Ven bờ Thái Bình Dương
Phạm Hữu Trác

... Nhân loại có ba cái hồ vĩ đại, cái hồ thứ nhất "Địa Trung hải" đã làm tròn sứ mệnh của nó. Cho đến thế kỷ 19 và 20 «Đại Tây Dương» đã là trung tâm hoạt động của loài người. Cái hồ thứ ba là "Thái Bình Dương" sẽ giữ địa vị tối yếu trong thế kỷ 21 của con. Hãy hãnh diện là nước con nằm trên bờ phía tây của chiếc hồ lớn lao này, nhưng cũng hãy suy tư về sự nghèo khổ của nước con so với các xứ khác chung quanh Thái Bình Dương ...
Trích "Viết cho con khi vào đời", Tập San Y Sĩ, số 90, tháng ba - 1987.

Đã qua nhiều thế kỷ, toàn cầu hóa thường đi một chiều, bề ngoài là khai hóa, mở mang tiến bộ, bên trong là xâm nhập thị trường các nước yếu kém, bành trướng thương mại kinh tế, áp đặt mô thức tây phương trên Á châu và Phi châu.

Bởi đó, một hướng đi ngược lại đang thành hình, nhắm mục tiêu bảo vệ chủ quyền kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như chính trị. Nhiều nước cùng chung tính chất địa lý, môi sinh, văn hóa, kinh tế, xã hội, đã kết hợp với nhau thành từng khu vực, tạo thế đứng trong tiến trình chung của toàn-cầu-hóa.

Trong bối cảnh đa dạng của đông bán cầu thế giới, gồm miền cực nam Thái Bình Dương mang mầu da trắng (Úc, Tân Tây Lan) và nhiều thổ dân hải đảo, miền đông Á châu dưới ảnh hưởng Khổng Mạnh, miền trung và nam Á theo khuyng hướng Phật, Ấn hay Hồi giáo, Á CHÂU THÁI BÌNH DƯƠNG đang vươn mình lên trong cố gắng trở thành sức mạnh cạnh tranh với Mỹ và Âu châu.

Bài viết dưới đây thâu thập tài liệu, tóm lược tình trạng trong vùng Á châu Thái Bình Dương trước những chuyển mình nội bộ và tương quan thế giới.

Tổ chức hợp tác kinh tế APEC (Asian Pacific Economic Cooperation) thành hình năm 1989 tại Canberra, khởi đầu chỉ có 12, hiện nay lên đến 21 nước: Australia, Brunei Darussalam, Canada, Chile, China, Hong Kong, Indonesia, Japan, Repubic of Korea, Malaysia, Mexico, New Zealand, Papua New Guinea, Peru, Philippines, Russia, Taipei, Thailand, United States, Vietnam. Ở đây xin mở dấu ngoặc để nhắc đến ASEAN (Association of South East Asian Nations), tổ chức quy tụ hai nhóm, một là khối ASEAN khởi thủy có tính cách chống cộng, thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 tại Bangkok, gồm có 5 nước Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thailand, nhóm thứ hai mới gia nhập, gồm ba xứ Đông Dương (Việt, Mên, Lào), Brunei Darussalam và Miến Điện (Myanmar).

Trở lại APEC, với dân số 2 tỷ người, trao đổi thương mại quốc tế 46%, sản xuất 60% dịch vụ và hàng hóa thế giới, tổng sản lượng lên tới 12 ngàn tỷ Mỹ kim, tiếp nhận 25% đầu tư thế giới, trao đổi thương mại trong vùng 65%, câu hỏi đặt ra là những nước chung quanh Thái Bình Dương nầy sẽ giữ vai trò nào, diễn biến ra sao trong tương quan với các thế lực hoàn cầu? Đó là vấn đề được nghiên cứu nhiều trong những năm gần đây, nhất là từ khi bước sang thế kỷ 21.

