Quảng Nam
đă bị
Chúa Trịnh
nhượng
cho người
Ḥa Lan
Trần Gia Phụng

1.- TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG TRONG CHIẾN TRANH TRỊNH NGUYỄN

Cuộc tranh chấp quyền lực giữa hai họ Trịnh Nguyễn bùng nổ năm 1627 (đinh măo) v́ Săi Vương Nguyễn Phúc Nguyên (cầm quyền ở Đàng Trong 1613-1635) không chịu cho con ra Thăng Long chầu vua Lê và không chịu nạp thuế từ năm 1624 (giáp tư) theo đ̣i hỏi của chúa Trịnh.

Lúc khởi chiến, vua Lê và chúa Trịnh làm chủ vùng đất từ tả ngạn sông Nhật Lệ (nh́n từ nguồn xuống biển) trở ra bắc (nghĩa là từ Đồng Hới trở ra), c̣n chúa Nguyễn từ hữu ngạn sông Nhật Lệ xuống tới Phú Yên (nghĩa là từ Đồng Hới vào đến Đèo Cả giữa Phú Yên và Khánh Ḥa).(1) Tính về diện tích, lănh thổ chúa Trịnh rộng từ 2 đến 3 lần lănh thổ chúa Nguyễn. Cách biệt về dân số c̣n lớn hơn. Vào đầu thế kỷ 17, từ năm 1600 đến 1650, dân số ngoài bắc khoảng dưới 5 triệu người, trong khi dân số trong nam khoảng nửa triệu dân,(2) nghĩa là dân số trong nam bằng 10% ngoài bắc. Những số liệu nầy chỉ có tính cách tương đối, v́ lúc đó nhiều người dân không vào sổ hộ tịch để tránh sưu thuế và tránh tuyển lính, hoặc ở miền nam mới khai phá nên dân chúng sinh sống tản mác, không kiểm tra được. Dầu sao, dân số ngoài bắc đông hơn trong nam rất nhiều. Dân chúng là những người đóng thuế cho chính quyền. Sự cách biệt lớn lao về dân số miền bắc đối với miền nam cho thấy ngân sách chúa Trịnh ngoài bắc dồi dào hơn chúa Nguyễn ở trong nam. Hơn nữa, tổ chức đời sống ngoài bắc lâu đời, dân chúng giàu có hơn trong nam v́ trong nam chưa được mở mang là bao nhiêu.

Quân lực ngoài bắc chắc chắn đông hơn trong nam, nhưng con số không chính xác. Có tài liệu ước tính quân đội ngoài bắc khoảng 100.000 người, 500 voi, 500 chiến thuyền lớn trang bị 3 súng thần công mỗi chiếc.(3) Lực lượng trong nam ít hơn v́ dân số trong nam ít, quân đội lại mới được tổ chức. Sử gia Trần Trọng Kim ghi nhận quân số Đàng Trong khoảng gần 30.000 người.(4) Lúc đầu, quân đội trong nam gồm những người vừa là nông dân, vừa là thợ thủ công, vừa là binh sĩ, và được điều khiển bằng những quan chức là những người bà con thân thuộc theo Nguyễn Hoàng vào nam lập nghiệp. Đội tượng binh của chúa Nguyễn khoảng 200 con voi. Hải quân miền nam có khoảng 200 chiến thuyền, với một đội tuần hải kiểm soát bờ biển. Dọc bờ biển, chúa Nguyễn c̣n đặt nhiều tháp canh và những trạm tiếp liệu thức ăn, nước uống và sửa chữa tàu thuyền.(5) Theo bộ Đại Việt sử kư Toàn thư, khi ra Thăng Long năm 1593 và đem quân đi đánh dẹp loạn lạc, những khẩu thần công của Nguyễn Hoàng (1525-1613) đă tiêu diệt ngay các ổ kháng cự của loạn quân.( 6) Sách Thực lục tiền biên th́ ghi nhận rằng vào năm 1631, Săi Vương lập ty Nội pháo tượng và hai đội tả hữu pháo tượng gồm 100 người tất cả, làm việc thường xuyên hàng ngày để đúc súng. Mỗi khẩu đại bác dùng 12 khối sắt, 10 cân gang, một cây súng tay dùng 3 khối sắt, 3 cân gang.(7) Có tài liệu cho rằng lúc đó, chúa Nguyễn có được khoảng 200 súng thần công.( 8) 

Khi chúa Nguyễn từ chối không chịu đóng thuế và không chịu cho con ra bắc triều yết theo sắc mệnh của vua Lê do sứ bộ Lê Đại Nhậm đem vào tháng giêng năm đinh măo (1627), chúa Trịnh là Thanh Đô Vương Trịnh Tráng (cầm quyền 1623-1657) quyết định tấn công miền nam vào tháng 2 năm đinh măo (1627), rước vua Lê Thần Tông (làm vua lần thứ nhất 1619-1643) vào vùng sông Nhật Lệ trên danh nghĩa là để kiểm tra xem xét các địa phương,(9) nhưng trên thực tế là để đề cao chính nghĩa chính thống của chiến dịch tiến đánh miền nam. 

