tay cầm một bông sen tay ôm con cá mang ý nghĩa lời mong ước: 連  年 有  餘, liên niên hũu dư, nghĩa là năm này liền năm tới được sống dư dật, bởi chữ liên 蓮 liên nghĩa là hoa sen đồng âm với chữ liên 連 là liền và hình con cá gợi lên chữ 魚 ngư đồng âm với chữ chữ 餘 dư. Gỡ cá mời khách ngày tết, người ta thường  để lại xương cá nguyên vẹn,  liền với đầu cá và đưôi cá, vì đó là điềm gia chủ làm ăn hanh thông, đầu xuôi đuôi lọt cả năm.


Hình 45. Cá Vàng.
Có nhiều người thích nuôi cá vàng. Tiếng Trung Quốc gọi cá vàng là 金  魚, kim ngư. Vì chữ ngư 魚 đông âm vói chữ  餘, nên con cá vàng tiêu biểu cho sự giầu có đến mức trong nhà có dư vàng. Tranh dân gian ngày tết vẽ một em nhỏ, tay cầm cành hoa sen bơi cùng đàn cá vàng là một bức tranh đưọc nhiều người ưa chuộng. Bông sen còn đọc là  荷 trong tiếng Trung Hoa rất gần vói chữ 和 hoà, nên  toàn bộ bức tranh nói lên lời chúc tụng có dư vàng trong nhà, có thêm con, lại có sự hoà hợp cả năm>. Chữ ngư 魚, trong tiếng Trung Quốc còn đồng âm với chữ 玉 ngọc. Thế nên một bầy cá vàng gợi lên ý chúc tụng 金 玉  滿  堂, kim ngọc mãn đương, nghĩa là vàng ngọc đầy nhà.

Gần đây, tại nhiều cửa hàng Trung Quốc, thường bày một con mèo  vàng, dơ một tay lên đu đưa như chèo mới khách qua lại vào tiệm mua hàng. Con mèo này có tên là 招 財  貓,  chiêu tài miêu, có nghĩa con mèo chiêu khách. Con mèo này nguyên gốc của người Nhật Bản, nhưng trở thành một hình ảnh của một thương quán thịnh vương ở Trung Quốc cũng như khắp cõi đông Á.

Write A Comment