*

Chiến tranh lạnh chấm dứt do sự thắng thế của kinh tế thị trường trên chế độ kinh tế chỉ huy của khối sô viết. Sự kiện này đã đưa đến tình trạng thế giới phải biến đổi thể chế toàn trị sang chế độ dân chủ để phát triển tiến bộ, cải tiến kinh tế xã hội, tránh suy xụp. 

Vùng Á châu Thái Bình Dương bỗng trở nên phồn thịnh. Hàng ngày các cơ quan truyền thông nhắc đến những con rồng lớn, Nhật, Đài Loan, Đại Hàn, Hồng Kông, Tân Gia Ba, và rồng con, Thái Lan, Nam Dương, Mã Lai, Việt Nam...

Theo Toyoo Gyoten (a), phép lạ Á châu phát nguyên từ ba hiện tượng quan trọng, ràng buộc và bổ túc lẫn nhau trong tiến trình toàn-cầu-hóa :

* Phong trào dân chủ hóa trên thế giới tiếp theo sự thắng thế của kinh tế thị trường.

* Sự bành trướng của của khoa tín học.

* Đầu tư của tư bản dồn vào Á Châu.

- Phong trào dân chủ hóa sau khi kết thúc chiến tranh lạnh được mệnh danh là đợt dân chủ hóa thứ ba của thế giới (b). Đợt dân chủ hóa này bắt đầu từ thập niên 1980, từ Âu châu sang các nước thuộc khối La tinh, sau đó từ Đông Âu sang Á châu và Phi châu. 

Đã có ba hình thái chuyển biến dân chủ,

. thay thế, khối đối lập loại bỏ chính quyền chuyên chế và thiết lập chế độ dân chủ.

. cải tổ, nhóm tiến bộ trong chế độ đương quyền thay thế độc tài và thiết lập chế độ dân chủ. 

.chuyển hóa, nhóm cầm quyền hợp tác với đối lập tiến bộ thành lập chế độ dân chủ mới.

Trong một công trình nghiên cứu khoa học, Doh Chull Shin và Junhan Lee (c) đã phân tách các cuộc vận động dân chủ hóa tại Á châu và Âu châu hậu cộng sản, so sánh cách chuyển hóa dân chủ của các nước căn cứ trên ba tiêu chuẩn, (1) tổ chức chính quyền, (2) dân quyền và tự do, (3) chí hướng của quần chúng về dân chủ và chống đối độc tài.

Tại Á châu trong đợt dân chủ hóa thứ ba này chỉ có 9 nước đã chuyển sang chế độ dân chủ, đó là : Bangladesh, Indonesia, Mông Cổ, Nepal, Pakistan, Phi Luật Tân, Nam Hàn, Đài Loan và Thái lan (Ghi chú: Pakistan gần đây lại trở lại chế độ quân phiệt). Cùng thời kỳ này, tám nước Đông Âu: Albania, Bulgaria, Tiệp Khắc, Slovakia, Đông Đức, Hungary, Balan, và Roumania, và bẩy sô-viết nguyên thuộc khối Liên Sô chuyển hóa thành dân chủ: Estonia, Cộng Hòa Kyrgyz, Latvia, Lithuania, Moldovia, Nga và Ukraine. Tổng cộng có tất cả 15 nước thuộc khối cộng sản và 9 nước Á châu chuyển mình dân chủ trong đợt dân chủ hóa thứ ba của thế giới bắt đầu từ thập niên 1980.