Chiến trường diễn ra ở bắc và nam vùng cửa sông Nhật Lệ. Bắc quân do Trịnh Tráng đốc chiến, Nguyễn Khải trực tiếp điều khiển. Nam quân do cháu của chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Vệ (con của Nguyễn Hán, anh thứ nh́ của Săi Vương) làm tiết chế, phụ tá là Nguyễn Hữu Dật. Con thứ tư của nhà chúa là Nguyễn Phúc Trung chỉ huy thủy quân tiếp ứng. Những khẩu thần công của nam quân đă chận đứng bước tiến của bắc quân, đồng thời tượng binh nam quân đă làm cho hàng ngũ bắc quân rối loạn. Trong lúc hai bên cầm cự nhau, tướng Trương Công Gia (sau được đổi thành Trương Phúc Gia) cùng tướng Nguyễn Hữu Dật bày kế tung tin nói phao rằng ở Thăng Long có Trịnh Gia và Trịnh Nhạc nổi lên tạo phản. Được tin nầy, Trịnh Tráng rất lo ngại. Bắc quân không phá được pḥng tuyến của nam quân mà lại bị cầm chân lâu ngày, nên Trịnh Tráng quyết định rút quân về vào cuối tháng 2 cùng năm.(10) Để canh chừng phương nam, năm 1631 (tân mùi) Trịnh Tráng cử con trai đầu là Trịnh Tạc thống lĩnh xứ Nghệ An, và một người con khác là Trịnh Lệ chỉ huy châu Bố Chính.

Trong nam, sau trận đánh năm 1627, viên khám lư (viên chức ngành thuế) phủ Hoài Nhơn (Quy Nhơn, B́nh Định ngày nay) là Trần Đức Ḥa ra phủ chúa ở Phúc Yên (thuộc Quảng Điền, Thừa Thiên ngày nay) chúc mừng Săi Vương đẩy lui được quân Trịnh. Nhân cơ hội nầy, Trần Đức Ḥa giới thiệu người con rể của ḿnh là Đào Duy Từ. Ngay sau cuộc gặp gỡ nầy, Săi Vương liền phong Đào Duy Từ làm Nha úy nội tán, tước Lộc Khê Hầu, quản quân cơ trong ngoài, tham lư quốc chính. Đào Duy Từ có người con rể là Nguyễn Hữu Tiến cũng được Chúa Nguyễn trọng dụng.(11) 

Năm 1629 (kỷ tỵ), Trịnh Tráng dự tính đem quân đánh miền nam. Cận thần là Nguyễn Danh Thế can gián, và đề nghị nên Sai sứ vào tiến phong cho [Nguyễn Phúc Nguyên] tước quốc công, ủy cho trấn thủ hai xứ, lại khiến đem quân ra đánh Cao Bằng. Nếu vâng mệnh mà đến th́ ta lấy rất dễ. Nếu không nghe mệnh th́ ta đem quân đánh có danh nghĩa.(12) Trịnh Tráng cử Nguyễn Khắc Minh đem sắc chỉ cuả vua Lê vào nam, làm theo kếâ nầy. Theo ư kiến của Đào Duy Từ, chúa Nguyễn hậu đăi sứ giả, và xin đ “Sai sứ vào tiến 

Để đối phó với chúa Trịnh, Đào Duy Từ đề nghị Săi Vương xây dựng lũy Trường Dục vào mùa xuân năm 1630 (canh ngọ), trong ṿng một tháng th́ xong, tăng cường pḥng thủ Đàng Trong, từ làng Trường Dục đến băi cát Hạc Hải (huyện Lệ Thủy, Quảng B́nh). 

Sau khi lũy xong, cũng theo kế Đào Duy Từ, chúa Nguyễn cử Văn Khuông (không biết họ) đi sứ ra bắc. Tại triều đ́nh Thăng Long, Văn Khuông đối đáp trôi chảy, dâng lên Trịnh Tráng một mâm đồng cống phẩm, rồi lẻn trở về nam ngay. Lúc đó, triều đ́nh Thăng Long phát hiện mâm đồng có 2 đáy, mở ra xem, liền thấy đạo sắc của vua Lê bị trả lại và một tờ thiếp viết: Mâu nhi vô địch / Mịch phi kiến tích / Ái lạc tâm trường / Lực lai tương địch. Trong số các quan của chúa Trịnh, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan giải thích rằng: Đó là ẩn ngữ dư bất thụ sắc nghĩa là ta không nhận sắc.(12) (Có lẽ để ám chỉ việc trả lại sắc thư sau khi xây xong lũy Trường Dục, nên lũy nầy c̣n được gọi là lũy Hồi Văviết: 

Trả sắc xong, Đào Duy Từ đề nghị chúa Nguyễn tiến quân qua sông Nhật Lệ, chiếm Nam Bố Chánh ở phía nam sông Gianh, vốn là đất của Thuận Hóa. Tháng 9 năm canh ngọ (1630), chúa Nguyễn cử Nguyễn Đ́nh Hùng, cháu nội Nguyễn Ư Kỷ (cậu của Nguyễn Hoàng), cầm quân vượt sông Nhật Lệ, bất ngờ tấn công quân Trịnh. Nguyễn Đ́nh Hùng giết được viên chỉ huy quân Trịnh là Nguyễn Tịch, chiếm giữ vùng nầy, lập dinh Bố Chính, tổ chức quân đội, lập 24 đội thuyền và giao cho Trương Phúc Phấn (con Trương Phúc Gia) trấn giữ. 

