Archive

April 2019

Browsing

Ông Địa chính là Tài Thần hay Thần Tài. Phong tục thờ Thần tài- Ông Địa vốn đă có ở Việt Nam từ lâu qua nhưng khi tha phương đất khách, dân Việt tỵ nạn lại càng không quên nhang đèn cúng qu?ơi đối với vị phúc thần này v́ nó càng liên hệ đến phúc lợi cho công việc bán buôn của họ. Bạn cứ ghé mắt nh́n vào ngạch cửa hay ở góc cuối của lối ra vào của một tiệm buôn nhỏ của một khu phố Việt Nam thì thấy một trang thờ Thần Tài. Tuy mang cùng danh Thần Tài, nhưng nếu chúng ta thắc mắc tra cứu sự tích qua sách vở thì thấy không phải duy nhất có một vị Thần Tài bụng bự mà c̣òn có thể nhiều vị với danh xưng và gốc gác khác nhau. Nhưng trên thực tế, vị Thần Tài nào đối với dân Việt Nam doanh thương ở Mỹ cũng xứng đáng được tôn sùng như nhau cả.

Ông Địa là ai?

Đồng bào Việt miền Nam từ hồi nào vẫn giữ thói cúng vái Ông Địa mà danh xưng chính thức đầy đủ là Địa chủ Tài thần 地主財神. Thói quen này ngoài Bắc và Trung Việt Nam và nó là tàn tích của đám di thần nhà Minh bên Trung Quốc qua xin lập những làng xóm Minh Hương vào thế kỷ 18. Tượng Ông Địa thường thấy ở khu Chợ lớn là một ông chít khăn đỏ, bụng phệ, mặt trắng có râu ria quớt tới mang tai, tay cầm cái quạt, một tay cầm điếu thuốc.

Cúng Ông Địa món gì?

Cúng Ông Địa không đòi hỏi lễ vật nhiều, chỉ cần vài thứ trái cây theo mùa hay một nải chuối xanh. Tuy nhiên vào ngày mồng 2 và ngày 16 hằng tháng, gia chủ cúng thêm xôi chè, thịt heo, thịt gà cọng với vài lời khấn vái trân trọng th́ Ông Địa lại càng hài ḷng mà ban cho thêm lộc! Tại sao Ông Địa lại có quyền phép sinh lợi cho người ta? Điều này không ai biết, nhưng theo lối giải thích về nguyên lư tương sinh của Ngũ Hành : Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ th́ hành Thổ sinh ra hành Kim, nghĩa là kim loại vàng bạc được lấy từ ḷng đất lên. Vậy Ông Địa là người cai quản đất đương nhiên cung cấp vàng bạc nếu người ta biết hối lộ van vái ông. Trên phương diện biểu tượng, cái tượng đất của Ông Địa đánh mạnh vào ḷng tin tưởng chất phác của người ta: đó là một người vui vẻ nhàn nhă xuề x̣a, nhẩn nha hút thuốc tiêu dao thời gian. Bụng bự là “đại phúc” 大福c̣n tay cầm quạt phe phẩy hàm cái ư “ngồi mát ăn bát vàng”.

Bàn thờ Ông Địa thường rất đơn sơ ở các tiệm chạp phô nhỏ. Nhưng nếu bạn vào một tiệm buôn lớn, bạn sẽ thấy ngay lối vào cửa một trang thờ Tài Thần khác bằng gỗ sơn đỏ, có đề câu chữ nho thếp vàng ở mặt trước là Tụ Bảo Đường 寶 堂(căn nhà gom của quí) và hai bên có câu đối sau: Kim ngân ṭng địa việt – Phúc Lộc tự thiên lai 金銀從地越,( Bạc vàng dưới đất chui lên, Trời cao phước lộc đổ liền chẳng ngưng!). Nếu ṭ ṃ cúi xuống nh́n kỹ trong trang thờ th́ người ta thấy bức tranh Tài Thần mặc triều phục mũ măng uy nghi có quân hầu hai bên. Tả hữu bức tranh lại có câu đối: Tứ phương Kim Ngân hối _ Ngũ Lộ Tài Bảo lai 四方金銀匯 , 五路財寶來(Bốn phương vàng bạc tới – Năm hướng vật quí dâng). Hằng năm vào ngày 16 tháng 3 âm lịch là ngày vía Tài Thần , người Trung Hoa c̣n có tục “cúng cửa” với con gà trống luộc sau khi lấy máu gà bôi vào bục cửa. Ngũ Lộ là năm hướng Bắc Nam Đông Tây và Trung ương được người Tầu tin là có 5 vị Ngũ Lộ Phúc thần, 五路福神tương ứng với 5 anh em nhà kia làm chuyện nghĩa hiệp lúc chết được hiển linh giúp đỡ người trần..

Theo thần thoại Lăo giáo, Tài thần cai quản châu báu của trần gian, thường được vẽ đứng dưới một Cây Tiền mà cành lá toàn là xâu tiền, nén vàng bạc , lại có một con rồng ở giữa phun ra những trái vàng; tiền bạc vung văi đầy mặt đất nên có 5, 6 tiên đồng đứng quét! Phụ tá cho Tài Thần có 3 thần “Thiên tôn” là Chiêu Bảo thiên tôn  寶天尊có tài phép hú gọi tiền đến), Nă trân thiên tôn 拿珍天尊( có phép vơ bắt đồ quí giá) và Lợi Thị thiên tôn 利市天尊( có phép làm tiền sinh hoa lợi). Riêng chữ Lợi Thị chính là chữ ĺ x́ ta vẫn thường nghe có nghĩa là buôn may bán đắt và cũng là tiền mừng tuổi ngày Tết
.

Đôi lúc, người Tàu ở Việt Nam cúng cùng một lúc hai vị Tài Thần vẽ chung trên một bức tranh: bên trái là Vơ Tài Thần, bên mặt là Văn Tài Thần, chính giữa treo tấm biển đề viết 4 chữ: “Tài nguyên mậu thịnh” ( nguồn lợi dồi dào). Nếu bạn vô một khách sạn th́ thấy tranh là ông Quan Công đời Tam Quốc mặt đỏ râu xanh dài, tay cầm Thanh Long đao đóng vai Vơ Tài Thần vừa giúp đem tiền bạn lại, vừa đề pḥng trộm cướp cho gia chủ và khách hàng.. Hoặc giả tại một nhà chứa, người ta thường thấy tranh của Phật Bà Quan Âm treo ở trước nói lên ḷng lân tuất phù hộï của ngài đối với những cô gái hồng nhan phận bạc. Ở các cọng đồng Việt Hoa hải ngoại, các tiệm đổi tiền, ngân hàng, cơ sở mậu dịch thường trưng h́nh vị Tài Thần là một ông lăo râu tóc dài bạc phơ, tay cầm chuỗi tiền dài tên là Triệu Huyền Đàn  玄壇 Ngân hàng Tín Nghĩa của ông Nguyễn tấn Đời trước 1975 đă lấy h́nh Triệu Huyền Đàn làm huy hiệu.

Nh́n tóm lại, h́nh ảnh cho Tài Thần rất nhiều với nhiều tên gọi, nhiều gốc gác tùy theo địa phương hay ngành sinh hoạt, nhưng chung qui cũng đều là một thứ biểu tượng cho một niềm khát vọng của con người ấy là Hạnh Phúc vật chất mà chỉ có đồng tiền mới đủ mănh lực đem lại. Trong những ngày cận Tết, đi thăm thú những gian hàng tại những khu thương xá Việt Nam ở Mỹ, ta thấy rất nhiều kiểu tượng thần tài: thần tài đứng, thần tài ngồi, thần tài đẩy xe chở vàng, thần tài mặc triều phục, thần tài nhi đồng nam nữ… tượng nào tượng nấy trên tay  luôn luôn cầm nén vàng.

Thông điệp thiên biến vạn hóa của chữ Phúc

Biểu tượng về Hạnh Phúc trong mắt dân Tầu và ta nhiều khi không cần phải là tranh tượng của Tài Thần, mà lại cô đọng bằng một chữ thôi: Chữ PHÚC! Trong những câu chúc của các thiệp Tết và Giáng sinh, luôn luôn phải có chữ ” hạnh phúc” (nếu hiểu rành mạch từng chữ th́:”hạnh” là điều may, điều tai nạn rủi ro mà tránh được là hạnh! C̣n chữ ” Phúc” mới thực là sự tốt lành, cho nên chữ “Phúc” bằng Hán tự được người Tầu viết riêng hẳn ra như một thông điệp huyền bí như một chữ bùa hay chơi chữ  bằng h́nh vẽ con dơi (cũng đọc đồng âm là Phúc) . Đọc lại lịch sử, ta thấy con cháu của Nguyễn Hoàng chỉ nằm chiêm bao thấy thần nhân ban cho duy nhất ” một chữ Phúc” đă hưởng địa vị Chín đời Chúa và 13 đời Vua!

Người ta thường có câu : “Phúc không hai, tai không một” tương đương với câu Anh ngữ : “There is no second chance” và ” Misfortune never comes single”. Nếu trên thiệp chúc, bạn thấy h́nh  2 con dơi tức là có ư nghĩa ” Trùng Phúc” 重 福, bạn nên mua ngay  biết đâu bạn sẽ trúng số cá cặp hay kéo máy đánh bạc “hit Jack pot” hai lần.

Nhưng trùng phúc tức là Hạnh Phúc X 2  có vẻ chưa đủ với ḷng khao khát của người ta, nên ta c̣n thấy trên tường c̣n có một bức Bách Phúc Đồ mà người ta có thể mua về treo như một lá bùa dể có Một trăm lần Hạnh Phúc!

Nhưng chưa hết đâu! Thông thường, trong cuộc sống nếu bạn cầu ước năm điều Phúc là : 1) Phú (giàu)  2) Ninh( ở yên)  3) Thọ ( sống lâu) 4) Du háo đức 攸好德( có nhiều ơn đức)  5)  Khảo chung mệnh 终命( được chết già)ø, tôi khuyên bạn cố kiếm cái thiệp vẽ năm con dơi, năm chữ Vạn nằm vây quanh chữ Phúc ở giữa tức là bạn vớ được một lá bùa: Ngũ Vạn Phúc卐福( Happiness X 50,000).

Để tạm thay cho lời kết, đối với những bạn bi quan thường than rằng Ôi! hạnh phúc luôn luôn ở ngoài tầm tay, xin bạn hăy đến ngay một thương xá lớn Việt Nam mà đứng trước pho tượng Tài Thần rồi đưa tay xoa nhẹ trên cái bụng phệ của ông! Như thế, trong một tầm vóc ư nghĩa biểu tượng, các bạn đă  sờ được cái niềm hạnh phúc một cách cụ thể rồi. Đừng tưởng làm một cử chỉ nhỏ như thế không có một tí ǵ tác dụng công hiệu.

Triết học gia Pascal có nói đại khái: Bạn không tin Chúa ư? Hăy vào giáo đường qú xuống, đưa tay làm dấu thánh giá một cách thành khẩn… Chúa sẽ ngự vào ḷng bạn!

Hoa hướng dương là một trong những loài hoa đẹp và được nhiều người yêu thích. Hoa hướng dương vẽ cũng không quá khó nếu như bạn biết cách vẽ và lựa chọn theo phong cách đơn giản.

Cách vẽ hoa hướng dương đơn giản 

Bước 1: Trước tiên các bạn hãy vẽ một hình tròn ở gần trung tâm của trang giấy nhé. Bạn hãy chú ý đừng vẽ quá to vì hoa hướng dương của mình còn khá nhiều chi tiết đấy.

Bước 2: Sau khi vẽ xong hình tròn bên ngoài, chúng mình bắt đầu vẽ tới phần nhụy hoa (phần bên trong của vòng tròn nhé). Để vẽ bên trong của hoa hướng dương, chúng mình sẽ vẽ 3 đường kẻ gần như song song với nhau theo chiều ngang, và vẽ 3 đường kẻ cắt chéo nhé.

Thêm một nét nữa ở phần cạnh sẽ giúp cho bức tranh hoa hướng dương của chúng mình đẹp và cân đối hơn đấy.

Bước 3: Sau khi vẽ nhụy hoa thì chúng mình bước sang vẽ cánh hoa nhé. Để cho dễ vẽ, chúng mình hãy vẽ sau cho cánh của bông hoa to một chút sẽ đẹp và hài hòa hơn đấy.

Các cánh hoa nối tiếp nhau và mình cần chú ý sao cho các cánh của hoa hướng dương được đều và cân đối.

Sau khi vẽ được bốn đến năm cánh hoa, để cho tiện tay chúng mình sẽ vẽ từ trên xuống nhé.

Trong bức vẽ này mình sẽ bức hoa hướng dương vẽ sẽ có 8 cánh hoa. Sau khi vẽ xong nhụy hoa và cánh hoa, chúng mình cùng chuyển sang vẽ thân của hoa nhé. Vì là một bức tranh đơn giản nên các chi tiết mình cũng sẽ không sẽ cầu kỳ đâu nha.

 Bước 4: Vẽ thân hoa

Đây là bước vẽ khá nhanh và đơn giản. Chỉ cần với hai nét cơ bản là xong nhé. Tuy nhiên thì có một chi tiết cần chú ý, đó là hoa hướng dương là loài hoa mọc nghiêng thế nên phần thân của hoa chúng mình sẽ vẽ lệch sang một bên nhé. Như vậy hoa hướng dương mới có thể nghiêng mình về hướng mặt trời đón nắng, phải không nào?

Bước 5: Trang trí cho bức tranh hoa hướng dương

Để cho bức tranh thêm ấn tượng, mình sẽ trang trí thêm cho bức vẽ hoa hướng dương của mình chỉ với hai vật dụng đơn giản là bút xóa và hạt đỗ để làm nhụy hoa nhé

Dải đều bút xoa lên phần nhụy hoa và cánh hoa
dùng que sắt hoặc gỗ gạt đều từ nhụy hoa ra cánh hoa nhé

Sau khi đã gạt đều ra phần nhụy hoa và cánh hoa, chúng mình sẽ lây hạt đỗ và đặt vào bên trong nhụy hoa trước nhé.

Bạn có thể sử dụng que sắt lúc đầu gạt hạt đỗ ra cho đều.

Chúng mình cho cả lên phần viền tròn xunh quanh và phần thân hoa nhé.

Bước 6: Tạo màu vàng cho bông hoa

Dùng nhân đỗ màu vàng đã được nghiền nhỏ rắc đều lên các phần của bông hoa đều từ nhụy hoa tới cánh hoa.

Vậy là chúng mình đã cùng nhau vẽ xong tranh hoa hướng dương đơn giản và trang trí tuyệt đẹp rồi phải không nào?

Tìm hiểu về hoa hướng dương: Theo wiki, Hoa hướng dương là loài hoa có nguồn gốc từ Mexico, một quốc gia ở Nam Mỹ. Hoa có tuổi đời khoảng 1 năm, chiều cao trung bình từ 1-3m

Ngày nay, người ta biểu diễn điệu Tango của Argentine tại Paris và vũ điệu Salsa của Cuba tại Los Angeles. Dân Trung hoa xếp hàng để ăn Hamburger của Mc Donald tại thành phố Bắc kinh. Bánh ḿ ổ Parisien đă thu hút biết bao khách hàng ở Tây Phi. Tại Bombay những con chiên có thể theo dơi trực tiếp những chuyến du hành của Đức giáo hoàng trên những đài truyền h́nh. Và tại nhiều nơi trên thế giới, cùng một thời điểm, người ta đă khóc thương công nương Diana…

Đă không c̣n ranh giới, đă không c̣n những nét biệt lập, dặc thù của từng địa phương, dân tộc? Tại các thành phố lớn ở Hoa Kỳ và Gia Nă Đại, khách du lịch có thể cảm thấy nhàm chán trước những cảnh phố xá khác tên nhưng đồng dạng. Và trong các phi trường quốc tế, với cách thiết kế chuẫn mực của những cửa hàng , bảng hiệu cùng với hệ thống điều ḥa không khí, nhiều khi khách hàng không phân biệt được họ đang ở miền nhiệt đới hay đang ở xứ tuyết lạnh; ở Úc châu hay Mỹ châu…Sự toàn cầu hóa đang đồng nhất hóa lối sinh hoạt, cách tiêu thụ, ngay cả cách kiến trúc của các dân tộc trên khắp mọi nơi trên thế giới? Có nghĩa là song song với tiến tŕnh hoàn cầu hóa về kinh tế, những nền văn hóa độc lập đang có nguy cơ đi vào chung một khuôn lơi để mất dần bản sắc dân tộc đặc trưng của ḿnh??? Đối với rất nhiều người, toàn cầu hóa đồng nghĩa với Mỹ hóa , Âu hóa; và tiến tŕnh của hoàn vũ hóa sẽ đưa đến một chủ nghĩa độc văn hóa. Sắc thái đa dạng phong phú của nền văn hóa nhân loại hiện nay sẽ dần dần bị thoái hũy. Đây là mối ưu tư của nhiều dân tộc thiểu số, các nước nhược tiểu trước sự bành trướng nhanh chóng của các sản phẩm văn hóa Tây phương đặt biệt là Hoa Kỳ. Họ e sợ rằng con em họ sẽ chịu ảnh hưởng Tây phương mà chối bỏ cỗå tục dân tộc, chẳng hạn như dân Esquimo đă rời bỏ igloo để sống trong những căn nhà lưu động, họ di chuyển bằng motoneige thay v́ bằng raquette. Nhiều người cũng đă đặt câu hỏi rồi số phận của nền văn hóa Indien dAmazonie hay của sắc dân Népal sẽ ra sao với tiến tŕnh toàn cầu hóa

Mặt khác, cũng có nhiều học giả đưa ra những luận điểm rất lạc quan. Đối với họ, trong tinh thần hoàn cầu hóa, sự xúc tiếp tương giao giữa các luồng văn hóa chỉ khiến cho nền văn hóa quốc gia đượm thêm nhiều màu sắc phong phú hơn nhưng vẫn giữ được nét đặt thù dân tộc. Đa số các quốc gia khối Á châu, điễn h́nh là Nhật bản và Nam hàn, đều có ư niệm phấn chấn về sự giao lưu, tiếp cận văn hóa. Các nhà cầm quyền bản xứ hô hào, cổ vơ sự tham gia tích cực của toàn dân vào phong trào toàn cầu hóa để kịp sánh bước với thế giới. Và một trong những biện quả là việc xử dụng Anh ngữ như một ngôn ngữ chính thức cùng với tiếng mẹ đẻ. Trên diễn đàn Going global in New Millenium của tờ báo The Korea Time có một phát biểu đầy phấn khởi: người Đại hàn không cần sợ bị mất sắc thái văn hóa của ḿnh, họ nên sợ mất cơ hội thưởng thức các nền văn hóa khác. (The Koreans need not fear losing their cultural identity . Rather, they should fear losing the chance of enjoying other cultures). Thái độ tích cực của khối Á châu có thể cũng dễ hiểu, tinh thần Á châu thường vọng ngoại và nhất là nền văn hóa Á châu có một gốc rễ sâu xa với một diện mục tinh túy riêng biệt, thường là đề tài ngưỡng mộ của Tây phương, khó mà bị pha nhập và đồng hoá vào văn hóa Tây âu.

Nói tóm lại, những quan điểm đối lập trên cho thấy rằng lănh vực văn hóa rất được quan tâm trong bối cảnh toàn cầu hoá.

Trong các diễn văn về toàn cầu hoá văn hóa, h́nh ảnh công dân toàn cầu trong ngôi làng toàn cầu (village global) với nền văn hóa đồng quy thường được đưa ra. Thực chất, nền văn hóa toàn cầu chỉ là một loại văn hoá tiêu thụ, giới hạn , cao về giá trị vật chất. Về mặt tinh thần, nền văn hóa này không thể so sánh được với ư nghĩa văn hóa sắc bản của mỗi dân tộc.Nền văn hóa dân tộc, theo định nghĩa của E.B.Taylor là một phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục cũng như mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xă hội tiếp thụ được. Toàn cầu hoá luôn gắn bó với lịch sử chủng loại nhưng đă chưa bao giờ xoá mờ được sắc thể đa diện phong phú của văn hóa nhân loại dù qua bao thăng trầm. Từ vài thập niên nay, hoàn vũ hóa đă có một bước nhảy vọt mang theo khuynh hướng nhất thể hóa về văn hóa. Nhưng đồng thời trên thế giới, luôn luôn hiện hữu những ư chí đề kháng, bảo vệ và phát huy căn tính dân tộc . Theo các nhà xă hội học, văn hóa với tất cả ư nghĩa sâu sắc của nó sẽ không bao giờ bị đồng nhập vào cùng một khuôn mẫu, ngoại trừ trường hợp các dân tộc thiểu số sống ngoài lề thế giới. Mặc dù thế, cả địa cầu ngày nay đều đặt biệt lưu tâm đến vấn đề văn hóa. Khẩu hiệu « phát huy tánh đa dạng của nền văn hóa thế giới » luôn luôn được nhắc nhở và đang là đề tài của bao khảo luận quốc tế. Động lực chính của mối quan tâm này phát nguồn từ sự tương quan mật thiết giữa văn hóa và kinh tế trong hội cảnh toàn vũ hóa.

Khoảng từ 50 năm nay, những trao đổi văn hóa đă gia tăng nhanh chóng và mạnh mẽ đưới mọi dạng và ngày càng ḥa nhập vào thương trường kinh tế. Những tác phẩm trên các địa hạt hội họa, văn chương, điện ảnh trởû thành các món hàng thương mại và là nguồn lợi nhuận đáng kể của các thương gia thức thời. Sự tiến triển siêu nghệ của các công cụ truyền thông như hệ thống vệ tinh, câbles, băng điă, hệ thống truyền thanh, truyền h́nh, điện thoại, máy vi tính cùng với phương tiện vận tải tân kỳ đă là khởi điểm của ngành thương mại văn hóa. Các nhà kinh doanh đă khôn ngoan ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật để biến các sản phẩm văn hóa thành những hàng hóa thương mại xâm nhập thị trường thế giới. Từ khi bức tường ô nhục bị sụp đổ, chủ nghĩa tân tự do (néo liberal) đă len lỏi vào các nước cộng sản. Từ đây cả thế giới cùng nhau chia xẻ những giờ phút giải trí đồng điệu với những phim ảnh, âm nhạc, kịch nghệ phát nguồn từ một ḷ sản xuất: Hoa kỳ. Có thể nói hiện nay, sản phẩm văn hóa đại chúng Mỹ quốc đang tràn ngập trên tất cả ngơ ngách toàn vũ trụ. Đặc biệt trên lảnh vực điện ảnh, truyền h́nh, Hoa kỳ là một nước nắm nhiều ưu thế khiến nước Mỹ hầøu như không có đối thủ trên thị trường cạnh tranh.

Trước hết, với dân số đông đảo, chỉ cần sự ủng hộ của khán giả trong nước, ngành  điện ảnh Hoa kỳ cũng thâu đủ lợi tức.

Mặt đa văn hóa của xă hội nước Mỹ khiến cho các sản phẩm giải trí đễ dàng được quần chúng thế giới đón nhận. Hoa kỳ là một trong những nước tiến hóa nhất thế giới về mặt kỹ thuật, lại thêm ngân khoản đầu tư dồi dào dễ dàng thực hiện được những tác phẩm cầu kỳ tinh xảo thu hút quần chúng .

Hoa kỳ cũng vượt xa nhiều quốc gia khác về kỹ thuật quảng cáo, phổ biến và phân phối món hàng của họ.

Và toàn cầu hóa với thỏa ước tự do mậu dịch đă như là làn gió thổi lan các sản phẩm văn hóa Hoa kỳ đi khắp mọi nơi. Sau đây là một vài con số chứng minh thế thượng phong của nước Mỹ trong ngành công nghệ văn hóa :

-Hiện nay phim Mỹ chiếm hơn 80% lợi tức thâu được ở các rạp chiếu bóng Âu châu. Trong khi phim Âu châu chỉ khai thác được 1% lợi tức ở Mỹ.

-Phim Pretty woman (1990) đă trở nên một phim ăn khách nhất trong lịch sử của Suède và Israel vài tuần sau khi phim này xuất hiện ở màn bạc.

-Ở Brésil, 99% tổng số phim chiếu trên màn ảnh tivi xuất phát từ nước ngoài, đại đa số từ Holywood.

Và tại nhiều nước nghèo đài truyền h́nh địa phương rất giới hạn, nhiều khi chỉ có một đến vài lần một tuần, những khoảng trống c̣n lại đươc các chương tŕnh Mỹ khai thác.

-Tại Gia nă đại, t́nh thế cũng không khả quan hơn, phim trong nước chiếm 2%, phim Hoa kỳ thực sự lấn át với tỷ số 96%.

Không riêng ǵ thị trường phim ảnh , âm nhạc, Disneyland, một biểu tượng khác về nền văn hóa tiêu thụ, cũng đang giữ cương vị bá chủ. Disneyland ở Nhật thu hút 300000 khách viếng mỗi tuần. Số du khách dến thăm Disneyland ở Paris đông đảo hơn số khách du viếng Tour Eiffel, British Museum, những ngọn núi Alpes.

Phải nói rằng tất cả kỹ nghệ văn hóa tiêu thụ thường nhắm vào giới trẻ trên dưới 20 tuổi ( 2/5 dân số địa cầu ). Hàng trăm triệu trẻ em và thanh thiếu niên trên thế giới đều bị chiêu dụ bởi cùng một loại âm nhạc, cùng những loại phim ảnh.

Phần đông các sản phẩm này đă không góp phần vào sự phát triển một ư thức hệ sâu sắc nào nơi người thưởng thức. Những loại hàng hóa tinh thần này chỉ cho người ta những giờ giải trí đơn giản, chúng chỉ tạo cho những nước nghèo được dịp trầm trồ mơ tưởng h́nh ảnh đẹp đẽ, lối sống xa hoa của các xứ Tây phương. Chúng cũng chẳng tạo ra cho khán giả một sợi dây t́nh cảm, một cảm giác gần gũi với các xă hội khác theo tinh thần của “ngôi làng hoàn cầu”. Rất nhiều người thuộc dân tộc thiểu số hay các quốc gia nghèo, sau thời gian hân hoan ban đầu đă kết án những phim ảnh ngoại quốc là thủ phạm của sự suy thoái văn hóa cổ truyền. Hiện tại các sản phẩm giải trí này đă chiếm th́ giờ mà ngày xưa người ta dành để cho những sinh hoạt như giáo dục thiếu nhi, tham gia các công tác xă hội , tôn giáo. Ngoài ra ngành nghệ thuật nước nhà cũng đang bị đe dọa nặng nề . Chẳng hạn như nền âm nhạc tây phương giàu về kỹ thuật đang có nguy cơ lấn áp những nhạc cụ địa phương thô sơ nhưng đầy âm hưởng dân tộc. Hiện tại, ở nhiều nước chậm tiến, những nhạc cụ cổ xưa bị thay thế bằng những nhạc khí tây phương.

Không riêng ǵ tại các nước thuộc khối thế giới thứ ba, các quốc gia tân tiến cũng đang rất e ngại cho sự phát triển của ngành nghệ thuật bản xứ trước sự lấn tràn của các sản phẩm hoa kỳ. Cũng nên kể dến mạng lưới thông tinh vi tính với sự tham gia của gần một tỉ người, cũng mang nặng ảnh hưởng Mỹ quốc.

Trước sự thao túng thị trường văn hóavà trước nguy cơ mỹ hóa, các nước khối Âu châu đă ngồi lại cùng đông đảo các quốc gia khác để t́m những phương thức hữu hiệu cứu văn nền kỹ nghệ văn hóa nước nhà. Ở cuộc họp thường niên của Réseau International sur la Politique Culturelle (RIPC) tháng 10-2002 tại Nam phi, các quốc gia tham dự đă thảo luận về sự thiết lập một công cụ quốc tế để bảo vệ nền văn hóa đa dạng. Tất cả đều đồng ḷng cho rằng đây là một vấn đề hệ trọng đ̣i hỏi những nỗ lực khẩn trương. Trên phương trường quốc tế và trong khuôn khổ quốc nội, nhiều quốc gia đă ra công t́m những biện giải bảo vệ và phát huy ngành văn hóa nghệ thuật nước ḿnh. Tại nhiều nước, thí dụ như ở Pháp và Gia nă đại , những ngân khoảng tài trợ đă được mở mang. Sự tài trợ cho những tác phẩm nghệ thuật là một điều thiết yếu v́ tại nhiều nước , với chính sách tự do mậu dịch, xóa giảm thuế vụ nhập cảng, các chương tŕnh truyền h́nh Mỹ đ̣i hỏi ít chi phí hơn những sáng tác địa phương. Song đây là một bài toán thật phức tạp, với những thỏa ước kinh doanh quốc tế kể trên,một câu hỏi nhiêu khê là làm thế nào để có thể cổ động sự phát triển phẩm lượng văn hóa quốc nội mà không vi phạm những thỏa hiệp GATT (thuế vụ ) hay ALENA (tự do trao đổi). Dựa trên nguyên tắc sản phẩm văn hóa không thể bị xếp ngang hàng với những hàng hóa thương mại khác, các quốc gia trên thế giới đă đặt ra những điều khoản ngoại lệ, exception culturelle hay exclusion culturelle, để có thể tiếp tục những thương thuyết với Hoa kỳ. (Không hiểu v́ sao… Mỹ quốc tỏ ra rất cứng nhắc trên phương diện này, họ đă nhiều lần lên tiếng phê b́nh những điều khoản ngoại lệ văn hóa).Với những khó khăn vấp phải, nhiều nước đưa đề nghị tách ly lănh vực văn hóa ra hẳn OMC (Organisation Mondiale du Commerce), và một tổ chức quốc tế khác sẽ điều hành tấc cả những thỏa ước liên quan về văn hóa, UNESCO được tuyển chọn để đảm trách công việc này. Trên lư thuyết, với ư chí của một tập thể quốc gia đông đảo những biện pháp bảo vệ và thăng tiến văn hóa quốc gia, duy tŕ nét đa sắc của văn hóa thế giới phải được thực hiện dễ dàng. Nhưng Hoa Kỳ vẫn là mối trở ngại chính cho những dự tính này v́ vẫn luôn từ chối tham dự vào các tổ chức văn hóa quốc tế khiến cho sự hoạt động mất phần hợp thức. Cho đến ngày nay, Văn hóa vẫn chưa được chính thức nh́n nhận là một lănh vực độc lập, các sản phẩm nghệ thuật vẫn đồng nghĩa với hàng hóa thương mại và nhiều nước trên thế giới vẫn tiếp tục bắt tay hợp tác để t́m ra đáp số cho sự tiếp cận và trao đổi văn hóa trong tinh thần b́nh đẳng.

Ngoài ra chúng ta cũng nên nhắc đến phong trào bảo căn cực đoan (fundamen-talism) trong xă hội hồi giáo.

Thật ra, Hồi giáo cũng như các tôn giáo khác đều dựa trên những căn bản nhân tính và luân nghĩa để phát huy đời sống nhăn loại trong tinh thần yêu thương ḥa hợp. Duy chỉ có mộ thiểu số cuồng tín được nuôi dưỡng bởi những t́nh cảm hận thù, chủ trương bạo động chống lại những người vô tội mà họ cho là kẻ thù của Allah và Islam. Thiểu số cực đoan này đă bóp méo kinh Coran, quy nhập đạo giáo và luật pháp, để thực hiện sự độc tài của họ.

Ngày nay những phong trào bảo căn này đang trên đà phát triển tại nhiều nước Ả Rập. Điều đáng kể các phong trào này với khuynh hướng bài ngoại (Tây phương), trở về sơ khai với những hủ tục khắt khe nhất là đối với người phụ nữ, đang thu hút đông đảo các thành phần dân chúng trong xă hội hồi giáo. Một số đông nữ sinh viên thuần nhiễm nền văn hóa tây phương sau nhiều năm du học ngoại quốc, tự nguyện trở về với kinh thánh Coran với những bó buộc bất công.

Hiện tượng này biểu hiệu một phản ứng chống lại văn hóa tây phương ngày càng lan tỏa trên thế giới. Phải nói rằng Tây Phương với những hệ thống truyền tin hiện đại đưa ra toàn thế giới những tin tức quốc tế đơn thuần theo quan điểm Âu Mỹ, điều mà nhiều quốc gia khối Ả Rập không chấp nhận được.

Theo tác giả Phạm Hồng Lam, văn hóa tây phương hàng trăm năm nay đă là mẫu mực cho các quốc gia, trung, cận đông và Bắc Phi. nhưng văn hóa này rơ ràng hiện đang bị chủ nghĩa cá nhân và vật chất đẩy vào bế tắc với những tệ trạng xă hội, như x́ ke, ma túy, măi dâm, nạn ly dị, tham nhũng chính trị. Thêm vào đó, h́nh thái nhà nước thế quyền ở Tây Phương cũng đă từng là khuôn mẫu cho các chính trị gia bản xứ noi theo, thế nhưng chế độ cầm quyền này vẫn không giải quyết được các vấn đề căn bản về kinh tế, xă hội (bất công, tham nhũng, nghèo đói, thất nghiệp) và chính trị. Hơn nữa thái độ đồng lơa của Tây Phương trong cuôc tranh chấp Do Thái-Ả Rập (trong cuộc chiến này, Do Thái đă tàn sát bao nhiêu mạng sống Palestins trước sự thờ ơ của thế giới Âu Mỹ) và hành động của Hoa Kỳ và đồng minh trong các cuộc tranh chấp ở Trung Đông, gần đây nhất là ở Irak, đă gây bất măn cho nhiều dân tộc Hồi giáo. Khi mà khuôn mẫu văn hóa Tây Phương có xu hướng truyền lan mạnh mẽ qua phong trào toàn cầu hóa đă không giải quyết được những vấn đề xă hội sôi bỏng mà c̣n là mầm mống của chủ nghĩa cá nhân dẫn đến sự cô lập con người. Khi mà các nước tây phương tự phong cho ḿnh một thiên chức dẹp loạn gây lại trật tự quốc gia mọi nơi, th́ phản ứng tự nhiên của nhiều công dân hồi quốc là ngừng lại t́m một hướng đi khác. Những nhà lănh đạo chính trị cực đoan thấu hiểu được nỗi khát vọng này, đă đưa ra câu trả lời đầy hấp lực : trở về với islam. Độc lập tự do hạnh phúc … đều nằm trong kinh thánh Coran. Chính v́ thế các tổ chức bảo căn bạo động luôn có người hưởng ứng.

Trong bối cảnh cạnh tranh văn hóa như ta đă thấy hiện nay, luôn nẩy sinh ư hướng đề kháng của các quốc gia chống lại xu hướng chèn ép của văn hóa tây phương nhất là Hoa Kỳ. Muốn xây dựng nền văn hóa đồng cư toàn cầu, thế giới cần có một nỗ lực và thiện chí của tất cả các nền văn minh hiện hữu để đi đến một giao tiếp hài ḥa trong công bằng theo hai chiều thuận và nghịch.

Tài liệu tham khảo

GOLDSMITH Edward & MANDER Jerry, Le procès de la mondialisation, Fayard, 2001.
HOÀNG Ngọc Tuấn, Văn học hiện đại và hậu hiện đại … , Văn Nghệ, 2001
KHAMER Hilton 7 KIMBALL Roger, The survival of Culture, Ivan R. D E E, 2002
PHẠM Hồng Lam, Islam và khuynh hướng bảo căn, Định Hướng, số 2, 1993.
Réseau International sur la politique culturelle, Défendre la diversité culturelle, déclaration du CAP 3-8-03.
SAUVAGEAU Florian, Variations sur l’influence culturelle américaine, Les Presses de l’université Laval, 1999.
ROY Jean Louis, Mondialisation, Développement et Culture, Éditions Hurtubise, 1995.
WOLTON Dominique, L’autre mondialsation, Flammarion, 2003.

Toàn Cầu Hóa là một câu chuyện thời sự sôi nổi hiện nay. Trên mặt báo hàng ngày cũng như hàng tuần và trên màn ảnh truyền hình dường như không ngày nào không có những tin tức nóng bỏng về chuyện toàn cầu hóa. Trong thư viện cũng như trong các tiệm sách đều có một vài ngăn tủ dành cho những sách và tập san chuyên luận viết về vấn đề này. Toàn Cầu Hóa không phải là một vấn đề đơn giản, toàn cầu hoá liên hệ tới tất cả mọi người trên thế giới, trên mọi mặt từ kinh tế chính trị, khoa học, y học sang văn học xã hội và tập tục của mọi sắc dân. Người ủng hộ trào lưu toàn cầu hóa rất đông, rất mạnh, gồm giới tài chánh kinh tế kỹ nghệ cùng giới lãnh đạo chính trị. Người phản đối cũng rất đông gồm đủ mọi thành phần trong đại chúng. Thế nên, cùng bạn đọc tìm hiểu trào lưu toàn cầu hóa là chủ đề của Truyền Thông số 9.

Thái Công Tụng đơn giản câu truyện toàn cầu hóa để bạn đọc dễ bề theo dõi vấn đề gai góc này trên môi trường truyền thông. Bùi Xuân Quang trình bầy vấn đề toàn cầu hóa bằng cái nhìn qua những trận đầu bóng rổ quốc tế. Diễm Uyên cho thấy mức độ giầu nghèo càng ngày càng thêm cách biệt. Bích Ngọc mô tả sự bất đồng trên mặt văn hóa trong trào lưu toàn cầu hóa. Song song với vấn đề toàn cầu hóa là vấn đề khu vực hoá. Trào lưu này đã tạo nên thị trường chung Mỹ Châu gồm Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Mễ tây Cơ, v.v… Bên trời Âu có khối Thị Trường Chung Âu Châu gồm 15 nước kể cả nhiều quốc gia mới thoát khỏi ách Xã Hội Chủ Nghĩa. Tại Đông Á có trào lưu lập khu vực thị trường chung theo trục Đông Kinh và Canberra. Phạm Hữu Trác cho thấy những triển vọng của vần đề này. Sau hết, cũng trong vấn đề khu vực hóa, Lê Phụng trình bầy câu hỏi Đạo Khổng sẽ còn tồn tại hay không trong trào lưu toàn cầu hóa và giải phóng cá nhân hiện thời.

Do tính cách cấp bách của thời gian và giới hạn bưu chính, Truyền Thông chỉ phỏng dịch bài thứ nhất trong loạt bài về Bóng rổ trên hành tinh của Bùi Xuân Quang, phần này do Từ Uyên phụ trách.
Truyền Thông ước mong được cùng bạn đọc bàn về vị thế của Việt Nam trong trào lưu toàn cầu hóa trong một số tới.

Nghiên cứu của Thái Công Tụng về toàn cầu hóa

1.Dẫn nhập về toàn cầu hoá 

Vài ví dụ sơ khởi:

-Khi ta xem các trận đấu  hockey, ví dụ giữa đội Canadien ở Montreal và New York Islander, ta thấy các cầu thủ của  mỗi đội đến từ mọi xứ, từ Nga, từ Tiệp, từ Đức, từ Phần Lan và mỗi năm lại thay đổi mua bán  cầu thủ .Điều này cũng đúng với baseball, vói bóng rổ, vói bóng tròn v.v

-Nghe tin tức quốc tế qua CNN của Mỹ, BBC của Anh, TV5 của Pháp, thì hình ảnh một sự cố nào đó mới xảy ra vài phút trước đó ở một nơi xa xăm trên hành tinh Trái Đất thì trên màn truyền hình, màn máy tính đã thấy hiện ra ngay, vừa hình ảnh, vừa tiếng nói.

-Nhìn bảng hối suất ta thấy nhiều đồng tiền có thể hoán chuyển dễ dàng; đặc biệt Âu châu có Euro là đơn vị tiền tệ cho rất nhiều xứ Cộng đồng Âu châu. Trưóc kia đi du lịch từ Pháp qua Đức, qua Ý, qua Espagne lại phải thay đổi đồng tiền sang Mark, sang lire, sang peseta ..

-bệnh SARS (viêm phổi cấp tính) từ Trung Hoa lây lan sang các xứ Đông Nam Á và qua Canada do sự lưu thông hành khách máy bay rất nhanh chóng

-hàng năm, có chùng 250 ngàn người di dân đủ mọi chủng tộc, màu da, tôn giáo đến xứ này, đến hợp pháp ! Có thể nói mọi xứ từ A (A như Angola), đến Z (Z như Zimbawe) đều có người ở đất nước Canada, khiến xã hội Canada càng ngày càng trở thành đa văn hoá.  Vài ví dụ trên đã cho ta ỏhương vịõ thế nào là toàn cầu hoá . Toàn cầu hoá có nhiều ý nghĩa  khác nhau với nhiều người . Toàn cầu hoá không phải giản đơn là sự di chuyển dễ dàng hàng  hoá, công việc và vốn liếng qua các biên giới nhưng còn bao gồm cả những hợp phần văn hoá,  môi trường và chính trị.

 2.Tiến trình của toàn cầu hoá.

Toàn cầu hoá, danh từ này mới hiện hữu vào thập niên 80, nhưng thực sự đã có từ lâu đời với Magellan, với Marco Polo, với thương mãi các xứ quanh bờ biển Địa Trung Hải, với con đường tơ lụa buôn bán giữa các xứ Trung Đông, Cận Đông và Trung Hoa. Việt Nam đã buôn bán với Nhật qua thành phố Hội An. Các nước Anh, Pháp chiếm thuộc địa cũng nhắm kiếm thị trưòng buôn bán. Chiến tranh nha phiến Anh-Trung Hoa nhằm tiêu thụ thuôc phiện. Đến năm 1930 xảy ra cơn suy trầm kinh tế rất lớn, nên nhiều nước như Mỹ chủ trương bảo hộ thương mãi. Chỉ sau đệ nhị thế chiến, các nước bắt đầu nhận thấy phải tăng cường hợp tác thương mại trong khu vực: các nước Âu Châu bắt đầu với Cộng đồng than đá và thép (Communauté charbon et acier), sau đó tiến đến Cộng đồng Âu  châu 6 xứ (Pháp, Đức, Ý và 3 nước Benelux tức Belgique, Netherlands và Luxembourg), và  ngày nay, sau mấy thập niên xây dựng, nhiều nước khác đua nhau gõ cửa xin vào. Ngày nay có  tiền tệ chung EURO, mọi hàng rào thuế quan giữa các nước không còn nữa, không còn các  trạm biên giới kiểm soát giấy tờ. Chỉ kiểm soát giấy tờ ở trạm đến đầu tiên mà thôi . Ví dụ tới  Amsterdam ở Hà Lan là trạm xuống đầu tiên ở Âu Châu, kiểm soát xong là có thể tiếp tục đi  thoải mái khắp các xứ khác thuộc Liên Hiệp Âu Châu. Hàng hoá và người tự do lưu thông.  Bằng cấp đại học: bác sĩ tốt nghiệp ở Pháp có thể qua Espagne hành nghề; kỷ sư ở Đức có thể  qua Ý làm việc, không có chuyện tương đương bằng cấp, hành nghề v.v. Tiến trình thành lập  Liên hiệp Âu châu như vậy đã phải trãi qua nhiều giai đoạn gay go, nhất là khi ta biết các nước  đó đã xâu xé nhau, thù hằn nhau qua hai cuộc đại chiến. Hãy tóm tắt sơ qua ỏrốt mépõ (road  map) họ đã trãi qua:

a.Thoạt đầu là các thoả thuận ưu đãi thuế quan: hàng rào quan thuế giữa  các nước tham dự thấp hơn so với các nước không tham dự.

b. Sau đó tiến đến khu vực mậu  dịch tự do (zône de libre échange, free trade area) xoá bỏ các cản trở thương mãi giữa các nước  thành viên;

c.thứ đến là liên minh thuế quan (union douanière) xoá bỏ thuế quan giữa các nước  thành viên, hài hoà giữa các nước thành viên và chính sách thương mại.

d.rồi mới đến thị trường chung (marché commun) có tự do lưu chuyển lao động và vốn giữa các nước,

e.sau đó tiến đến liên minh kinh tế, thống nhất tiền tệ thành EURO, với quốc hội Âu châu và hiến pháp Âu châu. Ngoài Cộng đồng Âu châu, hiện nay, các xứ Phi Châu cũng có ý định tiến đến mô hình tương tự, nhưng gặp nhiều vấp váp vì chia rẽ. Các nước Đông Nam Á họp lại thành tổ chức ASEAN bao gồm 10 xứ Đông Nam Á (Việt, Miên, Lào, Thái, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia,  Myanmar (tức Miến Điện), Singapore. Tiến trình toàn cầu hoá đã được thúc đẩy thêm mạnh  mẽ như hiện nay là nhờ cách mạng Internet, đi vào mọi nhà, vùng sâu, vùng xa, vùng sa mạc,  vùng Phi châu với thông tin, hình ảnh, báo chí, buôn bán, trao tình, trao duyên, làm bạn với  nhau qua mạng lưới dẫn đến hôn nhân liên lục địa rồi chúc Tết qua hình, đọc báo qua mạng,  trực tuyến (on-line). v.v. đều trở thành sự thực ảo (ỏréalité vituelleõ) . Sau đây ta chỉ tập trung  vào 3 hợp phần quan trọng của toàn cầu hoá: toàn cầu hoá kinh tế, toàn cầu hoá môi trường và  toàn cầu hoá văn hoá.

3. Toàn cầu hoá kinh tế.

Nói về toàn cầu hoá về kinh tế, là phải đề cập đến thương mãi. Thương mãi là một phạm vi có nhiều tác động nhất trên sự phát triển các nước và trong khối ASEAN, có khu mậu dịch tự do, được biết dưới danh từ AFTA (Asian Free Trade Area). Còn Bắc Mỹ cũng có NAFTA (North America Free Trade Area). Mậu dịch tự do, có nghĩa là giúp các hàng hoá tự do lưu thông giữa nước này với nước kia, cắt giảm quan thuế, bãi bỏ các hạn chế phi quan thuế v.v. Cũng trong tinh thần trao đổi thương mại, hiệp định thương mại Việt-Mỹ gần đây nhằm giảm bỏ mức quan thuế nhập cảng, cho phép các công ty Mỹ buôn bán và dịch vụ như bảo hiểm, bảo vệ tác quyền và sở hữu trí tuệ ở Việt Nam. (Tuy vậy, tại các nước Á Châu, hiện tượng sang diã băng lậu tràn lan, lấy sở hữu trí tuệ, bán giá rẽ; các tác quyền từ nhạc vàng, nhạc đỏ, nhạc thiếu nhi, nhạc trẻ, phim truyện, hoạt hình đều bị mất mau chóng !) Phi thương bất phú . Nếu thương mãi gia tăng giữa các nước, kéo theo sự thịnh vượng chung thì toàn cầu hoá giúp giảm bớt khoảng cách giàu và nghèo, các nước kỹ nghệ phía bắc và các nước đang phát triển phía Nam . Toàn cầu hoá về kinh tế bao hàm các khái niệm sau  đây : cạnh tranh, lợi thế so sánh, thị trường, tự do mậu dịch.

a Cạnh tranh:

Toàn cầu hoá đòi hỏi cạnh tranh về giá cả, về chất lượng; các xí nghiệp phải có mặt hàng rẽ, bền, đẹp mới cạnh tranh được trên thị trường quốc tế. Nhưng sản phẩm sản xuất ra lại có một thị trường rộng lớn ở khắp toàn cầu, giúp tăng lợi nhuận, làm đầu tàu kinh tế kéo theo các lãnh vực khác; thực vậy, thị trường trong xứ thì nhỏ hẹp, không nhiều người tiêu thụ. Ngược lại, người tiêu thụ cũng mua sắm thoải mái vì hàng hoá nhập cảng rẽ, do mức quan thuế giảm .

Thực vậy, trưóc kia, các nước để bảo hộ sản xuất trong nước nên đánh thuế nặng vào mọi hàng  nhập cảng (30-50%) nhưng với các hiệp định tự do thương mãi, mọi mặt hàng đều từ từ giảm  thuế xuống hết (0-5%). Do đó, vào luồng trong sự gia nhập thương mãi quốc tế đòi hỏi phải có  các sản phẩm nhiều, chất lượng tốt, giá rẽ mới cạnh tranh được với các hàng xứ khác.

Nhận xét này hàm nghĩa các doanh nghiệp mọi xứ trên thế giới phải giảm chi phí và nâng hiệu  suất, hoặc phải liên kết với các tập đoàn sản xuất lớn, tăng khả năng tiếp thị, các dịch vụ hậu  mãi. Nhiều xí nghiệp các nước tổ chức sản xuất linh kiện chỗ nào rẽ nhất, hiệu năng nhất:

– trong xe hơi ta lái hàng ngày, có thể động cơ sản xuất bên Nhật, bánh xe ở Mexico, ráp cuối  cùng tại Mỹ. Máy điện toán thì bộ nhớ ỏchipõ chế ở Singapore, các linh kiện khác chế ở  Mexico, ráp cuối cùng ở Mỹ v.v.

– máy bay Airbus tuy ráp ở Toulouse nhưng cánh máy bay do Anh vẽ kiểu và chế tạo, thân máy bay do Pháp, đuôi máy bay thì Espagne, động cơ do Đức chế tạo, và bộ phận thắng và đáp họ muốn Canada sản xuất .

Như vậy, riêng Việt Nam, để vào luồng toàn cầu hoá về kinh tế, cũng phải nâng cao khả năng  cạnh tranh của hàng sản xuất trong nước mới xuất cảng được. Nó đòi hỏi những công nghệ mới,  kỹ năng mới, quản lý hiện đại giúp sản xuất có hiệu qủa hơn, tạo sản phẩm có chất lượng hơn.  Mà hiện nay thì các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam, từ đường đến súc sản, từ giấy đến ximăng  đều có chi phí sản xuất cao so với các nước quanh vùng do giá biểu năng lượng, giá biểu bưu  chính viễn thông, giá thuê đất đai, chi phí vận tải đều cao, rồi đến cơ sở hạ tầng tồi tệ với kẹt  xe, ách tắc giao thông, đó là chưa kể đến tiêu cực phí làm tăng giá thành và các ngân hàng cho  vay các xí nghiệp làm ăn kém bị quịt nợ.

b.Thị trường:

Toàn cầu hoá về kinh tế chỉ biết thị trường nghĩa là hai loại người : người sản xuất và người tiêu thụ (không phân biệt chủng tộc, giới tính ), chỉ biết hai chữ Cung và Cầu. Cung nhiều, cầu ít thì giá cả giảm; cung ít, cầu nhiều thì giá tăng. Các công ty chỉ biết lợi nhuận trên hết, với cổ phần, cổ phiếu bán tự do ai mua vào cũng được, ai bán ra cũng được. Mọi dịch vụ ngân hàng phụ thuộc vào truyền thông mà truyền thông tiến đến mọi nhà, hang cùng ngõ hẽm nhờ máy vi tính, nhờ truyền hình, nhờ truyền tin, sủ dụng máy vi tính để mua, bán, chuyển ngân ..với Web, với e-commerce

c. Lợi thế so sánh:

Ngày nay, không thể có và cũng không nên có một nền kinh tế tự cung, tự cấp cho mỗi xứ mà trái lại phải tìm trong xứ đó các lợi thế so sánh, xem mình có ưu điểm ở đâu, ưu điểm thế nào và nhất là khai thác cái ưu điểm ấy ra sao ?

Ví dụ : Canada có nguồn nước vô tận, sản xuất điện rẽ nhất. Mexique cũng như các hải đảo  miền Caraibes có mặt trời và nắng ấm và đó là một lợi thế so vói Canada, mùa đông dài hun  hút nên kỹ nghệ du lịch và dịch vụ rất phát triển; riêng Việt Nam thì giá nhân công rẽ nên cần  có các kỹ nghệ tận dụng nhân công như may mặc, giày dép .. Không xứ nào độc lập về kinh tế  được hết vì không xứ nào có đủ nguyên liệu để sản xuất sản phẩm. Máy bay sản xuất ỏ Canada  hay ở Mỹ phải có nhôm mà nhôm phải lấy ở các xứ nhiệt đới. Chicoutimi có nhiều nhà máy  sản xuất nhôm vì điện năng Quebec dồi dào, nhưng quặng bauxit phải lấy từ Jamaica, Haiti,  ..Tương tự đồng dùng trong các giây điện là xuất xứ từ các mỏ bên Chili, Congo v.v. Chiều  hướng toàn cầu hoá là sự phân công lao động trên bình diện quốc tế, sự hội nhập càng ngày  càng cao của các nền kinh tế:

Tuy nhiên, toàn cầu hoá về kinh tế không phải luôn luôn êm đẹp như trên và không phải sự vận hành luôn luôn tuân theo cơ chế thị trường. Ví dụ : cá ba sa trước kia Viẹt Nam xuất cảng qua Mỹ rất nhiều; gần đây, hiệp hội nuôi một loại cá tương tự ở Mississipi Hoa Kỳ kiện lên Bộ Thương Mại là cạnh tranh bất chính, cho rằng giá cá ba sa Việt bán dưới giá thị trường nên Mỹ tăng thuế nhập cảng loại cá này 64%, nên không ai nhập cảng nữa.

Chính sách tiền tệ cũng tác động đến toàn cầu hoá về kinh tế. Hiện nay, đồng đô la Mỹ trượt  giá so với đồng Euro làm các kinh tế Âu châu khó hồi phục vì xuất cảng hàng trở nên đắt.

Như vậy toàn cầu hoá bao hàm sự tương tác. Nó vùa là một cơ may, vừa là một rủi ro.Toàn cầu hoá, tự do thương mãi cũng có những hạn chế của nó. Nhiều cuộc biểu tình khi có các hội nghị  thương mãi, các phiên họp G8 thường xảy ra chống chủ trương toàn cầu hoá, bao gồm nhiều  dạng: nghiệp đoàn chống vì sợ công nhân các xứ tiền tiến thất nghiệp, các tổ chức môi trường  chống vì sợ phá rừng nhiệt đới, cũng có các nhóm tranh đãu cho các nước thứ ba được xoá nợ  v.v.

Các vấn nạn toàn cầu hoá là gì?

-chỉ một thiểu số biết buôn bán làm ăn, móc nối mới  giàu còn đa số vẫn nghèo: ở Phi Luật Tân, chỉ một thiểu số người Hoa là giàu; bên Kenya,  thiểu số người Pakistan vô cùng giàu có, Sierra Leone thì thiểu số dân Liban nắm toàn quyền  tài chính, Nga thì thiểu số Do Thái rất giàu, dân đen rất nghèo .. (xem World On Fire của giáo  sư Amy Chua, Đại học Yale ). Như vậy, sự cách biệt quá đáng giàu nghèo giữa một thiểu số  sắc tộc và một đa số bản xứ sẽ đưa đến hận thù và chỉ chờ một ngọn lửa nhỏ, một ngòi nổ nhỏ  sẽ làm bùng nổ xã hội với khủng bố, nội chiến v.v.

-nhiều nước chậm phát triển bị nợ nần rất nhiều của các định chế quốc tế nên phải nai lưng ra trả nợ nên không ngoi đầu lên được. Họ tranh đãu để giảm nợ nần.

-thương mãi không cân bằng: mỗi năm, các nước chậm phát triển phải nhập cảng phân bón, thuốc men với giá cao hơn, nhưng bán nông phẩm như gạo, như cà phê với giá rẽ hơn. Như những trận mưa rào đôla nông nghiệp, các nước phát triển nghĩa là thuộc OCDE (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ) trợ cấp hàng trăm tỷ đôla mỗi năm cho nông dân để họ sản xuất thực phẩm với giá phải chăng và để họ có mức sống tương đương mức sống ở thành thị. Trợ cấp dưới nhiều hình thức như cho vay lãi xuất rẽ, bớt thuế, khảo cứu nông nghiệp v.v. Nhật Bản và Đại Hàn trợ cấp cho nông dân rất nhiều, nhất là gạo: cứ 1 đôla gạo sản xuất ra trong nước thì phải trợ cấp 80 cents cho nông dân. Sữa do nông dân Thụy Sĩ sản xuất ra cũng được trợ cấp tương tự. Pháp, Mỹ v.v. đều trợ cấp cho nông dân. Vì vậy, các nước này thặng dư lương thực, thặng dư sữa, thặng dư bơ, thặng dư dầu ăn, thặng dư lúa mì, đậu nành, bắp .. ,nên họ phải bán rẽ hay cho không các nước thế giới Phi châu. Nông dân Phi Châu phải ra thành thị, tạo thêm thất nghiệp và kéo theo bất ổn chính trị .Các nước chậm mở mang, muốn có ngoại tệ lại xuất cảng lương thực cho các nước Tây phương, dù trong nước dân ăn chưa đủ no. Ví dụ: Việt Nam xuất cảng gạo nhưng các vùng xa, vùng sâu là địa bàn cư trú người sắc tộc miền núi non còn chưa đủ no. Ấn Độ cũng là nước xuất cảng gạo nhưng gần 260  triệu dân còn bấp bênh lương thực (tạp chí Le Courriersố 197 Mars/Avril 2003). Như vậy, chính  sách thương mãi trong toàn cầu hoá phải tăng cường công bằng xã hội chứ không nên làm tăng  hố cách biệt giàu nghèo .

4. Toàn cầu hoá và môi trường 

Phi nông bất ổn. Năm 1950, Trái Đất có 2,5 tỷ người .Ngày nay, cũng từng đó diện tích nhưng với tài nguyên suy giảm, Trái Đất phải nuôi 6 tỷ người . Và tuy tỷ lệ sinh có mòi suy giảm nhưng năm 2050, Trái Đất chứa giữa 7,3 và10 tỷ (8,9 tỷ theo scénario trung bình) Để nuôi dân đông đảo địa cầu như vậy, sản xuất lương thực phải tăng vì phi nông bất ổn. Không những phải tăng mà sản phẩm cũng phải rẽ nữa. Cũng cùng quy luật toàn cầu hoá nghĩa là cạnh tranh, nông dân phải bón phân nhiều, xịt thuốc diệt cỏ, xịt thuốc trừ sâu sao cho sản phẩm bán dễ dàng trên thị trường, làm môi trường bị khai thác quá mức, đảo lộn hệ sinh thái với nitrat chảy vào nước ngầm, cá chết vì ô nhiễm nước, các đàn ong chết (vì hút nhụy hoa vừa bị xịt thuốc). Các loại thuốc trừ sâu nếu bón không đúng cách sẽ tiêu diệt sự điều tiết giữa các giống, trừ khử mọi côn trùng có ích lẫn hại, lắm khi tạo ra giống mới miễn dịch được các loại thuốc bảo vệ thực vật. Và chỉ chú trọng vào lợi nhuận ngay trước mắt nên hệ sinh thái bị đảo lộn, kéo theo một loạt hậu qủa về ô nhiễm nước mặt, ô nhiễm nước dưới đất, sa mạc hoá, nạn lũ lụt, chuồi đất.

Vì lợi nhuận, và vì cái ỏmốtõ các nưóc tiền tiến là thích bàn ghế bằng gỗ nhiệt đới nên nhiều rừng nhiệt đới từ Gabon ở châu Phi sang Indonesia ở Đông Nam Á qua rừng già Amazon của Brésil bị đốn gỗ để xuất cảng. Không còn rừng thì dĩ nhiên không còn muông thú nữa vì rừng là nơi trú ẩn muông thú. Không còn rừng thì mất đa dạng sinh học, mất nhiều gen thực vật, mất ADN vốn là nền tảng cách mạng xanh ngày nay. Nền nông nghiệp đó, chú trọng vào lợi nhuận, tạo nên,

– như Francois Garczynski đã nói-, những sa mạc theo cả nghĩa đôi của chữ này: đất đai bị xói mòn và nông dân kéo vào thành thị, tạo thêm các khu nhà ổ chuột. Nếu không được hạn chế, phá rừng sẽ làm cạn kiệt nguồn nước mặt và nước ngầm, gây nên lũ lụt v.v.

Người nông dân các nước nghèo thấp cổ bé miệng không chủ động được thị trường quốc tế  trong đó các nhà chế biến, các hãng buôn nhập cảng có uy quyền thao túng hơn . Các đại công  ty Nestlé, Unilever, Dole, United Food có thể có ảnh hưởng trên các nhà lập pháp nhiều hơn là  nông dân lam lũ .

Nhiều vấn đề môi trường không phải chỉ nằm trong phạm vi một quốc gia mà  có tính cách xuyên biên giới . Vài ví dụ:

-Sông Nil chảy từ Burundi, rồi Kenya, Soudan trước khi đến Ai cập .

-Sông Mekong chảy từ Vân Nam (Trung Quốc) qua Lào, Miến, Thái, Campuchia mới đến Việt Nam.. Sông Sesan chảy từ Việt qua Miên. Việt Nam vừa là nước thượng lưu (sông Sesan, sông Srepok), vừa là nước hạ lưu. Campuchia cũng vậy. Phá rừng trên thượng nguồn, xây đập trên thượng nguồn một xứ có ảnh hưởng đến kinh tế từ ngư nghiệp đến nông nghiệp của nhiều xứ nằm trong cùng lưu vực: phù sa bớt đi, làm đất không được bồi dưỡng. Như vậy, các biến đổi thượng lưu có thể gây ra tác động lũy tích dồn về phía hệ sinh thái hạ lưu, cả về mặt lợi ích quốc gia (nước trồng lúa) lẫn nguồn sống địa phương (cá tôm, nước sinh hoạt) .Những thách thức môi trưòng xuyên biên giới nhiều và đa dạng: do suy thoái rừng và lũ lụt do phá rừng đầu nguồn, Thái Lan cấm khai thác gỗ và một tác dụng của luật cấm khai thác gỗ của Thái Lan là chuyển nạn suy thoái rừng sang các quốc gia láng giềng Lào, Miến Điện và Campuchia. Các nước này đã tăng mức xuất cảng gỗ, cả hợp pháp và bất hợp pháp.

Do đó khu vực hoá đòi hỏi cần có các định chế điều hợp, phối trí để quản lý các thách thức môi trường xuyên biên giới, mục đích tối hậu là để cho tài nguyên được sử dụng một cách bền vững. Như vậy, chính sách thương mãi trong toàn cầu hoá phải tăng cường sự bền vững sinh thái chứ không thể chỉ chú trọng vào lợi nhuận .

5. Toàn cầu hoá và văn hoá .

Toàn cầu hoá đem đến những mặt tích cực và tiêu cực :

-tích cực vì toàn cầu hoá đưa thông tin đến mọi nhà, thông tin khoa học, kinh tế, chính trị, và văn hoá giúp con nguời sống gần nhau hơn, hiểu biết nhau hơn và dễ thông cảm để có hoà bình nhân loại, giúp dân trí cao hơn, làm các dân tộc hiểu biết nhau hơn, đưa đến cảm thông văn hoá và giúp phá bỏ cường quyền, dù các nước này thiết lập hàng rào lửa (firewall) trên mạng lưới . Các nưóc chậm tiến có thể nhờ toàn cầu hoá về thông tin để cải thiện giáo dục, tạo ra một xã hội học hỏi (learning society), giúp dân trí phát triển nhanh hơn. Toàn cầu hoá giúp ta có nhãn quan mới, tư tưởng mới, không khư khư buộc lấy mình vào trong, không còn tư tưởng “ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”.Toàn cầu hoá đem đến một luồng gió mới trong quản trị với sự minh bạch, trong suốt, có kế hoạch, có bài bản, trong pháp luật với sự minh bạch, không tròng tréo, trong giáo dục với sự đào tạo các ngành nghề dịch vụ và nếu giúp người Việt trong nước bớt quan liêu, bớt tham nhũng, bớt thói vòi vĩnh, thì đó cũng là điều tốt thôi . Nếu toàn cầu hoá giúp người Việt bớt thói chỉ nói ba hoa mà không làm, bớt thói chỉ trích và chỉ gây chia rẽ, học vị thì nhiều mà làm được việc thì ít, bớt thói ỏanamitõ thì đó cũng là điều tốt thôi . Toàn cầu hoá đưa đến cạnh tranh và như vậy, các xí nghiệp làm ăn thua lỗ phải giải thể, kéo theo thất nghiệp; như vậy đặt ra vấn đề tu nghiệp, đào tạo, chuyển nghề, tóm lại học hỏi liên tục để tự mình tìm được công việc khác .

Với toàn cầu hoá, các hôn nhân xuyên biên giới, xuyên quốc gia trở nên thường xuyên hơn. Gia  đình Việt Nam ở Mỹ hay Canada có con cái có chồng hay vợ người bản xứ là rất thường.Với  các hôn nhân toàn cầu hoá như trên, nhiều giá trị cổ truyền Đông phương cũng phai lạt đi:  nhiều quan hệ vợ chồng trở nên bình đẳng, văn hoá trở nên cá nhân hơn, không còn các rắc rối  trong quan hệ mẹ chồng-nàng dâu, chị em dâu như trong các gia đình truyền thống ngày xưa  nhưng ngược lại thì bớt tinh thần đoàn kết trong gia đình so với ngày trước .

-tiêu cực vì đem lại một sự đồng dạng văn hoá: văn hoá tiêu thụ, văn hoá vật chất, văn hoá Mac (Mac Donald), văn hoá cá nhân, chú trọng bề ngoài mà không chú trọng bề sâu của tâm hồn. Bản sắc dân tộc bị xói mòn, đe dọa với phim ảnh Tây phương tràn ngập . Các rạp ciné Pháp thì 70% người khán giả xem phim Mỹ. Ngôn ngữ cũng đầy tiếng Anh. Internet cũng xài tiếng Anh. Bên Việt Nam thì nhiều người khá giả cho con em đi học Anh ngữ ngay lúc mẫu giáo! Các tội ác xuyên biên  giới như rửa bạc, kinh doanh phụ nữ, buôn bán ma túy, vũ khí cũng dễ tăng lên .

6. Thế nào là 5 LESS cần tránh trong toàn cầu hoá ?

Ruthless: Hiện nay, hố cách biệt giàu/nghèo giữa các nước phát triển và các nước chậm tiến Phi châu qúa sâu đậm. Hố cách biệt người cùng một nước, nhiều người qúa giàu, nhiều kẻ qúa nghèo. Do đó cần có phát triển hài hoà sao cho các thành tựu phát triển kinh tế cũng phải được phân phối đồng đều.

Rootless: Phát triển nhưng phải giữ căn tính, bản sắc văn hoá các dân tộc Jobless: Phát triển nhưng tạo công ăn việc làm, chứ không phải phát triển với các dự án không tạo thêm công việc. Điều này cũng hàm nghĩa giáo dục liên tục để đào tạo nhân công thích nghi với sự thay đổi mau lẹ của thị trường quốc tế .

Futureless: phát triển nhưng phải lo bảo toàn môi trường vì chính môi trường như đất, nước,  rừng phải được sử dụng trong đường lối phát triển bền vững để cho các thế hệ sau này còn được  hưởng dụng. Phải mong rằng thị trường không phải là tất cả và không thể để tiêu chuẩn lợi  nhuận tối da trên tiền đầu tư mà phá hủy môi trường, lấn chiếm những gì cho các thế hệ mai  sau, tóm lại phát triển với bộ mặt con người.

Voiceless: phát triển nhưng trong sự trong sáng, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng khiến người dân nào cũng có thể nói mà không sợ bị bắt bớ, giam cầm.

7. Kết luận

Nền kinh tế trong những thế kỷ đến là đổi trao chứ không phải khai thác và lấn chiếm và sự đổi  trao đó đòi hỏi một tinh thần liên đới và trách nhiệm:

-liên đới giữa các nước giàu/nghèo, giữa các nước mở mang/các nước kém mở mang với mục đích là để vực dậy các nước nghèo, thoát khỏi cùng cực triền miên. Thế giới có 6 tỷ người mà gần 50% chỉ sinh sống với lợi tức dưới 2 đô la mỗi ngày. Sự phát triển kinh tế phải có tính cách bền vững, không phát triển trên nợ nần của các thế hệ tương lai

-trách nhiệm vì toàn cầu hoá có thể giúp các mặt tiêu cực xã hội lan nhanh hơn, các tổ chức mafia in bạc giả, rữa tiền, buôn ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em tội ác, khủng bố do đó mọi xứ có trách nhiệm hợp tác để ngăn ngừa tội phạm, ngăn ngừa TRƯỚC KHI tội phạm xảy ra. Một nền kinh tế cạnh tranh theo kiểu thị trường cần có những thể chế, quy tác, luật pháp.

Chúng ta sống trên con thuyền, thuyền chìm thì cộng đồng nhân loại cũng chìm luôn . Con người như vậy phải tập sống bao dung, bao dung với tôn trọng sự khác biệt văn hoá, màu da, tín ngưỡng nhưng trong một khung cảnh luật pháp ở đó quyền ăn nói, quyền làm người phải được tôn trọng. Quyền hành dù là chính trị, văn hoá, truyền thông, tín ngưỡng phải đi đôi với trách nhiệm. Con người gồm thân và tâm. Của cải vật chất dĩ nhiên là quan trọng nhưng còn có các giá trị tâm linh không thể mua hay đo bằng tiền bạc. Các đền đài, các di tích lịch sử, các cảnh quan chứa các giá trị phổ quát không thể đo bằng tiền. Một khu rừng, một dòng sông có giá trị thẩm mỹ, huyền bí, mơ mộng, tình yêu, thần thoại, tâm linh, lãng mạn chứ không thể xem như là các vật đổi chác.

Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này

Nhiều vật vô tri như cỏ cây, như rừng núi, như lăng miếu, đền đài có linh hồn như thơ của Lamartine (Objets inanimés, avez-vous donc une âme ? ..) .Các giá trị văn hoá phức tạp hơn là các giá trị tài chính. Không thể xem cái gì cũng là mặt hàng đổi chác buôn bán được. Như vậy, vấn đề có tính cách đa chiều nhưng con người ngày nay lại thiếu khả năng suy tư một cách đa chiều; khủng hoảng càng phát triển thì sự suy tư về khủng hoảng lại càng bị bỏ đàng sau. Vấn đề toàn cầu với muôn mặt, muôn vẻ, dính liền nhau, tương tác với nhau, đa chiều cho nên tiếp cận vấn đề không thể theo chủ nghĩa rút gọn (réductionnisme) chỉ dựa vào một loạt yếu tố duy nhất làm vấn đề vốn đa chiều lại bị chia năm xẻ bảy.

Mọi vấn đề liên hệ đến nhau: bệnh dịch toàn cầu SARS là một ví dụ; khủng bố World Trade Center cũng là một ví dụ khác. Du lịch sút kém khiến máy bay không ai đi, nhà hàng không ai đến, do đó nhân viên hàng không bị đuổi và vì máy bay không ai đi nên các hãng sản xuất máy bay phải sa thải nhân viên, chưa kể kinh tế một xứ nằm phía Nam Canada lại bị trì trệ vì chiến tranh Trung Đông, và hối xuất đồng đôla Canada tăng, làm xuất cảng khó khăn hơn v.v Như vậy các vấn nạn không những liên hệ với nhau mà lại có sự gia tăng những yếu tố bất định không đoán  trước được, chúng phụ thuộc và phản tác dụng lẫn nhau với những gián đoạn, những hỗn loạn,  rẽ hướng, như tăng trưởng các vũ khí nguyên tử tại các xứ Ấn Độ, Hồi quốc, Bắc Hàn, khủng  bố Hồi giáo bảo căn v.v. .. .

Nhưng vấn đề cốt lõi lại chính lại là một vấn đề văn hoá: làm sao  cho thế giới không phải là một sân chơi cho các cầu thủ hạng nặng ( các xứ giàu có) mà là một  sân chơi đa dạng trong đó mọi dân tộc tham dự chia xẻ các khổ đau, các an lạc, các thành qủa,  tạo ra một hiền hoà giữa người và người, một hài hoà giữa người và thiên nhiên trong một tinh  cầu nhỏ bé (Trái Đất) trong giải Thiên Hà bao la .

Bài viết của tác giả Từ Uyên được chúng tôi đăng lại. Trong quá trình biên tập lại có một số lỗi chính tả nhỏ chúng tôi mong độc giả hết sức thông cảm.

Vào đúng năm đầu của thế kỷ 20, Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới về chính trị và văn học.

Năm 1900, vua Thành Thái đã lên ngôi được 12 năm và đã bước vào tuổi thành niên (ngài được đặt lên ngôi năm 10 tuổi vua khi vua Đồng Khánh băng năm 1888) và không còn bị các vị phụ chánh chi phối. Các cụ phụ chánh Miên Trinh (Tuy lư vương) Nguyễn trọng Hợp và Trương quang Đản người đã mất, người đã về hưu nên nhà vua đã có thể tự thực hiện nhửng điều mong muốn. Nhưng ảnh hưởng của các đại thần thân Pháp cũng còn nhiều. Đệ nhất giai phi lại là con của Nguyễn Thân cựu phụ chánh thời Đồng khánh và ảnh hưởng của ông này còn rất lớn. Tai mắt của cựu Kinh lược Bắc kỳ Nguyễn hữu Độ, (cha vợ của Đồng Khánh và là người đã giết Phan đ́nh Bình cậu ruột vua Thành Thái v́ nghi kỵ.) còn rất nhiều Cũng v́ lẽ đó các hành động của vua Thành Thái bị theo dơi rât kỹ và nhà vua cũng đã tỏ nhiều hoạt động khác thường: cắt tóc ngắn, lái xe, học tiếng Pháp, thích cải trang vi hành thăm dân, tỏ ra vẻ hiếu sắc và tuyển lựa phụ nữ sung vào đoàn nữ nhạc, thích coi tuồng và đánh trống chầu thành thạo. Bề ngoài có vẻ điên dại khác tác phong các vua khác nhưng Thượng thư Trương như Cương vẫn chú ý nhiều tới các hành động của nhà vua.

Tuy nhiên những lương đống của triều đình cũng vẫn còn. Ba vị đại thần : Đào Tấn người Bình Định, Hoàng giáp Nguyễn thượng Hiền gốc phủ Ứng Ḥa miền Bắc con rể cựu phụ chánh lưu vong Tôn thất Thuyết và Tiến sĩ Khiếu năng Tĩnh một nhân vật đặc biệt nhưng ít được nhắc tới đã đóng góp vào việc đào tạo nên một nhân vật cách mạng nổi tiếng sau này. Mổi người đều có những ư riêng tư nhằm chống đối người Pháp nhưng chưa tìm ra giải pháp.

Trong kỳ thi Hương năm 1897 tại Nghệ An, một tin động trời đã xảy ra: Đầu sứ Phan bội Châu có tiếng văn hay, bị loại không được vào dự vào thi kỳ đệ nhị nhằm các đề thi phú, một môn đắc ư của người trai đã 30 tuổi đã nổi danh về tâm tư kháng Pháp từ thuở nhỏ, đã hướng về Cần Vương và người đã nổi tiếng qua bài hịch Bình Nam Thu Bắc và đã cùng bạn thân Trần văn Lương lập đoàn Sĩ tử cần vương đội chống Pháp từ năm 17 tuổi, nhưng không thành, tạm trở lại với sách đèn tìm học hỏi các vị khoa bảng, đồng thời tìm đồng chí và trong khi ngồi dạy học đã qui tụ được khá nhiều bạn bè tâm huyết..

Nhân khi làm bài phú “Bái thạch vi huynh” lúc theo học Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền và Tiến sĩ Khiếu năng Tĩnh vài năm trước, khi hai vị này còn giữ chức Đốc học Ninh Bình và Đốc học Nam định, người trẻ này đã được các vị này chú ý tới văn tài và hiểu rõ tâm tư muốn làm cách mạng. Nhưng biến cố đã bất ngờ xảy ra. Phan bội Châu bị bạn đống chí Trần văn Lương vô t́nh hay hữu ư giấu vào hành trang của ông khi vào kỳ đệ nhị một số tài liệu về thơ. một môn vào trường ba mới cần thi thố. Và Phan bội Châu bị cấm thi. Các thí sinh khác bị cấm thi không được ai chú ý, nhưng Phan bội Châu bị cấm thi v́ mang tài liệu váo trường thi là một tin trọng đại. Chủ khảo Nguyễn hàm Quang với tước Quang lộc tự khanh và cũng là H́nh bộ Biện lư, bắt buộc phải đệ tŕnh về kinh và đương nhiên Phan bội Châu bị cấm thi vĩnh viễn. Nhưng vị phó chủ khảo lại là Nguyễn duy Miễn đang giữ chức Quốc tử giám tư nghiệp, phụ tá của vị Quốc tử giám tế tửu Khiếu năng Tĩnh nên chắc có những trợ giúp ít nhiều.

Ư thức được Phan bội Châu là người rất cần thiết cho việc lớn nên các quan trong triều phải tìm cách cứu và không những chỉ tìm cách cứu để Phan bội Châu trở thành vô tội được dự thi trở lại, để được đậu đấu và trở thành một nhân vật cần thiết cho con đường cách mạng..

Vai trò quan trọng của cụ Phan bội Châu là gì?

Thời thế tạo anh hùng hay anh hùng tạo thời thế.

Tới 1895 cuộc khởi nghĩa Cần Vương của cụ Phan Đình Phùng tan vỡ, Nguyễn Thân đã thành công. Các nhà yêu nước theo họ Phan người lần lượt bị bắt, kẻ bị tử h́nh, kẻ khác ra hàng, một số khác ra Bắc liên lạc với Đề Thám hoặc qua Trung Hoa trốn lánh hay cầu viện.

Trong thời gian này, một chàng học sinh còn ít tuổi sinh năm 1867 nhưng đã ôm lư tưởng chống xâm lăng qua việc soạn và phổ biến bài hịch Bình Tây Thu Bắc và cũng một thời tham gia kháng chiến với nhóm “sĩ tử cần vương đội ” nhưng không bị bắt. Quê quán tại Đan nhiễm huyện Nam Đàn, bên cạnh phủ Đức Thọ quê hương Phan đ́nh Phùng. Cả hai đều cùng tỉnh cùng họ nhưng không liên hệ gia đ́nh.Nhưng Phan Bội Châu rất hâm mộ và mong ước noi theo con đường khởi nghĩa chống Pháp và như vậy chứng tỏ Phan bội Châu từ tuổi thiếu niên đả là một người yêu nước và chắc chắn bị nhà cầm quyền theo Pháp chú ý. Theo các sách để lại ngoài bài hịch Bình Tây Thu Bắc làm thời trẻ, sau này ông theo học Hoàng giáp Nguyễn thượng Hiền một danh sĩ hai lần á khoa trong các kỳ thi chỉ sau thần đồng khoa bảng Vũ Phạm Hàm. Có thể trong thời gian kháng chiến Hương sơn trong 10 năm, các trường học vùng Nghệ Tĩnh không yên nên Phan bội Châu theo học Nguyễn thượng Hiền lúc này làm Đốc học Ninh Bình chăng. Cũng có sách cho biết Phan bội Châu có theo học Đốc học Nam định Khiếu năng Tĩnh một thời gian.

Và nhờ bài phú “ Bái thạch vi huynh “ làm khi thụ giáo Nguyễn thượng Hiền, vị thày này chú ý và hiểu rõ tâm sự, nên sau này vị thày này cho Phan đọc nhiều sách của Montesqieu và Jean Jacques Rousseau được dịch qua Hán tự như Vạn Pháp tinh lư vàv Xă ước với những tên phiên âm ra Mạnh đức tư cưu và Lư Thoa. Nhờ đó Phan bội Châu bắt đầu làm quen với tư tưởng cách mạng Âu châu.

Phan bội Châu như vậy tài học không dở, tại sao khi đi thi lại phạm tội mang tài liệu vào trường thi và bị cấm thi. Mang tài liệu vào trường thi bị đóng gông, hạ ngục và phạt 100 trượng và bị cấm thi vĩnh viễn. Tài học cao như Phan bội Châu làm sao lại sơ xuất để phạm trọng tội này? Hơn nữa tuy đã thi Hương vài lần nhưng Phan vốn không coi khoa cử làm trọng (lập thân tối hạ thị văn chương) tại sao lại mang tài liệu vào trường thi và đương nhiên phạm tội và bị cấm thi. Rất nhiều giả thuyết đã đưa ra trước nghi vấn về hoàn cảnh gian lận này. Nghi vấn này sau này chắc được sáng tỏ v́ năm 1900 Phan được bộ Lễ tha tội và được nhận cho thi Hương trở lại tại trường Nghệ An và được chấm đậu Giải nguyên.

Tước vị Giải nguyên chưa chắc đã do hoàn toàn do tài học của Phan, qua các giai thoại chúng tôi được nghe và được phối kiểm với hậu duệ của vài nhân vật đã giúp Phan giải trừ oan ức và thi đậu Giải nguyên nên đã được biết qua cuộc thảo luận kín của ba vị: Hoàng giáp Nguyễn thượng Hiền thày học của họ Phan khi đó lănh chức Quốc sử quán toản tu, Phủ doăn Thừa Thiên Đào Tấn và quan trọng nhất Quốc tử giám Tế tửu Khiếu năng Tĩnh. Ba vị trí thức khoa bảng này đang giữ những chức vị quan trọng trong ngành sử, văn, và hành chánh thủ đô không bị tai mắt của nhóm thân Pháp theo dơi, Các vị đã nghĩ rằng trong thời gian nhân dân còn tôn quân và trọng kẻ sĩ, và chỉ có người mang danh khoa bảng thật xuất xắc nhưng đầy tinh thần cách mạng mới có thể trở thành lănh tụ cần vương lần nữa. Và các cụ đã chọn Phan bội Châu và chính Quốc tử giám Tế tửu Khiếu năng Tĩnh đã tŕnh Bộ Lễ xét lại và tha Phan bội Châu khỏi nghi án mang tài liệu vào trường thi và sau đó cụ Đào Tấn khi ra làm Tổng đốc Nghệ Tĩnh cũng như cụ Nguyễn thượng Hiền thúc dục Phan ra thi trở lại. Muốn chắc hơn, cụ Khiếu năng Tĩnh còn tự nguyện nhận làm Chánh chủ khảo khoá thi Hương Nghệ An năm 1900. Các bạn theo tân học thường chỉ nghĩ văn hay chữ tốt nếu xuất xắc hơn người th́ đậu Giải nguyên là lẽ tất nhiên, nhưng sự thực không phải vậy. Văn có hay có giỏi nhưng Chánh Chủ khảo là người hoàn toàn định đoạt chức phận các thí sinh và việc cụ Khiếu năng Tĩnh khi đó tuổi đã cao nhận ra trường Nghệ An chấm thi, nhất định đã có ư chọn Phan bội Châu đậu Giải nguyên. Nhưng tại sao Đào Tấn người Bình Định lại đóng góp đắc lực vào việc giúp đỡ Phan bội Châu. Đào Tấn, gốc Bình Định ắt căm hận Nguyễn Thân, người đã tàn sát và diệt Cần Vương tại Quảng ngăi và Bình Định khiến hai lănh tụ Mai xuân Thưởng và Lê Trung Đ́nh bị hại chắc chắn khiến Đào Tấn căm hận Nguyễn Thân nên cố kiếm người tiếp tục công nghiệp cách mạng. Qua các tài liệu khác nhau được biết Đào Tấn là hậu duệ của Lộc Khê Hầu Đào duy Từ nên rất giỏi về môn hát tuồng và tạo dựng rất nhiều vở tuồng chê trách Nguyễn Thân. Vua Thành Thái cũng thích coi tuồng và mượn cớ tập hát tuồng đã mộ một số nữ nghệ sĩ nhờ Đào Tấn huấn luyện tập tuồng ngoài việc các nữ nghệ sĩ này sẽ trở thành nữ binh trong một cuộc khởi nghĩa trong tương lai. Nhờ vậy Đào Tấn rất gần vua và được vua Thành Thái tin tưởng nên vị vua này chắc đã đóng góp nhiều khi giúp hai vị Nguyễn thượng Hiền và Khiếu năng Tĩnh giải oan cho Phan bội Châu. Và kết quả như mong muốn Phan bội Châu được chấm đậu Giải nguyên. Với tước vị Giải nguyên họ Phan có đủ hành trang học vấn và uy tín của một nhân vật trí thức tiến vào đường cách mạng không mặc cảm. Một điểm nữa chúng tôi nghĩ rằng Phan bội Châu biết rõ chức phận Giải nguyên quan trọng hơn một chức phận sẽ đạt được khi thi Hội và thi Đ́nh v́ khi vào Đ́nh đối, với lối suy nghĩ cuả Phan bội Châu, ông khó có thể đạt được kết quả tốt, có khi còn bị chủ khảo theo hướng thân Pháp cách tuột vị thế Giải nguyên.

Và một anh hùng được coi như cha đẻ ra tư tưởng cách mạng cứu nước đã chính thức ra đời.

Ngay ban đầu năm 1901 chưa đủ thực lực quân sự Phan, đã lại định đánh chiếm Nghệ An như dự tính trước đây, nhân ngày lễ 14 tháng bảy dương lịch mỗi năm, quân Pháp không nghiêm chỉnh canh pḥng v́ vui chơi ngày hội nên canh pḥng sơ khoáng, cách mạng dễ khởi binh, nhưng mưu này bại lộ và may mắn lúc này lại chính cụ Đào Tấn vừa được thăng tới chức Tổng đốc Nghệ Tĩnh nên đã nhận ch́m nội vụ và khuyên Phan nên thận trọng và tìm con đường cách mạng rộng răi hơn. Một tư tưởng cách mạng mới phải h́nh thành và cần được một khoa bảng hướng dẫn v́ tinh thần tôn quân và sùng bái khoa bảng vẫn còn sâu đậm trong nhân dân thời đó.

Phan Bội Châu có xứng đáng để khỏi phụ ḷng tin tưởng của các vị này không/

Chúng ta hăy cùng nhau tìm hiểu các hoạt động của ông từ tuổi thanh niên tới khi bị bắt cóc tại tô giới Pháp rồi bị giải về Việt Nam và bị kết án đại h́nh

Không biết có thể cho rằng Thời thế và các Đại thần yêu nước nhưng bị bó tay đã tạo nên Phan Bội Châu hay không? Nhưng chắc chắn Phan bội Châu nếu đơn côi một ḿnh không thể tự tạo nên Thời thế.

Hoạt động của Phan Bội Châu có thể tóm thâu qua các giai đoạn sau đây:
Đi tìm đồng chí và chiến hữu (1901- 1903)
Tôn dựng Minh chủ. 1903
Xuất ngoại qua Nhật 1905-1908
Tạo phong trào Đông du.1906
Bị trục xuất khỏi Nhật 1909
Hoạt động tại Xiêm và Trung Hoa.. 1908-1925
Bị bắt cóc và giải về Hỏa ḷ Hà Nội.1925
Ra ṭa lănh án.1925
Quản thúc tại Bến Ngự (Huế) 1925-1940

Hành trạng này theo những tài liệu của các nhà viết sử hay khảo cứu vê Phan Bội Châu cả từ hai phía người không cộng sản và người cộng sản không khác nhau nhiều và có thể ghi nhận như sau:

Tiểu sử và các bước đi của Phan Bội Châu trước năm 1900

Ý chí của Phan ban đầu quyết làm cuộc cách mạng bạo động trước hết chống trả quân xâm lược theo lư tưởng của Cần Vương và như vậy vẫn tôn quân. Nhưng sau khi vua Hàm Nghi bị bằt và lưu đầy Phan không tin tưởng vào vương quyền bù nh́n nữa. Thực vậy lúc này vua đương triều Thành Thái và đ́nh thần dưới sự kiềm tỏa của chánh phủ bảo hộ lại thêm ảnh hưởng quyền thế của Nguyễn Thân và Trương như Cương, không một hành động chống đối nào có thể công khai biểu lộ và chưa có cách nào thành tựu được.

Phan bội Châu đi thi được đậu Giải nguyên trường Nghệ An năm 1900 và cũng vào kinh thi Hội năm 1901 nhưng không đậu. Khoa thi Hội và Đ́nh này Ngô đức Kế đậu Tiến sĩ thứ nh́ và Phan chu Trinh đậu Phó bảng. Huỳnh thúc Kháng, Giải nguyên trường Thừa Thiên năm 1900 không thi v́ đang cư tang. Trần quư Cáp chưa đậu ǵ cả. Các vị này sau này cũng đóng góp nhiều vào chính trị và cách mạng Việt Nam. Nổi tiếng nhất sau Phan bội Châu là Phan chu Trinh mà chúng ta sẽ tìm hiểu phần sau.

Nhờ ra Huế thi Hội Phan bội Châu mới bắt đầu quen các vị trí thức cùng dự thi và chắc mới bắt đầu quen biết sơ giao như các bạn đi thi một khoá. Sau đó Phan Bội Châu được học tại Quốc tử giám và có dịp tìm hiểu tư duy của vua đương triều và các quan trong triều đ́nh. Lúc này Ngô đức Kế tuy đậu Tiến Sĩ nhưng không ra làm quan và Phan chu Trinh đã đậu Phó bảng và nhận chức Thừa biện bộ Lễ tương đương với quan ngũ phẩm.

Phan Bội Châu đi tìm đồng chí, thành lập Duy tân hội, Tôn dựng Minh chủ 1901-1904

Năm 1901 Phan nhờ học Quốc tử giám sau khi dự và hỏng kỳ thi Hội năm này nhưng thực ra ông chủ tâm tìm gặp các đồng chí có tước vị để cùng bàn chuyện chống Pháp. Ông gập được Huỳnh thúc Kháng cũng Thủ khoa trường Thừa Thiên năm 1900 nhưng không thi Hội năm 1901 v́ cư tang, Phan châu Trinh tuy đậu Cử nhân thứ ba sau Huỳnh thúc Kháng năm 1900 nhưng đậu Phó bảng khoa 1901 này và đã bước vào hoạn lộ với chức quan nhỏ Thừa biện tương đương ngũ phẩm và chắc bắt đầu thấu hiểu t́nh trạng của quan trường dưới chế độ quân chủ tuy vẫn mang tiếng chuyên chế nhưng thực sự bù nh́n. Trong buổi gập gỡ này còn có Ngô đức Kế cũng đã đậu Tiến sĩ nhưng không ra làm quan. Chưa thấy tài liệu cho biết ông có gập Trần quí Cáp hay không. Lúc này ǵũa các vị này cũng chỉ còn trong t́nh trạng sơ giao ḍ ư, nhưng sau này lại cùng nhau chung sức mong xây việc lớn.

Trong khi Phan bội Châu được Nguyễn Quỳnh đưa đi gập Nguyễn Thành, Phan chu Trinh lại được Hoàng giáp Đào nguyên Phổ cung ứng một số tân thư tương tự như những sách Phan bội Châu được Nguyễn thượng Hiền truyền dạy trước đây. Cùng tham khảo một loại sách mới nhưng hai họ Phan suy nghĩ khác nhau và mỗi người xây dựng nước trên hai con đường khác.

Nguyễn Quỳnh hướng dẫn Phan và Đặng thái Thân, Lê Vơ,Đặng văn Bách tới gặp cụ Tiểu La Nguyễn Hàm nay đổi tên là Nguyễn Thành đang khai thác cơ sở nông trại Nam Thịnh tại Quảng Nam.

Cụ Tiểu La Nguyễn Thành là một chiến sĩ còn sống sót sau ngày tan vỡ của cuộc khởi nghĩa cần vương tại Quảng Nam sau khi các lănh tụ cần vương xứ Quảng là Tiến Sĩ Trần văn Du, và phó bảng Nguyễn duy Hiệu đều thất bại và chịu tử h́nh. Được Nguyễn Thân tha và cho về làm ruộng, Nguyễn Thành bề ngoài tỏ ra làm ăn chăm chỉ nhưng ư chí chống Pháp vẫn còn và vẫn đi tìm đồng chí để tiếp tục việc chống trả kẻ thù ngoại xâm..

Nay thấy có Phan bội Châu tới yết kiến ông rất vui mừng và sau khi có chung ư kiến, hai vị này đầu đồng ư tái lập cuộc chống Pháp tạm tan vỡ vài năm trước..

Và tại đây Phan bội Châu được Nguyễn Thành chỉ cho ba điểm đi tới thành công

THU PHỤC NHÂN TÂM
QUYÊN TIỀN
MUA KHÍ GIỚI
     -Theo Nguyễn Thành-

Hai điểm sau dễ đạt nhưng thu phục nhân tâm là yếu tố quan trọng nhất. Lúc này tư tưởng của Nguyễn Thành đã khác trước v́ đã nhận thấy những khuyết điểm của mọi cuộc bạo động vũ trang do các địa phương tự tổ chức, thiếu liên kết và vũ khí quá đơn sơ nên các cuộc khởi nghĩa cần vương lần lượt tan vỡ. Nay cần các nhân vật mới và các chiến thuật mới.

Nguyễn Thành sau khi thất bại trong công cuộc Cần vương tại Quảng Nam đã được một đồng chí là Đổ đãng Tuyển sưu tầm cung ứng các tài liệu học tập như :” Thiên hạ đại thế luận “ của Nguyễn Lộ Trạch và các sách báo hán tự cuả hai nhà cách mạng Trung hoa đang dùng các biện pháp đổi mới để chống Thanh triều và để đem lại sức mạnh cho Trung Hoa. Hai nhà cách mạng Khang hữu Vi và Lương khải Siêu đang lưu vong tại Nhật, Nguyễn Thành cũng được đọc các sách tân thư qua các bản dịch qua Hán văn của các tư tưởng gia Âu châu nên kiến thức của ông lúc này rất cao thâm và sau này các sử gia cho rằng chính ông sau cuộc khởi nghĩa quân sự cần vương không thành đã chuyển hướng qua cách mạng văn hoá và kinh tế nhằm hỗ trợ các cuộc khởi nghĩa quân sự và cần thu phục nhiều đồng chí với chí hướng mới.

Ông coi Phan bội Châu như người xứng đáng tiếp tục công cuộc cách mạng nên khuyên nhủ và khuyến khích Phan bội Châu rất nhiều.

Muốn thu phục nhân tâm trong giai đoạn này Nguyễn Thành khuyên Phan cần tôn dựng một minh chủ trong hoàng phái v́ ḷng tôn quân của nhân dân còn nhiều, chưa thể một sớm một chiều một nhân vật xuất thân trong nhân dân như Phan bội Châu hay ai khác dù tài giỏi tới đâu cũng chưa thể mang lại niềm tin trong dân chúng. Và để thay thế nhà vua đương triều đang bị tước đoạt quyền hành nhưng có thể vẫn ngầm mang nặng ḷng yêu nước và sẵn sàng từ bỏ ngai vàng khi có thân tộc chịu hy sinh v́ đại nghĩa, Phan và Nguyễn Thành phải tìm một vị trong hoàng tộc có tinh thần yêu nước và Nguyễn Thành đề nghị Tôn thất Toại, một người đã được ông giúp đỡ khi hoạt động cần vương cùng ông, nay thất bại và vẫn được ông trợ giúp, nhưng Phan nhờ quen biết và thấu hiểu tư tưởng của Kỳ ngoại hầu Cường Để, người cùng Phan học tại Quốc tử giám nên Phan đề nghị tôn vị này làm minh chủ và Nguyễn Thành cũng tán thành và tháng 03 năm 1903, Phan và Nguyễn Thành cải trang ra Huế yết kiến Kỳ ngoại hầu Cường Để và mời ông nhận làm minh chủ và Kỳ
goại hầu cho biết ông đã có ư làm cách mạng đã lâu nhưng chưa tìm được đồng chí, nay Nguyễn Thành và Phan bội Châu yêu cầu, ông vui ḷng nhận lănh. Vào đầu tháng 06- 1903, 20 đồng chí trong đó có Trần đ́nh Phác, Đào Tấn và Đốc vạn Hiến và Nguyễn hữu Bài cùng tới trang trại Nam Thịnh và bí mật tôn Kỳ ngoại Hầu làm Minh Chủ” Duy tân Hội“. Phan lănh nhiệm vụ ra Bắc tìm gập Hoàng hoa Thám.

Rời Quang Nam ra Bắc tìm gập Hoàng hoa Thám để bàn kế liên hoàn khởi nghĩa nhưng chưa được gập v́ Hoàng đang đau nặng (có tài liệu khác cho rằng Thám chưa tin nên chưa muốn tiếp), nhưng các bộ tướng của Hoàng là Cả Trọng (con Hoàng hoa Thám) và hai tướng Cả Rinh và Cả Huỳnh tiếp đãi trọng hậu và cuộc liên kết đã dự tính thành h́nh. Đại diện của Hoàng hưá sẽ gia nhập Duy Tân Hội do Kỳ ngoại Hầu làm thủ lănh và Phan bội Châu là hội phó. Lúc này trong Nam ngoài Bắc đã có nhiều người hưởng ứng và cũng đã quyên góp được tiền bạc khá nhiều. Vấn đề chính là mua khí giới nhưng mua ở đâu và do ai cung cấp. Toàn thể nghĩ rằng chỉ nước Nhật thể trợ giúp được và cử Phan ra đi thực hiện công tác đó

Tháng mười một năm 1904 sau khi hội nhóm họp tại nhà Nguyễn Thành, có thêm Phan chu Trinh tham dự và do Cường Để chủ toạ, Phan bội Châu được cử sang Nhật cầu viện.

Cũng trong năm 1904 để cảnh tỉnh Triều đ́nh, Phan viết :” Lưu cầu huyết lệ thư “, đệ tŕnh các đ́nh thần đang mang chức trọng với năm điều ước nguyện. (Lưu Cầu là đảo Okinawa ngày nay).

Sở dĩ Phan bội Châu mang địa danh Lưu Cầu vào bản huyết lệ thư v́ nhằm vào sự kiện lịch sử quần đảo Lưu Cầu năm 1890 hoàn toàn rơi vào tay Nhật và vị vua Lưu Cầu cuối cùng là Sho Tai hay Thiệu Thái đã mất nước vào tay Nhật và bị giam lỏng nhưng được mang tước Hầu và phải lưu vong ở Nhật và Nước Lưu Cầu từ nay trở thành Xung thằng và gia nhập Đế quốc Nhật.

Việc Thiệu Thái bị mất quyền năm 1890 và bị lưu đầy không khác cảnh Việt Nam phải chấp nhận hoà ước bảo hộ 1884 và sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn, bị bắt và lưu đày, các vị vua kế tiếp bị Pháp kiềm tỏa không khác số phận của Sho Tai trong ṿng kiểm soát của Nhật.

Lưu cầu huyết hệ thư như vậy được viết năm 1904 và nhằm vào Triều đ́nh, nhưng không được triêu đ́nh đáp ứng và chấp nhận mặc dầu các Đại thần đều khen hay và đúng. Tuy nhiên bức huyết lệ thư này cũng lọt ra ngoài và các giới sĩ phu vô cùng khâm phục và đem lại nhiều ảnh hưởng thuân lợi.Theo Phan,các vị danh sĩ như Phan chu Trinh, Trần quí Cáp, Huỳnh thúc Kháng và Ngô đức Kế đã bẳt đầu làm quen thân mật với Phan qua bản Lưu cầu huyết lệ thư..

Lưu Cầu Huyết Lệ Thư nhằm đưa ra năm điểm chính:

a/ Nhắc lại nỗi nhục nhằn mất nước, mất quyền, mang lại thảm họa cho tương lai dân tôc.
b/ Đê nghi mở mang dân trí sửa đổi thi cử, bỏ lối học cử nghiệp và xin giảng dạy những khoa học ứng dụng khác..
c/ Nhằm tái khích động dân khí đã tạm suy giảm qua việc Văn Thân Cần vương thất bại.
d/ Vun trồng nhân tài qua các phương tiện mới học kinh tài, công nghệ.
e/ Kỳ vọng những người đang làm quan cổ động các nhân sĩ và những người cầm quyền đem tài sức giúp nước.

Khi đưa bản Lưu cầu huyết lệ thư ra Hồ Lệ, Thượng Thư Bộ Hộ và là người gốc Quảng Nam tuy thích nhưng không dám tỏ thái độ, Đào Tấn ngầm ủng hộ, Nguyển Thuật hững hờ.Các đ́nh thần tỏ ra tiêu cực, trái lại vua Thành Thái rất lưu tâm và có tài liệu cho biết chính vua Thành Thái đã tạo dễ dàng cho Hoàng thân Cường Để ra ngoài để cùng Phan bội Châu mưu đồ việc lớn. Sau thất bại trước phản ứng tiêu cực của triều đ́nh đối với 5 điều ước nguyện do Lưu cầu huyết lệ thư đưa ra và ngay cả trong các cuộc hội kiến với Huỳnh thúc Kháng và tân Phó bảng Phan chu Chinh cả ba chỉ cùng đồng thuận trong điểm cần mạnh bạo chống trả mức đàn áp của ngoại nhân và sửa đổi phương pháp học và thi cử, nhưng chưa đồng thuận trong việc giữ nguyên thay đổi chính thể quân chủ hay hoàn toàn dùng biện pháp vũ trang bạo động. Phan bội Châu tin tưởng vào việc tái tạo dân khí, khai mở dân trí nhưng lưu lại một vương triều cứng rắn, mới có thể chống đối thực dân Pháp.

Phan được cử qua Nhật để cầu viện v́ sau khi ra Bắc lần thứ hai và được Hoàng tiếp kiến và sau khi quan sát cơ sở kháng Pháp của lực lượng của Hoàng hoa Thám, tất cả đều đồng ư phải hỗ trợ quân sự nhưng việc sản xuất hay tìm mua vũ khí trong nuớc không thể thực hiện và cần nguồn viện trợ bên ngoài và nước duy nhất hùng mạnh tại Á Châu thời đó là Nhật bản mới có thể trợ giúp v́ Trung hoa đương vào cảnh hỗn loạn. Ngay tới Khang hửu Vi và Lương khải Siêu đã phải tạm lánh qua Nhật.

Tăng bạt Hổ trước đây là người của Cần Vương trốn chạy được qua Nhật nay đã trở về và nhận giúp đỡ đưa Phan bội Châu qua Nhật năm 1905.

Phan Bội Châu xuất dương qua Nhật (1905)

Ý định của Duy tân hội muốn tìm Nhật làm đồng minh xuất phát từ tiếng vang lừng lẫy khi quân Nhật đánh tan hạm đội Nga trong năm 1904 tại Lữ Thuận và Đối mă đã chứng tỏ người Á châu không thua người da trắng từ xưa vốn đàn áp da vàng v́ vậy trông cậy vào Nhật là con đường tốt đẹp nhất.

Phan bội Châu xuất ngoại qua Nhật năm 1905 cùng Tăng bạt Hổ và Đặng tử Kính, Phan đã tìm gặp Lương khải Siêu và đưa ra ư định dựa vào Nhật. Ông đã bút đàm với Lương khải Siêu để thảo luận con đường phục quốc và kiến quốc và sau khi đuợc Lương hỏi thăm t́nh trạng áp bức của Pháp tại Việt Nam, Phan viết Việt Nam vong quốc sử kể lại mọi áp bức dă man của Pháp và mang nguyện vọng tranh đấu bạo động và thành lập Quân chủ lập hiến để thay chế độ quân chủ hiện nay không còn quyền thế và hoàn toàn do Pháp tuy là bảo hộ nhưng quyết định mọi việc.

Lương khải Siêu đã một mặt dịch Việt Nam vong quốc sử ra anh ngữ và phổ biến trong các báo Trung Hoa và bài này được vô cùng tán thưởng và được coi như một thành phần trong sách Ẩm băng thất (tập hợp các bài viết của Lương khải Siêu) tại Trung hoa. Lưong cũng khuyên Phan đừng quá tin vào sự giúp đỡ trực tiếp của Nhật và đưa Phan đi gập các yếu nhân Nhật

TUYÊN TRUYỀN BẰNG VĂN CHƯƠNG CHỮ HÁN CỦA PHAN BỘI CHÂU

Phan nhờ Lương khải Siêu giới thiệu với nhiều lănh tụ các đảng chính trị tại Nhật như Bá tuớc Đại Ôi đã ba lần làm Thủ tướng Nhật và Khuyển dưỡng Nghị Chủ tịch đảng Tiến bộ và Phan đã nhân dịp này đề nghị xin chánh phủ Nhật trực tiếp can thiệp trợ giúp Duy tân hội đánh đuổi Pháp, nhưng chánh phủ Nhật cho biết không thể công khai giúp đỡ v́ sợ phương hại bang giao Nhật Pháp, và các đảng đối lập đồng ư giúp Phan huấn luyện cán bộ từ trong nước gửi ra. Phan thấy thất bại trong việc yêu cầu Nhật tham gia viện trợ quân sự trực tiếp nhưng nhận thấy nước Nhật rất tiến bộ và nếu các người Việt yêu nuớc muốn mở mang kiến thức th́ đây là một nơi lư tưởng để học hỏi và phát triển mọi mặt. Phan bèn nhân dịp này viết Việt Nam vong quốc sử để bày tỏ nỗi nhục mất nuớc bằng hán tự năm 1905 và cuốn này được Lương khải Siêu dịch ra Anh ngữ và đãng trong nhiều báo tại Trung Hoa, Phan nghĩ nay nên mang về phổ biến tại Việt nam. Các bản viết bằng chữ hán được chính Phan và Đặng tử Kính chuyển về VN chừng 50 cuốn và chỉ có thể lưu truyền trong giới thông hiểu hán tự nhưng đã gây được tiếng vang lớn, và người Pháp đọc qua các bản dịch ra anh ngữ của Lương khải Siêu bắt đầu chú ý tới Phan và bắt đầu tầm nă.

Khi Phan ở Nhật, các yếu nhân Nhật cho biết mong muốn gập vị Minh Chủ cho việc tiếp xúc tương xứng hơn. Phan cũng có dịp ngoài việc trao đổi ư kiến và tiếp xúc với các yếu nhân Nhật, còn gập các nhà cách mạng Trung Hoa đang lưu vong v́ đang bị Thanh triều truy nă. Phan có cơ hội gập Trần Kỳ Mỹ một yếu nhân Trung Hoa đang lánh qua Nhật.

Phan Bội Châu khởi xướng phong trào Đông du (1906)

Sau khi Kỳ ngoại Hầu Cường Để nhận làm Minh chủ Duy tân hội trong công cuộc Phục quốc và sau khi nghe Lương khải Siêu khuyên nhủ, và có dịp gập các yếu nhân Nhật, các vị này cũng muốn gập Kỳ ngoại hầu Cường để trao đổi ư kiến trên vị thế cao hơn Phan quyết định về nước để mời Kỳ ngoại hầu qua Nhật, một mặt báo cáo t́nh h́nh trợ giúp vũ khí tuy không thành nhưng cũng cho các đồng chí biết những cái hay cái mới của Nhật hơn xa các điều từ trước ta tin vào Trung Hoa và nhất là nhờ các đồng chí phổ biến mạnh bản Việt Nam vong quốc sử trong nhân dân.

Phan về nước nhờ Đặng tử Kính đón Kỳ ngoại hầu đi Nhật v́ Phan phải trở lại Nhật ngay nhờ được một vị quan Tổng đốc cho biết lúc này Pháp đã ra lệnh tầm nă Phan ráo riết và các đồng chí cũng khuyên Phan nên trở lại Nhật, và may mắn Phan được Trần đông Phong giúp 15 nén bạc và 200 đồng làm lộ phí.

Trở lại Nhật, Phan được biết 2 thanh niên trẻ Lương lập Nham và Lương nghị Khanh hay Lập Nghi, con cụ Cử Lương văn Can cũng vừa tới. Cha con cụ Lương văn Can sau này nổi tiếng trong các cuộc đấu tranh trong nước nhưng đều, người tử trận, người tù đầy trong thời gian sau.

Cùng lúc này Lương khải Siêu cũng khuyên Phan nên kêu gọi người Việt ra nước ngoài học để đào tạo nhân tài và Lương xác nhận với Phan, chính phủ Nhật chỉ có thể gíúp Cường Để và Phan về ngoại giao và huấn luyện mà thôi, không trông mong hơn được và nếu Phan có ư định gửi vũ khí về Việt Nam nên dùng con đường tiếp tế khí giới cho Hoàng hoa Thám tiện nhất qua hai đường Quảng Đông và Quảng Tây gần biên giới Việt Nam hơn. Nhờ Lương khuyên bảo, Phan biết rõ cần thêm nhiều nhân tài mới mong phục quốc và xây đựng nuớc. Phan suy nghĩ và viết nên bài văn Khuyên Thanh niên du học và lại nhờ Tăng bạt Hổ chuyển về nuớc. Cùng lúc đó Nguyễn hải Thần cũng qua và nguyện phụ trách phần quyên tiền gíup sinh viên du học.

Phan liền phát động phong trào Đông Du qua Nhật để học hỏi mọi tư tưởng tiến bộ thực hiện việc mở mang nhân trí, một trong năm mục tiêu nêu ra trong Lưu cầu huyết lệ thư. Phan tin rằng từ sau 1905 đã đến lúc phải cần canh tân xứ sở và cần cử thật nhiều thanh niên qua Nhật để học hỏi tạo nên những thực tài ṇng cốt cho sự nghiệp phục quốc” khai dân chí, chấn nhân trí, thụ nhân tài” là những điểm Phan nêu ra trong Lưu cầu huyết lệ thư được coi như Cương lănh của Cách mạng Phan bội Châu. Nhận được thư ” Khuyên du học “, số thanh niên và nhân sĩ Đông Du hưởng ứng nồng nhiệt. Sồ người xuất ngoại qua Nhật lên tới trên 200 và Phan phải tìm nơi học và nuôi sống họ, và ban đầu 4 người trong đó có Lương lập Nham hay Lương khắc Quyến được vào học Chấn Vơ học hiệu.năm 1906, Lương Nghị Khanh được vào Đồng Văn thư viện một trường đặc biệt được thành lập để huấn luyện sinh viên Đông du.

Cùng năm đó Đặng tử Kính cũng pḥ tá Kỳ Ngoại hầu qua được Hương Cảng cùng lúc với Phan chu Trinh. Tất cả cùng gập mặt tại Hương Cảng rồi cùng qua Nhật vào tháng 04-1906. Phan bội Châu đưa Phan chu Trinh đi coi các cơ sở học vấn tại Nhật và Phan chu Trinh nhận thức mọi tiến bộ ở Nhật sau khi đã thảo luận với Phan chu Trinh và thẳng thắn cho Phan bội Châu biết ôngsuy nghĩ khác Phan bội Châu, Phan chu Trinh nghiêng về tư tưởng dân chủ và dân quyền nhưng không chống đối Phan bội Châu, Phan chu Trinh bèn chia tay với Phan bội Châu và hứa về nước ngay để tổ chức công cuộc cải tiến về học vấn và kinh tế và đồng ư Phan bội Châu nên ở lại Nhật để tiếp nối các liên lạc tại đây và đồng thời tránh cho Phan bội Châu việc bị Pháp bắt giữ v́ lúc này việc làm của Phan bội Châu đã được cơ quan an ninh Pháp vô cùng lưu ư.

Một việc cũng đáng chú ý, tại Nhật, Phan bội Châu cũng có dịp tiếp kiến với Tôn Trung Sơn cha đẻ ra nền Dân quốc tại Trung Hoa và tuy Tôn Trung Sơn đồng ư sau này khi phục quốc Trung hoa sẽ tìm cơ hội giúp Phan nhưng cũng đồng thời bàn với Phan về chế độ dân chủ có lẽ hay hơn quân chủ. Hai chính kiến đã không gập nhau v́ Tôn trung Sơn đang chủ tâm xây dựng Trung Hoa Dân quốc còn Phan mong muốn lưu giữ chế độ quân chủ. Hai tư tưởng và môi trường chính trị khác nhau, việc tranh đầu ắt phải khác nhau. Nhưng giao t́nh vô cùng thân thiện.

Nhân dịp này Phan bội Châu trao cho Phan chu Trinh mang về phổ biền “ Hải ngoại huyết thư “ để khuyến khích trong nhân dân tinh thần chống thực dân.

Tuy nhiên Phan cũng không yên ḷng với t́nh h́nh quân sự trong nuớc. Phe cấp khích đang mong chóng khởi nghĩa tiếp và Phan trở về Việt nam lần thứ hai qua đường Quảng Đông nghiên cứu đường chuyển vũ khí qua đường biên giới và tìm gập Lương tam Kỳ và Hoàng hoa Thám.

Tại Quảng Đông Phan gặp Thống lănh Trần Thế Hoa và nhờ ông này giới thiệu với đàn em cũ là Lương Tam Kỳ (dư đảng của Lưu vĩnh Phúc) lúc này ḥa với Pháp được Pháp cho thống lănh vùng Thái Nguyên trong khi đó Hoàng hoa Thám đang được Pháp nhượng một phần đất tại Bắc Giang trong khi trận chiến hai bên tạm ngưng. Tuy nhiên cả phía Pháp và Hoàng vẫn còn tìm dịp gây chiến tiếp.

Tháng 09 năm 1906 Phan gập Lương tam Kỳ nhưng Lương tam Kỳ chỉ hứa hẹn xuông v́ đã đưọc Pháp dành cho nhiều quyền lợi tại vùng Thái nguyên nhưng vẫn giúp Phan tới gập Hoàng sau đó vài tuần.

Sau khi hội kiến với Hoàng và được Hoàng hứa dành cho một cứ điểm gần Phồn Xương để Phan tập hợp đồng chí để thao luyện và làm nơi phổ biến các tài liệu khởi nghĩa.

Phan cũng lén xuống Hà Nội và gập Ngô đức Kế từ Hà tĩnh ra cùng hội họp với các nhân sĩ Bắc hà. Ngô đức Kế lúc này có lẽ đã nhận nhiệm vụ đóng góp vào việc thành lập Đông kinh nghĩa thục trong năm 1907. Ngô đức Kế cũng đồng thời đang phụ trách các công tác của Phong trào Duy tân do Phan chu Trinh khởi xướng tại vùng Nghệ Tĩnh.

Phan trở lại Hương cảng và thành lập một cơ quan Việt Nam Thương đoàn công hội để quyên tiền và giúp đỡ sinh viên trên đường Đông du. Sau đó Phan về Nhật và tiếp tục quyên tiền và mua vũ khí trợ giúp Hoàng hoa Thám và trang bị lực lượng vũ trang tại miền Trung.

Phan cũng thành lập Tân Việt Nam Cống hiến hội như h́nh thức một chính phủ lưu vong lâm thời và thanh thế càng nổi lên cao.

Trong khi đó nhờ sức vận động của Phan chu Trinh, Huỳnh thúc Kháng và Trần quư Cáp, tại nhiều tỉnh miền Trung các Thương điếm và các trường học chữ Pháp và chữ quốc ngữ được thành lập nhiều nhất tại Quảng Nam, Bình thuận và Khánh ḥa. Học sinh theo học rất đông và thật sự phong trào duy tân đã xuất hiện tại nhiều nơi trong nước. Cao điểm học hỏi phát sinh nhờ Phan chu Trinh đã vận động được Cử nhân Lương văn Can, Huấn đạo Nguyễn Quyền thành lập nổi cơ sở Đông kinh nghĩa thục tại Hà Nội, một cơ quan giảng huấn mới khuynh hướng cách mạng văn hoá thật rõ rệt vào ngày 04-03-1907. Ban giảng huấn thật đa diện và hùng hậu, tài giỏi, các buổi diễn thuyết được tổ chức và có thể các bài hiệu triệu của Phan bội Châu cũng được bí mật phổ biến. Rất tiếc Pháp đã rút giấy phép trường này sau 9 tháng hoạt động v́ nghi là ḷ đào tạo cán bộ cách mạng và sau này các giáo sư bị tù đầy rất nhiều. Nhưng để đối phó Pháp cũng mở một chương tŕnh giáo dục mới cũng khuyến khích học quốc ngữ và mở trường Đại học tại Hà Nội để thu hút thanh niên học theo ảnh hưởng Pháp.

Trong khi đó trong nước xảy ra nhiều biến cố lớn.

Hoàng hoa Thám bí mật tổ chức đầu độc quân nhân Pháp qua vụ Hà Thành đầu độc ngày 27-08-1908 phần v́ bại lộ, phần sử dụng thuốc độc không mạnh (dùng cà độc dược) nên việc không thành và những người chủ động đầu chịu cực h́nh.

Trong khi đó tại các tỉnh miền Trung từ tháng 03-1908 khởi đầu từ Quảng Nam, lan Quảng Ngăi, Bình định Phú yên dân chúng chịu không nổi sưu cao thuế nặng và cảnh bắt làm sâu tàn bạo nên phong trào phản đối càng ngày càng lan rộng trong ṿng 6 tháng có nơi phản kháng ôn ḥa có nơi bạo động nên Khâm Sứ Pháp khủng bố, tàn sát người tham gia và bắt giử các sĩ phu nghi là lănh tụ. Các vị tham gia có một số người bị tội nhẹ còn những người coi như thủ lănh bị tù đầy rất nhiều. Phan chu Trinh bị bắt tại Hà Nội khi đang diễn thuyết v́ bị nghi thủ xướng việc Trung kỳ dân biến tuy ông không trực tiếp tham gia.Trước đó vào tháng 11-1907 Đông kinh nghĩa thục bị thu hồi giấy phép và các giảng viên đều bị giam giữ sau khi có biến động tại miền Trung và sau vài tháng các vị giáo sư cũng bị đầy ra Côn đảo v́ Pháp cho rằng cách giảng dạy và các bài giảng dạy đều nhằm mục đích bài Pháp và họ có chứng cớ các bài viết từ ngoại quốc cuả Phan bội Châu cũng được phổ biến tại các trường Nghĩa thục này.

Thực dân Pháp buộc tội họ liên hệ tới Phan bội Châu và các hoạt động dù thương hiệu hay cơ sở giáo dục cũng liên quan tới việc xúi dục dân chống sâu chống thuế nên giam giữ và lưu đầy các vị được nghi là có dính líu trong các biến loạn này tại Côn đảo.

Các cuộc phản đối thuế tan vỡ sau sáu tháng, các cơ sở kinh tế, văn hóa đóng cửa, các nhân sĩ đây ra Côn đảo và cuộc tấn công vào căn cứ của Hoàng hoa Thám lại tái diễn qui mô hơn từ đầu năm 1909 cho tới năm 1913 mới chấm dứt.

Cùng thời gian 1907-1909 Pháp nhất quyết dứt điểm với Phan bội Châu nên tăng cường ngoại giao với Nhật và kư hiệp ước cho Nhật vay 300 triệu francs với điều kiện bắt đóng cửa Đồng văn học hiệu và tống xuât các sinh viên Đông du về nước lănh án. Pháp cũng đ̣i Nhật trục xuất Phan bội Châu và Cường Để.

Phan Bội Châu hoạt động tại Xiêm và tại Trung Hoa

Các sinh viên đông du này phần lớn bị cảnh sát Nhật giải giao cho Pháp, phần nhỏ lấy quốc tịch Trung hoa và ở lại Nhật, một số sau này theo Phan về sinh sống và hoạt động tại Xiêm khi Phan và Cường Để cũng bị cũng bị trục xuất khỏi Nhật và qua Xiêm nương náu năm 1909.

Tại Xiêm Phan vẫn chưa chịu ngưng tranh đấu, môt mặt khuyên sinh viên làm ruộng kiếm ăn, mặt khác tiếp tục vận động quyên tiền mua vũ khí gửi về nước.

Phan quyên được tiền mua nổi 500 khẩu súng nhưng không tìm được tàu chuyên chở, Phan tạm gửi vũ khí lại tại Hương cảng và bị nhà cầm quyền Anh tại Hương cảng tịch thu. Cũng có tài liệu cho biết Phan đã tặng số súng này cho Tôn Trung Sơn?.

Tới năm 1911 Phan bá Ngọc, trưởng nam của Phan đ́nh Phùng qua Xiêm cho Phan biết cách mạng Vũ Xương thành công, Phan bội Châu và Cường Để trở lại Trung hoa và lần này không còn giữ chủ nghĩa quân chủ nửa, Cường Để và Phan thành lập tổ chức mới mang tên Việt Nam Quang Phục hội do Cường Đê làm Hội trưởng kiêm trưởng Bộ Tổng vụ, Phan làm phó.

Ngoài ra còn các bộ Binh nghị do Nguyễn thưọng Hiền phụ trách miền Bắc, Phan bội Châu tự đặc trách miền Trung và Nguyễn thần Hiến phụ trách miền Nam.

Các ủy viên quan trọng có Hoàng trọng Mậu và Lương lập Nham (Lương ngọc Quyến) phụ trách quân sự và Đặng tử Kính phụ trách kinh tế.

Lấy lá cờ Ngũ tinh liên châu (nền vàng 5 sao đỏ) coi như quốc kỳ.

Binh thuyết được Hoàng trọng Mậu soạn và binh sĩ được tuyển mộ mang tên Quang phục quân.

Phan cũng cùng Kỳ ngoại Hầu lên gập Tôn Trung Sơn xin viện trợ quân sự, nhưng Tôn từ chối v́ cho rằng Trung hoa dân quốc vừa thành lập còn nhiều việc phải làm. Phan chỉ nhận được một số tiền và ít vũ khí do Trần kỳ Mỹ, người bạn Trung hoa cùng lưu vong tại Nhật nay làm Đô đốc Thượng Hải và Hồ hán Dân Đô đốc Quảng Đông trợ giúp.

Từ Trung hoa Phan không có cách giúp được ǵ cho Hoàng hoa Thám đang lui binh và Phan cũng chưa ra khỏi cùng quẫn nhưng nhưng Phan vẫn quyết gây bạo động và đưa người và tạc đạn về nhằm giết Toàn quyền Albert Sarraut khi ông này ra coi thi Hương tại Nam định khoa Nhâm Tư 1912 (Duy tân thứ 6), lúc này vua Thành Thái đã bị Pháp hạ bệ v́ nghi chống Pháp bắt buộc thoái vị để con là Duy Tân thay thế. Nhưng kết quả hai trái tạc đạn mang về Nam không tới nơi còn hai trái dùng tại miền Bắc chỉ được tài xế Phạm văn Tráng ném và giết chết Tuần phủ Thái Bình Nguyễn duy Hàn, còn trái tại Hà Nội ném vào Khách sạn Hanoi Hotel và chỉ làm hai thiếu tá Pháp tử nạn.

Sau vụ này Pháp bắt 254 người, xử tử 6 người và lên án tử h́nh vắng mặt Cường Để, Phan bội Châu, Nguyễn thượng Hiền và Nguyễn hải Thần.

Toàn quyền Albert Sarraut còn qua yêu cầu quan tỉnh Quảng Đông giải giao các vị thụ án tử h́nh vắng mặt về trả cho Pháp. Trước đây Hô hán Dân Đô đốc Quảng Đông là người quen cũ của Phan đã bị Long Tế Quang đánh chạy và Long Tế Quang năm 1913 đã bắt nhốt Phan và Mai lăo Bạng chờ ngày trao cho Pháp. Tại trong tù Phan viết cuốn Ngục Trung Thư kể lại những đoạn đời đã trải qua và đợi ngày về Việt Nam lănh án tử h́nh. Nhưng sau đó năm 1917 Long Tế Quang mất chức và người thay thế đã trả lại tự do cho Phan. Trong khi Phan ở ngục tù. Cường Để đã đi được Âu châu rồi qua Nhật trở lại và cùng Nguyễn thượng Hiền qua Xiêm tiếp xúc với người Đức. Sau đó Kỳ ngoại hầu qua Âu châu rồi lại trở về Nhật và tiếp tục hoạt động. Sau này các vị như Ngô đ́nh Diệm, Vũ đ́nh Dy, Nguyễn xuân Chữ cũng liên lạc và gia nhập tổ chức mới của Cường Để.

Cũng trong khi Phan còn ở trong ngục Lương ngọc Quyến bị người Anh bắt giao cho Pháp năm 1914 và bị Pháp tra tấn liệt hai chân và giam giữ tại Thái Nguyên.

Cũng chính Lương ngọc Quyến trong khi tù tội đã thuyết phục được Trịnh văn Cấn khởi nghĩa tại Thái nguyên ngày 31-08- 1917.

Trước những biến cố này Pháp càng căm hận Phan và tìm cách cô lập hoá Phan nhờ các tay sai hoạt động tại Trung hoa.

Năm 1917 khi Phan được trả tự do, t́nh trạng vật chất rất eo hẹp phải viết báo mưu sinh nhưng Phan cũng cùng một số đồng chí lập nên một đảng mới mang danh Việt Nam quốc dân đảng (không có liên hệ ǵ với VNQD đảng sau này do Nguyễn Thái Học làm lănh tụ.) Phan cũng bắt đầu tìm hiểu chủ thuyết Cộng Sản đang thành h́nh và có dịp gập người Nga nhưng chưa bị thuyết phục hoàn toàn và trao đổi thư từ với Nguyễn Tất Thành nhưng không gặp mặt chỉ v́ quen biết với Nguyễn Sinh Sắc cha của Tất Thành khi thi Hội năm 1901. Phan cũng có lúc nghĩ tới đổi thay tư tưởng và có ư mong tạo nên hoà hoăn với Pháp nhưng chưa rõ phương thức.

Năm 1922 ông có liên hệ với Tâm Tâm xă và hai phần tử trẻ của phong trào này đã ném bom mưu giết Toàn quyền Merlin tại Sa điện trong Tô giới Pháp tại Quảng châu. Sau vụ này Pháp nhất quyết hại cho đuợc Phan bội Châu và, Phan được tin báo Pháp đang tầm nă ḿnh tại Trung hoa nhưng không thận trọng đã bị một kẻ đồng hương (Lâm đức Thụ và Lư Thụy) báo cho Pháp lộ tŕnh di chuyển và Pháp bắt cóc Phan và bí mật đưa về giam tại Hoả ḷ dưới tên là Trần Văn Đức.

Nhưng nhờ Mai lâm Nguyển đắc Lộc bạn của Bác sĩ Nguyễn xuân Chữ vào Hoả ḷ thăm một tù nhân h́nh sự, và nhờ anh này cho biết tin Phan bội Châu bị Pháp bắt cóc và Pháp dự tính thủ tiên dưới tên Trần văn Đức. Tin lọt ra ngoài và được loan báo rộng răi trong nhân dân. Pháp bắt buộc phải đưa Phan ra Hội đồng Đề h́nh do Thanh tra Brides chánh thẩm.(Brides trước đây thoát chết trong vụ Trịnh văn Cấn khởi nghĩa tại Thái Nguyên nên hết sức thâm thù Phan)

Phan được hai luật sư khuynh hướng nhân quyền biện hộ và Phan cũng qua Thông dịch viên hùng biện tự bào chữa. Phan chỉ nhận những hành động trước năm 1913 v́ từ 1913 Phan đang bị Long tế Quang giam giữ. Phan cũng phủ nhận đã nhúng tay vào các biến động của nhân dân trong vụ chống thuế năm 1908 v́ Phan ở nước ngoài không liên lạc trực tiếp với nhân dân miền Trung và nhất là Hà Tĩnh quê hương của Phan, chưa có khởi biến và Ngô đức Kế bị bắt oan và được trả tự do và khôi phục công quyền phẩm tước năm 1921 nay lại là một kư giả danh tiếng của tờ Hữu Thanh.

Trước tin Phan bị ra toà xử, nhân dân rung động, biểu t́nh, băi khoá nổi lên từ khắp mọi nơi. Báo chí lúc này đã có rất nhiều và loan tin rộng răi, sau cùng Phan chỉ bị Khổ Sai chung thân, nhưng sau đó trước sức phẫn nộ của nhân dân Toàn quyền Varenne đã hủy án của Phan và chỉ bắt Phan an trí tại Bến Ngự (Huế) cho tới khi Phan mầt.

Hai mươi lăm năm hoạt động cách mạng của Phan nơi hải ngọai, đã đem lại cho nhân dân một sức đấu tranh mănh liệt và văn chương của Phan dành nhiều cho khích động đấu tranh bằng bạo lực đã in vào tim óc những thế hệ sau dù họ theo đuổi các nền giáo dục khác. (sau khi phong trào Đông kinh nghĩa thục phải giải tán Pháp đã cải tổ chuơng tŕnh giáo dục như mở các cơ sở học quốc ngữ và Pháp văn và mở cả Đại học để cản đường Đông du và đã rất nhiều người theo tân học)

Phê phán về tư tưởng và hành động chính trị của Phan, các sử gia có nhửng nhăn quan khác nhau nhưng cả hai phía quốc gia và cộng sản đều nh́n nhận Phan bội Châu là cha đẻ ra tư tưởng cách mạng chống người Pháp ngoại xâm qua vũ lực và có người còn cho rằng việc bạo động chỉ là giai đoạn đầu của một cuộc tranh đấu giành độc lập v́ theo Phan bội Châu nếu không có nước th́ lấy dân đâu mà áp dụng dân chủ. Đường hướng này hoàn toàn khác tư tưởng của Phan chu Trinh ngay từ khi hai người gập nhau tại Quảng Nam và tại Nhật.

Cuộc Đông du không thành nhưng đã đẩy một số đồng chí tiếp tục tham gia các cuộc bạo động, có người trở thành sĩ quan Trung Hoa cũng có người qua phía Cộng Sản quốc tế, nhưng cũng không thiếu người vẫn kiên quyết tranh đấu không theo đường lối của cộng sản.

Tóm lại Phan Bội Châu bắt đầu hoạt động cách mạng theo phong trào Cần vương khi vua Hàm Nghi xuất bôn năm 1885 và từ khi còn một chàng trai từ thuở thiếu thời đã nhất quyết tham gia việc chống trả ngoại xâm. Ngay ban đầu đã có tác phong lănh đạo và tuy tài học khoa cử cao thâm nhưng không coi khoa bảng là con đường tiến thân, chỉ tin rằng vũ lực bạo động mới trả được quốc thù. Nhưng sau các cuộc khởi nghĩa văn thân cần vương từ Bình định, Quảng ngăi, Quảng Nam và nhất là tại Nghệ Tĩnh cũng thất bại, chắc tâm tư hẳn cũng lâm vào một khoảng trống và đành qua trở lại học vấn nhưng không quên cơ hội đi tìm minh chủ hay đồng chí để tiếp tục chí hướng.

Cũng may trong thời gian ngay sau đó các đàn anh yêu nước đã giúp ông những dịp một mặt phát triển kiến thức qua cho đọc các bản dịch sách chính trị Tây phương và cứu vớt ông khỏi oan khiên mang tài liệu vào trường thi để tiếp tục dự thi. Hơn thế nữa còn cố gắng nâng đỡ kẻ có tài và có chí đạt được chức vị Giải nguyên. Hành động này mở rộng đường cho Phan bội Châu quan sát thực trạng của Triều đ́nh và có dịp gập gỡ và trao đổi ư kiền với Phan chu Trinh, Ngô đức Kế Huỳnh thúc Kháng, và nhất là có dịp gập Nguyễn Thành để nhận những lời khuyên nên tin tưởng vào một minh chủ Kỳ ngoại hầu Cường Để, liên lạc với Đề Thám ngoài Bắc và cổ vơ phong trào Đông Du. Và tư tưởng bạo động khởi nghĩa ban đầu nhờ người Nhật hỗ trợ và thành lập thể chế quân chủ lập hiến không thành nhưng Phan bội Châu vẫn theo đuổi lư tưởng tới khi bị bắt và tù đầy năm 1925.

Sự nghiệp cách mạng của Phan bội Châu không thành công như ư muốn nhưng lư tưởng dân tộc đã được toàn dân hưởng ứng. Nhờ sức tranh đấu của toàn dân ông không bị tử h́nh nhưng không còn phương tiện hoạt động.

Sự nghiệp cách mạng không thành nhưng tinh thần Phan Bội Châu đã nẩy mầm và đang phát triển trong mọi giới.

Các tác phẩm văn chương Phan viết, khi theo lối cũ khi, theo văn phong mới không mang nét bó buộc của văn chương khoa cử đã được truyền tụng rộng răi. Tuy nhiên ban đầu các sách của Phan Bội Châu chỉ có thể tới tay các nhà tinh thông hán tự nên còn giới hạn. Nhưng các tác phẩm như Lưu cầu huyết lệ thư, Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại Huyết thư và Thư khuyên du học đã được truyền tụng trong nhân dân và cũng đã được dùng giảng dạy trong Đông kinh nghĩa thục. Hầu hết các bản văn của Phan bội Châu chỉ nhắm các mục đích khích động dân khí và khuyến khích thanh niên tham gia Đông du để học hỏi những tiến bộ tại các nước ngoài, đồng thời đả phá những khuôn sáo cử nghiệp dựa trên đường lối văn chương áp dụng từ triều Lê và tồn tại tới triều Nguyễn khiến các vị khoa bảng không nh́n thấy những tiến bộ của thế giới tây phương. Những bản đệ tŕnh của các sứ bộ từ ngoại quốc trở về cũng như những bản sớ dâng xin chú ý tới cải cách của Phan thanh Giản, Phạm phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện đều không được cứu xét v́ cả
nhà vua lẫn triều đ́nh e ngại mọi cuộc cải cách này sẽ mang lại những đổi thay thất lợi cho địa vị của cá nhân và chế độ. Bản Lưu cầu huyết lệ thư thực ra cũng chưa mạnh bạo lắm v́ chỉ xin sửa đổi nhưng vẫn tôn trọng vương quyền cũng đã bị bác bỏ, Phan chỉ còn con đường cách mạng vũ trang.

Các văn bản sau mạnh bạo hơn v́ viết từ ngoại quốc và mang tính chất sách động nhiều hơn, tuy nhiên chỉ gây được ảnh hưởng trong các giới còn thông hán tự trong thời gian trước 1908.

Thế nhưng nhờ Phan chu Trinh, Ngô đức Kế, Huỳnh thúc Kháng trong Trung và nhờ Đông kinh nghĩa thục ngoài Bắc, phong trào học qưốc ngữ, học chữ Pháp mạnh mẽ ra đời và ngoài các sách nổi tiếng của Phan Bội Châu viết từ hải ngoại được phiên dịch ra quốc ngữ cộng thêm vào công tŕnh phổ biến các tư tưởng mới của các phong trào duy tân, tuy bất bạo động nhưng nhờ quốc ngữ phát triển, lại thêm hán học và khoa cử dần dần bị băi bỏ, chương tŕnh học mới được ban bố năm 1908, người dân đã có các phương tiện học hỏi và sử dụng truyền thông mới. Trường Đông Kinh Nghĩa Thục sau vài tháng hoạt động bị đóng cửa, tuy các giáo sư của trường bị giam giữ lưu đày, nhưng chữ quốc ngữ đã có chỗ đứng vững chắc. Báo chữ Nho đi vào dĩ văng. Các báo Việt ngữ ra đời và người ba miền Nam Trung Bắc từ nay nhờ quốc ngữ đã có dịp đọc các tác phẩm văn chương của mỗi miền. Người Nam bắt đầu đọc báo Bắc và người Bắc bắt đầu dễ dàng trở thành độc giả các tác phẩm miên Nam.

Và dĩ nhiên các đảng phái âm thầm ra đời. Có đảng vẫn chủ trương bạo động, có đảng nghiêng về lập hiến, có đảng hoàn toàn tin vào nhân quyền và đã có mầm mống của Cộng Sản quốc tế xuất hiện.

Cuộc đời và sự nghiệp của Phan chu Trinh

Ngoài Phan bội Châu với chủ trương bạo động, duy tŕ chế độ quân chủ và tạo nên phong trào Đông du và được coi như một nhà cách mạng hàng đầu nhưng dựa trên bạo lực, Việt Nam còn có vị họ Phan thứ hai cũng nổi tiếng không thua Phan bội Châu, nhưng không theo chính sách bạo động và chủ trương duy tân trong phạm vi văn học kinh tế trong tinh thần dân chủ pháp trị.

Phan chu Trinh quen biết Phan bội Châu từ 1901 và tuy tham dự các cuộc họp thành lập Duy tân hội tại Nam Thịnh với Nguyễn Thành và ngay sau khi đọc Lưu cầu huyết lệ thư cũng chỉ đống ư với một phần tư tưởng cuả Phan bội Châu và không có chân trong Duy tân hội nhưng không bác bỏ các hành động của Phan bội Châu. Trái với Phan bội Châu, Phan chu Trinh nghĩ rằng cần phải hủy bỏ chế độ quân chủ và thành lập một nền dân chủ mang lại nhân quyền cho nhân dân từ nhiều thế kỷ bị chế độ quân chủ và ngoại xâm chi phối.

Ông tích cực theo các tư tưởng được học qua các tân thư lần này do Hoàng giáp Đào nguyên Phổ, người đã đậu Đ́nh nguyên Hoàng giáp năm 1898 nhưng theo học trường Pháp tự quốc gia, một học đựng do Pháp thành lập, tiền thân của trường Hậu bổ và tuyển chọn sinh viên ưu tú nên Đào nguyên Phổ thông hiểu pháp ngữ và pháp văn nên thấu đáo trực tiếp nhiều hơn trong khi các vị khác chỉ được biết về các tư tưởng này qua các bản dịch qua hán tự. Phan chu Trinh và Huỳnh thúc Kháng và Ngô đức Kế cũng được tuyển chọn vào học trường này nhưng ba vị này không học.

Tưởng cũng nên tìm hiểu hành trạng khá dài của Phan chu Trinh để so sánh hai chủ thuyết Dân tộc Quân quyền của Phan bội Châu với chủ thuyết Dân chủ, Dân sinh mà Phan chu Trinh theo đuổi.

Thuở thiếu thời : 1872- 1900
Khoa cử và hoạn lộ : 1901-1904
Từ quan và Nam Du và Đông Du.
Hoạt động sau Đông Du : 1906-1908
Tù đầy tại Côn đảo: 1908 – 1910
Được trả tự do tương đối 1910
Qua Pháp và các hoạt động tại đây 1911- 1925
Về nước và qua đời: 1925-1926

Tiểu sử Phan Chu Trinh

Phan Chu Trinh gốc Quảng Nam sinh năm 1872 kém Phan Bội Châu 5 tuổi và theo học hai vị thày : Cử nhân Phạm Mẫn (đậu năm 1847) và từ 20 tuổi đã kết giao với Huỳnh thúc Kháng. Mối liên lạc này đã khiến Huỳnh thúc Kháng sau này thay mặt Phan chu Trinh thực hiện những hoạt động của Phan chu Trinh tại Quảng Nam quê hương chung của hai vị và cũng khiến Huỳnh bị lưu đầy tới năm 1921.

Khoa cử và hoạn lộ

Hai kỳ thi Hương 1894 và 1897 Phan đều rớt, sau đó năm 1898 theo học Đốc học Quảng Nam Trần đ́nh Phong (Tiến Sĩ năm 1979) và tới năm 1900 Phan chu Trinh đậu Cử nhân đệ tam danh còn Huỳnh thúc Kháng đậu Giải nguyên cùng trường thi Hương Thừa thiên.

Năm sau 1901 Huỳnh cư tang không thi Hội và Phan chuTrinh đậu Phó bảng, Ngô đức Kế đậu Tam giáp Tiến sĩ còn Phan bội Châu thi hỏng. Trần quư Cáp chỉ mới đậu Tú Tài nhưng sau cũng đậu Tiến sĩ năm 1904

Cũng nhờ kỳ thi Hội năm 1901 cả năm vị quen nhau và trở thành các nhà khoa bảng cách mạng từ đầu thế kỷ thứ 20 và tiếp tục trong vài chục năm sau.

Trong khi Phan bội Châu mưu tìm đường cách mạng quân sự, Phan chu Trinh ra làm quan Thừa biện trong triều nhưng tới 1904 ông từ quan về dạy học và được Đào nguyên Phổ đã đậu Hoàng giáp từ năm 1898 cho đọc các sách tân thư và Đào học cao hơn lại thông hiểu Pháp văn nên chỉ dẫn Phan rõ ràng hơn.

Phan chu Trinh trước đó đã cùng Phan bội Châu và Vũ phương Trứ (Cử nhân trường Nghệ An năm 1897) bàn chuyện dâng thư bỏ khoa cử nhưng không thành.

Phan Chu Trinh và phong trào Nam du và Đông du

Sau khi gặp Nguyễn Thành năm 1904, khác với Phan bội Châu tìm đường xuất ngoại tìm quân viện, Phan chu Trinh từ quan và cùng Huỳnh thúc Kháng, Trần qúi Cáp lên đường xuôi Nam tìm đồng chí và theo tư tưởng dân sinh mở trường học quốc ngữ, chữ Pháp và mở các thương hội để tự túc kinh tế ngoài nông nghiệp.

Ông cùng hai vị Tiền sĩ Huỳnh thúc Kháng và Trần quư Cáp đồng ḷng đi tìm con đường cứu dân cứu nước bằng mọi cách bất bạo động. Các ông đi về miền Nam và âm thầm tuyên truy& #7873;n chủ thuyết mới. Tới Bình Định nhân gập kỳ thi khảo hàng năm các ông lấy tên chung là Đào mộng Giác và làm bài thơ « Chí thành thông đạo thánh » và bài phú « Lương ngọc danh sơn »|
. Mượn đầu đề thi để đả kích các sĩ tử đừng mang giấc mộng học cử nghiệp không còn hợp thời trong khi cảnh đất nước mất chủ quyền, nếu tiếp tục con đường học phương pháp cũ, biết ngày nào dân trí mới phát triển để tháo cũi sổ lồng.

Hai bài này đã khiến sĩ tử ngạc nhiên suy nghĩ rất nhiều và được truyền tụng rộng răi. Nguyễn Thông, (theo Trần gia Phụng th́ do Nguyễn quí Anh) con Nguyễn trọng Lợi đã phổ biền bài này khiến Sĩ phu và cả nhà cầm quyền Bảo hộ cũng cố gắng tìm tác giả của hai bài thi, phú đặc biệt này.

Các ông lại xuôi tới Phan Thiết và cùng các ông Nguyễn trọng Lợi và Hồ tá Bang lập nên Trường học Dục Thanh và hội buôn Liên Thành sau này.

Đến năm 1906 ông ra Bắc và Nghệ An, tại Bắc ông gập một số nhân sĩ và sau các cuộc thảo luận với Lương văn Can, Nguyễn Quyền, Hoàng tăng Bí, Dương bá Trạc, trường Đông Kinh nghĩa thục ra đời với chương tŕnh học thật rộng răi nhằm phát triển phong trào học quốc ngữ, khuyến khích học chữ Pháp cũng như tìm hiểu các vấn đề đạo đức, kinh tế, xă hội mới nhưng cũng không quên tiếp tục dạy hán văn và qui tụ được một ban giảng huấn đầy đủ và được sự đóng góp của các học giả mọi thành phần. Trường Đông kinh nghĩa thục là trường miễn phí và nhận người tới học không phân tuổi tác nên rất đông học sinh tham dự và gây nên môt phong trào tìm hiểu các kiến thức mới. Trường này cũng được Nguyễn văn Vĩnh tới giảng dạy phần pháp văn và h́nh như chính Nguyễn văn Vĩnh đã giúp xin giấy phép mở trường

Sau khi lên Phồn xương gập Đề Thám và quan sát t́nh trạng quân sự tại đây, Phan chu Trinh cũng tới Nghệ an để gập Đặng nguyên Cẩn và Ngô đức Kế và vị Tiến sĩ này cũng bắt đầu nhập cuộc. Ngô đức Kế một mặt mở mang các cơ quan kinh tế tại vùng Nghệ Tĩnh và cũng ra Bắc để tham gia vào việc giảng huấn tại Đông kinh nghĩa thục.

Cùng năm Phan chu Trinh qua Hương cảng đồng thời với khi Kỳ ngoại hầu Cường Để khi Hầu được Đặng tử Kính đưa ra ngoài nuớc. Cùng các vị này tới Nhật, ông có dịp hội kiến và thảo luận trong nhiều tháng với Phan bội Châu và tuy không cùng chia sẻ tư tưởng quân chủ và phát động quân sự của Phan bội Châu, ông trở về nước và nhận nhiệm vụ tiếp tục tiến hành nhiệm vụ khai triển dân trí và khuyếch trương thương nghiệp trong nước trong khi Phan bội Châu tiếp tục thi hành sứ mạng tại quốc ngoại.

Mạnh hơn nữa ngày 15-08-1906 ông viết thơ gửi chính phủ Pháp :

» Đầu Pháp chính phủ thư »
để yêu cầu nhiều cải cách nhưng không được Toàn quyền Paul Beau trả lời và thư của ông cũng không được phổ biến công khai nhưng cũng được tuyên truyền ngầm trong nước. Ông luôn luôn đi diễn thuyết tại nhiều nơi nhất là tại Hà Nội. Tại đây bài T́nh quốc hồn ca 1 đã được nhân dân Hà Nội tán thưởng. Trong thời gian lưu lại Hà Nội ông đã kết thân với một Ernest Babut môt nhân vật Pháp ưa chuộng tư tưởng nhân quyền và đang làm chủ nhiệm tờ Đại Việt Tân báo hậu thân của tờ Đãng cổ tùng báo. Chủ bút tờ báo này lại là Hoàng giáp Đào nguyên Phổ người trước đây đã truyền thụ cho ông các bản tân thư nên giao t́nh với các nhân sĩ Pháp Việt tại miền Bắc rất thân thiết..

Phan Chu Trinh bị bắt giữ và lưu đầy Côn đảo.

Phan chu Trinh đang hoạt động bỗng nhận được tin Đông Kinh nghĩa thục bị rút giấy phép vào tháng 11- 1907 nhưng tờ Đại Việt Tân báo vẫn hoạt động, tuy nhiên ông cũng vẫn ra Hà Nội tiếp tục diễn thuyết tại nhiều nơi phụ cận trong đầu năm 1908.

Đột nhiên từ tháng 03-1908 cuộc chống thuế bắt đầu xảy ra tại Quảng Nam và lan qua các tỉnh khác. Tuy lúc đó Phan chu Trinh không có mặt tại Quảng Nam nhưng ngay khi đang ở Hà Nội tháng 4-1908, ông bị bắt giam và bị giải giao về Huế vào tháng 06 để triều đ́nh định tội. Lúc này các ông Huỳnh thúc Kháng, Trần quư Cáp, Ngô đức Kế và nhóm Đông kinh nghĩa thục chưa bị giam giữ.

Ngay trong tháng 06-1908 Khâm sứ Trung kỳ đưa ông ra Hội đồng Phụ chính (lúc này Duy Tân mới 12 tuổi và đã được Pháp đưa lên thay cha là Thành Thái bị truất ngôi) xét xử và đề nghị ngay án tử h́nh, nhưng Hội đồng Phụ Chính tìm cách giảm tội xuống là :

Trảm gian hậu lưu tam thiên lư ngộ xá bất lưu có nghĩa là không bị chém nhưng khổ sai chung thân, chung thân biệt xứ và không được trở về quê quán

Thế là trước mọi người ông bị đầy ra Côn đảo ngay vào tháng 06 – 1908

Tại Côn đảo, ông được đối xử đặc biệt hơn các bạn đồng tù và được tham biện Pháp chỉ huy Côn Đảo tiếp đón và cho sống tại làng An hải ngoài trại giam nhưng v́ là người tù chính trị và lại không phải dân làng nên bị tổng lư làng An hải chèn ép, ông lại xin vào ở trong tù và, vài tháng sau có dịp gập các ông Huỳnh thúc Kháng, Ngô đức Kế v.v. mới bị lưu đày rồi cả Nguyễn Hàm, Lương văn Can cũng bị đầy ra đảo và nhờ Huỳnh thúc Kháng lén xin được bản án dành cho từng nhà cách mạng nên ông được biết tội danh của mỗi người (tuy các vị trong triều khi xử án dấu kỹ các bản án) và được biết Trần quí Cáp đã bị chém ngay tại Khánh hoà trong một trường hợp bí ẩn và cấp tốc, và không được gửi về Triều đ́nh xét xử. Ông ghi nhận những lạm dụng này và sau đó khi được chính Toàn quyền Đông dương gửi Thống đốc Nam kỳ ra Côn đảo để thẩm vấn ông nhưng thật sự tìm hiểu ông có liên lạc mật thiết với Phan bội Châu hay không v́ qua các bản báo cáo của cơ quan an ninh Pháp, hai họ Phan đã gập Nguyễn Thành rồi lại gập nhau tại Nhật, chắc chắn Phan chu Trinh nhận nhiệm vụ nội công bất bạo động bằng giáo dục nâng cao dân trí, phát triển nông hội và thương nghiệp, trong khi đó Phan bội Châu sửa soạn ngoại kích để mở các cuộc vũ trang khởi nghĩa. Thêm vào đó và có lẽ có ư chia rẽ hai họ Phan nên Pháp biệt đãi Phan chu Trinh hơn các tù nhân khác. Nhờ gập vị Thống đốc này Phan chu Trinh có dịp tŕnh bày những sai lầm khi triều đ́nh kết án ông và các bạn khác v́ cho biết các ông chỉ tranh đấu bất bạo động và khuyến khích nhân dân học hỏi Quốc ngữ, Pháp ngữ và học hỏi những cái hay của Tây phương, các vụ chống thuế xảy ra là do lỗi chính quyền bảo hộ quá khắc nghiệt và các quan lại từ triều đ́nh tới các quan tỉnh và tổng lư quá lộng quyền. Ông yêu cầu Pháp và Triều đ́nh xét lại các vụ án, Sau đó ông lại được ra khỏi trại giam và trở lại làng An hải sinh sống, lúc này Tổng lư An hải đã rất nể sợ ông v́ thấy chính Thống Đốc Nam kỳ và Tham biện người Pháp tìm gặp ông.Tại đảo ông hoàn toàn sống tự do và nhờ đó được đọc báo và nhận được tin của Ernest
Babut cho biết các tổ chức nhân quyền can thiệp, ông sắp được trả tự do. Trong khi đó các ông Huỳnh thúc Kháng bị buộc tội tử h́nh nhưng giảm xuống « Côn lôn ngộ xá bất nguyên » và Ngô đức Kế bị buộc tội giảo giam hậu v́ « Tiềm thông dị quốc » và tới 1921 mới được trả tự do và phục nguyên vị nhờ đó Huỳnh và Ngô coi như trắng án nên có thể tự do người ứng cử vào Viện Trung kỳ dân biểu, người bước vào làng báo và mạnh bạo bày tỏ tư tưởng.

Phan chu Trinh được trả tự do tương đối năm 1910, tạm bị quản thúc tại Mỹ Tho, một mặt ông giao du thân thiện với Couzineau chủ tỉnh Mỹ Tho, một mặt xin đi Pháp để học hỏi thêm về tư tưởng nhân quyền và thực hiện tư tưởng Pháp Việt đề huề. Trước lời yêu cầu này Pháp phải cho ông qua Pháp cùng phái đoàn giáo dục hán học do chính Toàn quyền Đông dương hướng dẫn vào năm 1911.

Ông qua Pháp và Hoạt động tại Pháp.

Qua Pháp năm 1911 ông được chính quyền Pháp biệt đãi và cấp dưỡng, làm quen nhiều với các nhân sĩ trong Hội nhân quyền nhất là nhờ được Đại úy Jules Roux dịch dùm các thư gửi chính phủ Pháp. Trong các thư ông đều một mặt yêu cầu Pháp cải tổ mọi phương pháp cai trị cho người Việt thêm quyền và cần đối xử nhân đạo và thân thiện hơn với người Việt và mặt khác ông tố cáo người Pháp đối xử quá tàn ác với dân thuộc địa và dân bảo hộ. Ông nhờ được các báo có khuynh hướng tiến bộ đãng dùm và dư luận Pháp rất chú ý.

Ông viết tại Pháp các sách sau đây :

Năm 1911 Trung kỳ dân biến tụng oan kư mạt kư : nhằm thanh minh cho các vị đang bị tù đầy giam giữ v́ các vị này không trực tiếp chỉ huy phong trào dân biến, thủ phạm chính là chế độ hà khắc của Pháp và các tham quan ô lại đã quá tàn độc khiến nhân dân tự phát các cuộc phản kháng này. Thư cũng không hề được lưu ư và trả lời. Trong thư này ông đả kích Phan bội Châu kịch liệt và phủ nhận việc Triều đ́nh và Pháp nghĩ rằng ông và các bạn trong phong trào Duy tân như Huỳnh thúc Kháng, Ngô đức Kế Trần quí Cáp có liên hệ với Phan bội Châu.

Cũng trong thời gian 1911-1912 ông viết tiếp :

Đông dương chính trị luận : Trong tập này ông tố cáo Pháp bóc lột nhân dân bằng đàn áp, bằng lừa đảo, bằng gian giối. Ông tố cáo chính sách đánh thuế, chính sách khinh thường người Việt Nam và chính sách giam cầm hành hạ tàn nhẫn của Pháp.

Tập sách này làm chính trường Pháp và Đông dương càng giao động thêm và khiến những chính trị gia có khuynh hướng nhân quyền trách cứ chính phủ Pháp.

Cũng trong năm này ông viết tiếp :

Pháp Việt liên hiêp hậu chi tân Việt Nam : Trong tập này ông so sánh lịch sử Việt Nam và Trung Hoa và tuy ghi nhận Việt Nam tuy nhỏ nhưng đã chống trả Trung Hoa nhiều lần khi nước láng giềng này xâm lược Việt Nam, ông cũng chỉ trích nặng nề việc Phan bội Châu qua Trung Hoa nhờ trợ giúp và gây bạo động khiến giao hảo giữa người Pháp và người Việt luôn luôn căng thẳng, trái lại chủ trương của Phan chu Trinh là nhờ cậy người Pháp giúp dân Việt Nam phát triển và đối xử thân thiện hơn để có thể tiến tới một nền Pháp Việt Đề huề bền vững. Muốn như vậy phải mở mang dân trí, phải tôn trọng dân quyền và phải lọai bỏ nền quân chủ nhân trị. và thay vào nền dân trị hay pháp trị. Phan cho biết ông chủ trương tự trị nhờ vào Pháp nhưng không chủ trương thù oán Pháp.

Bộ Thuộc địa Pháp và Toàn quyền Pháp đã đọc tài liệu này nhưng không tin là thực v́ còn sợ đây là một cách hoà với Pháp nhưng sau đó lại tiếp tục đường lối của Phan bội Châu. Pháp vẫn chưa tin là Phan bội Châu và Phan chu Trinh chủ trương khác nhau và cả hai đang cùng theo phương thức giai đoạn.

Pháp chưa trả lời, th́ các vụ ám sát 1913 xảy ra và Hội đồng Đề h́nh Pháp đã xử tử các phạm nhân và kết án Kỳ ngoại hầu Cường Để, Phan bội Châu tử h́nh vắng mặt.

Tiếp theo đó chiến tranh 1914 bùng nổ Phan chu Trinh từ chối đi lính và bị nghi đã liên lạc với Kỳ ngoại Hầu Cường để đang ở Xiêm nên có thể Phan chu Trinh làm gián điệp cho Đức nên bị hạ ngục Santé tới tháng 04-1915 mới được trả tự do nhưng bị cắt tiền cấp dưỡng nên phải kiếm ăn vất vả và nghề rửa ảnh là nghề chính.

Trong thời gian này ông quen biết và rất thân với Luật sư Phan văn Trường và khi nghe tin Pháp đưa Khải định một hoàng thân tư cách kém lên thay vua Duy Tân bị truất phế, ông cực lực phản đối nhưng vô hiệu.

Giải pháp Pháp Việt đề huề trong một nền tự trị dân chủ lại không thành.

Năm 1922 khi Pháp đưa Khải định qua Pháp ông đã viết thư :Thư thất điều gửi cho Khải định. Thư này không phải là một lá thư nêu nguyện ước mà chính là một lá thư công kích, kết tội và sỉ vả vị vua bù nh́n phí phạn tiền của này rất nặng nề .

Phan Chu Trinh nêu ra những tội lỗi của Khải định như sau :

1/ Tội tôn quân quyền.
2/ Tội thưởng phạt không minh.
3/ Tội chuộng sự quỳ lậy.
4/ Tội xa xỉ vô đạo.
5 / Tội phục sức không đúng phép.
6/ Tội du hành vô độ.
7/ Tội qua Pháp làm chuyện ám muội.

Và ông nhắn rằng nếu Khải Định còn đủ thiên lương th́ nên thoái vị trả lại quyền cho nhân dân để họ cùng dân tộc Pháp tự mưu lấy lợi ích.

Tuy nhiên dù Thất điều thư được dịch ra Pháp văn và bản Quốc ngữ được tung ra trong nước nhưng Khải định vẫn tại vị.

Cũng nhân dịp này Pháp từ chối việc trở về nước của Phan chu Trinh và cho biết Triều đ́nh Huế sẽ xử tội ông nếu ông xin về nước.

Khải định sẵn bệnh nặng (lao xương) và nhiều người cho biết ông không có khả năng sinh sản nhưng phải nhận Vĩnh Thụy là Hoàng tử (giai thoại này cho tới nay vẫn được lưu truyền) nên sức khỏe suy yếu và việc tranh chấp ngôi vua rất gay go. Một vị Thượng thư Bộ Hộ họ Phạm đậu Phó Bảng và trước đây đã nhậm chức Tuần phủ Thái Bình thay thế Nguyễn duy Hàn bị ám sát đã ghi lại trong gia phả nhiều chi tiết vê việc tranh chấp này.

Có lẽ v́ biết tại triều đ́nh bận rộn về việc dựng vua mới và Phan bội Châu đã bị bắt cóc giải về Hà nội và lănh án tại Hội đồng Đề h́nh nên năm 1925 Pháp cho Phan chu Trinh trở lại Viêt Nam và ông cũng phản đối Pháp sau khi Khải định qua đời Pháp vẫn tiếp tục lưu giữ chế độ quân chủ bù nh́n tại Việt Nam.

Trong khi Phan chu Trinh ở ngoài nước các cuộc binh biến vẫn xảy ra

Tháng 06 năm 1917 cuộc binh biến tại Thái nguyên bùng nổ. Lương ngọc Quyến từ khi bị người Anh giao cho Pháp từ năm 1913 tuy bị gông cùm và trải qua h́nh phạt khổ sai tại Thái nguyên cũng đã vận dụng được Đội Cấn và một số lớn quân sĩ người Việt nổi dậy. Nhưng thiếu hậu cần cũng như không có chiến lược rõ rệt, tất cả đã tan vỡ và cùng lên đoạn đầu đài. Các cuộc bạo động tạm chấm dứt.

Tuy nhiên các tiếng vang đổi mới của Đông Kinh nghĩa thục và hậu quả của các cuộc binh biến thiếu phối hợp đã thức tỉnh quần chúng. Nếu Đông kinh nghĩa thục đã đem lại một cuộc cách mạng văn hóa thực sự th́ các hoạt động quân sự của Phan bội Châu cũng chứng tỏ nếu Tiên lễ không được th́ phải hậu binh.

Một mặt nho học hoàn toàn mất hết ảnh hưởng, các học sinh và sinh viên tiến lên trong việc tìm kiếm những kiến thức mới qua tân học và hội nhập rất mau.

Làng báo quốc ngữ từ Đông dương tạp chí của Nguyễn văn Vĩnh và với tờ Nam Phong do Phạm Quỳnh chủ trương đã mang lại một sinh khí mới.

Nam Phong tuy được biết như một tờ báo phát xuất từ người Pháp Louis Marty trợ cấp nhưng đem lại một con đường mới trong cách sử dụng văn phong và việc phổ biến và tranh luận về tư tưởng.

Sau khi Ngô đức Kế và Huỳnh thúc Kháng được trả tự do năm 1921 và qua các báo Phụ Nữ tân Văn, Tiếng Dân và Hữu Thanh, các vị này cùng các nhà văn gốc nhà nho cũ hay những vị theo tân học đã thay nhau dùng diễn đàn báo chí để phơi bày các tư tưởng đối nghịch nhưng chưa dựa trên những căn bản rõ rệt. Chưa bao giờ có một nền tự do tư tưởng như thế, mặc dầu vẫn có cơ quan kiểm duyệt nhưng không quá khắt khe, nên các cuộc tranh luận trên báo chí hay trong các buổi diễn thuyết thật vô cùng sôi nổi.

Sau khi Phan bội Châu bị quản thúc và không còn hoạt động và Phan chu Trinh được trở về và ngay lập tức Phan chu Trinh lại tiếp tục diễn thuyết về Xă hội và Chính trị.

Hai bài điễn thuyết sau đây vô cùng quan trọng :

Đạo đức và Luân lư Đông Tây Trong bài này ông tŕnh bày và giới thiệu

Luân lư gia đình
Luân lư quốc gia
Luân lư xã hội
tại các nước Tây phương

sau đó ông so sánh với cũng ba nền luân lư đó của chúng ta và nhận thấy nền luân lư tại nước ta hủ lậu, xă hội chậm tiến không tiếp thu các tiến bộ bên ngoài v́ bị ràng buộc vào áp dụng Khổng Nho không đúng chỗ, và tắc nghẽn v́ chế độ quân chủ dựa trên Nhân trị.

Ông khuyên cần có một nền đạo đức mới để san bằng các sai lầm đó

Sau đó ông lại đưa ra hai con đường lănh đạo đất nước khác nhau :

Quân trị chủ nghĩa và Dân trị chủ nghĩa

Trong bài này ông bác bỏ con đường nhân trị của chế độ quân quyền v́ tuy tại nước ta theo Quân chủ, bước khởi nghiệp bao giờ cũng do một người tài giỏi đoạt chính quyền nhưng v́ cha truyền con nối nên nhiều vị vua kế thừa sau tài hèn sức yếu mang lại t́nh trạng mất nước khiến toàn dân khổ cực theo.

Nếu theo chế độ dân trị người dân có thể bầu lên một nghị viện từ đó lập ra hiến pháp ấn định các quyền phân lập và cử người Giám quốc giữ trách nhiệm hành pháp trong 7 năm phải được bầu lại. Thế nhưng vẫn phải hợp tác với Pháp mới có thể tạo được tinh thần Pháp Việt đề huề và muốn thành h́nh cần có một đảng theo khuynh hướng xă hội nhân chủ thực hiện.

Qua hai bài diễn thuyết trên nhiều ư kiến đã h́nh thành tiếp, tiếc thay sau đó Phan chu Trinh qua đời ở tuổi 54 nên chưa ai hiểu rõ nền tự trị dân chủ trong tinh thần Pháp Việt đề huề được xây dựng ra sao ? và đảng như thế nào có thể một mặt mang lại dân chủ, một mặt mang lại tinh thần Pháp Việt đề huề !

Báo chí cũng đã tranh luận nhiều về thể chế nhất là các cuộc bút chiến quanh vấn đề trực trị ban đầu do Nguyễn văn Vĩnh đưa ra năm 1906 trên tờ Đông dương thời báo nhưng sau chuyển qua tư tưởng có Tổng thống nhưng vẫn do Pháp bảo hộ năm 1915, tư tưởng này lại được Nguyễn văn Vĩnh nhắc lại trên tờ Annam nouveau năm 1930 trong khi đó Phạm Quỳnh trong Nam Phong ủng hộ giải pháp Quân chủ lập hiến và sau đó khi tham chánh đã cùng Bảo đại qua Pháp đ̣i hỏi nhưng vô vọng. Với tư tưởng lập hiến còn duy tŕ chế độ quân chủ mà vẫn bị chính phủ Pháp dù đang do Mặt trận Bình dân cầm quyền từ chối, tư tưởng đ̣i dân chủ ôn ḥa còn là một vọng tưởng xa vời.

Dân trí đang chuyển động qua các bài tranh luận trên các cơ quan ngôn luận này và vào thời gian này Nam Phong chiếm thượng phong với tư tưởng quân chủ lập hiến

Nhưng các vụ bạo động khởi nghĩa cũng xảy ra qua sự ra đời của Nam đồng thư xă của Phạm tuấn Tài mở đầu cho cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân đảng tại Yên bái.

Cũng qua tự do tư tưởng và việc lập hội dễ dàng, Nam đồng thư xă do Phạm tuấn Tài chủ trương đã mở đường cho một đảng cách mạng dân tộc ra đời. Việt Nam quốc dân đảng ra đời và chủ trương dân quyền, dân chủ và bạo động.

Cuộc tranh đấu của đảng này ra ngoài bài viết này nhưng kết quả đem lại cái chết của Đảng trưởng của Nguyễn thái Học và các đồng chí sau cuộc khởi nghĩa tại Yên bái.

Sau đó cuộc khủng bố trắng của Pháp liên tiếp diễn ra. Các Hội đồng Đề h́nh đề h́nh đã được Pháp thiết lập và làm tan ră mọi tổ chức chính trị có khuynh hướng quốc gia và đẩy một số đảng viên gốc quốc gia qua hàng ngũ cộng sản đang ló h́nh năm 1930.

Tuy nhiên trên mặt trận văn hoá, các báo chí và các h́nh thức mới như báo chí châm biếm các hủ tục như Phong Hoá, Ngày Nay, các truyện xă hội, truyện người hùng của Nguyễn công Hoan, Vũ trọng Phụng, Lê văn Trương và sau đó các báo tồn cổ như Tri Tân, báo nghiên cứu cải cách như Thanh Nghị và các báo tranh đấu phần lớn bằng Pháp ngữ ra đời như La cloche fêlée trong Nam, Le Travail ngoài Bắc đã mang lại cho dân khí cũng như dân chí càng ngày càng phát triển và đứng trong vị thế mong chờ.

Luận công và so sánh ảnh hưởng của hai nhà cánh mạng Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh

Qua các tài liệu của nhiều vị biên khảo về hai nhà cách mạng họ Phan chúng ta có thể tạm ghi nhận sự nghiệp của hai vị trên hai phương diện chính trị và văn học.

Trên địa hạt chính trị, người thế hệ trước và thệ hệ sau đã nhiều vị viết về hai vị họ Phan này và h́nh như phần lớn đưa ra nhận xét và cho rằng Phan bội Châu chủ trương bạo động Lỗi thời

Phan bội Châu luôn luôn nghĩ rằng muốn lật đổ chính quyền thuộc địa bằng phương tiện quân sự duy nhất là chính đáng, nhưng trên thực tế không thể tự ḿnh đạt được và Phan đã không ngần ngại cầu viện cả Nhật lẫn Trung hoa dân quốc trực tiếp can thiệp bằng quân sự nhưng đều không được các chính phủ các nước này ủng hộ. Trái lại ông còn bị Nhật trục xuất khi nước này được Pháp cho vay tiền, còn Tàu cũng chẳng thương sót thân phận người bạn cùng cảnh ngộ trước đây, họ không ngần ngại bắt giam ông sau khi Toàn quyền Đông dương Albert Sarraut trực tiếp yêu cầu, và đau đớn hơn nữa khi bị chính một người Việt, Lâm đức Thụ tay sai của Hồ chí Minh bán cho Pháp và rồi bị bắt cóc mang về giam giữ tại Hoả Ḷ năm 1925.

Và tuy nhờ nhân dân cực lực phản kháng ông không chết v́ án tử h́nh nhưng cuộc đời cách mạng của ông tàn lụi trong cảnh an trí tại Bến Ngự và chỉ biết viết những bài hồi kư. Tuy nhiên các bài văn của ông cũng không thiếu người hưởng ứng.

Trong khi đó Phan chu Trinh được coi như con người thực hiện một cuộc cách mạng ôn hoà nhằm mở mang dân trí và thành lập các cơ sở thương măi nhỏ và hy vọng phát triển lớn hơn khi ngựi dân có kiến thức cao hơn. Phan chu Trinh không tham gia bạo động nhưng chú trọng tới tuyên truyền và phổ biến học vấn và đ̣i hỏi dân quyền qua các thư gửi chánh quyền chính quốc Pháp cũng như phản đối qua văn thư với chánh phủ bảo hộ. đồng thời cổ vơ cho tư tưởng Pháp Việt đề huề đưa tới nền tự trị cho Việt Nam với sự giúp đỡ của người Pháp..

Các cuộc xuôi Nam và ra Bắc đã tạo nên biết bao cơ sở và cũng tìm được nhiều nhân vật mọi giới tán đồng. Và Phan chu Trinh tới năm 1908 cũng còn tự do đi lại đủ nơi và làm quen đưọc với Ernest Babut người đang chủ trương tờ Đông dương thời báo.

Nhưng tới 1908 có thể v́ thực dân quá tàn nhẫn trong việc thu thuế làm sâu tại miền Trung khiến nhân dân tự phát hay hiểu lầm ư thức đ̣i dân quyền đã phát động phong trào chống đối mạnh khởi đi chính từ Quảng Nam quê hương của Phan chu Trinh, Huỳnh thúc Kháng và Trần quư Cáp. Và lúc này Pháp nhất quyết cho rằng Phan chu Trinh thủ xuớng các vụ tranh đấu và có liên lạc mật thiết với Phan bội Châu.

Pháp một mặt đàn áp nhân dân một mặt bắt ngay Phan chu Trinh tại Hà Nội mang về Huế xử tội trước tin Khâm sứ Pháp xin xử tử nhưng theo vài nguồn tin Phủ phụ chính và nhất là Thượng thư Lê Trinh đã cố chuyền án tử h́nh ra tù đầy và đem đầy ra Côn đảo trước mọi đồng chí khác, Nhưng cũng đặc biệt có lúc Phan chu Trinh được sống ngoài trại tù và sinh sống tại An hải. Phan chu Trinh cũng được trả tự do trước các nhà được coi là cách mạng khác. Hơn thế nữa ông còn được xung vào đoàn giáo dục đưa qua Pháp. Các hoạt động không ngừng của Phan chu Trinh tại Pháp dù gập khó khăn nhưng cũng khiến các nhà cách mạng nối tiếp nhận thấy các phương pháp tranh đấu theo Tây phương hữu hiệu hơn các phương pháp dựa trên quân sự trước đây. Bài học thất bại của Nguyễn thái Học năm 1930 v́ không được nhiều giới hỗ trợ và bài học của Trần trung Lập năm 1940 tại Lạng Sơn không những thất bại mà còn bị đồng minh Nhật bỏ rơi đã cho thấy bạo động khi chưa đủ lực lượng chỉ mang lại thất bại.

Không phải chỉ ḿnh Phan chu Trinh chủ trương Pháp Việt đề huề với điều kiện Pháp cần trao lại cho người Việt nhiều quyền lợi hơn. Nhưng thực hiện nguyện ước này ra sao. Tiếc rằng Phan chu Trinh tạ thế năm 1926 nên cho tới nay tư tưởng Pháp Việt đề huề trong một chế độ dân chủ mà Phan đã chủ trương chưa được biệt Phan làm cách nào đạt được.

Trong thời gian Phan bội Chậu còn phiêu bạt tại Xiêm sau khi bị Nhật trục xuất và sau đó qua Trung hoa và hoạt động tiếp tuy đã có lúc đã từ bỏ chế độ quân chủ nhưng chủ trương bạo động vẫn còn, và Phan chu Trinh sau khi ra khỏi ngục Santé vẫn liên lạc với các chính khách Pháp và cũng có những liên lạc với Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành và vẫn mong có Tự trị trong tinh thần Pháp Việt đề huề trong khi chờ đợi dân trí ngày một mở mang. Tại Việt Nam cũng đã có nhiều nguồn tư tưởng không xa.

Nguyễn văn Vĩnh qua tờ Đông dương tạp chí ban đầu chủ trương thân Pháp hoàn toàn và mơ ước có một nước Việt Nam dân chủ có Tổng thống nhưng vẫn được Pháp che trở (không khác với lá bài Việt Nam độc lập nhưng gia nhập khối Liên hiệp Pháp)

Phạm Quỳnh cũng có tư tưởng Pháp Việt đề huề với chủ trương quân chủ lập hiến trong thời gian 17 năm múa bút trên tờ Nam Phong và sau khi làm ThượngThư cũng đã tranh đấu đ̣i sửa lại Ḥa ước bảo hộ năm 1884. Cả hai ư kiến này đều bị Phan chu Trinh bác bỏ và sau khi Phan chu Trinh mất, các bạn thân Huỳnh thúc Kháng và Ngô đức Kế cũng tranh luận kịch liệt với Phạm Quỳnh. May mắn thay nhờ các cuộc tranh luận này báo chí phát triển, ngày một phong phú và ngoài báo chí các loại văn mới như Tiểu thuyết, Tập San Văn nghệ, Chính trị, Kinh tề ra đời mỗi ngày một nhiều và tư tưởng từ cổ điển qua lănh mạn rồi đấu tranh đều nhằm mục đích sửa soạn cho một nền tự chủ trong tương lai. Tự lực văn đoàn cũng góp công trong việc bác bỏ tàn tích phong kiến chuyển qua cách mạng tư sản. Và rồi các tiểu thuyết xă hội qua Vũ trọng Phụng, Nguyên Hồng, Ngô tất Tố, Nguyễn công Hoan cùng các tập sanThanh Nghị, Tri Tân, cùng nhóm Hàn Thuyên của Trương Tửu và Nguyễn đức Quỳnh mang lại những tư tưởng mạnh bạo, nhưng các tác giả không trực tiếp đ̣i chấm dứt chế độ quân chủ.

Cho tới nay nước chảy qua cầu, chính thể trong nước đổi thay nhiều lần nhưng các cuộc thảo luận về hai nhân vật cách mạng họ Phan vẫn chưa chấm dứt. Ai có lư hơn ai, chúng ta cũng chưa tìm ra đáp số.

Phần lớn các nhà viết sử đều cho Phan chu Trinh có lư v́ tranh đấu trong hoà Bình và mong Pháp Việt đề huề ngay từ lúc khởi đầu trong khi Phan bội Châu chủ trương bạo động

Qua các bài viết phần lớn các nhà nghiên cứu đều ủng hộ đường lối của Phan chu Trinh và chê Phan bội Châu không thức thời, muốn dùng biện pháp bạo động, thậm chi còn mong nhờ hết Nhật lại tới Trung hoa trực tiếp can thiệp và không có những trợ giúp từ ngoài các cuộc khởi nghĩa vũ trang đều thất bại

Các nhà nghiên cứu trong nước đều thiên về chủ trương của Phan chu Trinh tuy có một vài vị cho rằng Phan bội Châu có lư và dùng bạo động như giai đoạn đầu tiên trong công cuộc giải phóng đất nước. Cũng có các vị nghiên cứu Triết cho rằng Phan bội Châu đã đưa ra một Triết lư mới : Phối hợp Tam giáo với tư tưởng Tân thư lănh hội qua sách dịch từ chữ Pháp qua Hán tự.

Tuy nhiên các vị thiên về Phan chu Trinh tuy nhiều nhưng cũng không khai triển được phương thức nào Phan chu Trinh áp dụng để khiến Pháp giao trả Độc lập một cách ḥa Bình cho Việt Nam theo một công thức Pháp Việt đề huề.. Rất tiếc Phan chu Trinh đã mất năm 1926 và được nhân dân đi đưa đám một cách tự nguyện đông tới cả trăm ngàn, nhưng nếu tất cả đều kính trọng tinh thần dân chủ, dân quyền thực xứng đáng nhưng chưa ai giúp kẻ hậu sinh chứng minh được phép lạ nào giúp Phan chu Trinh đạt được độc lập mà không phải nổ một phát súng nào.

Phạm Quỳnh bị trói tay v́ không có cơ may lưu vong qua nước ngoài nhưng dù tờ Nam Phong có nguồn gốc chính do người Pháp cấp vốn lúc ban đầu nhưng cũng dám lên tiếng đ̣i một chế độ quân chủ lập hiến nhưng với tư tưởng ôn ḥa này Pháp cũng bác bỏ tới hai lần.

Nhờ cuộc Thế chiến thứ hai chấm dứt và chủ trương giải tán chế độ thuộc địa của cố Tổng thống Roosevelt của Hoa kỳ, các nước đang sống trong chế độ thuộc địa bắt đầu nh́n thấy ánh sáng cuối đường hầm. Nhân dân Việt Nam cũng thức tỉnh và những tư tưởng này như trên đã nhắc qua được bày tơ rộng răi trên các báo chí, tập san, tiểu thuyết, thơ mới trong cuối thập niên 1930 và đầu thập niên 1940.

Không dựa được vào Nhật, các cuộc bạo động năm 1940 đã xảy ra và bị dẹp tắt ngay, nhưng khi Nhật đầu hàng 1945, những đảng thân Nhật cũng không giành lại được chủ quyền v́ không có hậu thuẫn quốc tế. Trong khi đó tại Tân Trào qua hồi kư của Hoàng văn Hoan, Hồ chí Minh hay Nguyễn Aí Quốc đã chấp nhận ngay đường lối của Nguyễn văn Vĩnh : Nước Việt Nam độc lập và đứng trong Liên hiệp Pháp ngay từ khi Pháp chưa trở lại Đông dương. Các hiệp định 6 Mars 1946 với Sainteny và thoả ước tạm với Marius Moutet ngày 14-09-1946 không khác ǵ tư tưởng của Nguyễn văn Vĩnh khi viết trong Đông dương tạp chí báo năm 1915.

Giải pháp này cũng không thành công và phải bạo động rồi dựa vào thế lực cộng sản quốc tế mới đạt được độc lập nhưng dân không tự do, áp dụng đúng đường lối sau cùng của Phan bôi Châu lập Dân quốc với Tổng Thống chế theo cương lănh của Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912 tại Trung Hoa.

Có lẽ cũng v́ vài điểm so sánh đó, các nhà sử học cũng như các nhà nghiên cứu chính trị cũng chỉ đồng ư một cách khái quát cho rằng Phan chu Trinh và Phan bội Châu khác nhau trong tư tưởng nhưng cùng chung mục đích tranh đấu cho nền độc lâp của đất nước. Cho tới nay sách nghiên cứu đã nhiều, ai là người dám quyết đoán con đường tranh đấu nào là đúng.

Trên phương diện văn học thực sự Phan bội Châu và Phan chu Trinh đã khai sáng cho một cuộc cách mạng văn hoá lớn lao.

Các tác giả nghiên cứu văn học việt nam có khuynh hướng cho rằng thời gian cổ đại trước triều Lư không có trường học nên người biết hán văn không nhiều và hán tự chỉ được dùng trong các văn bản chính thức. Họ còn đặt câu hỏi chử Cồ trong quốc hiệu Đại Cồ Việt thời Đinh tiên hoàng có phải chính gốc hán tự hay không hay chỉ dùng Đại Việt là đủ chữ CỒ kể như thừa.

Thời kỳ mang danh là trung đại được tạm công nhận từ ngày thành lập Quốc tử giám 1070 đem lại các kỳ thi tuyển và từ đó hán tự và nho học phát triển mạnh dần tại Việt Nam. Thời kỳ trung đại kể như bắt đầu đi vào dĩ văng khi hán văn bị lấn át và chấm dứt khi các kỳ thi hương thi hội bị hủy bỏ và một hệ thống giái dục mới theo ảnh hưởng của tây phương được áp dụng tại Trung và Bắc kỳ.

Nhưng sự chuyển biến đó tự đâu phát khởi. Người Pháp tuy đã sử dụng chữ việt việt theo kư âm la mă sau này mệnh danh quốc ngữ tại Nam kỳ từ lâu nhưng vẫn chưa làm thay đổi tư duy và phương tiện chuyên chở văn chương tại hai xứ bảo hộ. Các kỳ thi hương, thi hội vẫn tiếp tục được triều đ́nh tổ chức dù kháng Pháp thời Tự Đức tới thời bảo hộ sau hiệp ước Patenôtre 1884 và nho giáo nhất là Tống Nho do nhà Minh mang vào Việt Nam vẫn được các sĩ phu một mực tuân theo và dĩ nhiên vẫn tôn quân ái quốc nhưng vẫn bưng bít kiến thức trong các kinh điển cũ.

Có những vị thức thời đua ra những điều trần xin mở rộng ngoại giao, có những phái bộ qua Pháp từ thời Tự Đức tới thời Thành thái trở về tŕnh bày những tiến bộ tại nuớc ngoài nhưng triều đ́nh vẫn không muốn tin và chỉ nh́n vào Thiên triều Trung quốc.

Nhưng hai vị họ Phan đã nghĩ và làm khác. Nguyễn thượng Hiền, Đào nguyên Phổ hai vị được đọc và thấu hiểu tầm quan trọng của tư tưởng tân tiến nhưng không có điều kiện thực hiện v́ đã chót bước vào hoạn lộ và bị các phần tử nặng tư tưởng an phận bao vây. Các vị này đang mong có hậu duệ có năng lực học vấn cao nhưng có tư tưởng tiến bộ và hoàn toàn không bị hoạn lộ kiềm chế mới có thể tìm được con đường khai thông bế tắc chính trị và văn học.

Dịp may đã tới. Phan bội Châu với tâm huyết đấu tranh sau khi thất bại trong cuộc cần vương nay được hấp thụ tư tưởng mới đã nhất quyết xuất dương vừa cầu viện vừa khuyến khích người ra nước ngoài học hỏi qua phong trào Đông du.

Và cũng chính Phan bội Châu đã bỏ văn phong cổ điển viết theo lối văn cử nghiệp trong các kỳ thi đê soạn thảo các bản hịch, bản văn từ Bình Tây Thu Bắc, Lưu cầu huyết lệ thư viết trong nước cũng như Việt Nam vong quốc sử. Hải ngoại huyết thư, Thư khuyên du học, Việt Nam quốc sử khảo luận.

Các nhà biên soạn văn học sử ghi nhận các sáng tác của Phan bội Châu đã là dấu nối chấm dứt h́nh thức và nội dung văn chương cũ. Với tinh thần yêu nước và cách mạng, văn chương ban đầu còn mang dư âm của văn biền ngẫu hay thi phú cử nghiệp nhưng tư tưởng không còn mang tính cách yếm thế, nay đang chuyển qua sách động và tranh đấu đồng thời kêu gọi nhân dân hướng ngọai tìm các phương tiện tiến bộ. Sau này từ khi được tiếp súc với Lương khải Siêu và nhờ ông này Việt Nam vong quốc sử đã được viết theo h́nh thức mới và được phổ biến rộng răi ngoài nước trước khi được mang về nước. Được coi như một tác phẩm ngang với các tác phẩm khác trong Ẩm băng thất của Lương khải Siêu, văn phong Việt Nam vong quốc sử đã đi vào kỷ nguyên mới. Từ đó các tác phẩm viết sau đều không lệ thuộc với văn phong cử nghiệp trước đây. Chỉ tiếc Phan bội Châu viết các văn bản bằng chử Hán nên ban đầu việc phổ biến tư tưởng không đi sâu ngay vào quần chúng mặc dầu ông đã thể nghiệm ng̣i bút trên khắp thể loại v́ vậy một số nhà phê Bình văn học cho rằng văn chương của Phan bội Châu mới chỉ khơi mào cho văn chương mới.

Phải đợi công trạng của Phan chu Trinh và các vị chủ trương Đông kinh nghĩa thục thành công trong việc giảng dạy rộng răi chữ Việt theo la tinh hoá và trở thành Quốc ngữ khi đó các tư tưởng của Phan bội Châu mới có dịp phổ biến rộng răi trong quần chúng và từ đó ngoài Phan chu Trinh với hành trạng chính trị và văn chương quan trọng từ năm 1906 ông đã tổ chức các Trường Tân học và cơ sở kinh tế tại Trung kỳ, sau này góp phần lớn với Đông kinh nghĩa thục phát triển tân học cải cách văn phong xóa bỏ tư tưởng hủ nho cũ, diễn thuyết cổ động các con đường canh tân và đ̣i hỏi nhân quyền và nhất là tại Pháp ông viết rất nhiều văn bản biện hộ cho các tù nhân chính trị bị xử ngoài luật lệ,và dám lớn tiếng tố cáo Khải định đả kích nền quân chủ lỗi thời và rồi chủ trương Pháp Việt Đê Huề trong một thể chế dân chủ. Ông ban đầu viết bằng Hán văn nhưng sau này đã học thông quốc ngữ và các bài viết bằng quốc ngữ đã xuất hiện, nhờ đó sau ông các chính trị gia, các văn sĩ và các kư giả đã mang vào văn học việt nam một sinh khí mới. Từ văn học thời trung đại kéo dài từ Triều Lư, hai họ Phan đã góp công vào cuộc chuyển đổi qua văn học hiện đại điển h́nh qua cách phân tách của Vũ ngọc Phan năm 1943 trong cuốn Nhà văn hiện đại.

Sau 1945 văn học lại bị phân hoá theo thể chế chính trị nhưng dù bị áp bức tại miền Bắc dưới độc tài toàn trị nhưng phong trào Nhân Văn, Giai phẩm cũng ra đời, dù bị dẹp tan sau đó nhưng cũng đánh dấu tinh thần bất khuất của văn nhân.

Tại miền Nam trong thời gian 1954-1975 nhiều khuynh hướng văn nghệ khác nhau xuất hiện nhưng thời gian tồn tại chưa tới 21 năm cũng khiến văn học miền Nam tự do và nhân bản hơn miền Bắc.

Sau 1975 khuynh hướng văn học Việt Nam tạm gọi là thời đại hay đương đại dù tại hải ngoại hay trong nước còn là việc thảo luận dài hạn nhưng chúng tôi chỉ dám ghi nhận định, văn học Việt Nam ra khỏi bế tắc của thời khoa cử Hán học chắc chắn do công đầu của hai nhà cách mạng họ Phan. Cũng rất tiếc ít ai nhắc tới những vị trí thức khoa bảng thời Thành Thái đã có công tạo nên hai vị cách mạng họ Phan này. Trong sử sách còn nhắc tên Hoàng giáp Nguyễn thượng Hiền nhưng chẳng ai nhớ tới Hội nguyên Tiến sĩ Khiếu năng Tĩnh và Cử nhân Đào Tấn nhà soạn tuồng nổi tiếng trong công nghiệp dựng nên Phan bội Châu cũng như chẳng ai còn nhớ Hoàng giáp Đào nguyên Phổ đã tiếp tay chỉ dẫn cho Phan chu Trinh trong phong trào duy tân và mở kỷ nguyên văn học quốc ngữ sau này.

Tài liệu tham khảo :

Phan bội Châu Wipekedia
Phan chu Trinh như trên
Phan bội Châu Vietgke CTT trí thức CĐHTTVN
Danh nhân Việt Nam : Họ Phan
Phan bội Châu và Phan chu Trinh :
Vietnamsciences Vọng Đông
Dân luận : Vĩnh Sính
Mai thái Lĩnh
Ngục trung thư Đào trinh Nhất
Phong trào Đông du Wipekedia
Việt báo vn/vi: Tiểu La Thành người khai sáng phong trào Duy tân
Đông tác: Phan bội Châu, nhà cách mạng.
Bút đàm đẫn lệ. BBC
Phan bội châu niên biểu : Nam hải tùng thư
Việt Nam quốc sử khảo: Bùi thị Đào Nam hải tùng thư 
Vụ án Phan boi Châu: Chuyển luân.net
Phan bội Châu Vinhan online. net
Lê thị Lan. Dân tộc chủ nghiă của của Phan bội Châu. Viện Triết học
Nguyễn văn Hoà
Phan bội Châu, Bắc đẩu trời Nam: yahoo 360oT
Phan bội Châu theo Cộng Sản. Phan huy Lam : New
Trần xuân An. Chủ nghĩa Pháp Việt đề huề của Phan chu Trinh : 
Giao điểm bộ mới 
Đỗ thông Minh: 22 điểm tương đồng giữa Phan bội Châu và Phan chu Trinh
Phan đông Thanh: chúng ta.com suy ngẫm:Chủ trương lập hiến cuả Phan chu Trinh
Trần gia Phụng: Người Việt Boston: Phan chu Trinh
Trần gia Phụng Trung kỳ dân biến 1908
Trần trọng Kim. Việt Nam sử lược.
Phạm văn Sơn : Lịch sử Việt Nam chống Tây xâm
Phạm thế Ngũ:Việt Nam văn học sử giản ước tân biên 
Nguyễn văn Dương ; Tuyển tập Phan châu Trinh.
Chương Thâu, Đào duy Mẫn:Đ́nh nguyên hoàng giáp Đào nguyên Phổ
Phong trào Đông kinh nghĩa thục Wikepedia
Country studies:Phan bội Châu and the rise of nationalism
Paul Roden: Southeast Asian Nationalism and the Russo Japan war.
Từ Uyên : Đàm luận với Giáo sư Khiếu đức Long

 

Trong tiếng Trung Quốc, chữ tài 財, phiên âm là cái, biểu thị cảnh giầu có vì buôn bán phát đạt. Chữ lộc 祿 trong tiếng Trung Quốc biểu thị sự thăng tiến địa vị xã hội, khác hẳn với chữ tài biểu thị sự sinh lợi tiền bạc .

Chữ Tài trong tiếng Trung viết theo lối thư pháp kiểu phồn thể

Lộc thần dường như được coi trọng hơn là Tài thần. Phải chăng vì tài thần bảo hộ giới buôn bán và lộc thần che chở cho kẻ sĩ ra làm quan? Ngược lại, trong dân gian thì ông thần tài lại được nhiều người van vái hơn ông lộc thần: tại nhà riêng, tại tiệm buôn, quán hàng, ở đâu cũng thấy bàn thò thần tài.

Thần tài hay Tài thần là ai?

Có hai vị thần tài, một vị là quan văn một ông là quan võ. Vị thần tài văn quan tên là Bỉ Can, vị thần tài võ tướng là Triệu Công Minh.

Mạn đàm về chữ Lộc trong tiếng Hán


Hình 38. Thần Tài Võ Tướng Bỉ Can.
Bỉ Can nguyên là chú của vua Trụ, vị hôn quân tàn ác nhất lịch sử Trung Quốc và là vị vua cuối cùng nhà Thương (1600-1027 trước công nguyên). Ông là một người tài đức, hết lời căn ngăn vua, nhưng không những vua Trụ không nghe mà còn đòi moi tim Bỉ Can ra xem vì vua nghe nói là tim người hiền có bẩy lỗ.  Bĩ Can tự tay móc tim cho vua Trụ xem, nhưng ông không chết vì đã uống thuốc trường sinh bất tử. Ông chán nản bỏ đi, mang tài sản ra phân phát cho nhân dân. Nhân dân tôn làm thấn tài, đời đời khói hương thờ phụng.


Hình 39. ThầnTài Văn Quan Phạm Lãi.
Vị thần tài, gốc văn quan thứ hai, là Phạm Lãi, người nước Việt thời Xuân Thu. Ông xuất thân là một nhà đại phú thương nhờ có tài kinh doanh. Phạm Lãi đắc lực giúp Việt Vương Câu Tiễn đánh bại quân nước Ngô lấy lại được ngôi vua. Đến ngày Câu Tiễn tưỏng thưởng công thần, Phạm Lãi bỏ nước Việt sang nưóc Tề sống đời ẩn dật, khai khẩn trồng trọt và lại trở nên một đại phú gia. Nhưng Phạm Lãi không màng cả tài lẫn lộc, ông thường mang tiền của ra giúp người nghèo khổ cùng bạn bè bà con. Lòng rộng lượng của ông đã khiến người đời suy tôn làm thần tài.


Hình 40. Thần Tài Võ Tướng Triệu Công Minh.
Triệu Công Minh là vị thần tài gốc võ tướng, tu tại vùng núi Nga My, từng đắc đạo thành tiên. Ông nghe lời mời của vua Trụ nhà Thương ra làm tướng. Vua sai ông đem quân giao chiến với quân của Vũ Vương nhà Chu có Khương Tử Nha làm quân sư. Quân của Khương Tử Nha thắng trận, tịch biên tài sản của Triêu Công Minh. Triệu Công Minh phải lui về núi thế thủ. Khương Tử Nha làm phép, bện rơm thành hình nộm Triêu Công Minh, và trong hai mươi ngày liền sai quân bắn tên gỗ đào vào mắt vào ngực hình nộm. Triệu Công Minh đuối sức dần dần rồi chết. Sau khi diệt được nhà Thương, Khương Tử Nha khao quân, phong tước cho cả các tử sĩ. Biết Triệu Công Minh là người đáng trọng, ông phong cho Triệu Công Minh làm thần tài với bổn phận phân phối tài sản cho công bình và hợp pháp.

Biểu tượng của tài là gì?

Hình tượng tiêu biểu thực tế cho chữ tài là đồng tiền. Tiền đồng lưu hành tại Trung Quốc từ đời Chiến Quốc (480-221, trước công nguyên) Đồng tiền hình tròn ỡ giữa có một lỗ vuông. Hình tròn tiêu biểu cho Trời, hình vuông tiêu biểu cho mặt đất, đồng tiền là hình tương tiêu biểu cho ước mong giầu có phát đạt. Trên mặt đồng tiền thưòng khắc bốn chữ như 長  命  富  貴, trường mệnh phú quý, nghĩa là sống lâu giầu bền, hay 吉  祥  如  意 cát tường như ý, nghĩa là may mắn toại ý. Trên cửa chính nhiều thương điếm thuờng có trạm hai đồng tiền,  tiêu biểu cho ước mong thần tài che chở cho việc buôn bán của gia chủ. Hình tượng một sợi giây nối hai đồng tiền tiêu biểu cho hai chữ 連  錢 liên tiền, như một lá bùa phù hộ cho việc buôn bán. Lỗ đồng tiền gọi là 眼, nhãn nghĩa là con mắt.  Kết hợp  chữ tiền 錢  đồng âm với chữ 前, nghĩa là trước, thành  từ ngữ  眼  前, nhãn tiền, nghĩa là trưóc mắt. Trong ý nghĩa đó, người ta có thể kết hợp được nhiều hình tượng tiêu biểu cho những ước mong khác với đồng tiền để có một câu cầu chúc mới, tỷ như kết hợp hình con chim thước, tượng trưng chữ hỷ, ngậm đồng tiền thành lời cầu ưóc  喜  在  眼  前, hỷ tại nhãn tiền, nghĩa là cái vui trước mắt.

Chữ tài thường đi sau chữ phát, thành từ ngữ phát tài, một ước mong hay một lời chúc tụng thông dụng trong giới doanh thương. Trong tiếng Trung Quốc, chữ phát đồng âm với chữ 八 chỉ số 8. Thế nên có câu: 要  得  發, 不  離  八, yếu đắc phát, bất ly bát, nghĩa là muốn được phát, chẳng dời bát (số 8). Thế nên bảng số xe, số điện thoại của nhiều thương gia nguời Trung Quốc thường chọn lựa, dầu phải trả thêm nhiều tiền, miễn sao cho có số 8 hay nhiều số 8. Cùng một lý do, Thế Vận Hội Bắc Kinh khai mạc vào lúc 08 08 chiều  ngày 8 tháng 8 năm 08.

Dưới triều nhà Minh, người ta thường dùng tám biểu tượng Phật Giáo để trang trí đồ sứ, và y phục. Tam biểu tượng đó gọi chung là Bát Cát Tường gồm: Pháp Luân, Pháp Loa, Bảo Tản, Bạch Cải, Liên Hoa, Bảo Bình, Kim Ngư và Bàn Trường.


Hình 41.  Bát Cát Tường.
Tranh dân gian có bức mang tên 劉  海  戲  金  蟾 Lưu Hải hý kim thiềm, dùng làm tranh thần tài. Theo truyền thuyết đạo Giáo, Lưu Hải là một nhân vật thời Ngũ Đại, là người nghĩ ra việc đúc tiền cho dân chúng tiêu dùng. Trong tranh Lưu Hải hai tay câm một xâu tiền dưới chân có con cóc ba chân gọi là Kim Thiềm. Con cóc này là cóc thần, có thể đưa Lưu Hải tới bất nơi nào. Nhưng cóc thần có tật ẫn dưới đáy giếng sâu, mỗi lần Lưu Hải muốn gọi cóc, phải dùng một xâu tiền vàng, thì cóc mới chịu ra khỏi giếng.

Nhiều đời sau, tại Tô Châu, có một thiếu niên tên là A Bảo, tới gõ cửa nhà đại phú thương gia Bối Hoành Văn, xin làm gia nhân. Được thâu nhân, A Bảo trở thành một người làm thân tín. Khi Bối Hoành Văn tính tiền công cho A Bảo, thì A Bảo lễ phép khước từ. Thêm truyện lạ là A Bảo có thể không ăn mấy ngày liền. Tối một bữa A Bảo kéo nước thì kéo từ đáy giếng lên được một con cóc ba chân. Mừng như điên dại, A Bảo chơi với con cóc bằng một sợi dây ngũ sắc. A Bảo nói với Bói Hoành Văn là hắn đã tìm lại được con Kim Thiềm lạc mất cả năm qua. Cả làng tới xem Kim Thiềm. Giữa đám người làng, A Bảo vác Kim Thiềm lên vai rồi bay lên mây biệt tích. Người làng cho rằng A Bảo là hậu thân của thần tài Lưu Hải, giả danh làm A Bảo đi tìm Kim Thiềm. Tìm được lại trở về trời.


Hình 42. Lưu Hải Hỳ Kim Thiềm.
Chữ cóc vàng của người Việt Nam cũng phát xuất từ điển này.

Người Hoa Kỳ thường nói Mỹ Kim không mọc trên cây để mô tả cảnh phải ra sức làm lụng mới có được mỹ kim. Người Trung Hoa, có búc tranh khôi hài  搖  錢  樹  Diên Tiền Thụ , nghĩa la bừc tranh Rung Cây Tiền, vẽ một thân cây cành mang những xâu tiền thay quả, thêm những đồng tiền lớn nhỏ thay hoa, quanh gốc có đủ loại người già trẻ lớn nhỏ giầu nghèo sang hèn,  như đứng chờ tiền rụng.


Hình 43. Diên Tiền Thụ
Đầu năm, đón xuân, người Đông Nam Á thường dùng những chậu quất, hay văn hoa hơn gọi là Kim Quất. Chữ quất 橘 người Trung Quốc coi như đồng âm với chữ  cát 吉, nghĩa là tốt đẹp may mắn,  nên  nhiều tranh dân gian viết hai chữ 大  利 đại lợi lên trên hình một trái quất. Toàn thể bức tranh bây giờ là lời chúc tụng hay hy vọng ước mong được bốn chữ 大  吉  大  利, đại cát đại lợi, nghĩa là may mắn lớn thu nhiều lợi nhuận. Trên mâm quả bày hai trái thị cùng với trái quất là lời chúc hay lòi cầu xin 事  事  大  吉, sự sự đại cát, nghĩa là mọi sự tốt đẹp, bởi với người Trung Quốc, chữ 事  đồng âm với chữ  柿 thị.

Đêm ba mươi tết, tại miền bắc Trung Quốc có tục ăn 交  子, giao tử  để đón giao thừa, bởi chữ 子 tử và chữ 承 thừa đồng âm trong tiếng Trung Hoa . Giao chi trông giống như  một miếng vằn thắn, nhân thịt và rau, hoặc tôm gói trong một miếng giấy làm bằng bột. Tại các vùng Thượng Hải, Hàng Châu và Tô Châu, nguời ta dùng thêm lòng đỏ trứng làm miếng giao chi đổi sang mầu vàng, trông giống như môt thoi vàng. Lại có tục bỏ một đồng tiền trong một miếng giao chi, người nào gắp được miếng giao chi đó thì năm tới may mắn phát tài cả năm. Tục này có từ đời nhà Tống, và tới nay còn thịnh hành tại miền Bắc Trung Quốc.

Ngày Tết người Đông Á có tục cho con cháu tiền mừng tuổi, để trong một phong bì đỏ mầu đỏ. Phong bì đỏ này người trung quốc gọi là 紅  包, hồng bao, và họ tin rằng đó là điều ước mong con cháu khỏe mạnh học hành tiến tới suốt năm. Tục dùng hồng bao ngày tết, theo nhiều ngưòi cho biết  xuất xứ từ giai thoại dưới đây.

Ngày xưa, có một con yêu tinh, tên là Tuế, hàng năm cứ đến đêm trừ tịch lại hiện ra làm hại dân chúng. Yêu tinh chờ cho trẻ em ngủ say mới hiện ra, mặc áo toàn đen, chỉ để hở đôi bàn tay và cái mặt trắng, vào từng nhà sờ đầu nạn nhân. Nạn nhân đều là bọn trẻ, sợ hãi khóc ré lên, phát sốt thật cao, rồi nói mê nói xảng. Đến khi hết sốt, đứa bé  thành ra khùng khùng. Rồi tới một lần, có một em nhỏ chơi với một tờ giấy đỏ và tám đồng tiền, hết gói lại rồi mở ra cho tới lúc ngử gục, miếng giấy đỏ và tám đồng tiền còn bên gối. Bỗng có một cơn gió mạnh, làm cữa bật mở, ngọn đèn tắt phụt. Yêu tinh Tuế hiện ra bên giường, đưa tay sờ đầu em nhỏ, nhưng bất thình lình có một tia sáng từ tờ giấy đỏ bên gối em nhỏ vụt sáng, Yêu tinh sợ hãi biến mất. Từ đó thành tục, đêm ba mươi tết, trẻ em được thức cùng cha mẹ đón giao thừa, được mừng tuổi một túi hồng bao để trừ tà rồi mới đi ngủ.

Vẽ cá là một ngành hội họa cổ điển của Trung Quốc.  Tranh dân gian Trung Quốc vào dịp tết cũng có nhiều bức vẽ cá, bởi chữ 魚, ngư nghĩa là cá, đọc gần giống chữ 餘  nghĩa là nhiều.


Hình 44. Liên Niên Hữu Dư
Bức tranh con cá ngày tết vẽ một em nhỏ tay cầm một bông sen tay ôm con cá mang ý nghĩa lời mong ước: 連  年 有  餘, liên niên hũu dư, nghĩa là năm này liền năm tới được sống dư dật, bởi chữ liên 蓮 liên nghĩa là hoa sen đồng âm với chữ liên 連 là liền và hình con cá gợi lên chữ 魚 ngư đồng âm với chữ chữ 餘 dư. Gỡ cá mời khách ngày tết, người ta thường  để lại xương cá nguyên vẹn,  liền với đầu cá và đưôi cá, vì đó là điềm gia chủ làm ăn hanh thông, đầu xuôi đuôi lọt cả năm.


Hình 45. Cá Vàng.
Có nhiều người thích nuôi cá vàng. Tiếng Trung Quốc gọi cá vàng là 金  魚, kim ngư. Vì chữ ngư 魚 đông âm vói chữ  餘, nên con cá vàng tiêu biểu cho sự giầu có đến mức trong nhà có dư vàng. Tranh dân gian ngày tết vẽ một em nhỏ, tay cầm cành hoa sen bơi cùng đàn cá vàng là một bức tranh đưọc nhiều người ưa chuộng. Bông sen còn đọc là  荷 trong tiếng Trung Hoa rất gần vói chữ 和 hoà, nên  toàn bộ bức tranh nói lên lời chúc tụng có dư vàng trong nhà, có thêm con, lại có sự hoà hợp cả năm>. Chữ ngư 魚, trong tiếng Trung Quốc còn đồng âm với chữ 玉 ngọc. Thế nên một bầy cá vàng gợi lên ý chúc tụng 金 玉  滿  堂, kim ngọc mãn đương, nghĩa là vàng ngọc đầy nhà.

Gần đây, tại nhiều cửa hàng Trung Quốc, thường bày một con mèo  vàng, dơ một tay lên đu đưa như chèo mới khách qua lại vào tiệm mua hàng. Con mèo này có tên là 招 財  貓,  chiêu tài miêu, có nghĩa con mèo chiêu khách. Con mèo này nguyên gốc của người Nhật Bản, nhưng trở thành một hình ảnh của một thương quán thịnh vương ở Trung Quốc cũng như khắp cõi đông Á.

Bài viết này mình sẽ chia sẻ với các bạn lộc nghĩa là gì và câu chuyện của lộc trong văn hóa.

Lộc là gì?

Đứng sau chữ phúc là chữ lộc, nghĩa là những gì của trời ban cho con người như khoa bảng, địa vị xã hội, danh giá, tăng thưởng, lương bổng. Lộc càng dồi dào, cuộc sống vật chất càng hạnh phúc dễ dàng. Lộc là thành công trên hoạn lộ, nên lộc khác với tài, chỉ riêng  truyện  thịnh đạt về tiền bạc trên thương trường. Lộc 祿 đồng âm với 鹿 là con hươu, nên người ta thường dủng con hươu làm biểu tượng cho chữ lộc, như trong từ ngữ bách lộc 百 祿.

Chữ Lộc thư pháp trong tiếng Hán

chữ Lộc trong tiếng Trung

Câu chuyện và ý nghĩa của Lộc

Truyền thuyết cho rằng hươu có thể sống lâu trăm tuổi, nên nhiều khi con hươu còn là hình tượng của chữ thọ. Thọ thần không cỡi ngựa cỡi bò mà cỡi hươu trong nhiều bức tranh dân gian, vì hươu có thể tìm ra được nấm linh con hươu, trên chi dùng làm thuốc trường sinh bất tử. Hình tượng bộ tam đa gôm ba vị phúc thần phúc,  lộc,  thọ biến thể thành hình tượng lưng có chữ phúc, trong bụng có chữ thọ. Tại điểm này, con hươu đứng cùng hàng với con hạc để biểu thị người cao tuổi.

Cũng như liên quan tới chữ phúc có phúc thần, liên quan tới chữ lộc dưới trần  có lộc thần, trên trời có lộc tinh như trong thành ngữ lộc tinh cao chiếu 祿  星  高  照, biểu thị lòng người Trung Quốc ngưỡng mộ tinh tú này. Chữ lộc, đọc theo tiếng Trung Quốc đồng âm với chữ lục chỉ số 6, thế nên không lạ là nhiều người coi số sáu là một con số mang lại nhiều may mắn trên đường sự nghiệp. Hình ảnh chữ lộc trong dân gian là cảnh tiến sỉ vinh quy, có cờ có bảng có ngựa anh đi trước võng nàng theo sau. Trên sân khấu, chữ lộc trải dài trên ba cảnh. Cảnh thứ nhất thường là cảnh giáo tuồng, nghẹ nhân đeo mặt nạ trắng, mặc áo đỏ, ra sân khấu đi liền ba vòng với nụ cười trên môi, nhưng không nói một lời. Lần thứ hai hiện ra trên sân khấu vời một đứa bé kháu khỉnh trên tay, và cũng đảo ba vòng sân khấu. Lần sau cùng, người đó mang theo một tấm vải đề bốn chữ 加  官  進  祿 gia quan tiến lộc nghĩa là thăng quan tiến lộc.

Theo truyền thuyết, hàng năm trên sông Hoàng Hà, hàng đàn cá chép bơi ngược dòng sông tới Vũ Môn, con nào nhẩy qua đươc Vũ Môn thì hoá rồng. Từ đời nhà Tống (960-1279) ngôn ngữ Trung Quốc có câu: 鯉  魚  跳  龍  門, lý ngư khiêu long môn, nghĩa là cá chép vượt cửa rồng, dùng dể chỉ nhưng kẻ may mắn đả đỗ các kỳ thi hương thi hội hay thi đình để ra làm quan với triều đình. Nhưng kỳ thi hương đề mở ra cho tất cả mọi người. Đưọc bổ làm quan là bắt đầu một cuộc sống giầu sang, không nhưng riêng cho thân mình mà có khi cả họ được nhờ. hai  chữ 鯉 (lý) và 祿 (lộc) trong tiếng Trung Quốc là hai tiếng đồng âm, thế nên hình ảnh con cá chép là hình ảnh sự thi đỗ thành đạt. Tại Việt Nam, vào dịp tết trung thu, cha mẹ thưòng mua cho con trai một chiếc đèn cá chép, phải chăng cũng là hy vọng đứa con sẽ đỗ đặt thành tài, ra làm quan.

Ước mong của những thư sinh xuất sắc không phải chỉ là vưọt qua được vũ môn, mà phải giật được chức giải nguyên 解  元, tức chức thủ khoa, hay đỗ đầu khoa thi. Có vậy mới mong chiếm được ấn phong hầu. Chữ giải 解  này đồng âm với chữ 蟹 là con cua nên hình tượng con cua được dùng làm lời chúc tụng nhưng thí sinh lều trõng đi thi.

Vượt qua được Vũ Môn, con người lại uớc mong hanh thông trên hoạn lộ, và hình tượng con người may mắn này là hình ảnh con khỉ, chữ Trung Quốc là 猴 đoc là hóu và đọc theo âm Việt Nam  là hầu. Trong cả hai ngôn ngữ chữ này đồng âm với chữ 候 , nghỉa la một chức quan lớn trong triều. Kết hợp hình tượng con khỉ với con ngựa, người Trung Quốc có thành ngữ 馬 上  封  候, mã thượng phong hầu, dùng biểu thị cảnh thang quan tiến chức lẹ làng trên hoạn lộ. Hình ảnh tiêu biểu người làm quan ước mong lên tới mức nhất phẩm triều đình là hình ảnh một con khỉ đang đu mình trên ngọn cây bắt lấy một chiếc ấn và gọi là 封  候  掛  印, phong hầu quải ấn.

Con gà trống kết hợp với bông hoa mào gà thường được dùng thay lời chúc tụng cái may mắn được thăng quan tiến chức mau lẹ. Bởi lẽ mào gà tiếng trung quốc là chữ quan 官, chữ này còn có nghĩa là ông quan hay chiếc mũ, thế nên kết hợp con gà trống với bông hoa mào gà biểu thị bốn chữ 官  上  加  官, quan thượng gia quan, ngụ ý thăng quan tiến chức liên tiếp mau mắn. Con gà trống còn tiêu biểu cho một linh vật có khả năng xua đuổi tà ma.

Có nhiều loại hoa được chọn làm hình tượng cho chữ lộc. Loại thông dụng nhất là hoa mẫu đơn. Hoa này được mệnh danh là hoa phú qúy. Mẫu đơn vàng hay tím là hai loại mẫu đơn rất được ưa chuộng. Mẫu đơn còn tiêu biểu cho mùa xuân và tượng trưng sắc đẹp giai nhân. Bộ ba mẫu đơn, ngọc lan và hải đường kết thành 玉  堂  富  貴, ngọc đường phú qúy, nghĩa là cảnh giầu sang nơi điện ngọc. Kết hợp  hoa sen, hoa cúc, hoa mận với mẫu đơn thành 四  季  平  安,  tứ qúy bình an, nghĩa là bình an suốt bốn mùa.

Millennial Baby Boomber XYZ Generation là gì? Nhìn vào biến động của các lớp tuổi qua dòng thời gian có thể hữu ích cho những suy gẫm về ngày mai. Đó là chủ đích của bài viết này.

Có nhiều cách định nghĩa thế hệ, thế hệ theo biến cố lịch sử, qua các chuyển biến xã hội, qua các lớp tuổi hay theo thứ tự dòng họ.Trong sinh học, thế hệ là thời gian từ khi người mẹ sanh con đầu lòng cho đến khi con gái của bà ta sanh con lần thứ nhất. Theo thống kê ở Mỹ năm 2007 thời gian này là 25,2 năm, ở Anh quốc năm 2004 là 27,4 năm.

Nghiên cứu về thế hệ tức là tìm các đặc tính riêng của một lớp tuổi tùy theo hoàn cảnh lịch sử văn minh, xã hội, văn hóa, kinh tế, địa dư, tuy nhiên không phải vì thế mà cá nhân trong thế hệ hoàn toàn đồng nhất. Cũng không có một giới hạn nhất định về thời điểm hay thời gian, mà thường có sự tròng tréo giữa các thế hệ.

William Strauss và Neil Hove trong quyển Generations (ISBN 0-688-11912-3, 1991) nghiên cứu về dân tộc Anglo-American trong vòng 500 năm, đã căn cứ vào các biến chuyển xã hội, cho rằng các thế hệ vận chuyển theo từng chu kỳ mà ông gọi là saeculum. Mỗi saeculum dài 90 năm gồm có bốn thế hệ, mỗi thế hệ chừng 22 năm. Các thế hệ này chuyển mình tùy theo các khúc quanh văn hóa xã hội (xin xem phụ bản ở cuối bài).

Tại Canada, cũng trong năm 1991, Douglas Coupland xuất bản quyển Generation X, Tales For An Accelerated Culture, danh từ thế hệ X, rồi Y, Z được dùng để chỉ các thế hệ đến sau thế hệ baby-boomer.

Trong thế kỷ XX, các nhà xã hội học đã phân chia và đặt tên cho các thế hệ, lần lượt như sau::

  • Generation hay Greatest Generation (1901–1924) là thế hệ đã tham dự vào thế chiến thứ hai.
  • Thế hệ im lặng (1925-1942) cũng gọi là Traditionalist, con đẻ của thời kỳ khủng hoảng kinh tế 1929.
  • Thế hệ Baby Boomber (1943-1960), thời kỳ hậu chiến khi tỷ lệ sinh sản gia tăng, có nhiều biến chuyển xã hội, thế hệ này chối bỏ các giá trị cũ, tái định nghĩa lại giá trị xã hội cổ truyền.
  • Thế hệ X (1961-1981) cũng gọi là thê hệ 13, hay là thế hệ Baby Busters, quyền lợi xã hội thiệt thòi so với baby-boomers.
  • Millennial là gì? Millennial là thế hệ Y (1982-2000) hay còn gọi Millenium, GeNext, là con của thế hệ boomers
  • Thế hệ Z (2000 – ?? ) New Silent, Gen I, Internet Gen. or Net Gen., Digital Natives, Gen Tech
  • Thế hệ alpha, A …
  • Đối với người Việt Nam ở hải ngoại, tương đương vói X là thế hệ một rưởi, trong nước tương đương với Y là thế hệ 8x và 9x.

Thế hệ Y ở Trung Hoa gọi là bát thập kỷ thế hệ hay Little Emperors, thế hệ Tàu này lạc quan về tương lai, tiêu thụ nhiều, có óc kinh doanh, muốn biến nước Tàu thành cường quốc. Vì chính sách hạn chế sinh sản mỗi gia đình chỉ được phép có một con, người Trung Hoa chỉ giữ bào thai lại khi biết sẽ có con trai, gây ra tình trạng trai thừa gái thiếu khá trầm trọng; hiện có tới 40 triệu thanh niên Tầu không lấy được vợ.

– Ở Đại Hàn thế hệ đặt tên theo các biến động chính trị, thế hệ dân chủ 1960 chống Lý Thừa Vãn, thế hệ 1964 chống hoà ước với Nhật, thế hệ 1969 chống chế độ tổng thống 3 nhiệm kỳ.

Ở Ấn độ có thế hệ độc lập 1947, thế hệ Indian boomers 1960, thế hệ Ge, thế hệ X phát triển kinh tế kỹ thuật.

Hẳn không thể nào có một mẫu người cho mỗi lớp tuổi, các thế hệ mọi nơi mọi lúc cũng không hoàn toàn đồng đều, nhưng vì truyền thông và giao dịch toàn cầu càng ngày càng mau chóng, ảnh hưởng hỗ tương các nơi trên địa cầu lan rộng, từ đó có nhiều điểm tương tự để so sánh.. Ta có thể nhìn vào thế hệ Âu Mỹ để có một nhận định khái quát về các các thế hệ trong thời kỳ vừa qua.

  • Thế hệ Traditionalists là thế hệ sanh trước khi thế chiến thứ hai kết thúc, hiện nay có vào khoảng 75 triệu người, chiếm một phần tư dân số Mỹ.

Họ chịu ảnh hưởng của thời kỳ khủng hoảng kinh tế 1929, thế chiến thứ hai 1939-1945, chế độ quân dịch và chiến tranh lạnh. Nhóm người này rất trung thành với thể chế xã hội, yêu nước, bảo thủ trong các dự tính, lịch sự, có tinh thần đạo đức, ít chú trọng vào kỹ thuật, coi trọng nghề nghiệp cao, có tinh thần trách nhiệm, chu toàn công việc trong sở. Tổng thống “Bush cha” là điển hình của thế hệ này.

  • Thế hệ Baby-boomers là thế hệsanh vào khoảng giữa 1946-1964, nhân số chừng 80 triệu người ở Mỹ.

Sanh sau thế chiến thư hai, lúc tỷ lệ sanh sản lên cao, họ trưởng thành vào lúc kinh tế bắt đầu thịnh vượng, nhưng chịu ảnh hưởng cuộc chiến Việt Nam và chiến tranh lạnh, họ chống đối chiến tranh, đòi hỏi quyền lợi riêng, chịu ảnh hưởng cuộc cách mạng tình dục, hay ghiền ma túy, thích nhạc rock and roll, cư ngụ bên ngoài thành phố, hai vợ chồng đều đi làm, đời sống gia đình thay đổi.

Nhóm này muốn tạo dấu ấn của mình trong xã hội, làm khác người, lạc quan, thiên về lý tưởng, có tinh thần phấn đấu cao, thành công ngoài đời, ly dị cao, ít chấp nhận thất bại, không yêu cầu giúp đỡ, dễ bị burn-out, thiên về vật chất, nợ nần nhiều. Bỡ ngỡ về giá trị trong xã hội, họ thường tự hỏi who am I?

Điển hình cho thế hệ này là tổng thống Bill Clinton, Nicolas Sarkozy.

. Thế hệ X, sanh khoảng 1965-1980 nhân số 46 triệu ở Mỹ.

Ảnh hưởng của chương trình truyền hình Sesame street, Music TV, máy điện toán cá nhân P.C, cha mẹ ly dị, nhiều người trong lớp tuổi này nghiền cocaine, crack.

Ít tin tưởng vào cơ chế xã hội, nhất là khi thấy các điều kiện thuận lợi đã bị thế hệ boomers chiếm giữ, họ muốn tạo cho mình một sự nghiệp.

Tính nết thường chiết trung, nhưng không ngại thay đổi nghề nghiệp và việc làm, thích nghi với mọi thay đổi, nghi ngờ các cơ chế, tỷ số ly dị cao, tiền phong trong xa lộ điện tử, có nhiều sáng kiến và nghị lực.

Về tiêu cực, họ quá trẻ trong công tác quản trị, chểnh mảng, ít đắn đo, nghĩ sao nói vậy, thích tự làm chủ lấy mình.

  • Thế hệ Y, sanh trong thời kỳ 1980-2000, vào khoảng 76 triệu ở Mỹ. Trưởng thành trong giai đoạn phát triển kỹ thuật truyền thông, giầu

nghèo cách biệt, ảnh hưởng của các sắc dân di trú. Có nhiều người nghiền ma túy, cần sa, gia nhập bọn côn đồ bạo hành.

Họ nhận định các cơ chế xã hội theo cách nhìn riêng của mình. Lớp tuổi này mệnh danh là thế hệ digital, hiếu biết cao về điện toán và tin vào internet, thông tin, máy tính 24 trên 24 giờ, chấp nhận dị biệt và mong người khác cũng chấp nhận quan điểm của mình, quan tâm về môi trường, thích nhac MTV (Music TV).

Giá trị học lực càng ngày càng cao, không quan tâm về việc làm, nhưng muốn đổi mới và tự mình làm chủ.

  • Thế hệ 7X, 8X và 9X ở Việt Nam là một khái niệm để chỉ những người sanh vào thập niên 1970, 1980 và 1990.

Những tranh luận cuả người trong ba lớp tuổi này và qua những bài bình luận về giới trẻ có thể nhìn thấy đặc tính nếp sống của họ

  • Thế hệ 7X, từ 30 đến 40 tuổi.

Một bạn trẻ trong lớp tuổi 7X đã nói về thế hệ của mình như sau. “Có người nói khoảng cách này (giữa thế hệ 7X và 8X) không đáng kể chỉ khoảng 10 năm thôi mà. Ở đây khoảng cách chúng ta không thể đo bằng con số mà chỉ có thể đo bằng suy nghĩ, cách nghĩ, cách hành động. Nhưng tại sao là 7X và 8X mà không phải 7X với 9X hay 7X với 6X. Điểm chung của hai thế hệ này là họ không chứng kiến chiến tranh, nhưng với mình là cả một khoảng cách khó có thể lấp đầy được. Đối với thế hệ 7X của tụi mình được sinh ra trong thời kỳ đất nước còn trong thời kỳ bao cấp. Mặc dù không trực tiếp ảnh hưởng bởi thời kỳ này nhưng tụi mình cũng biết được cuộc sống nó như thế nào. Mình không thể quên được cảnh ba mình 4 giờ sáng đi xếp hàng mua gạo, cả nhà không dám ăn thịt để đổi mỡ về chế biến các món ăn khác. Mình còn nhớ mãi lúc mình 8 tuổi, ba mình giao mình việc đi chợ. Nhà mình lúc đó đang nuôi gà để cải thiện nên phải mua cá vụn về nấu thêm cho gà ăn. Thế là mình chọn trong đám cá vụn đó có những con to lấy ra nấu cho nhà ăn. Sao bữa ăn lúc đó cực thế. Và để có thể sắm một chiếc xe đạp mình phải chuẩn bị gần ba năm trời bằng cách mua từng phụ tùng về để dành. Hồi đó mình tìm đủ mọi cách để có tiền như hàng sáng mình lấy đá trong tủ lạnh mang qua nhà hàng xóm bán, nhà mình có hai cây mận rất to, thế là mình hái mận mang ra ngoài ngõ ngồi bán. Chính vì chứng kiến cuộc sống thời kỳ đó mà mình rất thương bố mẹ. Và cũng chính vì lý do đó mà mình ở lại thành phố Nha Trang này. Không phải bây giờ người ta mới đổ xô vào Saigon để tìm cơ hội vươn lên. Khi ra truờng có rất nhiều cơ hội để mình phát triển nhưng chính lúc đó hình ảnh bố mẹ làm mình nghĩ lại”.

  • Thế hệ 8X là thế hệ những người từ 20 tới 30 tuổi ở Việt Nam, trưởng thành khi chiến tranh đã chấm dứt. 

Họ rất năng động, hoạt bát và là thế hệ tiếp thu văn hóa phương Tây một cách nhanh chóng, đầy triển vọng, thường nghĩ khác làm khác so với lớp tuổi trước. Và với một số người, họ cho đó là phong cách sống của họ. Họ yêu tự do không thích ràng buộc và thích khám phá. Các giá trị truyền thống bị mất đi và hầu như con người chỉ sống vì cái tôi cá nhân đó.

Một bài báo tháng 2-2010 vừa qua đã mô tả giới trẻ thế hệ 8X ở Việt Nam là một lớp tuổi có ba vật bất ly thân.

Đó là dùng thẻ thanh toán ATM. Tiện lợi là thứ nhất song hơn cả, thẻ là những giao dịch trên mạng ngày càng thông dụng. Những đợt hàng giảm giá liên tục quảng cáo ầm ĩ trên internet luôn làm những người trẻ khó ngồi yên.

Điện thoại di động: số liệu cho biết cả nước có trên 3 triệu thuê bao điện thoại di động mà trong số đó ít nhất phải có đến 50% là giới trẻ. Không phải để khoe máy như hồi điện thoại di động còn là đồ xa xỉ, điện thoại với 8X hôm nay có rất nhiều chức năng khác, nhiều nhất vẫn là nhu cầu giao lưu khi mà giới trẻ 8X luôn khao khát được độc lập, tự do không phụ thuộc vào gia đình nữa. Chỉ cần một tin nhắn trên máy đủ để kéo những 8X lại gần nhau hơn.

Ổ cứng di động USB: trong Ban Chấp hành Đoàn ai cũng có một cái USB lủng lẳng đeo ở cổ. Lúc lên văn phòng copy tài liệu nọ, ảnh kia. Rồi muốn ra hàng net để gửi đi.

Về tiêu cực, 8X ngại xung phong, ngại dẫn đầu mặc dầu có khả năng, hời hợt, thiên về thực dụng. Cách suy nghĩ ấy đã dẫn đến một thế hệ tương đối thụ động, ít phát triển, ít đóng góp ý kiến, tròn trịa, như “hộp cá sốt cà”.

. Thế hệ 9X là thế hệ từ 10 đến 20 tuổi.

Là nhóm lớn lên với sự phát triển kinh tế, thông tin điện tử mở ra thế giới bên ngoài (theo ước lượng hiện ở Việt Nam có tới 22 triệu người sử dụng internet). Họ được miêu tả là một thế hệ tiến bộ và nổi loạn, tự tin hơn thế hệ trước, theo đuổi những điều họ muốn có, dùng ngoại ngữ và đặc biệt là internet.

Họ có chiều hướng từ chối phong tục truyền thống, giá trị của lớp tuổi đi trước, thích nghe nhạc ngoại quốc, ưa phong cách sống và phong tục của nước ngoài.

Có lẽ đây là lớp tuổi bị chỉ trích nhiều, thế hệ 9X bị phê bình có một thành phần nông nổi nhất thời, lối sống buông thả, ăn chơi sành điệu, thích cà phê lùm, cà phê chòi hay cà phê giường, thích nhuộm tóc, phì phà điếu thuốc …

  • Thế hệ Z là thế hệ tương đương với thế hệ 0X (zeroX) ở Việt Nam, là bước chuyển của thiên niên kỷ, sanh sau năm 2000.

Cũng gọi là thế hệ internet, hay là tân thế hệ trầm lặng (nouvelle génération silencieuse), để so sánh với thế hệ trầm lặng đầu thế kỷ 20. Nhân số đông đảo chiếm tới 18% dân số.

Những người trẻ này không những chỉ tin vào Wikipedia, mà thích truy cập mạng, tin tưởng vào kỹ thuật, hoạt động của họ áp dụng theo internet, www, google …Kiếm việc làm không khó.

Tuổi Z không có khiếu tranh luận bằng ngôn từ hay các loại phát biểu khác, họ thiếu kiên nhẫn, muốn có kết quả ngay. Thích sử dụng điện thoại di động và cảm thấy thiếu sót nếu không có iPod, iPad.

Cá nhân chủ nghĩa, ít tinh thần gia đình, thiếu thỏa hiệp, không tin vào giá trị chung của xã hội, thế hệ Z ít nghe lời người khác, không chú ý đến kẻ khác và có lẽ vì thích sống với thế giới ảo, nên lớp tuổi Z không có khuynh hướng quá khích.

Nhiều nhà xã hội dự đoán sau năm 2020 sẽ có thay đổi lớn trong cách làm việc, quan niệm về luân lý và giá trị. Khó biết được đặc tính văn hóa của lớp tuổi này.

DÂN SỐ VIỆT NAM

Khảo sát về dân số Việt Nam, một phần lớn chúng tôi dựa vào mô hình của US Bureau of Census, một cơ sở nghiên cứu về dân số tất cả các nước trên thế giới theo phương pháp cohort component projection. 

Xin chú ý để tiện theo dõi theo thời gian, mầu sắc của mỗi khoảng cách 5 tuổi sẽ giữ nguyên trong những biểu đồ kế tiếp 10 năm sau.

* Nhìn về phía sau: dân số Việt Nam năm 1990 và 2000

Tháp tuổi dân số Việt Nam những năm 1990 và 2000 có hình mũi nhọn, lớp tuổi già không sống lâu như những năm về sau.

Phái nam từ 35, 40 tuổi trở lên (nghĩa là lớp người mà tuổi thanh niên đã trải qua cuộc chiến dài 30 năm trước1975) rất ít so với phái nữ, do hậu quả giết chóc của chiến tranh.

Tuổi sơ sinh trong năm 1990 tăng khá nhiều so với lớp tuổi lớn hơn. Điểm nổi bật khi so sánh tháp tuổi 1990 với tháp tuổi 2000 là số sanh bắt đầu giảm ở lớp trẻ nhỏ từ 0 tuổi tới 4 tuổi, con trai nhiều hơn con gái do hậu quả của tình trạng hạn chế sinh sản, mà phá thai là một yếu tố quan trọng tại Việt Nam, ước tính lên đến một triệu phá thai hàng năm (Truyền Thông số 18 Mùa Đông 2005), mặc dầu pháp lệnh dân số 2003 nghiêm cấm việc thăm dò giới tính của thai nhi..

* Hôm nay: dân số Việt Nam năm 2010

Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam kết quả cuôc tổng điều tra dân số và nhà ở tính đến ngày 1-4-2009, dân số Việt Nam là 85.789.573 người, tăng 9,5 triệu người so với 10 năm trước.

Có vài yếu tố đáng ghi trong tháp tuổi này

1- Chênh lệch giới tính đang tăng cao. Tỷ lệ nam nữ những người trên 65 tuổi là 33,5%, phái nữ nhiều hơn phái nam. Trái lại, tỷ số nam nữ khoảng 0-4 tuổi là 111% so với 106% năm 2005. Với đà tăng trưởng này, đã có dự đoán trong vòng 15 đến 20 năm nữa, ở Việt Nam sẽ thiếu 4,3 triệu thanh nữ.

Hiện nay tuổi kêt hôn của phái nam là 26,2 và phái nữ 22,8 tuổi.

2- Lực lượng lao động tức là những người từ 15 đến 59 tuổi tăng thêm nhiều so với bảng phân bố dân số những năm trước, hiện nay khoảng 43,8 triệu, trên dưới 50% dân số, đạt đến cơ cấu dân số vàng, nghĩa là hai người trong độ tuổi lao động mới phải gánh một người phụ thuộc. Tuy nhiên thời kỳ này không dài, Ủy Ban Dân Số, Gia đình dự đoán thời kỳ này sẽ chấm dứt năm 2015, trong khi bộ phận dân số của Liên Hiệp Quốc cho là thời kỳ dân số vàng ở Việt Nam sẽ kéo dài từ 2010 đến 2040.

3- Lớp tuổi phụ thuộc là những người không tham dự vào công việc sản xuất, khoảng gần 44% đối với lớp người dưới 15 tuổi và 14% đối với người trên 65 tuổi. 

Từ các con số này, tính ra chỉ số lão hóa, biểu thị bằng tỷ số người trên 60 tuổi so với người dưới 15 tuổi. Hiện nay chỉ số lão hóa ở Việt Nam là 35,9%, Singapour 85% và Thái Lan 52%.

4- Tuổi học phổ thông từ 5 đến 19 tuổi khoảng 29 triệu, chiếm 28,7%, trong số này phái nữ đi học nhiều hơn phái nam 51,09%.

* Nhìn về phía trước : dự báo dân số

Cơ cấu dân số Việt Nam sẽ thay đổi mau chóng. Thống kê dự đoán đến năm 2020 dân số sẽ là 99 triệu và năm 2030 là 104 triệu.

Lớp tuổi nhỏ giảm, tuổi lao động tăng, tuổi già trên 60 tăng, biểu đồ phân bố dân số không có hình tháp mà giống hình cái chum (cái lu)..

Sinh xuất càng ngày càng giảm, nhóm tuổi 0-4 giảm rõ rệt.

Theo Vũ Quang Việt, dự phóng dân số ở tuổi tiểu học sẽ giảm xuống 6,5 triệu vào năm 2020 và 6,3 triệu vào năm 2030.

  • cấp trung học sĩ số giảm mạnh xuống còn 10,4 triệu vào năm 2015, tức là ít hơn 2 triệu.

Dân số ở độ tuổi đại học có thể giảm đi 10% vào năm 2015, 20% vào năm 2020, và 24% vào năm 2030, nhưng nếu số sinh viên đại học không tăng thêm (năm 2006 là 20,5%), thì tỷ lệ đi học đại học vẫn tăng.

Sự giảm dân số trong lớp tuổi đi học có thể đem lại kết quả thuận tiện cho việc nâng cao nền giáo dục, tuy nhiên đầu tư cho giáo dục tại Việt Nam vẫn còn thấp, 2,1% lợi tức quốc gia, so với tỷ lệ toàn thế giới là 5,4%.

Lực lượng lao động 15-59 tuổi tăng nhanh cả về tuyệt đối lẫn tương đối, có thể lên đến 65% dân số. Tuy nhiên không phải mọi người trong tuổi lao động đều tham gia hoạt động kinh tế, và người đến tuổi nghỉ hưu vẫn còn làm việc.

Trong khi lớp tuổi phụ thuộc trẻ 0-14 giảm thì lớp tuổi phụ thuộc già trên 60 tăng. Tốc độ lão hóa nhanh hơn tốc độ tăng dân số trong tuổi lao động, đạt tới 11,24 % năm 2020.

Liên Hiệp Quốc quy định rằng một dân số có 10% người cao tuổi là một dân số già. Các vấn đề sức khoẻ, tâm lý, xã hội sẽ đặt ra một cách nghiêm trọng. Theo Nguyễn Đình Cừ, trong số người cao tuổi chỉ có khoảng 16-17% hưởng lương hưu hoặc mất sức, hơn 10% hưởng trợ cấp người có công với nước. Như vậy còn trên 70% sống bằng cách khác, tiếp tục lao động hay nhận hỗ trợ của con cháu và gia đình.

Sự thay đổi về cơ cấu dân số vừa là một thuận lợi vừa gây ra áp lực trong công tác giải quyết việc làm đối với lớp tuổi lao động, bảo đảm an sinh xã hội cho lớp tuổi học sinh và lớp tuổi phụ thuộc, trẻ em và người già, và là một thách đố đối với việc ðầu tư vào giáo dục.

Ngày mai sẽ ra sao? Đó là một câu hỏi cho những ai còn muốn nhận quê hương làViệt Nam.

Tác giả: Phạm Hữu Trác T7-2010

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Hababou, Ralph, Génération W, Fìrst, 2009
  • Coupland, Douglas, Génération A, Vintage, 2009.
  • Coupland, Douglas, Génération X, Tales For An Accelerated Culture, St Martin’s Press, 1991
  • When Generations Collide, Lynne C. Lancaster , The Management Forum Series, March 2004
  • Generation Gaps Revisited, Kenneth A. De Jong & Jayshree Sarma
  • Đối thoại với cái tôi của tuổi trẻ, Huỳnh Văn Sơn.
  • Internet 

Phụ bản

Bảng đối chiếu các thế hệ (theo Strauss và Howe và Doulas Coupland)

Late medieval Saeculum
Arthurian Generation 1433-1460 Retreat from France
Humanist Generation 1461-1482 War of Roses
Reformation Saeculum
Reformation Generation 1483-1511 Tudor Renaissance
Reprisal Generation 1512-1540 Protestant Reformation
Elizabethan Generation 1541-1565 Intolerance and Martyrdom
Parliamentarian Generation 1566-1587 Armada Crisis
New World Saeculum
Puritan Generation 1588-1617 Merrie England
Cavalier Generation 1618-1647 Puritan Awakening
Glorious Generation 1648-1673 Religious Intolerance
Enlightenment Generation 1674-1700 Glorious Revolution
Revolutionary Saeculum
Awakening Generation 1701-1723 Augustian Age of Empire
Liberty Generation 1724-1741 Great Awakening
Republican Generation 1742-1766 French and Indian War
Compromise Generation 1767-1991 American Revolution
Civil War Saeculum
Transcendental Generation 1792-1821 Era of Good Feeling
Gilded Generation 1822-1842 Transcendental Awakening
Progressive Generation 1843-1859 American Civil War
Great Power Saeculum
Missionary Generation 1860-1882
Lost Generation 1883-1900
G.I. Generation 1901-1924
Silent Generation 1925-1942 Traditionalists (Pre-1946)
Millennial Saeculum
Baby Boom Generation 1943-1960 Baby Boomers (1946-1964)
13th Generation 1961-1981 Generation X (1965-1981), 1 rưỡi.
Millenial Generation 1982-2003? Millennial, Y, GeNext (1982-2000)
Thê hệ 8x và 9x tại Việt Nam
New Silent Generation 2004- ? Generation Z,
Thế hệ A, alpha, zéro
Ở Việt Nam hiện nay:
  • Thế hệ 8x từ 20 tới 30 tuổi ở VN hiện nay có khoảng 9 triệu nam và 9 triệu nữ
  • Thế hệ 9x từ 10 tới 20 tuổi ở VN ít hơn, khoảng 8,5 triệu nam và 8 triệu nữ . (Xin coi tháp tuổi Việt Nam)

Feminist là sự đấu tranh giành lại nhân quyền cho giới phụ nữ. Trong tiếng Việt dịch Feminism là chủ nghĩa nữ quyền hay còn gọi là quyền phụ nữ.

Trước khi đến với khái niệm Feminist là gì thì chúng ta cùng xem câu chuyện này nhé.

Miss X sinh ra và lớn lên trong một gia đình nề nếp, tại một làng nhỏ miền Bắc nước Anh. Tuy gia đình khá giả, cô và các chị em gái chưa bao giờ được cắp sách đến trường như các anh trai cô, họ chỉ được bố và các anh dậy đọc, dậy viết ở nhà. Từ thuở còn nhỏ, mẹ dạy cô nấu nướng, cắm hoa, giặt giũ, thêu thùa những thứ mà ba cho rằng một người phụ nữ đảm đang cần phải biết. Mặc dù Miss X rất thích đọc sách và có óc tìm tòi, nhưng bố mẹ cô bảo rằng con gái đọc sách nhiều cũng vô ích. Năm cô tròn 18 tuổi, ông bà gả cô cho một gia đình thương gia trong làng. Đời sống vợ chồng không có thơ mộng như cô tưởng. Từ ngày lập gia đình, với trách nhiệm của một người vợ, người con dâu và người mẹ, cô càng bận rộn hơn trước. Ngày nào cũng như ngày nào, cô phải lo mọi việc nội trợ từ sáng sớm đến tối khuya. Nào là đi chợ, nấu ăn, quét dọn, may quần áo cho chồng con, hầu hạ bố mẹ chồng. Tuy biết mình thích vẽ, viết văn, và có năng khiếu làm sổ sách nhưng phu quân của cô không muốn cô mất thời giờ làm những việc vớ vẩn đó. Theo ông, một người đàn bà gương mẫu phải dành hết thời giờ lo cho chồng, gia đình chồng và các con. Nhiều khi, cô cảm thấy bực mình, chán nản trong sự gò bó của gia đình nên gây gổ với chồng và bị ông ta đánh. Một lần, khi cô tức giận bỏ đi, người chồng đă nói thẳng vào mặt cô : Uổng công tôi nuôi cô từ trước đến giờ. Cứ đi, để xem không có tôi thì cô có sống nổi không.

Đây là một câu chuyện đặc trưng nói lên đời sống bị gò bó, áp bức, bóc lột của người phụ nữ ngày xưa. Tuy ngày xưa nhưng thật ra cũng không phải lâu lắm. Hầu như ai cũng biết rằng phong trào giải phóng phụ nữ (feminism) đã đem lại quyền lợi và tự do cho thế hệ phụ nữ ngày nay. Nhưng ít ai biết feminism bắt nguồn từ lúc nào và từ đâu. Những quyền phụ nữ chúng ta có được ngày hôm nay, từ học thức, việc làm, địa vị trong gia đìnhh, xã hội, cho đến quyền tham gia chính trị là nhờ biết bao người nữ anh hùng trong lịch sử đã đứng lên tranh đấu, chịu nhục nhã và hi sinh.

Vậy  feminism hay còn gọi là nữ quyền nghĩa là gì?

Nhiều người định nghĩa về khái niệm feminism từ nhiều khía cạnh khác nhau. Có người nghĩ rằng feminism đấu tranh giúp người đàn bà có thể đi làm ngoài xă hội, có người lại cho rằng feminism chứng minh đàn bà giỏi hơn đàn ông, và đàn bà cần trả thù những ǵ mà đàn ông đă hành hạ đàn bà từ trước đến giờ. Thật ra, feminism là sự đấu tranh giành lại nhân quyền cho giới phụ nữ (Women demanding their full rights as human beings !).

Jean-Jacques Rousseau, một nhà triết học nổi tiếng của Pháp, đă viết về thân phận người phụ nữ như sau : “Men and women are made for each other, but their mutual dependence is not equal. We could survive without them better than they could without us. They are dependent on our feelings, on the price we put on their merits, on the value we set on their attractions and on their virtues. Thus women’s entire education should be planned in relation to men. To please men, to be useful to them, to win their love and respect, to raise them as children, to care for them as adults, counsel and console them, make their life sweet and pleasant”.

Trong lịch sử nhân loại có rất nhiều  phụ nữ thành công. Họ thường là công chúa, hoàng hậu, nghệ sĩ, nhà thơ v.v…Ví dụ, nữ hoàng Elizabeth (1533-1603) cai trị lẫy lừng một thời và là một trong những người tạo dựng cách mạng Anh Quốc (English Renaissance), Sappho (650 BC) là một nhà thơ nổi tiếng của thế giới Hi lạp, nữ Đế Vương Catherine the Great (1729-96) cai trị nước Nga hơn 35 năm và mang lại nhiều sự cải cách cho đất nước, Joan of Arc (1412-31) từ tuổi thiếu niên đă là một nữ anh hùng Pháp xông pha ngoài chiến trường. Tuy những phu nhân và nữ anh hùng này là những nhân vật ưu tú trong lịch sử, đáng tiếc thay họ đă không làm được ǵ cho phụ nữ của dân tộc họ. Những người đứng lên đấu tranh cho quyền lợi phụ nữ chính là những người đàn bà bị áp bức, g̣ bó trong khuôn khổ. Giới phụ nữ đă can đảm liên kết nhau để cùng đứng dậy nói lên sự bất công mà họ, mẹ họ, bà của họ đă chịu đựng từ hàng ngàn năm qua. Họ kết án những điều lệ, những khuôn khổ gia đ́nh, những khuôn khổ xă hội đă đàn áp họ, bắt họ sống trong sự phục tùng và vâng lệnh. Họ bất b́nh về cách phân chia công việc trong xă hội : đàn ông ngoài việc được mệnh danh là « trụ cột gia đ́nh » c̣n có thể tham gia thể thao, chính trị, c̣n đàn bà th́ lúc nào cũng phải ở nhà gánh vác việc nội trợ và phụ thuộc kinh tế vào chồng. Họ mơ ước đem lại cho phụ nữ khắp nơi một cuộc sống b́nh đẳng, thoải mái và tự do hơn. Tuy nhiên, phong trào giải phóng phụ nữ gặp rất nhiều khó khăn, nhất là lúc khởi đầu, và cuộc cách mạng này đă trải dài không những nhiều chục năm hay nhiều trăm này mà qua nhiều thế kỷ măi cho đến ngày hôm nay vẫn c̣n tiếp tục.

Cuộc chiến nữ quyền và khởi nguồn của Feminism

Feminism bắt nguồn vào giữa thế kỷ 18, khi chế độ phong kiến ở châu Âu đang trong nguy cơ lung lay. Trong chế độ này, vua chúa, bà tướng, những người quư tộc lúc nào cũng sống trong sự giàu sang, đầy quyền lực và hà hiếp bá tánh. Khi họ qua đời th́ con cháu của họ lại nối ngôi và thừa hưởng gia tài, quyền lực. V́ thế, trong xă hội thời đó, người nào giầu và đầy quyền thế th́ cứ giàu măi từ đời này sang đời khác, c̣n người nào nghèo th́ khó mà thoát ra khỏi cảnh cơ hàn. Một số người thuộc tầng lớp trung cấp (middle-class) nhận ra sự bất công xă hội đó, họ họp lại thành một nhóm càng ngày càng mạnh và đứng lên đấu tranh chống lại chế độ phong kiến. Trong lúc nhóm người này đấu tranh lật đổ chế độ quan liêu của vua chúa, tại nhiều nước châu Âu một số người đàn bà bắt đầu đứng dậy nói lên sự bất b́nh đẳng giữa phái nam và phái nữ. Họ lên tiếng rằng vua chúa bóc lột dân chúng thế nào, th́ phái nam cũng bóc lột phái nữ thế nấy. V́ thế, nếu con người nghĩ rằng đấu tranh cho một tầng lớp xă hội b́nh đẳng hơn là điều cần thiết, th́ việc đấu tranh cho đời sống của phái nữ bình đẳng hơn cũng là điều cần đến lúc phải làm.

Một trong những nữ anh hùng đó là cô Mary Wollstonecraft (1759-97). Cô sinh ra và lớn lên trong một gia đ́nh nông dân tại Anh quốc. Trong gia đ́nh cô, người cha là người chủ động trong mọi việc. Không những thế, ông c̣n là một người độc tài, thích uống rượu và thường đánh vợ con. Người mẹ th́ rất hiền, và Mary cảm thấy căm phẫn khi thấy bà luôn khúm núm, sống dưới mọi quyền hành của chồng. Không những thế, mỗi lần mẹ của Mary sanh một em bé gái th́ bố cô lại cằn nhằn : Oh ! not another daughter, và trong cuộc sống hàng ngày ông luôn tỏ vẻ yêu mến những người con trai nhiều hơn. Bối cảnh gia đ́nh đă thúc đẩy Mary trở thành một người đàn bà tự lập, hoạt bác. Cô không muốn sống cuộc đời mà mẹ cô đă cắn răng sống Cô quyết rời khỏi gia đ́nh, cố gắng tự đi làm ngày đêm để đóng tiền đi học. Năm 1783, Mary đă vận động tiền để mở một trư lại dành cho học sinh nữ tại một ngoại ô của Luân Đôn. Chính Mary, chị em của cô, các bạn gái của cô là giáo viên của trường. Họ vừa dạy và vừa tự học thêm. Mặc dù gặp rất nhiều trắc trở và sự châm biếm từ phái nam (vd : đám đàn bà hư hỏng, đám phù thủy), Mary không bỏ cuộc. Theo cô, đàn bà không được đi học, không được đi làm ngoài xă hội, không được tham gia vào chính trị, là đang sống trong chế độ độc tài của nam giới, chẳng khác nào chế độ độc tài của vua chúa. Khuôn khổ xă hội bắt buộc người vợ phục vụ chồng và dựa vào tiền của chồng để sống th́ chẳng khác ǵ bắt họ trở thành gái điếm ( legal prostitution ). Cô cho rằng bước đầu tiên giúp nữ giới bước ra thế giới bên ngoài chính là sự học vấn. Chỉ có học vấn và kiến thức mới có thể giải vây họ ra khỏi cái ṿng luẩn quẩn mà phụ nữ các thế hệ trước không thể nào bước chân ra khỏi.

Trong lúc cách mạng nước Pháp bùng nổ, lật đổ chế độ phong kiến, Mary đă viết một cuốn sách dày 300 trang mang tựa đề: A vindication of the Rights of Women. Ngay lập tức, tác phẩm của cô trở thành sách bán chạy nhất, và cuốn sách này là nền tảng cho phong trào giải phóng phụ nữ suốt thế kỷ 19 và ề: “A vindication of the Rights of

Ngày hôm nay, phụ nữ được giáo dục, được tham gia vào các hoạt động xă hội, tham gia vào chính trị ngang hàng với phái nam. Trong các trường đại học, các ngành mà lúc trước chỉ có phái nam độc quyền như luật, y, kỹ sư bây giờ càng ngày càng nhiều phái nữ tranh vào. Từ ngàn xưa người ta quan niệm rằng con gái kém thông minh hơn con trai, rằng con gái chỉ đủ khả năng làm việc nội trợ. Cuộc sống tân tiến đă và đang chứng minh rằng những quan niệm ấy không c̣n đúng nữa. Con trai và con gái đều sinh ra thông minh, thoát vác, tài ba giống nhau, nhưng chính môi trường xă hội ngày xưa đă đặt phụ nữ vào một địa vị thấp hơn, chứ không phải do phụ nữ sinh ra kém thông minh hơn.
Ngày nay, người ta lại thắc mắc không biết cuộc chiến nữ quyền đă kết thúc chưa hay vẫn c̣n tiếp tục? Hiện giờ, Anh Quốc là một trong những nước tân tiến nhất thế giới mà thu nhập toàn quốc của phụ nữ vẫn chỉ bằng 2/3 thu nhập của phái nam. Ở đó, vẫn c̣n nhiều phụ nữ làm những nghề cổ điển như giặt giũ, nấu ăn, may mặc, quét dọn. Và cũng tại Anh, chỉ có 3% giám đốc các công ty, 4% chánh án, và 7% thành viên của Thượng Nghị Viện là đàn bà. Các nhà xă hội học cho rằng feminism chỉ chấm dứt ngày mà nam nữ bình đẳng 50/50 trong tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống. Tại các nước Tây Phương, tôi nghĩ rằng ngày đó sẽ đến, chỉ là nhanh hay chậm mà thôi (không 50/50 th́ 49/50 cũng OK, phải không các bạn?). Tôi chỉ tội nghiệp thay những người phụ nữ ở các nước c̣n bảo thủ như Ấn Độ, Arab, Trung Đông, đến thiên niên kỷ 3 này mà đa số vẫn c̣n bị giam cầm trong bốn bức tường gia đ́nh. Không biết đến khi nào họ mới đạt được những ǵ mà phụ nữ ở các quốc gia Tây Phương đang có. Có lẽ họ cũng đang chờ một Mary Wollstonecraft của dâ những nghề ?cổ điển? như

Lẫn phái nam và phái nữ nên vui mừng vì chúng ta đă đi được một con đường khá xa từ ngày quyển sách của bà Mary Wollstonecraft ra đời. Và chắc chắn chúng ta vẫn c̣n một chặng đường nữa phải đi!.

Bạn có biết gì về gián Dubia? Đây là một loại gián đất có giá trị kinh tế cao đang được nhiều người nuôi để làm kinh tế. Hãy tham khảo ngay bài viết Gián Dubia trên Truyền Thông để biết thêm về loài gián giá trị nà nhé.

Châu Mỹ là một trong những châu lục lớn nằm ở phía Tây bán cầu và có gồm 3 lục địa. Vây châu Mỹ gồm những nước nào? Danh sách các nước châu Mỹ đầy đủ nhất dưới đây sẽ giúp bạn có câu trả lời cho vấn đề này. Theo thống kê hiện nay thì châu Mỹ bao gồm 19 quốc gia và vùng lãnh thổ và 34 quốc gia độc lập. 

I. Châu Mỹ gồm những nước nào?

châu mỹ gồm những nước nào

Châu Mỹ được chia làm 3 lục địa: Bắc Mỹ, Trung Mỹ và Nam Mỹ.

+ Bắc Mỹ: Đây là khu vực nằm ở phía Bắc và tiếp giáp với 3 đại dương lớn. Khu vực Bắc Mỹ này do Cristoforo Colombo tìm ra. Đây là khu vực gồm rất nhiều nước và có khí hậu ôn đới. Ngoài ra, một số vùng khác sẽ có khí hậu đặc trưng của vùng hoang mạc và bán hoang mạc.

+ Trung Mỹ và Nam Mỹ : Đây là 2 lục địa gồm hàng chục các quốc gia khác nhau và mỗi một nơi sẽ có một nền văn hóa đặc trưng riêng. Ngôn ngữ của khu vực này ngoài tiếng bản địa thì ngôn ngữ được sử dụng chủ yếu đó là tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Đây cũng là khu vực có sự phân hóa sâu sắc bởi nó pha trộn rất nhiều các dân tộc, màu da khác nhau.

châu mỹ gồm những nước nào

Danh sách các nước thuộc Châu Mỹ:

+ Hoa Kỳ

+ Greenland

+ Mexico

+ Canada

+ Saint Pierre và Miquelon

+ Bermuda

+ Belize

+ Guatemala

+  El Salvador

+ Nicaragua

+ Costa Rica

+  Panama

+ Cuba

+ Saint-Barthélemy

+ Quần đảo Cayman

+ Quần đảo Turks và Caicos

+ Quần đảo Virgin thuộc Mỹ

+ Quần đảo Virgin thuộc Anh

+  Anguilla

+ Jamaica

+  Haiti

+ Cộng hòa Dominican

+  Dominica

+ Saint Kitts và Nevis

+  Puerto Rico

+ Grenada

+ Antigua và Barbuda

+ Trinidad và Tobago

+ Barbados

+ Saint Vincent và Grenadines

+ Guadeloupe

+ Martinique

+ Saint Lucia

+ Venezuela

+ Guyana

+ Suriname

+ Guiana thuộc Pháp

+ Brazil

+ Uruguay

+ Paraguay

+ Argentina

+ Chile

+ Bolivia

+ Peru

+ Ecuador

+ Colombia

+ Quần đảo Falkland

+ Quần đảo Nam Georgia và Nam Sandwich

+ Aruba

+ Bonaire

+ Curaçao

+ Sint Maarten

+ Saint-Martin

II. Danh sách các nước châu Mỹ đầy đủ nhất

Để có thể nắm được thông tin đầy đủ nhất về các nước thuộc châu Mỹ, bạn hãy tham khảo danh sách các nước Châu Mỹ dưới đây. Nó sẽ giúp bạn có được những thông tin hữu ích như diện ích, quốc kỳ, dân số,…của các nước này.

A. Bắc Mỹ gồm những nước nào?

Bắc Mỹ là một trong số những lục địa lớn nhất của thế giới. Tổng diện tích của khu vực này lên tới 24.221.490km2. Lục địa này thuộc khu vực phía bắc của bán cầu và nó nằm giữa 2 đại dương đó là Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. So với khu vực Nam Mỹ thì Bắc Mỹ nằm ở phía Bắc. Khu vực này còn có tên gọi khác đó là Tân Thế Giới.

Châu Mỹ gồm những nước nào? Nếu xét theo khu vực Bắc Mỹ thì nơi đây sẽ bao gồm:

1. Canada 

+ Tên quốc gia: Canada

+ Thủ đô: Ottawa

+ Diện tích: 9.984.670 km2

châu mỹ gồm những nước nào

Đây là một trong các nước thuộc châu Mỹ có diện tích rất lớn, so với các nước trên thế giới thì diện tích của Canada lớn thứ 2 trên thế giới. Quốc gia này  nằm ở phía Bắc của Bắc Mỹ. Lãnh thổ của quốc gia này bao gồm 10 tỉnh bàng và 3 vùng liên bang.

Phía đông tiếp giáp với Đại Tây Dương, phía Tây giáp với Thái Bình Dương và phía Bắc giáp với Bắc Băng Dương. Phía Nam giáp với Hoa Kỳ lục địa. Phía Đông Bắc giáp với Greenland là đảo quốc của Đan Mạch.

Đặc biệt, đường biên giới tiếp giáp giữa Hoa Kỳ và Canada được đánh giá là đường biên dài nhất thế giới. Ngoài ra, trong số danh sách các nước châu Mỹ hùng cường và phát triển nhất hiện nay luôn có Canada trong danh sách này.

2. Hoa Kỳ 

+ Tên gọi quốc gia: Hợp chúng quốc Hoa Kỳ / Hợp chúng quốc Mỹ

+ Tên tiếng anh là United States / US

+ Thủ đô: Washington

+ Thành phố lớn nhất: New York.

+ Diện tích: 9.833.520 km2

Mỹ hay còn gọi là Hoa Kỳ là nước cộng hòa liên bang gồm 1 đặc khu liên bang và 50 tiểu bang khác nhau. Vị trí của nước Mỹ thuộc khu vực phía Tây Bán Cầu và quốc gia này nằm giữa khu vực Bắc Mỹ. Phía Tây giáp với Thái Bình Dương. Phía đông giáp với Đại Tây Dương. Phía Bắc tiếp giáp với Canada. Phía nam là Mexico.

Ngoài ra, lãnh thổ của Hoa Kỳ có tới 14 lãnh thổ là vùng quốc hải nằm rải rác tại các vùng biển thuộc Thái Bình Dương và Caribe.

Như vậy đáp án cho câu hỏi Mỹ thuộc châu nào thì câu trả lời đó là Mỹ thuộc Châu Mỹ hay cụ thể hơn là Bắc Mỹ nhé các bạn.

3. Mexico

+ Tên quốc gia: Hợp chúng quốc Mexico

+ Thủ đô: Mexico

+ Diện tích: 1.972.550 km²

châu mỹ gồm những nước nào

Nằm trong danh sách các nước châu Mỹ thuộc khu vực phía Bắc, Mexico là một nước cộng hòa liên bang có diện tích rộng lớn và đứng ở vị trí thứ 14 so với các nước khác trên thế giới. Quốc gia này phía Bắc tiếp giáp với Hoa Kỳ. Phía Đông Nam tiếp giáp với Guatemala và Belize – đây đều là các quốc gia Châu Mỹ. Phía Tây và Tây Nam tiếp giáp với biển Thái Bình Dương.

Đất nước Mexico gồm có 31 bang và 1 quận trực thuộc liên quan của thủ đô Mexico. Đây cũng là khu vực đông dân cư nhất trên thế giới hiện nay. Mexico nằm trong danh sách các nước Bắc Mỹ có nền văn hóa rất đa dạng và phong phú. Tới đây du lịch, bạn sẽ khám phá được rất nhiều các nền văn hóa khác nhau của đất nước xinh đẹp này.

Ngôn ngữ chủ yếu của quốc gia Bắc Mỹ này là tiếng Tây Ban Nha. Đây cũng là quốc gia có tỉ lệ người nói tiếng Tây Ban Nha lớn nhất hiện nay.

4. Đảo Greenland thuộc Vương quốc Đan Mạch

+ Tên quốc gia: Greenland – quốc gia tự trị của Đan Mạch

+ Diện tích: 2.166.086 km²

+ Thủ đô: Nuuk

Nhiều người thắc mắc Châu Mỹ gồm những nước nào? Đảo Greenland là một trong những nước thuộc châu Mỹ. Tuy nhiên, quốc gia này lại có sự liên quan mật thiết đến châu Âu. Phía Đông Nam tiếp giáp với Đại Tây Dương. Phía Đông tiếp giáp với bãi biển. Phía Bắc tiếp giáp với Bắc Băng Dương.

Nếu so về diện tích thì Greenland là một trong các nước ở châu Mỹ sở hữu hòn đảo lớn nhất thế giới. Không những vậy, đảo Greenland còn có vườn quốc gia được đánh giá là lớn nhất thế giới. Người dân của quốc đảo này thường sinh sống dọc theo các vịnh. Bởi nơi đây có khí hậu thuận lợi hơn. Bởi có tới 81% diện tích của Greenland bị đóng băng.

B. Nam Mỹ gồm những nước nào?

Nam Mỹ thuộc khu vực phía Nam của châu Mỹ. Phía Tây tiếp giáp với biển Thái Bình Dương, phía Bắc và phía Đông tiếp giáp với Đại Tây Dương. Xét về diện tích thì diện tích của lục địa này đứng thứ 4 trên toàn thế giới với diện tích khoảng 17.840.000 km2. Xét về mặt dân số thì các nước Nam Mỹ đứng thứ 5 trên toàn thế giới.

5. Argentina

+ Tên quốc gia: Agemtina

+ Diện tích: 2.766.890 km²

+ Thủ đô: Buenos Aires

châu mỹ gồm những nước nào

Nước cộng hòa Argentina là quốc gia lớn thứ 2 tại Nam Mỹ. Nơi đây có diện tích rộng lớn và chỉ đứng sau Brasil về vùng lãnh thổ. Quốc gia này được chia làm 23 tỉnh thành và 1 thành phố tự trị. So với các nước trên thế giới thì Argentina xếp hạng thứ 8 khi so sánh về diện tích đất liền. Quốc gia này sử dụng tiếng Tây Ban Nha làm ngôn ngữ chính.

6. Bolivia 

+ Tên quốc gia: Quốc gia Bolivia Đa dân tộc

+ Diện tích: 1.098.580 km²

+ Thủ đô: La Paz

Nằm trong danh sách các nước châu Mỹ thuộc nước đa dân tộc,  Bolivia là nước có nền văn hóa đa dạng. Đây là quốc gia nằm ở vị trí trung tâm của Nam Mỹ. Nơi đây có vùng biên giới phía Bắc tiếp giáp với nước Brasil. Phía Nam tiếp giáp với Paraguay và Argentina. Phía Tây giáp với nước Chile và Peru.

7. Brasil

+ Tên quốc gia: Cộng hòa Liên bang Brasil

+ Diện tích: 8.511.965 km²

+ Thủ đô: Brasilia

châu mỹ gồm những nước nào

Nước cộng hòa Liên bang Brasil là một trong những quốc gia có diện tích lớn nhất tại khu vực Nam Mỹ. So về diện tích thì quốc gia này đứng thứ 5 trên toàn thế giới. Đây cũng là quốc gia duy nhất sử dụng tiếng Bồ Đào Nha làm ngôn ngữ chính ở quốc gia mình.

Brasil tiếp giáp với 11 quốc gia và lãnh thổ của nước này thuộc Nam Mỹ. Phía Bắc tiếp giáp với các nước Venezuela, Guyana, Guyane. Phía Tây Bắc tiếp giáp với nước Colombia. Phía Tây tiếp giáp với nước Peru, Bolivia. Phía Tây Nam tiếp giáp với Argentina, Paraguay. Phía Đông tiếp giáp với bờ biển dài. Lãnh thổ của nước này gồm rất nhiều quần đảo khác nhau.

8. Chile

+ Tên quốc gia: Cộng hòa Chile

+ Diện tích: 756.950 km²

+ Thủ đô: Santiago

Trong danh sách các nước ở châu Mỹ thì Chile là quốc gia cộng hòa thuộc khu vực Nam Mỹ. Nơi đây có bờ biển dài và bị xen ngang bởi dãy núi Andes. Phía Tây tiếp giáp với biển Thái Bình Dương. Phía Bắc giáp với Peru. Phía đông Bắc tiếp giáp với Bolivia. Phía Đông tiếp giáp với Argentina. Lãnh thổ của quốc gia này gồm rất nhiều hòn đảo khác nhau. Đây là quốc gia có khí hậu rất phong phú. Bạn có thể cảm nhận được các kiểu thời tiết khác nhau khi ghé thăm Chile.

9. Colombia

+ Tên quốc gia: Cộng hòa Colombia

+ Diện tích: 1.138.910 km²

+ Thủ đô: Bogota

châu mỹ gồm những nước nào

Đây là quốc gia tiếp giáp với Brasil. Phía Nam tiếp giáp với nước Ecuador, Peru. Phía Bắc tiếp giáp với Đại Tây Dương. Phía Tây tiếp giáp với nước Panama và biển Thái Bình Dương. Quốc gia này tiếp giáp với biển Đại Tây Dương và Thái Bình Dương.

10. Ecuador

+ Tên quốc gia: Cộng hòa Ecuador

+ Diện tích: 283.560 km²

+ Thủ đô: Quito

11. Falkland

+ Tên quốc gia: Quần đảo Falkland

+ Diện tích: 12.173 km²

+ Thủ đô: Stanley

12. Guyane

+ Tên quốc gia: Cộng hòa (Guyane) thuộc Pháp

+ Diện tích: 91.000 km²

+ Thủ đô: Cayenne

13. Guyana

+ Tên quốc gia: Cộng hòa Hợp tác Guyana

+ Diện tích: 214.999 km²

+ Thủ đô: Georgetown

châu mỹ gồm những nước nào

14. Paraguay

+ Tên quốc gia: Cộng hòa Paraguay

+ Diện tích: 406.750 km²

+ Thủ đô: Asuncion

15. Peru

+ Tên quốc gia: Cộng hòa Peru

+ Diện tích: 1.285.220 km²

+ Thủ đô: Lima

16. Surinam

+ Tên quốc gia: Cộng hòa Surinam

+ Diện tích: 163.270 km²

+ Thủ đô: Paramaribo

châu mỹ gồm những nước nào

17. Uruguary

+ Tên quốc gia: Cộng hòa Đông Uruguay

+ Diện tích: 176.220 km²

+ Thủ đô: Montevideo

18. Bolivar Venezuela

+ Tên quốc gia: Cộng hòa Bolivar Venezuela

+ Diện tích: 912.050 km²

+ Thủ đô: Caracas

C. Trung Mỹ gồm những nước nào?

Châu Mỹ có bao nhiêu nước? Trong danh sách các nước thuộc châu Mỹ thì Trung Mỹ là khu vực riêng biệt nằm ở phía cực nam của Bắc Mỹ. Do đó, Trung Mỹ là nơi có nền văn hóa giao thoa, hội tụ rất nhiều nền văn hóa khác nhau.

Đây là khu vực tiếp giáp và nối liền 2 lục địa Nam Mỹ và Bắc Mỹ lại với nhau. Do đó, xét về mặt vị trí thì các nước châu Mỹ La Tinh ở khu vực Trung Mỹ có vai trò rất quan trọng trong việc là cầu nối của các khu vực khác  tại châu Mỹ.Đa phần các nước Trung Mỹ đều sử dụng tiếng Tây Ban Nha. Ngoại trừ nước Belize sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ chính.

Danh sách các nước ở châu Mỹ thuộc Trung Mỹ gồm:

19. Belize

+ Tên quốc gia: Belize

+ Thủ đô: Belmopan

+ Diện tích: 22.966 km²

châu mỹ gồm những nước nào

Trước đây, Belize thuộc Honduras của Anh. Phía Bắc tiếp giáp với nước Mexico. Phía Tây và Nam giáp với nước Guatemala. Đây là quốc gia duy nhất thuộc Trung Mỹ sử dụng tiếng Anh là tiếng phổ thông và ngôn ngữ chính.

20.  Costa Rica 

+ Tên quốc gia: Cộng hòa Costa Rica

+ Thủ đô: San Jose

+ Diện tích: 51.100 km²

Châu Mỹ gồm những nước nào? Costa Rica là một trong các nước ở Trung Mỹ, phía Bắc tiếp giáp với nước Nicaragua. Phía Nam giáp với Panama. Phía Tây giáp với Thái Bình Dương. Phía Đông tiếp giáp với biển Caribe.

21. El Salvador

+ Tên quốc gia: Cộng hòa El Salvador

+ Thủ đô: San Salvador

+ Diện tích: 21.041 km2

châu mỹ gồm những nước nào

Châu Mỹ quốc gia và khu vực khi phân theo lục địa Trung Mỹ thì  El Salvador là nằm trong danh sách này. Với vị trí địa lý tiếp giáp với bờ biển Thái Bình Dương.

22. Guatemala

+ Tên quốc gia: Cộng hòa Guatemala

+ Thủ đô: Thành phố Guatemala

+ Diện tích: 108.889 km²

Guatemala là quốc gia thuộc Trung Mỹ. Do đó, khi trả lời câu hỏi châu Mỹ có bao nhiêu quốc gia thì Guatemala luôn nằm trong danh sách này. Đây là đất nước tiếp giáp với Bắc Mỹ, vùng Tây Bắc giáp với Mexico. Vùng Tây Nam giáp với Thái Bình Dương.

23. Honduras

+ Tên quốc gia: Cộng hòa Honduras

+ Thủ đô: Tegucigalpa

+ Diện tích: 112.492 km²

châu mỹ gồm những nước nào

Đây là quốc gia Trung Mỹ phía Tây tiếp giáp với nước Guatemala. Phía Tây nam tiếp giáp với El Salvador. Phía Đông tiếp giáp với Nicaragua. Phía Nam tiếp giáp với biển Thái Bình Dương. Khu vực phía Bắc giáp với vịnh Honduras.

24. Nicaragua

+ Tên quốc gia: Cộng hòa Nicaragua

+ Thủ đô: Managua

+ Diện tích: 129.494 km²

Danh sách các nước châu Mỹ thuộc khu vực Trung Mỹ gồm có nước Nicaragua. Đây là quốc gia dân chủ cộng hòa lớn nhất tại Trung Mỹ. Tuy sở hữu diện tích lớn nhất trong số các nước Trung Mỹ nhưng mật độ dân cư tại đây lại thuộc vào khu vực thấp nhất.

Cộng hòa Nicaragua tiếp giáp với nước Honduras ở khu vực phía Bắc. Phía Nam tiếp giáp với Costa Rica. Phía Tây giáp với biển Thái Bình Dương. Phía Đông giáp với biển Caribe.

25. Panama

+ Tên quốc gia: Cộng hòa Panama

+ Thủ đô: Thành phố Panama

+ Diện tích: 75.417km2

châu mỹ gồm những nước nào

Quốc gia cộng hòa này có vị trí tiếp giáp với nước Costa Rica theo khu vực phía Tây. Phía Đông Nam tiếp giáp với Colombia. Khu vực phía Bắc và phía Nam tiếp giáp với biển Caribe và Thái Bình Dương.

Xem thêm: Châu Á có bao nhiêu nước? Danh sách các nước Châu Á đầy đủ nhất