Trong khuôn khổ Truyền Thông số đăïc biệt Cố Đô Huế, ban điểm sách giớiù thiệu với bạn đọc hai bài viết của Đào Thái Hanh: một là bài Histoire de la Déesse Thai Dương Phu Nhơn, viết khi tác giả giữ chức Bí Thư Hội Đồng Nhiếp Chính hai là bài Kỳ Thạch Phu Nhân, viết khi tác giả giữ chức Tuần Vũ Quảng Trị, in trong số 1 tập san Bulletin des Amis du Vieux Huế, năm 1914. Hai bài viết này tăng thêm nét cổ kính của cố đô Huế một mầu sắc huyền hoăc biểu thị ḷng tin thần linh của người dân vùng Thuận An, thủa thần linh c̣n sống giữa người phàm. Đó là điểm mà nhân danh văn minh hiện đại ngày nay người ta đă xóa bỏ.
*
Truyện Nữ Thần Thai Dương Phu Nhân
Trước đây hai thế kỷ, trên bờ biển Thuận An có hai cửa sông, một là Cửa Eo ở địa phận làng Hoà Quân hai là Cửa Sứt trên đất làng Thai Dương Hạ.Cửa thứ nhất c̣n gọi tên là Thuận An Hải Khẩu là một cửa biển rộng, sâu và sóng lớn; cửa thứ hai không đủ sâu cho tầu bè ra vào. Vài năm trước ngày vua Gia Long lên ngôi (1800), Cửa Sứt bỗng mở rỗng hơn trước, nhưng tầu lớn vẫn không ra vào được. Măi tới năm Thành Thái thứ chín (1897) Cửa Eo bị phù sa lấp đầy, và Cửa Sứt bỗng thành sâu rộng đủ cho tầu bè qua lại như ngày nay. Chẳng ai hiểu v́ sao có sự thay ngôi đổi vị giữa hai cửa sông như trên, nên ai ai cũng tin là tại ư trời.
Từ cửa biển này, về phiá hữu mạn, khuất sau xóm chài có một ngôi chùa cổ, ba gian lợp ngói, dựng trên mỗt giải cát. Cửa chùa mở ra hương lộ, xế mé phải là Hành Cung, nơi xưa các vi hoàng tử dùng làm nơi dừng chân; một thời là ty bưu điện, và hiện nay bỏ trống; xế mé trái là Vọng Cung thờ đức Khổng Tử, xa hơn chút nữa chừng 500 thước là Hải Đài, dựng năm Minh Mệnh thứ bẩy (1834) nay là nhà nghỉ mát cho các nhân sĩ ra tắm biển.
Ngôi chùa cổ đó, dựng trên đất ấp Phú Ninh, làng Thái Dương Hạ, tổng Vĩnh Trị, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, kinh đô Huế, là nơi thờ Nữ Thần Thái Dương Phu Nhân.
Theo Truyền thuyết, xưa kia trong làng Thái Dương Hạ, có một người tên là Danh Bố, lương thiện, nhưng không cha không mẹ, không nhà, sống nghèo khổ, không có ngày mai với nghề chài lưới. Một đêm nọ, gió lớn mưa to, trời mưa tầm tă, biển động dữ dội, trời tối đen như bưng. Danh Bố không ra biển đánh cá được. Tới canh ba, biển lặng dần, mưa tạnh, Danh Bố muốn đi chài nhưng vẫn c̣n phải đợi nước triều rút. Đi men theo bờ nưóc, Danh Bố bỗng vấp phải một tảng đá, sóng đánh giạt vào băi. Ngắm nghía tảng đá hồi lâu, rồi Danh Bố đặt ḿnh xuống tảng đá ngủ say sưa. Trong giấc mơ, Danh Bố thấy một nữ thần y trang sang trọng hiện ra phán rằng:
- Ta là Thần Nữ Thái Dương, ngươi là kẻ nghèo khó tránh xa ta ra. Danh Bố chợt tỉnh mơ, thầm khấn:
- Nếu tảng đá này có Thần, xin Thần phù hộ cho tôi đánh cá được may mắn.
Lời Danh Bố cầu khẩn được thần linh chứng giám. Kể từ đêm đó Danh Bố đánh được rất nhiều cá. Chẳng bao lâu v́ đó mà thành người khá giả trong làng. Danh Bố dựng một mái lều tranh che tảng đá mà chàng coi như vị thần hộ mệnh. Hương chức trong làng, ngạc nhiên v́ cái may mắn liên tục của Danh Bố, gọi chàng tới căn vặn. Danh Bố thật t́nh kề lại việc chàng găp thần Đá. Hương chức liền đồng ḷng bỏ tiền đắp một ngôi miếu đất trên địa phận ấp Đồng Thái để thờ thần Đá. Từ đó nữ thần phù hộ cho dân làng. Khách buôn ra vào cửa biển cũng mang vàng hương hoa quả tới miếu cầu xin ơn lành.
Rồi một hôm có có chiếc thương thuyền Nhật Bản tới bỏ neo trong vịnh. Đoàn viên lên bờ xin nước ngọt. Ghé vào miếu và ngắm nghía tảøng đá thờ. Bỗng trong đám có người lớn tiếng:
- Trong khối cẩm thạch này có ngọc quư Phát Ngọc, giá đáng trăm thành. Bọn ta không nên bỏ lỡ dịp may.
Thế là cả bọn ḥ nhau chuyển tảng đá ra ngoài miếu, rồi một gă to lớn vung ŕu sắt chém mạnh vào tảng đá. Tảng đá vỡ vụn thành ngàn mảnh. Trong khi đồng bọn thi nhau nhặt Phát Ngọc, gă to lớn đă chém tảng đá bỗng ngă lăn xuống đất bất tỉnh, toàn thân cứng nhắc như xác chết. Nhặt hết ngọc xong xuôi, bọn khách buôn Nhật Bản khênh đồng bạn lên thuyền cấp cứu. Cả bọn vừa về tới thuyền th́ chiếc thuyền bỗng ch́m lỉm, mặêc dầu biển không hề có một đợt sóng, trời không hề có một ngọn gió. Và cả bọn khách buôn cùng ch́m sâu đáy nước. Người trong xóm chài vội chèo thuyền ra cứu đám khách buôn nhưng chẳng c̣n cứu được một ai. Già trẻ lớn bé chứng kiến cảnh chết chóc này, thẩy đều kinh hoảng nói không thành tiếng.
Qua cơn kinh hoảng, bô lăo họp nhau tại miếu, đóng một chiếc áo quan, sơn son thiếp vàng, rồi nhặt rồi nhặt từng mảnh đá vụn bỏ vào áo quan, rồi chôn áo quan trong một huyễt xây bắng gạch trong ḷng miếu. Dân làng lại thành tâm hương khói thờ phụng. Nữ Thần tiếp tục ban ơn giáng phúc phù hộ dân làng như trước.
Dưới triều Thần Tôn Hiếu Chiêu Hoàng Đế (1636-1648) việc tiếp tế cho quân nhà vua rất khó khăn, v́ việc tiếp liệu đều phải qua đường biển. Quân binh biên pḥng gần như lâm cảnh tuyệt lương. Triều đ́nh dùng thuyền buồm chuyển lương thực. Nhưng thiếu gió nên đoàn thuyền lương phải neo trong bến chờ cơ hội thuận tiện ra khơi. Triều đ́nh cử một vị đại thần tới miếu Thái Dương Thần Nữ cầu đảo. Tức thời trời nổi gió cho đoàn thuyền lương thuận buồm tiếp vận. Sau đó khi đoàn thuyền lương quay về tới kinh đô, nhà vua giáng chỉ phong tước Thái Dương Linh Ứng Đoan Thục Nhu Thuận Trinh Ưù Từ Huệ Ư Đức Cẩn Hạnh Phu Nhân Chi Thần, lại cấp tiền cho sửa miếu và hàng năm c̣n cấp thêm tiền cho việc hương khói thờ phụng.
Dưới triều Thái Tôn Hiếu Triết Hoàng Đế, tĩnh Thừa Thiên gặp nạn hạn hán liên tiếp trong nhiều tháng. Đất khô nứt nẻ, lúa chày năng không c̣n một gốc. Nhiều vị đại thần đứng ra cầu thần sông thần núi xin trời mưa cứu dân, nhưng cả mươi ngày sau trời vẫn không mưa một giọt. Đứùc vua cả giận phán cho các quan Bộ Lễ: "thu bài vị chư Thần, lấy lụa đỏ tróc quan Bộ Lễ: “thu nước lớn, và truyền cho chư Thần biết là nếu trong ba ngày nữa trời không mưa, thời đem bài vị ra luộc đoạn ném xuống sông, để tư hậu dân gian khỏi tốn của tốn công thờ phụng.?"
Các quan y chỉ thi hành. Hai ngày sau trời vẫn chưa mưa. Đêm đó, vị quan chấp hành lệnh vua, nằm mộng thấy một người cao lớn, vận triều phục, tay bị trói quặt sau lưng nài nỉ :
- Thần là Cao Các, ngày mai là mạn hạn vua ban, chư thần và tôi sẽ bị truất. Biết là không sao trái được lệnh vua, trong phận sự tâu lên Ngọc Hoàng mọi sự chuyển biến trong cơi trần này. Nhưng từ mấy ngày nay Ngọc Hoàng không cho mở cửa trời, khiến không ai có cách nào đạt đạo lên Ngọc Hoàng mọi việc xẩy ra dưới cơi trần đây. Riêng chỉ có Thái Dương Phu Nhân có quyền ra vào Thượng Giới và có thể cứu bọn chúng tôi. Vậy tôi xin quan ngài tâu lên Thượng Hoàng cho làm lễ cầu đảo Thái Dương Phu Nhân.”
Tỉnh mộng, vị đại thần tâu lên vua. Vua cử một vị đại quan bộ Lễ về miếu Thái Dương Phu Nhân cầu đảo. Chỉ trong chốt lát mưa tuôn xối xả, cứu cả vùng thoát nạn đồng khô lúa cháy. Vua nguôi giận ra lệnh cởi chói bài vị chư thần.
Sang triều nhà Nguyễn, lần nào cầu đảo tại miếu Thái Dương Phu Nhân đều cũng linh nghiệm. Hoàng Đế thăng phong là Thái Dương Linh Thạch Đoan Thục Nhu Thuận Tinh Ư Từ Tệ Ư Đức Cẩn Hạnh Phu Nhân. Miếu được cấp tiền tu bổ và hương khói hàng năm. Năm Gia Long thứ 12 (1813), miếu đươc xây lại bằng gạch. Sang đời vua Minh Mạng miếu được trùng tu lần nữa vào năm (1820). Một tấm bia đá kể công đức nữ thần đặt thêm trước cổng miếu. Triều đ́nh ban chức cho một bá hộ cùng năm người phụ quyền trông nom việc thờ cúng.
Dưới triều Dực Đức, trong vụ tấn công vào cửa Thuận An, ngày 18 tháng 8 năm 1883, toán quân của tướng Bouet và đô đốc Courbet đốt phá miều thần nữ, phá lăng lấy chiếc áo quan, đổ những mạnh vụn cẩm thạch trong quan tài xuống sông. Nhưng quân lính vẫn c̣n khiếp sợ oai linh và ít ngày sau phải rút ra khỏi miếu.
Năm Đồng Khánh nguyên niên (1886) giặc giă tạm yên, chức sắc trong làng Thái Dương Hạ, theo lời bóng thánh, cho người lặn xuống sông ṃ những mảnh cẩm thạch đặt cả vào một chiếc áo quan rồi lại táng xuống huyệt trong miếu. Cỗ áo quan này ngày nay hăy c̣n.
Năm Thành Thái thứ chín (1897) cửa Thuận An lại vỡ tại Cửa Sứt, nước tràn vào miếu, tấm bia bị lún xuống bùn. Dân làng cố chạy thoát thân, chẳng ai nghĩ tới di tích lịch sử. Rồi cả miếu cũng bị nước cuốn mất tăm... Theo sớ tâu ngày 14 tháng 12 năm thành thái thứ 9 (9 tháng Giêng 1898) Hoàng Đế chuẩn chi 300 quan để di chuyển miều và hàng năm cấp 26 quan dùng vào việc thờ phụng nữ thần.
Từ đó, miếu dựng trên đất ấp Phú Ninh, trong làng Thái Dương Hạ, như mô tả trên đây. Nền miếu cũ hay c̣n di tích trong ấp Đồng Thái, nhưng tới nay chưa t́m lại được tấm bia.