Để chấm điểm cho các nước tân dân chủ này, Doh Chull Shin và Junhan Lee, đã dùng tiêu chuẩn của viện nghiên cứu International Institute of Democracy and Electoral Assistance in Stockholm và của Freedom House in New York để tính chỉ số tự do cho các nước mới gia nhập gia đình dân chủ (thang điểm trong niên khóa 2000-2001, tính từ 1 đến 7, một là trình độ dân chủ cao nhất, bẩy là trình độ dân chủ kém nhất) 

Chỉ số điểm cho chín nước Á Châu: 

Bangladesh 3,5
Indonesia 3,5
Mongolia 2,5
Nepal 3,5
Pakistan 5,5
Philippines 2,5
South Korea 2,0
Taiwan 1,5
Thailand 2,5
Trung bình 2,97

Theo bản chiết tính này, trong số 9 nước Á châu mới bước vào đường dân chủ đợt ba, chỉ có 5 nước có tự do khả quan (nhỏ hơn 2,6), 3 nước tự do tạm (giữa 2,6 và 5,5), một nước chưa có tự do (Pakistan = 5,5)

Đối với 15 nước Đông Âu, chỉ số điểm chỉ tính trong niên khóa 2000 - 2001 như sau:

Albania 4,5
Bulgaria 2,5
Czech 1,5
Đông Đức 1,5
Estonia 1,5
Hungary 1,5
Kyrgyr 5,5
Latvia 1,5
Lithuania 1,5
Moldova 3,0
Poland 1,5
Romania 2,0
Russia 5,0
Slovakia 1,5
Ukraine 4,5
Trung bình 2,6

Mười nước có chỉ số nhỏ hơn 2,6 được xếp loại có tự do, bốn nước dưới 5,0 coi là tự do tạm, riêng Kyrgyr, với chỉ số 5,5, chưa được công nhận có tự do.

Những nhận xét sau đây có thể rút ra từ công trình khảo sát của Doh Chull Shin và Junhan Lee :

. chuyển biến dân chủ dễ thực hiện ở những nước có dân trí cao.

. muốn duy trì dân chủ, cần có một ý thức trách nhiệm của quần chúng.

. trong số 10 quốc gia Đông Nam Á, 5 nước Cambodia, Lào, Việt Nam, Brunei và Miến Điện chưa có dân chủ tự do.

Sẽ có thêm những nước nào tiếp nối trong đợt dân chủ hóa thứ ba của thế giới, đáp số tùy thuộc ở dân trí và lòng mong mỏi cầu tiến của người dân.

- Yếu tố quan trọng thứ hai là sự quảng bá của khoa tin học. Trong 20 năm vừa qua, tin học bành trướng, thu thập dữ kiện, khai triển, truyền bá, phân phối, vận tốc vượt không gian nhờ có vệ tinh, internet, điện thoại, điện thoại lưu động v.v... Hiện tượng này đã biến cải sinh hoạt, giá trị đời sống tại nhiều nước Á châu.

Không những tiến bộ của kỹ thuật tin học đem theo phát triển kinh tế, sản xuất, quản trị, mậu dịch, tài chánh, thị trường, mà quan trọng hơn, tin học thay đổi bản chất và cách thế quản trị xã hội. Trước kia các dữ kiện ít được phổ biến, chính quyền và các tổ chức quản trị mặc tình thao túng, độc quyền này cho phép các chính phủ và các công ty rảnh tay áp đặt các chính sách riêng của họ trên quần chúng. Ngày nay nhờ có tin học, người dân đóng thuế, kẻ mua chứng khoán, cử tri, người làm công, người tiêu thụ được thông tin đầy đủ, có thể có ảnh hưởng ngược lại giới lãnh đạo, bắt buộc chính quyền phải chú ý đến sự hiểu biết và lòng mong mỏi của người dân.

Một lợi điểm khác cần nhắc đến, tiến bộ của thông tin học như internet, email, là khí giới mạnh động viên hàng ngàn người trở nên có thiện cảm, chấp nhận giá trị hữu ích của toàn cầu hóa.

- Cuối cùng là hiện tượng tư bản ào ạt đầu tư vào Á châu.

Tư bản lưu thông mạnh, hoàn toàn biến đổi bản chất vả điều hành thị trường tiền tệ quốc tế, ảnh hưởng không những về lượng và còn về phẩm. Mỗi ngày một nửa số tiền tệ quốc tế đổi từ tay người này sang người khác. Phép lạ Á châu xuất hiện từ đây.

Sự xâm nhập của các cơ quan tài chánh Hoa kỳ giúp cho thị trường kinh tế tài chánh lưu thông, đồng thời đưa đến một cách thức kinh doanh mới tại các nước đang mở mang. Những nhu liệu cần thiết của kỹ thuật như kế toán, kiểm tra , luật lệ, thủ tục tố tụng, v.v...tất cả đều theo mô thức Hoa kỳ. Các cơ quan quốc tế áp lực các nước đang mở mang mở cửa thị trường tài chánh cho người ngoại quốc nhập cuộc.

Một cách khác, chiều hướng đầu tư trở thành một hình thức toàn cầu hóa hữu hiệu, thu gọn thị trường thế giới trong một khối tiền tệ duy nhất. Hiện tượng này đóng góp vào sự bá quyền của chính sách tài chánh Hoa Kỳ trên thị trường thế giới.

*

Nhìn lại vài thập niên cuối của thế kỷ 20, toàn cầu hóa đã dẫn đến hiện tượng phồn thịnh tại Á châu, hướng tiến đang có vẻ vững vàng, tưởng rằng diễn biến sẽ không ngừng và chẳng bao giờ lui. Người ta đã tưởng rằng những con rồng con không sớm thì muộn cũng sẽ gia nhập gia đình rồng mẹ, thì những biến cố xẩy ra vào cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 đã khiến cho những lạc quan phải dừng lại. Đó là :

. cuộc khủng hoảng thị trường chứng khoán 1997

. biến cố 11 tháng 9 năm 2001

. bệnh dịch SARS

. những cuộc chống đối hoàn cầu hóa.

- Cuộc khủng hoảng tài chánh Á châu 1997 bất chợt xảy đến như một cái thắng trên sự phát triển của toàn vùng. Theo Toyoo Gyohten các lầm lỗi về kế toán, kiểm soát, sự thiếu minh bạch và tham nhũng là những yếu tố gây ra cuộc khủng hoảng thị trường. Khiến cho Đông Á đang đếm những ngày cải cách khó khăn. 

Tương lai trở nên vô định, vô lường do trì trệ kinh tế và các đe dọa khủng bố. Tuy Thái Bình Dương có tiềm năng kinh tế, nhưng tình trạng xã hội, chính trị, tôn giáo và lịch sử khác biệt. Rất khó mà thiết lập được tương quan chặt chẽ trong vùng, bởi vì không giống như tây bán cầu, thiếu một nước đứng đầu tầu, bá quyền như Mỹ để có thể lập thành một khối liên minh đồng dạng.

- Chưa kịp bình phục, thì cuộc khủng bố Nữu Ước 2001 tiếp theo, cuộc canh tân tài chánh và kinh tế lại khó khăn thêm. Các trao đổi thương mại kỹ thuật tin học trước đây phồng lên như bong bóng lại xẹp xuống. Nhiều nước phải xét lại chính sách phát triển lúc trước ưu tiên đặt vào kỹ nghệ tin học. Dĩ nhiên kinh tế Á châu ngưng lại và giảm đà tăng trưởng.

Tình hình an ninh chính trị cũng không khả quan. Nhiều nơi, các phong trào quốc gia, địa phương, tôn giáo nổi dậy. Những gì xẩy ra tại Phi Luật Tân, Mã Lai, Thái lan, Ấn độ, Pakistan là những va chạm giữa chính quyền trung ương và các nhóm dân địa phương, thiểu số, tôn giáo. Tình hình quân sự Nam Bắc Hàn, eo biển Đài loan, nhóm Hồi giáo Á châu tuy không khẩn trương, nhưng tiềm ẩn những tranh chấp đáng ngại.

- Cộng thêm với khủng bố quốc tế, suy xụp tài chánh, những thách đố khác của châu Á là môi sinh thoái hóa (d) do thiếu bảo vệ biển rừng, thiên tai, các di hại của dịch bệnh. Mỗi một giờ, bệnh truyền nhiễm giết chết 1600 mạng sống trên thế giới. Chứng bệnh này lan truyền theo người du lịch và theo hàng hóa vận chuyển. Căn làng bé nhỏ thế giới rất khó ngăn ngừa được sức bùng phát của bệnh hay lây.

Chứng bệnh AIDS chưa trừ được thì dịch bệnh SARS (hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng) xuất phát từ tháng 2 năm 2003 thêm một gánh nặng. Với tử vong cao khoảng 5%, và tình trạng suy nhược hô hấp của người mắc bệnh, SARS từ Quảng Đông lan tràn tới Hồng Kông, Singapore, Đài bắc, Hà nội chỉ trong vài tuần lễ, mặc dù APEC đã có một hệ thống thông báo phòng ngừa bệnh (e) lan tràn từ 1996 (Asia Pacific Emerging Infections Network và Declarations of 2001 và 2002). Trong lịch sử cận đại, chưa bao giờ Á châu Thái Bình Dương bị tổn hại nhiều đến thế. 

Hậu quả trên thương mại, kinh tế, du lịch, đầu tư không nhỏ. Thử lấy ví dụ Việt Nam, trong năm 2002, đã có khoảng 2 triệu rưởi người đến du lịch, đứng đầu là Trung Quốc, 630.000, rồi đến Đài Loan, Nhật Bản, Mỹ đứng thứ tư, khoảng hơn 200.000 người; năm nay dự trù xuống dưới 2 triệu so với ước tính 4 triệu người trước khi xẩy ra dịch bệnh. 

Không ai ngờ con vi trùng nhỏ bé có thể khuynh đảo cả một nền kinh tế!

- Tuy các phong trào chống đối toàn cầu hóa (anti-mondialisation) ở Á châu không mạnh mẽ như ở các nước tây phương, cũng nên nhắc tới hiện tượng có tính cách quần chúng này ở tây phương. Phong trào phản kháng toàn cầu hóa càng ngày càng thêm "toàn cầu hóa" và hình như không biết mệt mỏi. Từ Seattle, Dakar, Doha, Nice, Québec ... qua Davos, Montréal (7-2003) và Cancun tháng 9 sắp tới, những đoàn thể chống đối tích cực luôn luôn có mặt mỗi khi hội nghị thượng đỉnh G8 hay các bộ trưởng thuộc tổ chức thương mại thế giới họp. Nhận định một cách khách quan, họ có lý và chính nghĩa khi nhân danh nhân loại đòi hỏi:

- thực hiện kinh tế xã hội thay thế cho kinh tế thị trường

- bảo vệ thiên nhiên; theo họ biến hóa thực phẩm bằng di truyền học (OGM = Organistes Genétiquement Modifiés) có thể phân ly đời sống con người với luật tự nhiên. Cộng sản mác-xít với những sai lầm của Lyssenko, cuồng tín vào khoa học đã bị phá sản.

- thực hiện dân chủ trực tiếp. Họ ly khai với tả phái, chối bỏ bolchevik, không bước vào đường trường chinh vạn lý, không chống Mỹ, nhưng mang sự phản kháng các thế lực quốc tế đang khống chế nhân loại lên tầm mức toàn cầu. 

Bàng hoàng ít lâu sau vụ khủng bố 11-9, họ tỉnh lại vì nhận thấy biến cố này tiếp thêm sức mạnh cho chính kiến của mình, họ tiếp tục chối bỏ tự do thương mại của OMC, bênh vực thiểu số, tố cáo các tổ chức liên quốc đã "bắt cóc đời sống con người". Họ đòi giải phóng khỏi vòng vây của tài phiệt.

Có triển vọng nào, nhân danh người nghèo, công dân các nước Á châu theo con đường của họ. Đến bao giờ cách thức tranh đấu của những công dân tại các nước giầu truyền sang thế giới thứ ba trong vùng Đông Nam Á. Đáp số có lẽ sẽ tìm thấy khi có đợt dân chủ hoá thứ tư? 

*

Nhìn chung, có thể chia các nước thuộc APEC thành 5 nhóm : Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Úc-Tân Tây Lan (Euro-Asia), khối các quần đảo nam Thái Bình Dương (Polynesia, Melanesia, Micronesia), khối bờ phía tây Thái Bình Dương : Canada, Mỹ và Nam Mỹ.

Trong những thập niên sắp tới, khu vực địa dư đa diện này chắc còn phải chuyển mình theo tương quan quyền lực quốc tế đang vận động trong những năm gần đây.

- Đầu tiên hãy nói đến Trung Quốc. Trong vòng 20 năm nay, với thị trường 1,3 tỷ người, Trung quốc đã thành công đáng kể về kinh tế đến nỗi có tin tưởng lạc quan rằng Tàu sẽ vượt qua Nhật trong vòng vài thập niên nữa. Nhưng Trung quốc cũng còn nhiều khó khăn nội bộ, Khoảng cách giàu nghèo giữa các tỉnh ven biển và các tỉnh sâu trong lục địa, bất công xã hội, tham nhũng, môi trường suy hóa, quản trị bất năng của cơ quan nhà nước, vấn đề dân tộc thiểu số, nông dân. Để ổn định chính trị và làm lạc hướng các khó khăn nội bộ, chính quyền TQ cố vun đắp nền kinh tế, tăng lợi tức đầu người để người dân quên các vấn đề chính trị xã hội trong nước, nêu cao chiêu bài tự ái quốc gia, ước vọng hợp nhất. Nếu không thành công trong chiều hướng đó, liệu TQ có êm thắm thực hiện được mộng của mình trong hòa bình hay sẽ trở lại chính sách bành trướng, đương đầu với các nước khác. Không nên quên rằng nhà cầm quyền TQ không chấp nhận tư cách lãnh đạo thế giới của Mỹ và không chấp nhận quan niệm nhân quyền phổ quát của tây phương và tự do chính trị. Nói một cách khác, Trung Quốc lúc nào cũng ấp ủ tham vọng thiết lập một thể chế khác với chế độ dân chủ tây phương để chứng tỏ giá trị nền văn minh cố cựu của mình. 

Lo ngại vì ảnh hưởng của Mỹ sau chiến tranh Irak, nên Tầu càng nghiêng về đề nghị của Nga thiết lập một liên minh tam giác, gồm ba cường quốc nguyên tử Nga-Tầu-Ấn (f), với hy vọng tổ chức bao gồm 2,5 tỷ dân số này, có thể cân bằng thế lực tây phương. Đề nghị này do ngoại trưởng Nga Yevgeny Primakov nêu ra trong cuộc thăm viếng Ấn Độ năm 1999. Bản tuyên ngôn Vladimir Putin và Jiang Zemin ngày 16-12-2001 cũng theo chiều hướng đó và trong cuộc thăm viếng Bắc Kinh tháng 12-2002, Putin đã thúc đẩy thực hiện tam giác chiến lược này (theo báo Pravada ngày 02-12-2002). 

Gần đây bản tuyên ngôn chung giữa thủ tướng Ấn Atal Bihari Vajpayee và thủ tướng Trung Quốc ngày 23-6-2003 về phát triển hợp tác hữu nghị, trong đó công nhận Tây Tạng là lãnh thổ của Tầu có thể là nhượng bộ dò dẫm trong bước đầu.

Viễn quan về tương lai nước Tầu khó đoán. Có thể:

. Trung Quốc thất bại do những trở ngại kinh tế, xã hội và chính trị nội bộ, hậu quả dẫn tới phân tán và rối loạn.

. Trung Quốc thành công trong việc nâng cao mức sống ngang với tây phương, xã hội có cơ hội biến thành dân

chủ.

. Trung Quốc theo chủ nghĩa ái quốc cực đoan, bành trướng xâm lấn các quốc gia láng giềng và trong khu vực.

- Đồng thời với những cố gắng liên kết trục tam giác Nga Tầu Ấn, tin tức về việc Mỹ tái phối trí lực lượng tại Á châu càng ngày càng được chú ý. 

Theo tờ Los Angeles Times ngày 29-5-2003, Mỹ định chuyển 100.000 ngàn quân từ Đông Bắc Á xuống miền Nam Á và Úc châu để đối phó với tình hình mới. Chuyến du hành gần đây của thứ trưởng quốc phòng Mỹ Paul Wolfowitz và cuộc tiếp xúc của ông với International Institue for Strategic Studies tại Tân Gia Ba đã xác nhận kế hoạch này.

Những vụ khủng bố của phe hồi giáo cực đoan tại Nam Dương, Phi Luật Tân, Mã Lai chắc chắn sẽ xúc tiến công việc thực hiện. Việt Nam chưa cho Mỹ đóng quân, nhưng đồng ý cho Mỹ vào hải phận, và tin đồn sẽ cho Mỹ thuê hải cảng Cam Ranh thường được nhắc tới trên các bài bình luận thời cuộc.

Theo Tom Plate và Phar Kim Beng, cuộc phối trí quân sự tại Nam Á là ưu tiên hàng đầu để đối phó với tình hình mới; hiện nay Trung Quốc phải đối phó triền miên với kinh tế bấp bênh, các vấn đề xã hội chính trị nội bộ, hậu quả của dịch bệnh SARS, chưa dám có những phiêu lưu khác, không còn là đối thủ số 1 của Mỹ nữa.

- Sau cùng là một ý kiến mới do Toyoo Gyoten, chủ tịch Viện Kinh Doanh Tiền Tệ Quốc tế, nêu lên trong bài viết tháng 10-2001. Theo ông, vai trò của Nhật và Úc trong vùng Thái Bình Dương rất quan trọng, có thể cân bằng các lực lượng trong khu vực và trên thế giới, trục Nhật-Úc thành hình rất đúng lúc và sẽ mang lại hậu quả tốt.

Thứ nhất, Nhật có nền kinh tế lớn, chiếm 2/3 tổng sản lượng toàn vùng, viện trợ nhiều nhất cho các nước đang mở mang, Nhật không phải là cường quốc quân sự, nhưng đứng về phe Mỹ, vốn có ảnh hưởng trong vùng Á châu từ khi còn là đế quốc khai thác Á châu thế kỷ trước.

Thứ đến, Úc là một nước phồn thịnh do những trao đổi thương mại trong khu vựcThái Bình Dương. Tuy Úc cũng có những khó khăn nội bộ, va chạm ít nhiều với dân bản địa, nhưng Úc là nước dân chủ tự do, được coi là địa đàng của nhiều người, là hướng nhắm của các phong trào di dân.  Hơn 50 năm đã qua không có đụng độ đáng kể, Nhật và Úc là những người bạn không chung biên giới, kinh tế bổ túc lẫn nhau, hợp tác bình đẳng. Nhật Úc là một mô hình trưởng thành về kinh tế, dân chủ, có thể viện trợ các nước khác để phát triển, mà không có tham vọng bá quyền. Trước những bất trắc của tình hình Trung Quốc và các nước Á châu, cần phải có một trung âm kinh tế phồn thịnh và chính trị bền vững. Trục Tokyo-Canberra, đồng minh của Mỹ, sẽ là vai trò quan trọng trong việc gìn giữ hòa bình và ổn định trong vùng, trong khi các nước khác còn có nhiều vấn đề nội bộ, khó khăn mọi mặt, nhiều đối thủ bên ngoài và bên trong. 

*

Đã hẳn toàn cầu hóa không phải là sản phẩm cuối thế kỷ 20, nhưng từ khi chiến tranh lạnh chấm dứt, những biến chuyển toàn cầu quan trọng, như phát khởi trào lưu dân chủ hóa đợt ba trong lịch sử nhân loại, bành trướng thông tin học, tăng trưởng đầu tư và thương mại là những sự kiện chuyển hóa bộ mặt thế giới.

Hiện nay phần đông các chính phủ hợp tác với giới kinh doanh để chỉ phát triển kinh tế mà quên hẳn người dân là những kẻ tiêu thụ đã đóng góp phần chính làm giầu cho giới tư bản. Câu hỏi đặt ra là làn sóng toàn-cầu hóa có mang lại hạnh phúc cho con người, thăng tiến nhân loại hay sẽ đưa thế giới về đâu?

Mức sống xã hội giầu-nghèo ngày càng thêm cách biệt là nguyên nhân chính những phản kháng chính sách tư bản của các phong trào quần chúng nhân danh giá trị truyền thống của xã hội. Thêm vào đó, bản tuyên ngôn của Collegium International tại Genève tháng 5-2003 là một lời cảnh cáo của lương tâm loài người.

Toàn cầu hóa sẽ ca khúc khải hoàn ? Hay thế giới sẽ rẽ sang con đường khác?  Con vi khuẩn Quảng Đông SARS nhỏ li ti làm điêu đứng cả một tổ chức vĩ mô kinh tế, cuồng tín phá đổ tòa nhà thương mại vĩ đại song sinh tại Nữu Ước (World Trade Center) trong vài tiếng đồng hồ. Ấy là những suy gẫm đầu thế kỷ 21. 

Có phải loài người đang xây tháp Babel, Bá Biện, sau nạn lụt đại hồng thủy?

Chú thích

(a) Toyoo Gyohten, Chủ Tịch Viện Tiền Tệ Quốc tế thuộc Ngân Hàng Nhật bản.
(b) Đợt dân chủ hóa thứ nhất kéo dài một thế kỷ từ 1820, tới 1926 có 29 nước dân chủ. Đợt dân chủ hóa thứ hai từ sau thế chiến thứ hai, tới 1962 có 36 nước dân chủ. Đợt dân chủ hóa thứ ba từ 1980, lúc chiến tranh lạnh kết thúc, gồm các nước Đông Âu và Á châu.
(c) Doh Chull Shin giáo sư về chính trị đối chiếu thuộc đại học Missouri-Columbia. Junhan Lee giáo sư Chính Trị Học thuộc đại học Incheon, Đại hàn.
(d) Alan Oxley, Chairman of the Australian APEC Study Center.
(e) Infectious Diseases in the Asia Pacific Region : A Reason to act and Acting with Reason,Report on Strategy, APEC 9-2001


Tài liệu tham khảo

BLAGOV Sergei, Russia-China-India : An axis of denial, Asia Times Online, 2003.
BREVE, Le "triangle" Russie-Chine-Inde, 2002.
GÉNILAS Jacques B., La globalisation du monde, Écosociété, 2000.
FERRO Marc & Coll, Le livre Noir du colonialisme, Robert Laffont, 2003.
KIMBALL Ann Marie & PAUTLER Nedra Floyd, Lessons of SARS, Special APEC Report, May 2003.
KLEIN Noami Journal d'une combattante, Nouvelles du front de la mondialisation, Laméac Éditeur,2003.
LOSSON Christian & QUINTO Paul, Gén ération Seattle, Grasset, 2002.
MINC Alain, Epitres à nos nouveaux maitres, Grasset, 2002.
PHAR Kim Beng, The Pentagon's paradigm shift in asia, 2003.
PLATE Tom, Great Asian Redeployment, 2003.
TANAKA Toshiro & INOGUCHI Takashi, Globalism and Regionalism, Selected Papers, 1996.
TODD Emmanuel Après L'Empire, Gallimard, 2002.
YI Xiaoxiong, Russia,China, India- an axis of denial, times Recorder, 2003.