Author

Truyền Thông

Browsing

Bài viết này mình sẽ chia sẻ với các bạn lộc nghĩa là gì và câu chuyện của lộc trong văn hóa.

Lộc là gì?

Đứng sau chữ phúc là chữ lộc, nghĩa là những gì của trời ban cho con người như khoa bảng, địa vị xã hội, danh giá, tăng thưởng, lương bổng. Lộc càng dồi dào, cuộc sống vật chất càng hạnh phúc dễ dàng. Lộc là thành công trên hoạn lộ, nên lộc khác với tài, chỉ riêng  truyện  thịnh đạt về tiền bạc trên thương trường. Lộc 祿 đồng âm với 鹿 là con hươu, nên người ta thường dủng con hươu làm biểu tượng cho chữ lộc, như trong từ ngữ bách lộc 百 祿.

Chữ Lộc thư pháp trong tiếng Hán

chữ Lộc trong tiếng Trung

Câu chuyện và ý nghĩa của Lộc

Truyền thuyết cho rằng hươu có thể sống lâu trăm tuổi, nên nhiều khi con hươu còn là hình tượng của chữ thọ. Thọ thần không cỡi ngựa cỡi bò mà cỡi hươu trong nhiều bức tranh dân gian, vì hươu có thể tìm ra được nấm linh con hươu, trên chi dùng làm thuốc trường sinh bất tử. Hình tượng bộ tam đa gôm ba vị phúc thần phúc,  lộc,  thọ biến thể thành hình tượng lưng có chữ phúc, trong bụng có chữ thọ. Tại điểm này, con hươu đứng cùng hàng với con hạc để biểu thị người cao tuổi.

Cũng như liên quan tới chữ phúc có phúc thần, liên quan tới chữ lộc dưới trần  có lộc thần, trên trời có lộc tinh như trong thành ngữ lộc tinh cao chiếu 祿  星  高  照, biểu thị lòng người Trung Quốc ngưỡng mộ tinh tú này. Chữ lộc, đọc theo tiếng Trung Quốc đồng âm với chữ lục chỉ số 6, thế nên không lạ là nhiều người coi số sáu là một con số mang lại nhiều may mắn trên đường sự nghiệp. Hình ảnh chữ lộc trong dân gian là cảnh tiến sỉ vinh quy, có cờ có bảng có ngựa anh đi trước võng nàng theo sau. Trên sân khấu, chữ lộc trải dài trên ba cảnh. Cảnh thứ nhất thường là cảnh giáo tuồng, nghẹ nhân đeo mặt nạ trắng, mặc áo đỏ, ra sân khấu đi liền ba vòng với nụ cười trên môi, nhưng không nói một lời. Lần thứ hai hiện ra trên sân khấu vời một đứa bé kháu khỉnh trên tay, và cũng đảo ba vòng sân khấu. Lần sau cùng, người đó mang theo một tấm vải đề bốn chữ 加  官  進  祿 gia quan tiến lộc nghĩa là thăng quan tiến lộc.

Theo truyền thuyết, hàng năm trên sông Hoàng Hà, hàng đàn cá chép bơi ngược dòng sông tới Vũ Môn, con nào nhẩy qua đươc Vũ Môn thì hoá rồng. Từ đời nhà Tống (960-1279) ngôn ngữ Trung Quốc có câu: 鯉  魚  跳  龍  門, lý ngư khiêu long môn, nghĩa là cá chép vượt cửa rồng, dùng dể chỉ nhưng kẻ may mắn đả đỗ các kỳ thi hương thi hội hay thi đình để ra làm quan với triều đình. Nhưng kỳ thi hương đề mở ra cho tất cả mọi người. Đưọc bổ làm quan là bắt đầu một cuộc sống giầu sang, không nhưng riêng cho thân mình mà có khi cả họ được nhờ. hai  chữ 鯉 (lý) và 祿 (lộc) trong tiếng Trung Quốc là hai tiếng đồng âm, thế nên hình ảnh con cá chép là hình ảnh sự thi đỗ thành đạt. Tại Việt Nam, vào dịp tết trung thu, cha mẹ thưòng mua cho con trai một chiếc đèn cá chép, phải chăng cũng là hy vọng đứa con sẽ đỗ đặt thành tài, ra làm quan.

Ước mong của những thư sinh xuất sắc không phải chỉ là vưọt qua được vũ môn, mà phải giật được chức giải nguyên 解  元, tức chức thủ khoa, hay đỗ đầu khoa thi. Có vậy mới mong chiếm được ấn phong hầu. Chữ giải 解  này đồng âm với chữ 蟹 là con cua nên hình tượng con cua được dùng làm lời chúc tụng nhưng thí sinh lều trõng đi thi.

Vượt qua được Vũ Môn, con người lại uớc mong hanh thông trên hoạn lộ, và hình tượng con người may mắn này là hình ảnh con khỉ, chữ Trung Quốc là 猴 đoc là hóu và đọc theo âm Việt Nam  là hầu. Trong cả hai ngôn ngữ chữ này đồng âm với chữ 候 , nghỉa la một chức quan lớn trong triều. Kết hợp hình tượng con khỉ với con ngựa, người Trung Quốc có thành ngữ 馬 上  封  候, mã thượng phong hầu, dùng biểu thị cảnh thang quan tiến chức lẹ làng trên hoạn lộ. Hình ảnh tiêu biểu người làm quan ước mong lên tới mức nhất phẩm triều đình là hình ảnh một con khỉ đang đu mình trên ngọn cây bắt lấy một chiếc ấn và gọi là 封  候  掛  印, phong hầu quải ấn.

Con gà trống kết hợp với bông hoa mào gà thường được dùng thay lời chúc tụng cái may mắn được thăng quan tiến chức mau lẹ. Bởi lẽ mào gà tiếng trung quốc là chữ quan 官, chữ này còn có nghĩa là ông quan hay chiếc mũ, thế nên kết hợp con gà trống với bông hoa mào gà biểu thị bốn chữ 官  上  加  官, quan thượng gia quan, ngụ ý thăng quan tiến chức liên tiếp mau mắn. Con gà trống còn tiêu biểu cho một linh vật có khả năng xua đuổi tà ma.

Có nhiều loại hoa được chọn làm hình tượng cho chữ lộc. Loại thông dụng nhất là hoa mẫu đơn. Hoa này được mệnh danh là hoa phú qúy. Mẫu đơn vàng hay tím là hai loại mẫu đơn rất được ưa chuộng. Mẫu đơn còn tiêu biểu cho mùa xuân và tượng trưng sắc đẹp giai nhân. Bộ ba mẫu đơn, ngọc lan và hải đường kết thành 玉  堂  富  貴, ngọc đường phú qúy, nghĩa là cảnh giầu sang nơi điện ngọc. Kết hợp  hoa sen, hoa cúc, hoa mận với mẫu đơn thành 四  季  平  安,  tứ qúy bình an, nghĩa là bình an suốt bốn mùa.

Millennial Baby Boomber XYZ Generation là gì? Nhìn vào biến động của các lớp tuổi qua dòng thời gian có thể hữu ích cho những suy gẫm về ngày mai. Đó là chủ đích của bài viết này.

Có nhiều cách định nghĩa thế hệ, thế hệ theo biến cố lịch sử, qua các chuyển biến xã hội, qua các lớp tuổi hay theo thứ tự dòng họ.Trong sinh học, thế hệ là thời gian từ khi người mẹ sanh con đầu lòng cho đến khi con gái của bà ta sanh con lần thứ nhất. Theo thống kê ở Mỹ năm 2007 thời gian này là 25,2 năm, ở Anh quốc năm 2004 là 27,4 năm.

Nghiên cứu về thế hệ tức là tìm các đặc tính riêng của một lớp tuổi tùy theo hoàn cảnh lịch sử văn minh, xã hội, văn hóa, kinh tế, địa dư, tuy nhiên không phải vì thế mà cá nhân trong thế hệ hoàn toàn đồng nhất. Cũng không có một giới hạn nhất định về thời điểm hay thời gian, mà thường có sự tròng tréo giữa các thế hệ.

William Strauss và Neil Hove trong quyển Generations (ISBN 0-688-11912-3, 1991) nghiên cứu về dân tộc Anglo-American trong vòng 500 năm, đã căn cứ vào các biến chuyển xã hội, cho rằng các thế hệ vận chuyển theo từng chu kỳ mà ông gọi là saeculum. Mỗi saeculum dài 90 năm gồm có bốn thế hệ, mỗi thế hệ chừng 22 năm. Các thế hệ này chuyển mình tùy theo các khúc quanh văn hóa xã hội (xin xem phụ bản ở cuối bài).

Tại Canada, cũng trong năm 1991, Douglas Coupland xuất bản quyển Generation X, Tales For An Accelerated Culture, danh từ thế hệ X, rồi Y, Z được dùng để chỉ các thế hệ đến sau thế hệ baby-boomer.

Trong thế kỷ XX, các nhà xã hội học đã phân chia và đặt tên cho các thế hệ, lần lượt như sau::

  • Generation hay Greatest Generation (1901–1924) là thế hệ đã tham dự vào thế chiến thứ hai.
  • Thế hệ im lặng (1925-1942) cũng gọi là Traditionalist, con đẻ của thời kỳ khủng hoảng kinh tế 1929.
  • Thế hệ Baby Boomber (1943-1960), thời kỳ hậu chiến khi tỷ lệ sinh sản gia tăng, có nhiều biến chuyển xã hội, thế hệ này chối bỏ các giá trị cũ, tái định nghĩa lại giá trị xã hội cổ truyền.
  • Thế hệ X (1961-1981) cũng gọi là thê hệ 13, hay là thế hệ Baby Busters, quyền lợi xã hội thiệt thòi so với baby-boomers.
  • Millennial là gì? Millennial là thế hệ Y (1982-2000) hay còn gọi Millenium, GeNext, là con của thế hệ boomers
  • Thế hệ Z (2000 – ?? ) New Silent, Gen I, Internet Gen. or Net Gen., Digital Natives, Gen Tech
  • Thế hệ alpha, A …
  • Đối với người Việt Nam ở hải ngoại, tương đương vói X là thế hệ một rưởi, trong nước tương đương với Y là thế hệ 8x và 9x.

Thế hệ Y ở Trung Hoa gọi là bát thập kỷ thế hệ hay Little Emperors, thế hệ Tàu này lạc quan về tương lai, tiêu thụ nhiều, có óc kinh doanh, muốn biến nước Tàu thành cường quốc. Vì chính sách hạn chế sinh sản mỗi gia đình chỉ được phép có một con, người Trung Hoa chỉ giữ bào thai lại khi biết sẽ có con trai, gây ra tình trạng trai thừa gái thiếu khá trầm trọng; hiện có tới 40 triệu thanh niên Tầu không lấy được vợ.

– Ở Đại Hàn thế hệ đặt tên theo các biến động chính trị, thế hệ dân chủ 1960 chống Lý Thừa Vãn, thế hệ 1964 chống hoà ước với Nhật, thế hệ 1969 chống chế độ tổng thống 3 nhiệm kỳ.

Ở Ấn độ có thế hệ độc lập 1947, thế hệ Indian boomers 1960, thế hệ Ge, thế hệ X phát triển kinh tế kỹ thuật.

Hẳn không thể nào có một mẫu người cho mỗi lớp tuổi, các thế hệ mọi nơi mọi lúc cũng không hoàn toàn đồng đều, nhưng vì truyền thông và giao dịch toàn cầu càng ngày càng mau chóng, ảnh hưởng hỗ tương các nơi trên địa cầu lan rộng, từ đó có nhiều điểm tương tự để so sánh.. Ta có thể nhìn vào thế hệ Âu Mỹ để có một nhận định khái quát về các các thế hệ trong thời kỳ vừa qua.

  • Thế hệ Traditionalists là thế hệ sanh trước khi thế chiến thứ hai kết thúc, hiện nay có vào khoảng 75 triệu người, chiếm một phần tư dân số Mỹ.

Họ chịu ảnh hưởng của thời kỳ khủng hoảng kinh tế 1929, thế chiến thứ hai 1939-1945, chế độ quân dịch và chiến tranh lạnh. Nhóm người này rất trung thành với thể chế xã hội, yêu nước, bảo thủ trong các dự tính, lịch sự, có tinh thần đạo đức, ít chú trọng vào kỹ thuật, coi trọng nghề nghiệp cao, có tinh thần trách nhiệm, chu toàn công việc trong sở. Tổng thống “Bush cha” là điển hình của thế hệ này.

  • Thế hệ Baby-boomers là thế hệsanh vào khoảng giữa 1946-1964, nhân số chừng 80 triệu người ở Mỹ.

Sanh sau thế chiến thư hai, lúc tỷ lệ sanh sản lên cao, họ trưởng thành vào lúc kinh tế bắt đầu thịnh vượng, nhưng chịu ảnh hưởng cuộc chiến Việt Nam và chiến tranh lạnh, họ chống đối chiến tranh, đòi hỏi quyền lợi riêng, chịu ảnh hưởng cuộc cách mạng tình dục, hay ghiền ma túy, thích nhạc rock and roll, cư ngụ bên ngoài thành phố, hai vợ chồng đều đi làm, đời sống gia đình thay đổi.

Nhóm này muốn tạo dấu ấn của mình trong xã hội, làm khác người, lạc quan, thiên về lý tưởng, có tinh thần phấn đấu cao, thành công ngoài đời, ly dị cao, ít chấp nhận thất bại, không yêu cầu giúp đỡ, dễ bị burn-out, thiên về vật chất, nợ nần nhiều. Bỡ ngỡ về giá trị trong xã hội, họ thường tự hỏi who am I?

Điển hình cho thế hệ này là tổng thống Bill Clinton, Nicolas Sarkozy.

. Thế hệ X, sanh khoảng 1965-1980 nhân số 46 triệu ở Mỹ.

Ảnh hưởng của chương trình truyền hình Sesame street, Music TV, máy điện toán cá nhân P.C, cha mẹ ly dị, nhiều người trong lớp tuổi này nghiền cocaine, crack.

Ít tin tưởng vào cơ chế xã hội, nhất là khi thấy các điều kiện thuận lợi đã bị thế hệ boomers chiếm giữ, họ muốn tạo cho mình một sự nghiệp.

Tính nết thường chiết trung, nhưng không ngại thay đổi nghề nghiệp và việc làm, thích nghi với mọi thay đổi, nghi ngờ các cơ chế, tỷ số ly dị cao, tiền phong trong xa lộ điện tử, có nhiều sáng kiến và nghị lực.

Về tiêu cực, họ quá trẻ trong công tác quản trị, chểnh mảng, ít đắn đo, nghĩ sao nói vậy, thích tự làm chủ lấy mình.

  • Thế hệ Y, sanh trong thời kỳ 1980-2000, vào khoảng 76 triệu ở Mỹ. Trưởng thành trong giai đoạn phát triển kỹ thuật truyền thông, giầu

nghèo cách biệt, ảnh hưởng của các sắc dân di trú. Có nhiều người nghiền ma túy, cần sa, gia nhập bọn côn đồ bạo hành.

Họ nhận định các cơ chế xã hội theo cách nhìn riêng của mình. Lớp tuổi này mệnh danh là thế hệ digital, hiếu biết cao về điện toán và tin vào internet, thông tin, máy tính 24 trên 24 giờ, chấp nhận dị biệt và mong người khác cũng chấp nhận quan điểm của mình, quan tâm về môi trường, thích nhac MTV (Music TV).

Giá trị học lực càng ngày càng cao, không quan tâm về việc làm, nhưng muốn đổi mới và tự mình làm chủ.

  • Thế hệ 7X, 8X và 9X ở Việt Nam là một khái niệm để chỉ những người sanh vào thập niên 1970, 1980 và 1990.

Những tranh luận cuả người trong ba lớp tuổi này và qua những bài bình luận về giới trẻ có thể nhìn thấy đặc tính nếp sống của họ

  • Thế hệ 7X, từ 30 đến 40 tuổi.

Một bạn trẻ trong lớp tuổi 7X đã nói về thế hệ của mình như sau. “Có người nói khoảng cách này (giữa thế hệ 7X và 8X) không đáng kể chỉ khoảng 10 năm thôi mà. Ở đây khoảng cách chúng ta không thể đo bằng con số mà chỉ có thể đo bằng suy nghĩ, cách nghĩ, cách hành động. Nhưng tại sao là 7X và 8X mà không phải 7X với 9X hay 7X với 6X. Điểm chung của hai thế hệ này là họ không chứng kiến chiến tranh, nhưng với mình là cả một khoảng cách khó có thể lấp đầy được. Đối với thế hệ 7X của tụi mình được sinh ra trong thời kỳ đất nước còn trong thời kỳ bao cấp. Mặc dù không trực tiếp ảnh hưởng bởi thời kỳ này nhưng tụi mình cũng biết được cuộc sống nó như thế nào. Mình không thể quên được cảnh ba mình 4 giờ sáng đi xếp hàng mua gạo, cả nhà không dám ăn thịt để đổi mỡ về chế biến các món ăn khác. Mình còn nhớ mãi lúc mình 8 tuổi, ba mình giao mình việc đi chợ. Nhà mình lúc đó đang nuôi gà để cải thiện nên phải mua cá vụn về nấu thêm cho gà ăn. Thế là mình chọn trong đám cá vụn đó có những con to lấy ra nấu cho nhà ăn. Sao bữa ăn lúc đó cực thế. Và để có thể sắm một chiếc xe đạp mình phải chuẩn bị gần ba năm trời bằng cách mua từng phụ tùng về để dành. Hồi đó mình tìm đủ mọi cách để có tiền như hàng sáng mình lấy đá trong tủ lạnh mang qua nhà hàng xóm bán, nhà mình có hai cây mận rất to, thế là mình hái mận mang ra ngoài ngõ ngồi bán. Chính vì chứng kiến cuộc sống thời kỳ đó mà mình rất thương bố mẹ. Và cũng chính vì lý do đó mà mình ở lại thành phố Nha Trang này. Không phải bây giờ người ta mới đổ xô vào Saigon để tìm cơ hội vươn lên. Khi ra truờng có rất nhiều cơ hội để mình phát triển nhưng chính lúc đó hình ảnh bố mẹ làm mình nghĩ lại”.

  • Thế hệ 8X là thế hệ những người từ 20 tới 30 tuổi ở Việt Nam, trưởng thành khi chiến tranh đã chấm dứt. 

Họ rất năng động, hoạt bát và là thế hệ tiếp thu văn hóa phương Tây một cách nhanh chóng, đầy triển vọng, thường nghĩ khác làm khác so với lớp tuổi trước. Và với một số người, họ cho đó là phong cách sống của họ. Họ yêu tự do không thích ràng buộc và thích khám phá. Các giá trị truyền thống bị mất đi và hầu như con người chỉ sống vì cái tôi cá nhân đó.

Một bài báo tháng 2-2010 vừa qua đã mô tả giới trẻ thế hệ 8X ở Việt Nam là một lớp tuổi có ba vật bất ly thân.

Đó là dùng thẻ thanh toán ATM. Tiện lợi là thứ nhất song hơn cả, thẻ là những giao dịch trên mạng ngày càng thông dụng. Những đợt hàng giảm giá liên tục quảng cáo ầm ĩ trên internet luôn làm những người trẻ khó ngồi yên.

Điện thoại di động: số liệu cho biết cả nước có trên 3 triệu thuê bao điện thoại di động mà trong số đó ít nhất phải có đến 50% là giới trẻ. Không phải để khoe máy như hồi điện thoại di động còn là đồ xa xỉ, điện thoại với 8X hôm nay có rất nhiều chức năng khác, nhiều nhất vẫn là nhu cầu giao lưu khi mà giới trẻ 8X luôn khao khát được độc lập, tự do không phụ thuộc vào gia đình nữa. Chỉ cần một tin nhắn trên máy đủ để kéo những 8X lại gần nhau hơn.

Ổ cứng di động USB: trong Ban Chấp hành Đoàn ai cũng có một cái USB lủng lẳng đeo ở cổ. Lúc lên văn phòng copy tài liệu nọ, ảnh kia. Rồi muốn ra hàng net để gửi đi.

Về tiêu cực, 8X ngại xung phong, ngại dẫn đầu mặc dầu có khả năng, hời hợt, thiên về thực dụng. Cách suy nghĩ ấy đã dẫn đến một thế hệ tương đối thụ động, ít phát triển, ít đóng góp ý kiến, tròn trịa, như “hộp cá sốt cà”.

. Thế hệ 9X là thế hệ từ 10 đến 20 tuổi.

Là nhóm lớn lên với sự phát triển kinh tế, thông tin điện tử mở ra thế giới bên ngoài (theo ước lượng hiện ở Việt Nam có tới 22 triệu người sử dụng internet). Họ được miêu tả là một thế hệ tiến bộ và nổi loạn, tự tin hơn thế hệ trước, theo đuổi những điều họ muốn có, dùng ngoại ngữ và đặc biệt là internet.

Họ có chiều hướng từ chối phong tục truyền thống, giá trị của lớp tuổi đi trước, thích nghe nhạc ngoại quốc, ưa phong cách sống và phong tục của nước ngoài.

Có lẽ đây là lớp tuổi bị chỉ trích nhiều, thế hệ 9X bị phê bình có một thành phần nông nổi nhất thời, lối sống buông thả, ăn chơi sành điệu, thích cà phê lùm, cà phê chòi hay cà phê giường, thích nhuộm tóc, phì phà điếu thuốc …

  • Thế hệ Z là thế hệ tương đương với thế hệ 0X (zeroX) ở Việt Nam, là bước chuyển của thiên niên kỷ, sanh sau năm 2000.

Cũng gọi là thế hệ internet, hay là tân thế hệ trầm lặng (nouvelle génération silencieuse), để so sánh với thế hệ trầm lặng đầu thế kỷ 20. Nhân số đông đảo chiếm tới 18% dân số.

Những người trẻ này không những chỉ tin vào Wikipedia, mà thích truy cập mạng, tin tưởng vào kỹ thuật, hoạt động của họ áp dụng theo internet, www, google …Kiếm việc làm không khó.

Tuổi Z không có khiếu tranh luận bằng ngôn từ hay các loại phát biểu khác, họ thiếu kiên nhẫn, muốn có kết quả ngay. Thích sử dụng điện thoại di động và cảm thấy thiếu sót nếu không có iPod, iPad.

Cá nhân chủ nghĩa, ít tinh thần gia đình, thiếu thỏa hiệp, không tin vào giá trị chung của xã hội, thế hệ Z ít nghe lời người khác, không chú ý đến kẻ khác và có lẽ vì thích sống với thế giới ảo, nên lớp tuổi Z không có khuynh hướng quá khích.

Nhiều nhà xã hội dự đoán sau năm 2020 sẽ có thay đổi lớn trong cách làm việc, quan niệm về luân lý và giá trị. Khó biết được đặc tính văn hóa của lớp tuổi này.

DÂN SỐ VIỆT NAM

Khảo sát về dân số Việt Nam, một phần lớn chúng tôi dựa vào mô hình của US Bureau of Census, một cơ sở nghiên cứu về dân số tất cả các nước trên thế giới theo phương pháp cohort component projection. 

Xin chú ý để tiện theo dõi theo thời gian, mầu sắc của mỗi khoảng cách 5 tuổi sẽ giữ nguyên trong những biểu đồ kế tiếp 10 năm sau.

* Nhìn về phía sau: dân số Việt Nam năm 1990 và 2000

Tháp tuổi dân số Việt Nam những năm 1990 và 2000 có hình mũi nhọn, lớp tuổi già không sống lâu như những năm về sau.

Phái nam từ 35, 40 tuổi trở lên (nghĩa là lớp người mà tuổi thanh niên đã trải qua cuộc chiến dài 30 năm trước1975) rất ít so với phái nữ, do hậu quả giết chóc của chiến tranh.

Tuổi sơ sinh trong năm 1990 tăng khá nhiều so với lớp tuổi lớn hơn. Điểm nổi bật khi so sánh tháp tuổi 1990 với tháp tuổi 2000 là số sanh bắt đầu giảm ở lớp trẻ nhỏ từ 0 tuổi tới 4 tuổi, con trai nhiều hơn con gái do hậu quả của tình trạng hạn chế sinh sản, mà phá thai là một yếu tố quan trọng tại Việt Nam, ước tính lên đến một triệu phá thai hàng năm (Truyền Thông số 18 Mùa Đông 2005), mặc dầu pháp lệnh dân số 2003 nghiêm cấm việc thăm dò giới tính của thai nhi..

* Hôm nay: dân số Việt Nam năm 2010

Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam kết quả cuôc tổng điều tra dân số và nhà ở tính đến ngày 1-4-2009, dân số Việt Nam là 85.789.573 người, tăng 9,5 triệu người so với 10 năm trước.

Có vài yếu tố đáng ghi trong tháp tuổi này

1- Chênh lệch giới tính đang tăng cao. Tỷ lệ nam nữ những người trên 65 tuổi là 33,5%, phái nữ nhiều hơn phái nam. Trái lại, tỷ số nam nữ khoảng 0-4 tuổi là 111% so với 106% năm 2005. Với đà tăng trưởng này, đã có dự đoán trong vòng 15 đến 20 năm nữa, ở Việt Nam sẽ thiếu 4,3 triệu thanh nữ.

Hiện nay tuổi kêt hôn của phái nam là 26,2 và phái nữ 22,8 tuổi.

2- Lực lượng lao động tức là những người từ 15 đến 59 tuổi tăng thêm nhiều so với bảng phân bố dân số những năm trước, hiện nay khoảng 43,8 triệu, trên dưới 50% dân số, đạt đến cơ cấu dân số vàng, nghĩa là hai người trong độ tuổi lao động mới phải gánh một người phụ thuộc. Tuy nhiên thời kỳ này không dài, Ủy Ban Dân Số, Gia đình dự đoán thời kỳ này sẽ chấm dứt năm 2015, trong khi bộ phận dân số của Liên Hiệp Quốc cho là thời kỳ dân số vàng ở Việt Nam sẽ kéo dài từ 2010 đến 2040.

3- Lớp tuổi phụ thuộc là những người không tham dự vào công việc sản xuất, khoảng gần 44% đối với lớp người dưới 15 tuổi và 14% đối với người trên 65 tuổi. 

Từ các con số này, tính ra chỉ số lão hóa, biểu thị bằng tỷ số người trên 60 tuổi so với người dưới 15 tuổi. Hiện nay chỉ số lão hóa ở Việt Nam là 35,9%, Singapour 85% và Thái Lan 52%.

4- Tuổi học phổ thông từ 5 đến 19 tuổi khoảng 29 triệu, chiếm 28,7%, trong số này phái nữ đi học nhiều hơn phái nam 51,09%.

* Nhìn về phía trước : dự báo dân số

Cơ cấu dân số Việt Nam sẽ thay đổi mau chóng. Thống kê dự đoán đến năm 2020 dân số sẽ là 99 triệu và năm 2030 là 104 triệu.

Lớp tuổi nhỏ giảm, tuổi lao động tăng, tuổi già trên 60 tăng, biểu đồ phân bố dân số không có hình tháp mà giống hình cái chum (cái lu)..

Sinh xuất càng ngày càng giảm, nhóm tuổi 0-4 giảm rõ rệt.

Theo Vũ Quang Việt, dự phóng dân số ở tuổi tiểu học sẽ giảm xuống 6,5 triệu vào năm 2020 và 6,3 triệu vào năm 2030.

  • cấp trung học sĩ số giảm mạnh xuống còn 10,4 triệu vào năm 2015, tức là ít hơn 2 triệu.

Dân số ở độ tuổi đại học có thể giảm đi 10% vào năm 2015, 20% vào năm 2020, và 24% vào năm 2030, nhưng nếu số sinh viên đại học không tăng thêm (năm 2006 là 20,5%), thì tỷ lệ đi học đại học vẫn tăng.

Sự giảm dân số trong lớp tuổi đi học có thể đem lại kết quả thuận tiện cho việc nâng cao nền giáo dục, tuy nhiên đầu tư cho giáo dục tại Việt Nam vẫn còn thấp, 2,1% lợi tức quốc gia, so với tỷ lệ toàn thế giới là 5,4%.

Lực lượng lao động 15-59 tuổi tăng nhanh cả về tuyệt đối lẫn tương đối, có thể lên đến 65% dân số. Tuy nhiên không phải mọi người trong tuổi lao động đều tham gia hoạt động kinh tế, và người đến tuổi nghỉ hưu vẫn còn làm việc.

Trong khi lớp tuổi phụ thuộc trẻ 0-14 giảm thì lớp tuổi phụ thuộc già trên 60 tăng. Tốc độ lão hóa nhanh hơn tốc độ tăng dân số trong tuổi lao động, đạt tới 11,24 % năm 2020.

Liên Hiệp Quốc quy định rằng một dân số có 10% người cao tuổi là một dân số già. Các vấn đề sức khoẻ, tâm lý, xã hội sẽ đặt ra một cách nghiêm trọng. Theo Nguyễn Đình Cừ, trong số người cao tuổi chỉ có khoảng 16-17% hưởng lương hưu hoặc mất sức, hơn 10% hưởng trợ cấp người có công với nước. Như vậy còn trên 70% sống bằng cách khác, tiếp tục lao động hay nhận hỗ trợ của con cháu và gia đình.

Sự thay đổi về cơ cấu dân số vừa là một thuận lợi vừa gây ra áp lực trong công tác giải quyết việc làm đối với lớp tuổi lao động, bảo đảm an sinh xã hội cho lớp tuổi học sinh và lớp tuổi phụ thuộc, trẻ em và người già, và là một thách đố đối với việc ðầu tư vào giáo dục.

Ngày mai sẽ ra sao? Đó là một câu hỏi cho những ai còn muốn nhận quê hương làViệt Nam.

Tác giả: Phạm Hữu Trác T7-2010

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Hababou, Ralph, Génération W, Fìrst, 2009
  • Coupland, Douglas, Génération A, Vintage, 2009.
  • Coupland, Douglas, Génération X, Tales For An Accelerated Culture, St Martin’s Press, 1991
  • When Generations Collide, Lynne C. Lancaster , The Management Forum Series, March 2004
  • Generation Gaps Revisited, Kenneth A. De Jong & Jayshree Sarma
  • Đối thoại với cái tôi của tuổi trẻ, Huỳnh Văn Sơn.
  • Internet 

Phụ bản

Bảng đối chiếu các thế hệ (theo Strauss và Howe và Doulas Coupland)

Late medieval Saeculum
Arthurian Generation 1433-1460 Retreat from France
Humanist Generation 1461-1482 War of Roses
Reformation Saeculum
Reformation Generation 1483-1511 Tudor Renaissance
Reprisal Generation 1512-1540 Protestant Reformation
Elizabethan Generation 1541-1565 Intolerance and Martyrdom
Parliamentarian Generation 1566-1587 Armada Crisis
New World Saeculum
Puritan Generation 1588-1617 Merrie England
Cavalier Generation 1618-1647 Puritan Awakening
Glorious Generation 1648-1673 Religious Intolerance
Enlightenment Generation 1674-1700 Glorious Revolution
Revolutionary Saeculum
Awakening Generation 1701-1723 Augustian Age of Empire
Liberty Generation 1724-1741 Great Awakening
Republican Generation 1742-1766 French and Indian War
Compromise Generation 1767-1991 American Revolution
Civil War Saeculum
Transcendental Generation 1792-1821 Era of Good Feeling
Gilded Generation 1822-1842 Transcendental Awakening
Progressive Generation 1843-1859 American Civil War
Great Power Saeculum
Missionary Generation 1860-1882
Lost Generation 1883-1900
G.I. Generation 1901-1924
Silent Generation 1925-1942 Traditionalists (Pre-1946)
Millennial Saeculum
Baby Boom Generation 1943-1960 Baby Boomers (1946-1964)
13th Generation 1961-1981 Generation X (1965-1981), 1 rưỡi.
Millenial Generation 1982-2003? Millennial, Y, GeNext (1982-2000)
Thê hệ 8x và 9x tại Việt Nam
New Silent Generation 2004- ? Generation Z,
Thế hệ A, alpha, zéro
Ở Việt Nam hiện nay:
  • Thế hệ 8x từ 20 tới 30 tuổi ở VN hiện nay có khoảng 9 triệu nam và 9 triệu nữ
  • Thế hệ 9x từ 10 tới 20 tuổi ở VN ít hơn, khoảng 8,5 triệu nam và 8 triệu nữ . (Xin coi tháp tuổi Việt Nam)

Feminist là sự đấu tranh giành lại nhân quyền cho giới phụ nữ. Trong tiếng Việt dịch Feminism là chủ nghĩa nữ quyền hay còn gọi là quyền phụ nữ.

Trước khi đến với khái niệm Feminist là gì thì chúng ta cùng xem câu chuyện này nhé.

Miss X sinh ra và lớn lên trong một gia đình nề nếp, tại một làng nhỏ miền Bắc nước Anh. Tuy gia đình khá giả, cô và các chị em gái chưa bao giờ được cắp sách đến trường như các anh trai cô, họ chỉ được bố và các anh dậy đọc, dậy viết ở nhà. Từ thuở còn nhỏ, mẹ dạy cô nấu nướng, cắm hoa, giặt giũ, thêu thùa những thứ mà ba cho rằng một người phụ nữ đảm đang cần phải biết. Mặc dù Miss X rất thích đọc sách và có óc tìm tòi, nhưng bố mẹ cô bảo rằng con gái đọc sách nhiều cũng vô ích. Năm cô tròn 18 tuổi, ông bà gả cô cho một gia đình thương gia trong làng. Đời sống vợ chồng không có thơ mộng như cô tưởng. Từ ngày lập gia đình, với trách nhiệm của một người vợ, người con dâu và người mẹ, cô càng bận rộn hơn trước. Ngày nào cũng như ngày nào, cô phải lo mọi việc nội trợ từ sáng sớm đến tối khuya. Nào là đi chợ, nấu ăn, quét dọn, may quần áo cho chồng con, hầu hạ bố mẹ chồng. Tuy biết mình thích vẽ, viết văn, và có năng khiếu làm sổ sách nhưng phu quân của cô không muốn cô mất thời giờ làm những việc vớ vẩn đó. Theo ông, một người đàn bà gương mẫu phải dành hết thời giờ lo cho chồng, gia đình chồng và các con. Nhiều khi, cô cảm thấy bực mình, chán nản trong sự gò bó của gia đình nên gây gổ với chồng và bị ông ta đánh. Một lần, khi cô tức giận bỏ đi, người chồng đă nói thẳng vào mặt cô : Uổng công tôi nuôi cô từ trước đến giờ. Cứ đi, để xem không có tôi thì cô có sống nổi không.

Đây là một câu chuyện đặc trưng nói lên đời sống bị gò bó, áp bức, bóc lột của người phụ nữ ngày xưa. Tuy ngày xưa nhưng thật ra cũng không phải lâu lắm. Hầu như ai cũng biết rằng phong trào giải phóng phụ nữ (feminism) đã đem lại quyền lợi và tự do cho thế hệ phụ nữ ngày nay. Nhưng ít ai biết feminism bắt nguồn từ lúc nào và từ đâu. Những quyền phụ nữ chúng ta có được ngày hôm nay, từ học thức, việc làm, địa vị trong gia đìnhh, xã hội, cho đến quyền tham gia chính trị là nhờ biết bao người nữ anh hùng trong lịch sử đã đứng lên tranh đấu, chịu nhục nhã và hi sinh.

Vậy  feminism hay còn gọi là nữ quyền nghĩa là gì?

Nhiều người định nghĩa về khái niệm feminism từ nhiều khía cạnh khác nhau. Có người nghĩ rằng feminism đấu tranh giúp người đàn bà có thể đi làm ngoài xă hội, có người lại cho rằng feminism chứng minh đàn bà giỏi hơn đàn ông, và đàn bà cần trả thù những ǵ mà đàn ông đă hành hạ đàn bà từ trước đến giờ. Thật ra, feminism là sự đấu tranh giành lại nhân quyền cho giới phụ nữ (Women demanding their full rights as human beings !).

Jean-Jacques Rousseau, một nhà triết học nổi tiếng của Pháp, đă viết về thân phận người phụ nữ như sau : “Men and women are made for each other, but their mutual dependence is not equal. We could survive without them better than they could without us. They are dependent on our feelings, on the price we put on their merits, on the value we set on their attractions and on their virtues. Thus women’s entire education should be planned in relation to men. To please men, to be useful to them, to win their love and respect, to raise them as children, to care for them as adults, counsel and console them, make their life sweet and pleasant”.

Trong lịch sử nhân loại có rất nhiều  phụ nữ thành công. Họ thường là công chúa, hoàng hậu, nghệ sĩ, nhà thơ v.v…Ví dụ, nữ hoàng Elizabeth (1533-1603) cai trị lẫy lừng một thời và là một trong những người tạo dựng cách mạng Anh Quốc (English Renaissance), Sappho (650 BC) là một nhà thơ nổi tiếng của thế giới Hi lạp, nữ Đế Vương Catherine the Great (1729-96) cai trị nước Nga hơn 35 năm và mang lại nhiều sự cải cách cho đất nước, Joan of Arc (1412-31) từ tuổi thiếu niên đă là một nữ anh hùng Pháp xông pha ngoài chiến trường. Tuy những phu nhân và nữ anh hùng này là những nhân vật ưu tú trong lịch sử, đáng tiếc thay họ đă không làm được ǵ cho phụ nữ của dân tộc họ. Những người đứng lên đấu tranh cho quyền lợi phụ nữ chính là những người đàn bà bị áp bức, g̣ bó trong khuôn khổ. Giới phụ nữ đă can đảm liên kết nhau để cùng đứng dậy nói lên sự bất công mà họ, mẹ họ, bà của họ đă chịu đựng từ hàng ngàn năm qua. Họ kết án những điều lệ, những khuôn khổ gia đ́nh, những khuôn khổ xă hội đă đàn áp họ, bắt họ sống trong sự phục tùng và vâng lệnh. Họ bất b́nh về cách phân chia công việc trong xă hội : đàn ông ngoài việc được mệnh danh là « trụ cột gia đ́nh » c̣n có thể tham gia thể thao, chính trị, c̣n đàn bà th́ lúc nào cũng phải ở nhà gánh vác việc nội trợ và phụ thuộc kinh tế vào chồng. Họ mơ ước đem lại cho phụ nữ khắp nơi một cuộc sống b́nh đẳng, thoải mái và tự do hơn. Tuy nhiên, phong trào giải phóng phụ nữ gặp rất nhiều khó khăn, nhất là lúc khởi đầu, và cuộc cách mạng này đă trải dài không những nhiều chục năm hay nhiều trăm này mà qua nhiều thế kỷ măi cho đến ngày hôm nay vẫn c̣n tiếp tục.

Cuộc chiến nữ quyền và khởi nguồn của Feminism

Feminism bắt nguồn vào giữa thế kỷ 18, khi chế độ phong kiến ở châu Âu đang trong nguy cơ lung lay. Trong chế độ này, vua chúa, bà tướng, những người quư tộc lúc nào cũng sống trong sự giàu sang, đầy quyền lực và hà hiếp bá tánh. Khi họ qua đời th́ con cháu của họ lại nối ngôi và thừa hưởng gia tài, quyền lực. V́ thế, trong xă hội thời đó, người nào giầu và đầy quyền thế th́ cứ giàu măi từ đời này sang đời khác, c̣n người nào nghèo th́ khó mà thoát ra khỏi cảnh cơ hàn. Một số người thuộc tầng lớp trung cấp (middle-class) nhận ra sự bất công xă hội đó, họ họp lại thành một nhóm càng ngày càng mạnh và đứng lên đấu tranh chống lại chế độ phong kiến. Trong lúc nhóm người này đấu tranh lật đổ chế độ quan liêu của vua chúa, tại nhiều nước châu Âu một số người đàn bà bắt đầu đứng dậy nói lên sự bất b́nh đẳng giữa phái nam và phái nữ. Họ lên tiếng rằng vua chúa bóc lột dân chúng thế nào, th́ phái nam cũng bóc lột phái nữ thế nấy. V́ thế, nếu con người nghĩ rằng đấu tranh cho một tầng lớp xă hội b́nh đẳng hơn là điều cần thiết, th́ việc đấu tranh cho đời sống của phái nữ bình đẳng hơn cũng là điều cần đến lúc phải làm.

Một trong những nữ anh hùng đó là cô Mary Wollstonecraft (1759-97). Cô sinh ra và lớn lên trong một gia đ́nh nông dân tại Anh quốc. Trong gia đ́nh cô, người cha là người chủ động trong mọi việc. Không những thế, ông c̣n là một người độc tài, thích uống rượu và thường đánh vợ con. Người mẹ th́ rất hiền, và Mary cảm thấy căm phẫn khi thấy bà luôn khúm núm, sống dưới mọi quyền hành của chồng. Không những thế, mỗi lần mẹ của Mary sanh một em bé gái th́ bố cô lại cằn nhằn : Oh ! not another daughter, và trong cuộc sống hàng ngày ông luôn tỏ vẻ yêu mến những người con trai nhiều hơn. Bối cảnh gia đ́nh đă thúc đẩy Mary trở thành một người đàn bà tự lập, hoạt bác. Cô không muốn sống cuộc đời mà mẹ cô đă cắn răng sống Cô quyết rời khỏi gia đ́nh, cố gắng tự đi làm ngày đêm để đóng tiền đi học. Năm 1783, Mary đă vận động tiền để mở một trư lại dành cho học sinh nữ tại một ngoại ô của Luân Đôn. Chính Mary, chị em của cô, các bạn gái của cô là giáo viên của trường. Họ vừa dạy và vừa tự học thêm. Mặc dù gặp rất nhiều trắc trở và sự châm biếm từ phái nam (vd : đám đàn bà hư hỏng, đám phù thủy), Mary không bỏ cuộc. Theo cô, đàn bà không được đi học, không được đi làm ngoài xă hội, không được tham gia vào chính trị, là đang sống trong chế độ độc tài của nam giới, chẳng khác nào chế độ độc tài của vua chúa. Khuôn khổ xă hội bắt buộc người vợ phục vụ chồng và dựa vào tiền của chồng để sống th́ chẳng khác ǵ bắt họ trở thành gái điếm ( legal prostitution ). Cô cho rằng bước đầu tiên giúp nữ giới bước ra thế giới bên ngoài chính là sự học vấn. Chỉ có học vấn và kiến thức mới có thể giải vây họ ra khỏi cái ṿng luẩn quẩn mà phụ nữ các thế hệ trước không thể nào bước chân ra khỏi.

Trong lúc cách mạng nước Pháp bùng nổ, lật đổ chế độ phong kiến, Mary đă viết một cuốn sách dày 300 trang mang tựa đề: A vindication of the Rights of Women. Ngay lập tức, tác phẩm của cô trở thành sách bán chạy nhất, và cuốn sách này là nền tảng cho phong trào giải phóng phụ nữ suốt thế kỷ 19 và ề: “A vindication of the Rights of

Ngày hôm nay, phụ nữ được giáo dục, được tham gia vào các hoạt động xă hội, tham gia vào chính trị ngang hàng với phái nam. Trong các trường đại học, các ngành mà lúc trước chỉ có phái nam độc quyền như luật, y, kỹ sư bây giờ càng ngày càng nhiều phái nữ tranh vào. Từ ngàn xưa người ta quan niệm rằng con gái kém thông minh hơn con trai, rằng con gái chỉ đủ khả năng làm việc nội trợ. Cuộc sống tân tiến đă và đang chứng minh rằng những quan niệm ấy không c̣n đúng nữa. Con trai và con gái đều sinh ra thông minh, thoát vác, tài ba giống nhau, nhưng chính môi trường xă hội ngày xưa đă đặt phụ nữ vào một địa vị thấp hơn, chứ không phải do phụ nữ sinh ra kém thông minh hơn.
Ngày nay, người ta lại thắc mắc không biết cuộc chiến nữ quyền đă kết thúc chưa hay vẫn c̣n tiếp tục? Hiện giờ, Anh Quốc là một trong những nước tân tiến nhất thế giới mà thu nhập toàn quốc của phụ nữ vẫn chỉ bằng 2/3 thu nhập của phái nam. Ở đó, vẫn c̣n nhiều phụ nữ làm những nghề cổ điển như giặt giũ, nấu ăn, may mặc, quét dọn. Và cũng tại Anh, chỉ có 3% giám đốc các công ty, 4% chánh án, và 7% thành viên của Thượng Nghị Viện là đàn bà. Các nhà xă hội học cho rằng feminism chỉ chấm dứt ngày mà nam nữ bình đẳng 50/50 trong tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống. Tại các nước Tây Phương, tôi nghĩ rằng ngày đó sẽ đến, chỉ là nhanh hay chậm mà thôi (không 50/50 th́ 49/50 cũng OK, phải không các bạn?). Tôi chỉ tội nghiệp thay những người phụ nữ ở các nước c̣n bảo thủ như Ấn Độ, Arab, Trung Đông, đến thiên niên kỷ 3 này mà đa số vẫn c̣n bị giam cầm trong bốn bức tường gia đ́nh. Không biết đến khi nào họ mới đạt được những ǵ mà phụ nữ ở các quốc gia Tây Phương đang có. Có lẽ họ cũng đang chờ một Mary Wollstonecraft của dâ những nghề ?cổ điển? như

Lẫn phái nam và phái nữ nên vui mừng vì chúng ta đă đi được một con đường khá xa từ ngày quyển sách của bà Mary Wollstonecraft ra đời. Và chắc chắn chúng ta vẫn c̣n một chặng đường nữa phải đi!.

Bạn có biết gì về gián Dubia? Đây là một loại gián đất có giá trị kinh tế cao đang được nhiều người nuôi để làm kinh tế. Hãy tham khảo ngay bài viết Gián Dubia trên Truyền Thông để biết thêm về loài gián giá trị nà nhé.