*
Truyện Nữ Thần Kỳ Thạch Phu Nhơn
Khách đi đ̣ dọc từ Huế ra Thuận An, tới ngă ba Hương Giang và Bồ Giang, thuộc xă Thanh Phước, huyện Hương Trà, thấy bên tả ngạn một ngôi miếu nhỏ, xây bằng gạch, thờ thần nữ Kỳ Thạch Phu Nhân.
Miếu chỉ có một gian, cửa mở nh́n xuống sông Thanh Phước. Đồ thờ có chân nến, bát nhang, mâm quả, tất cả đều bằng gỗ, đặt trên bệ thờ xây bằng gạch. Mặt trước bệ có gắn một phiến đá đen h́nh bán nguyệt, đáy dài 1,2 mét, cao 0,96 mét và dầy 0,23 mét, trên mặt khắc h́nh người và thú. H́nh khắc chia làm hai nhóm tách biệt. Nửa trên (xem phụ bản) chính giữa có h́nh người ngồi trên ṭa sen, vắt chéo chân, hai tay để trên đùi. Phía bên mặt là h́nh một con thú bốn chân, khó nhận ra là giống thú nào. Mé trái có năm h́nh người hai đàn ông hai đàn bà và một em bé. Hai người đàn ông tay cầm ly, hai người đàn bà tay cầm đàn. Nửa dưới cách nửa trên bằng một đường gẫy khúc, chính giữa là một toán người đều nhau dơ tay hướng về phía người ngự trên ṭa sen trong nửa trên. Tất cảø có hai muơi cánh tay, trong đó có bẩy cánh tay đeo ṿng, có thể coi là cánh tay phụ nữ. Nhưng tất cảø chỉ có bốn chân. Bên phải toán người này là một người có ba mặt, dưới đó là h́nh người bị trói. Sau hết bên phải là h́nh một con voi lớn với cái đuôi dài dựng đứng.
Người quen xem tranh có thể coi nửa trên là h́nh ảnh Thiên Đàng, nửa dưới là dương trần và địa ngục. nhưng khó biết được ư nghĩa thực của bức trạm.
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển 2, trang 40 chép sự tích Kỳ Thạch Phu Nhơn như sau. Ngày xưa có một người sinh tại làng Thanh Phước, huyện Hương Trà, sống bằng nghề kéo lưới bắt cá bên sông quanh làng. Một hôm anh ta anh ta thả lưới tại ngă ba sông Thanh Phước, th́ bỗng nhiên lưới nặng như gắn xuống ḷng sông, không sao kéo lên nổi. Lăn xuống xem, thí thấy trong lưới có một phiến đá. Anh ta gỡ lướùi đi tới khúc sông khác đánh cá.
Một đêm anh nằm mộng thấy một bá lăo tới bảo anh rằng:
- Ta là thần nữ, nếu ngươi kéo ta lên bờ, ta sè phù hộ cho ngươi.
Ngày mai, anh kể lại giấc mơ cùng mấy người bạn; họ giúp anh kéo phiến đá lên bờ. Họ thấy hai phiến đá vuông vức, to bằng chiếc chiếu, sắc đá xanh nhạt. trên mặt đá trăm h́nh người mặt thú, thẩy đều có hai mươi tay và bốn chân. Đám dân chài sợ hăi, cho là đá thần, ḥ nhau khêng ra một chỗ vắng dựng miếu thờ. Từ đó, nghề chài lưới phát đạt, cả làng cùng làm ăn khá hơn. Đến đầu triều nhà Nguyễn, hoàng đế phong tước Kỳ Thạch Phu Nhân Chi Thần để tưởng thưởng nữ thần phù hộ dân làng. Sau đó có nạn hạn hán, cỏø khô đồng cháy khắp vùng. vua phái một vị đại quan tới cầu đảo nữ thần. Lễ cầu đảo kéo dài quá hai mươi ngày, trời vẫn không mưa một giọt.Vị đại thần ra lễnh cho khiêng hai phiến đá ra khỏi đền và đặt bên bờ sông. Tới nưả đêm mưa đổ trắng khắp vùng. Sáng hôm sau dân làng thấy mất một phiến đá. Vua ra lệnh cho khiêng phiến đá c̣n lại vê đền để thờ cúng tạ ơn. Phiến đá thần đó ngày nay vẫn c̣n.