Làm chủ được t́nh h́nh Nam Bố Chánh, bảo vệ an ninh khu vực tiền phương phía bắc Đàng Trong, Đào Duy Từ đề nghị xây dựng thêm chiến lũy thứ nh́, phía nam Nam Bố Chánh, nhưng phía bắc lũy Trường Dục, từ núi Đầu Mâu ra cửa Nhật Lệ. Thấy khó khăn, lúc đầu chúa Nguyễn ngần ngại, nhưng rồi cũng thi hành kế hoạch của Đào Duy Từ. Lũy nầy được gọi là lũy Thầy, c̣n có tên là Định Bắc trường thành, hay lũy Đồng Hới, lũy Nhật Lệ, lũy Trấn Ninh, xây dựng trong nhiều tháng và hoàn tất vào tháng 8 năm tân mùi (1631).

Cũng trong năm tân mùi (1631), trấn thủ Quảng Nam là người con trưởng và cũng là thế tử của Săi Vương, Nguyễn Phúc Kỳ, từ trần. Chúa Săi đặt người con thứ nh́ là Nguyễn Phúc Lan làm thế tử, cho người con thứ ba là Nguyễn Phúc Anh vào giữ đất Quảng Nam. Nguyễn Phúc Anh là người hiếu chiến, nhiều tham vọng nên chúa Săi giao cho người con thứ tám là Nguyễn Phúc Tứ làm phó tướng và bổ thêm một văn chức họ Phạm vào làm kư lục để theo kèm.

Trấn giữ đất Quảng Nam được hai năm, Nguyễn Phúc Anh liên lạc với họ Trịnh ngoài bắc để nhờ giúp đỡ kiếm cách tiếm quyền trong nam. Không biết Nguyễn Phúc Anh bắt đầu liên lạc với chúa Trịnh khi nào? Chỉ biết rằng năm 1633 (quư dậu) chúa Trịnh ở ngoài bắc nhận được thư của Nguyễn Phúc Anh xin quy thuận, hẹn làm nội ứng. Anh ước hẹn với chúa Trịnh rằng một khi quân Trịnh nổ súng làm hiệu lệnh ở vùng ranh giới, th́ phía nam sẽ có người của Anh làm nội ứng. Theo Lê Quư Đôn trong Phủ biên tạp lục, ...Trấn thủ Quảng Nam Dương Nghĩa Hầu Phúc Anh mật khải cha nó [chỉ Săi Vương] già yếu, sợ sau nầy chẳng khỏi mang tiếng nghịch tặc, xin quan quân tiến vào, nó sẽ đem quân đến hàtạp 

Nguyễn Phúc Anh vận động với Săi Vương cho ḿnh được ra làm trấn thủ Quảng B́nh, hầu dễ bí mật tiếp xúc với miền bắc. Săi Vương không biết âm mưu của Anh, liền chấp thuận, nhưng lúc đó v́ lỗi lầm của Anh, nên Săi Vương lại cử người khác.(14)

Thanh Đô Vương Trịnh Tráng tin lời, lần thứ nh́ tự ḿnh cầm đại quân và rước vua Lê Thần Tông, tiến qua Nam Bố Chính, vào đóng ở cửa sông Nhật Lệ (Đồng Hới) vào tháng 11 năm quư dậu (1633). Săi Vương cử hai tướng Nguyễn Mỹ Thắng và Nguyễn Hữu Dật đem quân ra chống giữ. 

Hai bên dàn binh đối diện để cầm cự nhau. Quân Trịnh nổ nhiều phát súng lệnh, nhưng đợi hơn mười ngày chẳng thấy có nội ứng bên quân Nguyễn. Trịnh Tráng sinh nghi, lui quân đóng cách xa doanh lũy để chờ tin. Quân Trịnh đâm ra trễ nải, lười biếng. Quân Nguyễn xuất kỳ bất ư, đổ ra đánh đuổi. Trịnh Tráng liền rút về Thăng Long, để cho Nguyễn Khắc Liệt (hay Loát) ở lại giữ Bắc Bố Chính, phía bắc sông Gianh (Linh Giang).(14)

2.- CHÚA TRỊNH NHƯỢNG QUẢNG NAM ĐỔI VIỆN TRỢ 

Tuy giàu có hơn, lực lượng đông và mạnh hơn, lại chủ động gây chiến, nhưng sau hai lần đụng độ, rơ ràng chúa Trịnh không thành công trong mưu đồ thôn tính miền nam. Có thể có nhiều lư do: 

Về phía Đàng Ngoài, chúa Trịnh gây chiến chỉ v́ quyền lợi của tập đoàn lănh đạo, và nhân danh vua Lê để đưa quân vào đánh chúa Nguyễn. Quân đội chúa Trịnh phải di chuyển xa, vừa khó khăn, vừa tốn kém, lại không quen địa h́nh, không hạp thủy thổ, dễ bệnh tật, tinh thần chiến đấu không cao. Chúa Trịnh uy hiếp và lấn quyền vua Lê, nên khi đem quân đi đánh đường xa, chúa Trịnh luôn luôn lo ngại người khác mượn danh nghĩa pḥ Lê cướp quyền ở kinh đô. Hơn nữa, họ Mạc c̣n hiện diện ở Cao Bằng, có thể tiến về Thăng Long bất cứ lúc nào thuận tiện. Do đó, chúa Trịnh không được yên tâm chinh chiến và dễ dàng rút quân khi được tin hậu cứ bị đe dọa. 

Về phía Đàng Trong, dân chúng theo chúa Nguyễn, bỏ đất bắc vào Đàng Trong khai phá, tạo lập ruộng vườn nhà cửa, và xây dựng quê hương mới. Nay quê hương mới lại bị đe dọa, ruộng vườn nhà cửa bị tấn công, nên họ cương quyết chiến đấu chống lực lượng chúa Trịnh, bảo vệ những thành quả của ḿnh. V́ vậy chúa Nguyễn chống đỡ có chính nghĩa và được dân chúng ủng hộ. Lực lượng chúa Nguyễn tuy ít hơn, nhưng tiềm năng kinh tế vững vàng, lại chiến đấu tại chỗ, trên đất nhà, quen biết địa h́nh địa vật, phong thổ khí hậu, thời tiết, dễ tiếp liệu, dễ bổ sung hay tăng cường, lại xây dựng được các chiến lũy kiên cố để chống đỡ những đợt tấn công của bắc quân.  Trước t́nh h́nh khó khăn, Thanh Đô Vương Trịnh Tráng liền nghĩ cách cầu viện người Tây phương, lúc đó mới bắt đầu đến Đại Việt giao thương. Trong số nầy, hai nhóm quan trọng đến trước là người Bồ Đào Nha và Ḥa Lan. 

Người Bồ Đào Nha chính thức thiết lập trung tâm thương măi tại Macao (Áo Môn, Trung Hoa) năm 1557 dưới đời Minh Thế Tông (trị v́ 1522-1566, niên hiệu là Gia Tĩnh). Từ đây, Bồ Đào Nha gởi các tàu đến các nước Đông Nam Á buôn bán mà không thiết lập các thương cuộc địa phương. Họ đến Chiêm Thành rất sớm. Điều nầy làm cho Săi Vương lo ngại. Năm 1631 (tân mùi), ông gả người con gái thứ ba là Nguyễn Phúc Ngọc Khoa qua làm vợ vua Poromê (trị v́ 1627-1651), và trở thành hoàng hậu Chiêm Thành.(15) Theo tài liệu tây phương, từ năm 1639, cuộc giao thương giữa Chiêm Thành và người Bồ Đào Nha không c̣n được nghe nói đến nữa.(16) Phải chăng bà Ngọc Khoa đă được chúa Săi giao nhiệm vụ chận đứng sự liên lạc giữa Chiêm Thành và Bồ Đào Nha? Ngược lại, người Bồ Đào Nha lại kiếm cách liên kết với chúa Nguyễn để cạnh tranh với người Ḥa Lan.

Về phần người Ḥa Lan, công ty Verenigde Oostindische Compagie, viết tắt là VOC, tiếng Anh là Dutch East India Company (Công ty Đông Ấn Ḥa Lan), từ năm 1619 đặt trụ sở ở Á châu tại Batavia (tức Jakarta thuộc Indonesia ngày nay). Năm 1623, VOC chiếm luôn các đảo Java, Sumatra và lập ra Dutch East Indies hay Netherlands East Indies (xứ Đông Ấn Ḥa Lan).(17) Đến năm 1641, người Ḥa Lan làm chủ hoàn toàn eo biển Malacca mà trước đây do người Bồ Đào Nha kiểm soát. Do vậy, công ty VOC cũng làm chủ luôn con đường buôn bán hồ tiêu qua eo biển Malacca.(18) 

Năm 1637, VOC gởi người qua Đại Việt buôn bán, mở thương cuộc tại Hội An (Quảng Nam) ở Đàng Trong do Abraham Dujoker trông coi, và mở tiệm buôn tại Phố Hiến (Hưng Yên) ở Đàng Ngoài do Karl Hartsingh quản lư. Đặc biệt, công ty đă tặng chúa Trịnh hai khẩu thần công (đại bác).(19) 

Trong dịp nầy, chúa Nguyễn cũng như chúa Trịnh đều viết thư cho viên Toàn quyền (Governor General) Công ty Đông Ấn Ḥa Lan ở Jakarta, nhưng mỗi bên có một mục đích khác nhau. 

Sau đây là bản dịch lá thư Thượng Vương Nguyễn Phúc Lan mời người Ḥa Lan đến Đàng Trong giao thương:

"Thư nầy của vua nước Quảng Nam gửi vua xứ Jakarta. Ta nghĩ rằng khi thông thương với những xứ xa lạ, việc ấy phải được vua hai bên thương nghị. Vả lại, khi có thương nhân đến một nước để buôn bán, dân nước nầy ắt lấy làm vui thích. Ta được biết rằng trong các nước đến buôn bán ở nước ta, chỉ đức vua xứ Jakarta là đem lại lợi ích cho nhân dân nước ta. Ta lấy làm vui ḷng. Ta cũng được biết rằng đức vua muốn thuê một miếng đất trong nước ta để cho người xứ ấy ở. Ta sẵn ḷng cho thuê đất, nhưng sợ thương gia ngoại quốc khác không đến buôn bán trong nước ta nữa, như vậy sẽ gây t́nh thế không tốt cho ta, v́ người ta sẽ nói không ai muốn đến nước ta. Xin đức vua xét lẽ ấy và đừng tưởng rằng ta sợ. Trái lại ta rất mong muốn thiên hạ đến doanh thương trong các hải cảng của ta. Nếu đức vua không trách ta th́ xin cho người đến buôn bán trong nước ta, ta rất được đẹp ḷng, cũng như đối với các nước khác vậy. Xin gởi theo đây nửa cân trầm hương. Năm thứ 3 triều ta [Lê?Thư ngày 23 tháng giêng."(19)

Cùng trong năm 1637, ở ngoài Đàng Ngoài, Thanh Đô Vương Trịnh Tráng cũng viết thư gởi viên Toàn quyền Công ty Đông Ấn Ḥa Lan, nhưng không phải để mời đến giao thương mà để cầu viện. Thư viết bằng chữ Nho nên người Ḥa Lan không hiểu. Họ nhờ một thông dịch viên Nhật Bản ở Nagasaki tên là Meison chuyển sang tiếng Ḥa Lan. Meison gởi bản dịch cho người Ḥa Lan, và giữ nguyên bản lá thư. Sau đây là bản dịch những ư chính trong lá quốc thư của Thanh Đô Vương Trịnh Tráng từ bản Anh ngữ của nhà nghiên cứu Li Tana:

"[...] Một số súc sinh đội lốt người [chỉ họ Nguyễn] đă thiết lập một chế độ ly khai ở phía nam biên giới chúng tôi và chúng dựa vào vị trí dễ bề pḥng thủ để chống lại triều đ́nh [nhà Lê ở Thăng Long]. Chúng tôi chưa làm ǵ đối với họ v́ chúng tôi lo ngại điều ǵ đó chưa tiên liệu được có thể xảy ra ngoài biển. Bởi v́ quư ông có ư thân thiện với chúng tôi, quư ông có thể giúp chăng cho chúng tôi hoặc hai hay ba chiếc tàu, hoặc hai trăm binh sĩ thiện xạ, như là bằng chứng của ḷng giao hảo của quư ông. Những binh sĩ nầy có thể giúp ích chúng tôi với các khẩu đại bác. Thêm vào đó, xin quư ông vui ḷng gởi cho chúng tôi 50 chiếc thuyền với những tuyển binh và những khẩu súng [có sức công phá] mạnh mẽ, và chúng tôi sẽ gởi những các binh sĩ tín cẩn để hướng dẫn thuyền quư ông đến Quảng Nam, như sự tăng cường của chúng tôi. Cùng lúc đó quân đội chúng tôi sẽ tấn công Thuận Hóa. [...] Sau khi chiến thắng, chúng tôi sẽ thưởng binh sĩ của quư ông từ hai mươi ngàn đến ba mươi ngàn lạng bạc làm quà. Về phần Ngài, chúng tôi sẽ biếu đất Quảng Nam để ngài cai trị. Ngài có thể tuyển chọn một số binh sĩ để xây cất hoặc bảo vệ thành phố, và chúng tôi sẽ ra lệnh dân chúng tại đó là“[...] xâu cho ngài. Ngài sẽ trưng thu sản vật trong vùng và chia một phần cho triều đ́nh chúng tôi, như thế đôi bên đều lưỡng lợi. Trời sẽ trừng phạt chúng ta nếu không trung tín với những điều hứa hẹn."" [Câu in đậm của ngưiều hứa hẹn.?

Khi sử dụng Quảng Nam để thương lượng với người Ḥa Lan, chúa Trịnh chẳng mất mát ǵ, v́ đàng nào th́ Quảng Nam cũng không thuộc quyền kiểm soát của ông, mà thuộc quyền chúa Nguyễn. Chúa Trịnh biết người Ḥa Lan đă đặt thương cuộc tại Hội An, nên họ rất rơ giá trị tài nguyên của Quảng Nam, lúc đó là vùng đất kéo dài từ phía nam đèo Hải Vân đến Phú Yên.

Theo như lời viên đại diện Ḥa Lan ở Hội An (Đàng Trong) là Abraham Dujoker nói với Karl Hartsingh, viên đại diện Ḥa Lan ở Phố Hiến (Đàng Ngoài), th́ tất cả những tin tức ở triều đ́nh Đàng Ngoài đều bị t́nh báo của chúa Nguyễn báo cáo vào nam. Do đó, có thể việc chúa Trịnh cầu viện người Ḥa Lan đă lọt vào tai chúa Nguyễn nên sau đó chúa Nguyễn không chịu miễn thuế cho người Ḥa Lan như đă hứa.(21)

Trong lịch sử, việc sử dụng đất Quảng Nam để trao đổi với ngoại bang tái diễn khi giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine), đại diện cho Nguyễn Phúc Ánh, qua Paris cầu viện và kư kết hiệp ước Versailles năm 1787. Tuy nhiên, lúc đó, khác với chúa Trịnh, Nguyễn Phúc Ánh đang ở thế cùng lực kiệt, gia đ́nh bị giết hại, bản thân phải bôn tẩu khắp nơi, từ Gia Định, ra Phú Quốc, và trốn sang cả Xiêm La (Siam tức Thái Lan ngày nay). Nguyễn Phúc Ánh đành phải ủy thác cho giám mục Bá Đa Lộc đi cầu viện để phục hồi quyền lực; và Bá Đa Lộc đă tự ư đề nghị nhượng Quảng Nam để đổi lấy viện trợ của Pháp. 

Gần đây, giống với trường hợp chúa Trịnh, đang cai trị đất bắc, mà cố t́nh thống nhất đất nước bằng vơ lực nên phải cầu viện với ngoại bang và nhượng bộ ngoại bang là Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa. Sau hiệp định Genève năm 1954, đất nước bị chia hai giống như t́nh trạng phân chia thời Trịnh Nguyễn, ông Phạm Văn Đồng, thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (Bắc Việt), với sự đồng ư của ông Hồ Chí Minh và Bộ chính trị đảng Lao Động Việt Nam (tức đảng Cộng Sản Việt Nam), đă kư quốc thư ngày 14-9-1958 nh́n nhận ranh giới biển 12 hải lư từ bờ biển do Châu Ân Lai, thủ tướng Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, công bố ngày 4-9-1958. Điều nầy có nghĩa là Bắc Việt gián tiếp công nhận chủ quyền của CHNDTH trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, lúc đó do Việt Nam Cộng Ḥa (tức Nam Việt) cai quản. Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, và đảng Lao Động làm như thế nhắm mục đích đổi lấy viện trợ của CHNDTH để đánh Nam Việt.

Có một điểm khác nhau giữa hành động của chúa Trịnh và của Phạm Văn Đồng là chúa Trịnh nhượng Quảng Nam cho người Ḥa Lan; mà người Ḥa Lan là người da trắng ở Bắc Âu, khó thích nghi với xứ Quảng Nam, trong khi Trung Hoa là một cường quốc ở sát cạnh nước ta, và luôn luôn nuôi tham vọng bành trướng đế quốc. Thực tế, CHNDTH đă đánh đuổi quân đội Việt Nam Cộng Ḥa năm 1974 để chiếm các quần đảo của chúng ta cho đến nay.

Chẳng những thế, một khi đă suy yếu trước những biến chuyển quốc tế mau lẹ sau năm 1975, nghĩa là sau khi thống nhất đất nước bằng vơ lực, và để tiếp tục nắm quyền cai trị đất nước, nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội đă kư kết liên tiếp với CHNDTH hai hiệp ước: Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc ngày 30-12-1999 và Hiệp ước phân định lănh hải, ngày 25-12-2000, nhượng đất và nhượng biển cho Trung Hoa.

3.- CHÚA NGUYỄN CHIẾN THẮNG NGƯỜI H̉A LAN

Dầu biết rằng lực lượng Đàng Trong khá mạnh, chúa Trịnh không đánh nổi nên mới nhờ đến ḿnh, nhưng do đề nghị của Thanh Đô Vương Trịnh Tráng nhượng đất Quảng Nam quá hấp dẫn, Công ty Đông Ấn Ḥa Lan liền chuẩn bị lực lượng và chờ đợi cơ hội can thiệp vào Đàng Trong. Thời cơ thuận tiện cho người Ḥa Lan xảy đến vào năm 1641v́ các sự kiện sau đây: 

Thứ nhất, tại Hội An, một người Việt làm công cho tiệm buôn Ḥa Lan, bị nghi ngờ lấy trộm hàng hóa và bị chủ nhân Ḥa Lan tra khảo đến chết. Dân chúng phản đối dữ dội. Trấn thủ Quảng Nam ra lệnh tịch thu hàng hóa, đốt cửa hiệu, giết 7 người Ḥa Lan, đồng thời thả 2 người trở về trụ sở trung ương ở Batavia (tức Jakarta, Indonesia), để tường tŕnh sự việc lên thượng cấp. Trước t́nh thế nầy, người Ḥa Lan phải bỏ thương cuộc Hội An và giao cho một người Nhật tên là Risemondono ở Thuận Hóa đại diện cho họ ở Đàng Trong.(21)

Thứ nh́, ngày 26-11-1641, hai chiếc tàu Ḥa Lan Eulden Buis và Maria de Medicis bị tại nạn và mắc cạn ở gần Cù lao Chàm (Quảng Nam). Có lẽ v́ c̣n tức giận vụ người Việt bị đánh chết, trấn thủ Quảng Nam ra lệnh bắt tất cả 82 người Ḥa Lan sống sót giam ở Hội An và tịch biên 2 chiếc tàu.(22)

Lúc đó, trong khi đưa một sứ giả của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài qua Batavia, vào đầu năm 1642, thuyền trưởng người Ḥa Lan Jacob van Liesvelt ghé bến Đà Nẵng và bắt đi 120 người Việt, mà tài liệu Ḥa Lan nói rằng theo lời yêu cầu của vị sứ giả Đàng Ngoài. Khi được biết có 82 người Ḥa Lan bị giam ở Hội An, Jacob van Liesvelt đề nghị trao đổi tù binh. Trấn thủ Quảng Nam đồng ư, nhưng khi van Liesvelt thả hết người Việt, th́ phía Đàng Trong yêu cầu người Ḥa Lan phải giao cả sứ giả Đàng Ngoài. Chẳng những không làm theo lời yêu cầu nầy, van Liesvelt bắt luôn vị đại diện Đàng Trong đang thương thuyết cùng viên thông ngôn người Nhật Bản mang tên Francisco, rồi bỏ đi Batavia.(22)

Sau khi Jacob van Liesvelt ra đi, chúa Nguyễn là Thượng Vương Nguyễn Phúc Lan (cầm quyền ở Đàng Trong 1635-1648) ra lệnh thả 50 người Ḥa Lan vào tháng 3 năm 1642, nhưng chiếc tàu chở những người nầy bị người Bồ Đào Nha và người Trung Hoa tấn công. Một số người sống sót bơi vào bờ, bị người Chiêm Thành bắt làm nô lệ. (Lúc đó, Chiêm Thành vẫn c̣n ở phía nam Phú Yên.) Một trong những người nầy, Juriaan de Rode, được người Chiêm gởi tặng vua Chân Lạp (Cambodia). Ông vua nầy thả Juriaan de Rode về đến Batavia ngày 5-1-1643.(22)

Trong khi đó, Công ty Đông Ấn Ḥa Lan ở Batavia chưa biết hành động thân thiện trên đây của chúa Thượng, đă gởi 5 chiếc thuyền cùng 125 thủy thủ và 70 chiến binh do Jan van Linga điều khiển tiến qua Đàng Trong vào tháng 5-1642. Jan van Linga nhận được lệnh là bắt người Việt dọc duyên hải, và gởi một tối hậu thư cho chúa Thượng buộc phải thực hiện những yêu cầu của người Ḥa Lan trong ṿng hai ngày; nếu không, người Ḥa Lan sẽ giết một nưả tù binh, c̣n nửa kia chở ra bắc. Ngày 31-5-1642, tàu Ḥa Lan vào cửa biển Quy Nhơn, đốt khoảng từ 400 đến 500 ngôi nhà tranh, và bắt được 38 người làm tù binh. 

Lúc đó, Jan van Linga không cần đợi lệnh của Batavia, muốn dùng sức mạnh đến Hội An để giải cứu đồng hương của ḿnh. Tiếp tục cuộc hành tŕnh, họ bắt thêm 11 người Việt trong ṿng 10 ngày. Để kiếm thêm tù nhân, Jacob van Liesvelt, cùng đi trong chuyến nầy, đề nghị đến Cù lao Chàm (Quảng Nam), giả vờ thân thiện, dự tính dụ người Việt xuống tàu rồi bắt đi. Tuy nhiên, người Việt đă biết tin tức từ Quy Nhơn, nên khi người Ḥa Lan đến, người Việt chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Jacob van Liesvelt lên bờ cùng 150 người, liền bị tấn công và bị giết chết cùng khoảng 10 thuộc hạ.

Chủ trương của nhà cầm quyền Đàng Trong là không muốn người Ḥa Lan liên kết với Đàng Ngoài, nên trong cuộc nói chuyện sau đó, đại diện nhà cầm quyền Đàng Trong đă nói với Jan van Linga là rất thất vọng về cuộc tấn công của người Ḥa Lan, nhưng vẫn chưa chịu trả những người Ḥa Lan c̣n lại. 

Ngày 16-6-1642, người Ḥa Lan giết thêm 20 con tin người Việt ở Đà Nẵng, rồi bỏ ra Đàng Ngoài. Khi gặp chúa Trịnh, Jan van Linga hỏi về công chuyện tấn công Đàng Trong th́ được chúa Trịnh trả lời rằng ông ta đă gởi quân đi đánh Đàng Trong, nhưng đợi không thấy người Ḥa Lan xuất hiện, nên đoàn quân nầy phải quay trở về. Không biết sự thật như thế nào, chứ vào năm 1642, hoàn toàn không có một trận đánh nào giữa hai bên Trịnh Nguyễn được sử sách ghi lại.

Tháng giêng năm 1643, Công ty Đông Ấn Ḥa Lan gởi thêm một hạm đội mới gồm năm chiếc tàu, do Johannes Lamotius điều khiển, để phối hợp với Đàng Ngoài tấn công Đàng Trong. Tháng 2 năm quư mùi (khoảng tháng 3-1643), Thanh Đô Vương Trịnh Tráng sai hai con là Trịnh Tạc và Trịnh Lệ cầm đại quân tấn công Nam Bố Chánh (Bố Trạch, tỉnh Quảng B́nh ngày nay). Trong cuộc đột kích, quân Trịnh đă bắt được viên tướng trấn giữ Nam Bố Chánh của chúa Nguyễn là Bùi Công Thắng, rồi quân Trịnh thẳng tiến tới cửa sông Nhật Lệ. Tháng sau (4-1643), Trịnh Tráng rước vua Lê Thần Tông (làm vua lần đầu 1619 - 1643) vào đóng tại xă An Bài (thuộc Bắc Bố Chánh), liệu định quân cơ. Tuy tấn công mạnh mẽ, nhưng quân Trịnh không vượt qua được lũy Thầy. Quân Nguyễn cầm cự kéo dài qua tháng 5-1643. Thời tiết nóng bức làm cho quân Trịnh đau yếu bệnh tật. Trịnh Tráng thấy khó thắng được, ra lệnh rút quân về.

Tháng 6 năm 1643, Công ty Đông Ấn Ḥa Lan lại gởi thêm 3 chiếc tàu do Pueter Baek chỉ huy. Ông ta cũng nhận được lệnh bắt càng nhiều càng tốt người Việt ở Đàng Trong. Khi đến bờ biển Đàng Trong vào tháng 4 năm giáp thân (khoảng 5-1644), mà theo Đại Nam thực lục tiền biên th́ ở cửa Eo tức cửa Thuận (Huế), c̣n theo tài liệu nước ngoài th́ ở phía nam sông Gianh khoảng 5 dặm (1 dặm biển tức hải lư (nautical mile) = 1852 m.), 3 chiếc tàu Ḥa Lan liền bị khoảng 50 chiếc thuyền Đàng Trong bao vây. Hai chiếc thuyền Ḥa Lan liền bỏ trốn một cách khó khăn, c̣n tàu chỉ huy de Wijdenes bị trúng đạn, nghiêng qua một bên. Khối súng đạn trên tàu phát nổ, giết tất cả thủy thủ đoàn, kể cả viên chỉ huy Pueter Baek. 

Theo Đại Nam Thực lục tiền biên, người chỉ huy phía Đàng Trong đánh trả tàu Ḥa Lan là thế tử Dũng Lễ Hầu Nguyễn Phúc Tần (sau nầy là Hiền Vương). Tuy mô tả trận đánh một cách anh dũng, nhưng Thực lục tiền biên không đề cập đến sự thiệt hại của phía Đàng Trong.(23) Theo những tài liệu về phía Ḥa Lan th́ 7 chiếc thuyền Đàng Trong bị đánh ch́m và khoảng từ 700 đến 800 người Việt bị giết.(24) Con số người chết có thể được phóng đại, v́ theo sự mô tả của các sách, những chiếc thuyền Đàng Trong nhẹ, lướt nhanh trên mặt biển để tấn công, c̣n phải tải theo vũ khí đạn dược, không thể chở quá nhiều người, chỉ có thể khoảng 20 tay chèo, cùng khoảng tối đa 20 binh sĩ. Giả thiết nếu 7 chiếc thuyền ch́m và chết hết, cọng thêm số tử trận ở các tàu khác th́ cũng khoảng từ 300 đến 400 người chết là đă quá nhiều rồi.

Đặc biệt, tin tức về hai cuộc thất bại năm 1642 và 1643, nhất là về chiếc tàu de Wijdenes của Công ty Đông Ấn Ḥa Lan bị đánh ch́m, loan truyền nhanh chóng qua Trung Hoa, đến Nhật Bản, làm cho uy tín công ty nầy bị giảm sút. Người Nhật bắt đầu đánh giá thấp người Ḥa Lan và nghĩ rằng họ không có ǵ phải ngán sợ người Ḥa Lan.(24)

Cần nên chú ư thêm là Công ty Đông Ấn Ḥa Lan, với một lực lượng hải thuyền khá mạnh, trang bị vũ khí tối tân (vào thời bấy giờ), đă chinh phục được Batavia và vùng quần đảo Indonesia, nhưng không thể chiến thắng được Đàng Trong, chứng tