Khổng Giáo Sẽ Vượt Qua Nổi Trào Lưu Hoàn Vũ Hóa Hay Không?
Lê Phụng

Trên tập san Pacific Affairs, bộ 75, số 1 năm 2002, Gilbert Rozman đặt và trả lời câu hỏi Can Confucianism Survive in an Age of Universalism and Globalization? Tuy không nói tới Việt Nam, những những điều Gilbert Rozman tŕnh bày trong chuyên luận trên dường như phản ánh phần nào hiện trạng tại Việt Nam. Thế nên ban điểm báo Truyền Thông xin giới thiệu cùng bạn đọc bài chuyên luận này trong chủ đề hoàn vũ hóa.

Trong khoảng hai chục năm cuối thế kỷ vừa qua tới nay, ai ai cũng nghĩ là Khổng Giáo đă tới thời tiêu vong. Những lề thói đă từng là đường lối suy nghĩ riêng tư hay sinh hoạt tập thể trong xă hội, tại Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn cũng như Đài Loan và Tân Gia Ba, thẩy đều thay đổi tận nền móng. Trước đó không lâu, những quốc gia kể trên đều tự hào về nền văn hóa mang mầu sắc Khổng Giáo của riêng ḿnh. Tại Nhật Bản có phong trào nihonjinron, một lư thuyết làm dân Nhật Bản kết hợp ư thức quốc gia với chủ thuyết Khổng Giá thuyết “làm dân Quốc có cao trào đông phương văn minh kết hợp Khổng Giáo với giáo điều của chủ nghĩa xă hội. Điều đáng để ư là tại Nhật Bản, Trung Hoa và Đại Hàn người ta dùng danh từ jukio, rujiao và yugo, nghĩa là Nho Giáo, thay v́  Khổng Giáo. Tiếp tới phong trào hoàn vũ hóa, với Tổ Chức Thương Mại QuốcTế, WTO, rồi vụ tranh đấu dân chủ hóa tại Nam Đại Hàn và Đài Loan, kèm theo vụ khủng hoảng thị trường chứng khoán, năm 1997-1998, tiếp tới vụ chống khủng bố hiện nay, giới nghiên cứu lại có nhiều người coi Khổng Giáo là không c̣n hợp thời với hoàn cảnh thực tại. Phái trí thức buộc tội Khổng giáo vẫn c̣n là gốc gác của thái độ chuyên chế quan liêu trên chính trường; giới kinh tế tài chánh cho rằêng Khổng giáo thiếu căn bản khoa học; giới xă hội học bài bác việc thâu tuyển người theo phe phái hơn là theo khả năng; phái hiện đại đ̣i hỏi sự tôn trọng nhân quyền. Trước t́nh trạng này, theo Gilbert Rozman, những cuộc tranh đấu trên đây chưa chấùm dứt. Trước khi mang an táng Khổng Giáo, tác giả đề nghị xét lại một lần nữa những lư do khiến Khổng Giáo đă từng có hàng ngàn năm cực thịnh rồi suy thoái; bỗng bùng cao rồi sớm lụi; và trong tương lai Khổng Giáo sẽ ra sao?

Trong quá khứ, Khổng giáo là một nếp sống, là trật tự xă hội, là chủ thuyết trị quốc và là quốc giáo. Tại Trung Quốc cho tới triều nhà Thanh, Tại Nhật Bản cho tới thời Tokugawa, tại Đại Hàn cho tới thời Choson, Khổng giáo là khuôn vàng thước ngọc cho người Quân Tử, người Vơ Sĩ Đạo tu thân, tề gia, trị quốc và và b́nh thiên hạ. Tới khi người Âu Mỹ tới Đông Á, Khổng giáo mất thế độc tôn, nhưng vẫn c̣n được tôn trọng trong nếp sống gia đ́nh, trong việc giao hảo ngoài xă hội, trong việc giáo dục tại học đường và cả trong việc doanh thương. Khổng giáo không c̣n là phép trị nước, là đường lối ngoại giao, nhưng vẫn c̣n là yếu tố chỉ đạo trong đường lối quốc gia, như những h́nh tượng kinh Dịch trên lá cờ Nam Hàn. Trong phạm vi đại gia đ́nh vẫn c̣n sự tương thân tương ái chặt chẽ, đặt nặng vấn đề hiếu học, tôn trọng phụ quyền, và cùng gia tộc tiến tới trên mặt xă hội theo câu một người làm quan cả họ được nhờ. Trong xă hội, quan quyền tuy không c̣n là cha mẹ dân, nhưng vẫn được trọng vọng nể v́; ngưới già vẫn được coi là bậc bô lăo đáng kính trọng.  Khổng giáo tiếp tục suy thoái trước trào lưu hiện đại, rồi tới những năm thế chiến thứ hai với chế độ quân phiệt tại Nhật Bản, cuộc chiến quốc cộng tại Trung Hoa và sau đó là triều đại xă hội cộng sản. Tại khắp nơi trên toàn cơi Đông Á, trên mặt ngoài Khổng Giáo như hoàn toàn lui vào lăng quên. Tuy nhiên dưới mặêt ngoài đó, nếp sống của người Á Châu dường như rất it thay đổi . 

Tới cuối thập niên 60-70, đà tiến triển kinh tế kỹ nghệ cực mạnh tại Nhật Bản được giới nghiên cứu cho là nhờ tổ chức xă hội Nhật Bản đặt trên Khổng Giáo. Trong thập niên 80, Đài Loan tự coi là quốc gia độc nhất c̣n tôn sùng Khổng Giáo. Tân Gia Ba, tới thập niên 80-90, vẫn giữ lề thói Khổng Giáo. Nề nếp Khổng Giáo thấy rơ trong những bộ dân luật, dầu có thay đổi, nhưng sự thay đổi đó so với các nước Âu Mỹ thời quả là chưa đáng kể. Tinh thần gia tộc vẫn tồn tại khiến nền kinh tế, nhất là trong phạm vi kinh tế nông nghiệp, bị cầm chân trong những cải tiến rất dụt dè, mặc dầu đă có một số hăng lớn đạt tới tầm vóc quốc tế. Các cơ sở kỹ nghệ lớn vẫn c̣n đ̣i hỏi nhân công  trung thành với chủ, đặt quyền lợi của hăng cao hơn quyền lợi nhân công. Chế độ thi cử thay đổi theo nhu cầu giáo dục hiện đại, nhưng các kỳ thi tuyển vào các trường đại học lớn, nhất là tại Nhật Bản, và Trung Quốc làm người ta tưởng như chế độ thi hương thi hội thời Khổng Giáo cực thịnh như vẫn c̣n đương tiếp diễn. 

Phong trào dân chủ tại Đông Á bùng khởi sôi nổi tại Trung Quốc sau cuộc cách mạng của Trung Hoa Quốc Dân Đảng, khiến nhiều người đă tưởng là Khổng giáo không c̣n chỗ đứng từ đầu thế kỷ XX. 

Nhưng rồi tới cuộc chiến tranh quốc cộng. Trung Hoa Lục Địa thành nước Cộng Ḥa Nhân Dân và phe quốc gia rút ra đảo Đài Loan vói thể chế Cộng ḤaTam Dân Ngũ Quyền. Nhưng cả hai chế độ Cộng Ḥa này cùng triệt để tôn sùng cá nhân: người ta tung hô Mao chủ tịch muôn năm cũng như Tưởng thống chế muôn năm chẳng khác ǵ khi xưa tung hô Hoàng Đế VaÏn Vạn Tuế. 

Nh́n rộng hơn khắp Đông Á, các chính quyền tư sản, quân phiệt rồi cộng sản nối nhau hứa hẹn mang lại thịnh vượng quốc gia, cơm ăn áo mặc cho dân chúng trong xuốt thế kỷ thứ XX. Thế nên thế kỷ vừa qua có thề coi là thế kỷ giải thể khổng giáo. Khắp Đông Á, vào thời kỳ thế chiến thứ nhất, Trung Quốc Đại Hàn theo nhau lật đổ các triều đại quân chủ theo Khổng Giáo. Tại Nhật Bảïn tuy chế độ quân chủ c̣n tồn tại, nhưng Nhật Hoàng không c̣n quyền hành trong tay. Sau khi chế độ thi cử do triều đ́nh tổ chức bị loại bỏ, giới trí thức Khổng Giáo cũng tàn lụi, tuy nhiên những ông nghè ông cử vẫn c̣n được trọng vọng trong chính quyền cũng như ngoài xă hội. Tại Nhật Bản, trong thời gian cải tiến theo trào lưu kỹ nghệ Âu Mỹ, một cuộc cải tiến xuất phát từ nhà nước, giới cựu học, dầu thiếu đầu óc dân chủ, giữ nguyên lề thói phe cánh, tuy nhiên công cuộc cải tiến vẫn có kết quả tốt đẹp. Tại Trung Quốc cuộc cải tiến dân chủ gặp rất nhiều khó khăn v́ Trung Quốc quá lớn và giới trí thức chuyên gia quá hiếm hoi, đồng thời cuộc chiến Trung Nhật bắt đầu. Đại Hàn chưa kịp cải tiến thị bị Nhật Bản chiếm đóng.

Giữa hai thế chiến, và từ sau thời kỳ kinh tế khủng hoảng, thế giới đă bắt đầu có chuyển biến theo trào lưu toàn cầu hóa. Tuy nhiên việc động viên dân chúng theo trào lưu hiện đại hóa, dường như đi ngược với trào lưu toàn cầu hóa. Đồng thời trong giới lănh đạo có nhiều người theo tư tưởng tự do và xă hội. Đó là cơ hội để phái cựu học Khồng Giáo lấy lại ưu thế chống phái theo tư tưởng Âu Mỹ. 

Từ sau thế chiến thứ II, Hoa Lục sống dưới chế độ cộng sản, và vốn là vùng kỹ nghệ chậm tiến, nên tiếp tục chủ trương hiện đại hóa với Bước Nhẩy Vọt, với Cách Mạng Văn Hóa, tất cả đều hướng vào việc giải thể Khổng Giáo. Tuy nhiên, chính quyền cộng sản không tạo ra nổi một nền xă hội dân chủ cân bằng, và biến thể thành độc tôn chính trị, tương quan giữa nhà nước với dân chúng trở thành mối tương quan theo truyền thống mới, không mấy khác biệt với chế dộ phụ mẫu chi dân ngày trước. Cho tới khi Mao Trạch Đông qua đời, t́nh cảnh người dân Trung Quốc tại nông thôn không có ǵ đổi mới đáng kể, măc dầu tương quan gia tộc không c̣n, măc dầu phụ quyền có giảm bớt nhưng vẫn c̣n tồn tại Trong làng xóm, do chế đệ công an kiểm soát chặt chẽ, vẫn làng nào nuôi làng nấy như xưa. Tóm lại nhà nuớc Trung Quốc chủ trương bài trừ Khổng Giáo, nhưng không có cách ǵ thực tế để thay thế, tạo nên một cuộc hiện đại hóa thiếu cân bằng, do đó trở thành một chứng ngại cho trào lưu toàn cầu hóa.

Tại Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan và Tân Gia Ba, đời sống kinh tế và chính trị mở rộng lối cho việc gia nhập trào lưu toàn cầu hóa. Tại cả bốn địa phương, trong suốt ba thập niên từ 1950 tới 1980 trào lưu hiện đại hóa đă tiến triển vượt bực. 

Nhờ những bước tiến vững chắc trên địa hạt kỹ nghệ, đạt được từ trước thế chiến II, lại có việc Mỹ chiếm đóng và toàn thể dân Nhật Bản phấn khởi theo trào lưu dân chủ, nên Nhật Bản càng tiến xa hơn các quốc gia khác trong cơi Đông Á. Bộâ dân luật theo Khổng Giáo được thay thế bằng luật mới bảo đảm sự b́nh quyền. Tuy nhiên cuộc cải cách này vẫn là một cuộc cải cách từ trên đi xuống và do chính quyền chiếm đóng chủ trương, đề cao vai tṛ của bộ kinh tế và các cơ sở nhà nước khác, khiến cho cuộc cải cách này vẫn giữ nguyên lề lối Khổng Giáo cố hữu. Mọi việc đều trông vào nhà nước, công nhân trong các hăng tư việc làm suốt đời với hăng; trong thị trường nhân công việc tôn trọng thâm niên vẫn c̣n duy tŕ; trong gia đ́nh con cái vẫn phải theo sau cha anh những người  mang tiền lương về nuôi gia đ́nh. Nhờ có kỷ luật cứng rắn, nhờ tŕnh độ giáo dục mỗi năm một cao hơn, nhờ đặc quyền xuất cảng sang Hoa Kỳ, một thị trường rất lớn, rồi tham gia vào kỹ nghệ sản suất quốc tế, đồng thời hạn chế nhập cảng để tránh sự xâm nhập của ngoại quốc vào thị trường Nhật Bản, ngoài ra không phải duy tŕ một quân đội hùng mạnh, khiến Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế trong trào lưu hiện đại hóa. Nhưng không thực sự thích hợp với đà tiến triển theo chiều hướng toàn cầu hóa. Chủ trương phe nhóm, làm suy giảm đà tiến triển kỹ nghệ. Lề thói phe phái tạo nên nỗi bất công trong việc áp dụng luật pháp, trong việc thuyên chuyển chuyên viên  tới các nhiệm sở then chốt, hoặc cho nhân viên về hưu, cùng sự phụ thuộc vào chính quyền địa phương, gây nên nạn tham nhũng, sự che dấu những điểm yếu kém của kinh tế. 

T́nh h́nh tại Nam Hàn cũng tương tự, cho tới năm 1987, chính phủ Nam Hàn liên tiếp là những chính phủ do quân nhân nằm quyền, nạn phe phái theo địa phương c̣n năïng hơn tại Nhật Bản. Ngay cả giới sinh viên, thành phần cấp tiến nhất của xă hội Nam Hàn vẫn c̣n nhiều phe cánh thiên về việc bảo vệ truyền thống Khổng Giáo. Thực trạng này khiến sự tiến bộ dân quyền không đi đôi với triến bộ kỹ nghệ.

Nh́n từ ngoài, người Đông Á coi hiện tượng kỷ nghệ bành trướng theo đà hiện đại bắt nguồn từ ḷng tôn sùng Khổng Giáo. Nh́n từ trong dân chúng, ngay tại Nhật Bản, ngưởi thợ vẫn cảm thấy hố cách biệt giữa người giầu kẻ khó càng thêm sâu rộng, điều kiện sinh sống c̣n ở xa đằng sau các nước Tây phương, và nhất là không được tự do phát triển tài năng. Thêm vào đó là những vụ tai tiếng hối lộ bị phanh phui. Sự tiến bộ trong kỹ nghệ càng cao th́ ư muốn có một nền dân chủ thực sự càng lớn. Phong trào đấu tranh dân chủ tại Đại Hàn lại càng sôi nổi hơn, dầu chính phủ quân nhân không c̣n nắm quyền. Tại Trung Quốc có nhiều cố gắng dung ḥa giáo điều cộng sản với trào lưu đổi mới, nhưng nạn tham nhũng vẫn là một mối đe dọa lớn.Tại Đài Loan có phong trào xét lại mối tương quan với Hoa Lục. Những vụ khủng hoảng này đều có tính cách ngắn hạn, nhưng đều có ảnh hưởng không mấy tốt đẹp cho trào lưu toàn cầu hoá. 

Tại Nam Hàn, từ năm 1997, Qũy Tiền Tệ Quốc Tế, IMF, trở thành mục tiêu của phong trào chống Toàn Cầu Hóa. Chủ chương giới hạn dân chủ và đà tiến hoá theo chiều hướng toàn cầu hóa khơi thêm mối bất b́nh của dân chúng và đồng thời khiến Nam Hàn không đạt nổi tiêu chuẩn do Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế, WTO, đề ra, và không bắt kịp đà tiến triển về kỹ thuật tin học của các nước tân tiến. 

Giới nghiên cứu đặt câu hỏi: sau cả thế kỷ giải thể, hiện t́nh Khổng Giáo tại Đông Á ra sao?

Trong phạm vi kinh tế, tại Trung Quốc, việc kết hợp thành cơ sở loại đa quốc gia, multinational, vẫn c̣n gặp nhiều trở ngại, và đa số cơ sở công kỹ nghệ vẫn c̣n là những cơ sở do một gia đ́nh làm chủ. Tại Nhật Bản và Đại Hàn việc công nhân làm trọn đời với một hăng vẫn c̣n tồn tại trong nhiều hăng. Trào lưu toàn cầu hóa đe dọa xóa bỏ những lề thói này.

Thương trường theo nề nếp Khổng Giáon hiện nay có nhiều diểm mâu thuẫn. Tại Nam Hàn nhiều thương cuộc vẫn c̣n trong tay của một chaebol, hay chủ nhân ông, và phụ thuộc năng nề vào nhà nước. Tại Nhật Bản, bắt đầu có việc quản trị tập thể, không c̣n phụ thuộc nhưng vẫn dựa theo sự hướng dẫn của nhà nước. Tại Đài Loan, ảnh hưởng của nhà nước bắt đầu thu hẹp, nhưng c̣n phụ thuộc vào màng lưới bang phái. Tại Hoa Lục và Hương Cảng t́nh trạng thương trường không mấy khác tại Đài Loan và đồng thời hăy c̣n nhiều lệ thuộc vào chính quyền địa phương. 

Tổ chức cơ sở thương mại kỹ nghệ như một cộng đồng rất hữu ích trong thời ky phát triển, v́ có thể giữ lương công nhân tại một mức tương đối thấp, và tránh được cảnh tranh đấu giữa chủ và nhân viên, để chuyên chú vào việc kiểm soát giá cả và phẩm chất. Mẫu mực này không c̣n có thể ứng dụng được khi đà phát triển kinh tế quốc gia chậm lại, việc tiến triển toàn cầu nhanh hơn, thị trường trong nước khó bảo vệ hơn, và nhân công muốn được đối xử tương xứng hơn. Không có nghiệp đoàn, công nhân Trung quốc không khỏi bị khai thác tàn tệ. Công nhân Đại Hàn cũng không khỏi cảm thấy bị khai thác v́ khi hăng bắt đầu đền bù cho công nhân sau hàng chục năm hy sinh cho sự tiến triển của hăng, th́ nay lại nghe hăng kêu gọi tiếp tục hy sinh để tham gia phong trào toàn cầu hóa. Tại Nhật Bản, giới công nhân trẻ mất tin tưởng ở cấp lănh đạo các cơ sở kỹ nghệ và thuơng mại.

H́nh ảnh Khổng Giáo trên mặt chính trị và xă hội thường biểu hiện qua lề thói quà cáp, trao đổi quyền thế. Lề thói đó, bảo vệ quền lợi riêng tư cho một vài cá nhân trong xă hội mệnh danh là dân chủ. Suốt thập niên 1990 nguời ta nói rất nhiều tới sự cải tổ cơ sở chính trị tại Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan. Kết qua ûcủa việc giải thể Khổng Giáo trong hai địa hạt này tới nay chưa biết kết quả ra sao. 

Phái chống đối Khổng Giáo nhận xét rằng, tại vùng Đông Á, hai trăm năm trước đây Khổng Giáo đă cầm chân phái tiền bộ theo hướng hiện đại. Ngày nay Khổng Giáo cũng cầm chân phái muốn cải tổ theo trào lưu toàn cầu hóa. 

Ngược lại theo phái suy tôn Khổng Giáo cho rằng cải tổ theo chiều hướng hiện đại và nhất là đường lối phổ biến văn hóa đại chúng ngoại quốc trong đám thanh thiếu niên làm hại nền móng truyền thống quốc gia. Thiếu nữ ngày nay, không chịu lập gia đ́nh sớm, theo học đại học, lập sự nghiệp riêng. Thanh niên bước vào thị trường nhân công đổi sở làm mỗi khi có dịp tốt khác với thế hệ cha anh. Văn hóa đại chúng thay đổi thang giá trị xă hội. Văn hoá truyền thống không c̣n khả năng hấp dẫn đám người trẻ. Hiện tượng giải thể Khổng Giáo trong đại chúng tiến tiển từ thành thị tới nông thôn qua các màng lưới truyền thông. Truyền thống Khổng Giáo chỉ c̣n có giới già tôn sùng. Giới trẻ nếu không bài bác th́ cũng thở ơ lănh đạm. Không những đa số dân chúng thờ ơ với Khổng Giáo, dân chúng c̣n phản đối việc áp dụng nguyên tác Khổng Giáo trong guồng máy chính quyền. 

Nh́n chung khắp các quốc gia Đông Á, giới nghiên cứu đề ra bốn điểm đă làm giảm uy tín Khổng Giáo. Một là phong trào quốc gia bột phát tại Đông Á khiến các quốc gia cạnh tranh ráo riết thay v́ liên kết v́ có chung một nguồn văn hoá. Hai là giới trẻ náo nức theo trào lưu toàn cầu hóa do ảnh hưởng của những tiến triển trong ngành tin học, information theory, và quay lưng về phía văn hóa truyền thống. Ba là trong trào lưu hiện đại hoá và toàn cầu hóa tỷ lệ sinh con suy giảm đi đôi với việc tôn trọng nữ quyền. Bốn là vụ khủng hoảng tài chánh tại Đông Á trong mấy năn gần đây. 

Mặc dầu những lư do trên đây, Khổng Giáo vẫn c̣n lợi khí củng cố quyền lực nhà nước của giới cầm quyền. Đảng cộng sản Trung Quốc vẫn dẫn sách Khổng Giáo trong việc bài trừ tham nhũng. Giới làm chính trị tại Nhật Bản dẫu không c̣n được đại chúng ủng hộ như trước nhưng vẫn c̣n thành công trong việc nhân danh Khổng Giáo duy tŕ truyền thống quốc gia. Phong trào tranh đấu dành nhân quyền tại Nam Hàn mất đà tiến triền, v́ không mang lại được những kết quả thực tiễn. 

Thử thách lớn lao trong việc cải tiến trong trào lưu toàn cầu hóa là một bài toán chưa thực sự có giải đáp. Trong giới lănh đạo có nhiều người muốn ứng dụng những phương pháp đă mang lại kết quả tại Âu Mỹ, như cải tổ luật pháp, phân quyền rơ rệt trong tổ chức nhà nước, và loại bỏ tinh thần phe phái địa phương trong sự tuyển bổ nhân viên. Trong đường lối trên, khó biết rơ phải ứng dụng truyền thống quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử ra sao. Phe đối lập, dựa trên mối tương quan yêu đó và ghét đó, love-hate giữa đại chúng và Khổng Giáo muốn duy tŕ đức độ của người cẩm quyền, theo nếp Khổng Giáo hơn là cải tổ theo chiều hướng phân quyền, kiểm soát thay v́ cởi mở đón mời các cơ sở thương mại kỹ nghệ ngoại quốc. Phe đối lập với chủ cương nói trên dường như đang thắng thế. Các cơ sở xuất nhập cảng Nhật Bản tổ chức theo lề lối này vẫn hiện đang sinh lợi. Các chaebol Đại Hàn đang thành công trong việc xuất cảng và đưa nền kinh tế Đại Hàn dần dần ra khỏi ảnh hưởng cuộc khủng hoàng tài chánh những năm 1997-1998. Chỉ c̣n Trung Quốc chưa đạt tới mức độ mong muốn v́ chỉ số kinh kỹ nghệ tăng tiến chưa trở lại mức tăng tiến trước cuộc khủng hoảng tài chánh. Đi xa hơn nửa, phe chủ chương duy tŕ Khổng Học đưa ra một đường lối toàn vùng hoá, regionalism, kết hợp tất cả những quốc gia có văn hoá chung một gốc Khổng Học: Trung Hoa, Nhật Bản Đại Hàn, Đài Loan, Tân Gia Ba, thành một vùng. Phái này chủ xướng rằng những quốc gia này có chung một truyền thống, do truyền thống chung đó không thể nhất thiết theo gương Âu Mỹ. Việc toàn vùng hoá tạo nên sức mạnh kinh tế cho khắp vùng và đồng thời c̣n duy tŕ được truyền thống quốc gia, ngăn chặn được sự thâm nhập của văn hóa đại chúng Âu My, đồng thời là một trường học kinh nghiệm cần thiết cho giới lăng đạo kinh tế trong táo lưi toàn cầu hóa. Chủ chương theo Khổng giáo, theo đúng hai chữ đại đồng của nhà nho không đi ngược với việc tôn trọng nhân quyền. Theo đúng hai chữ đại đồng này, là nâng cao quyền lợi nhân công đồng thời tránh được mối xung đột giữa chủ với thợ trong xă hội Âu Mỹ. Duy tŕ nề nếp Khổng Giáo là giữ được nề nếp gia đ́nh, là giữ được truyền thống hiếu học, hai điểm căn bản khiến người di dân Đông Á thành công khắp nơi trên thế giới so với nhiều sắc dân khác.

Sau hết, Khổng Giáo chính là một truết thuyết giúp cho người dân Đông Á tồng hơp được nhựng tập tục khác nhau và nổi nổi nhửng mối cạnh tranh về khác biệt nề nếp quốc gia giựa các nước trong vùng Đông Á. Điều cần thiết và cũng không dễ thực hiện là việc gạt bỏ đầu óc phe nhóm vả kỳ thị địa phương. Trào lưu toàn vùng hóa đă thành công tại Mỹ Châu. Trào lưu toàn vùng hoá đang bành trướng mạnh tại Âu Châu. Phải chăng Khổng Giáo sẽ c̣n tồn tại để làm nền móng cho công cuộc vùng hoá tại Đông Á?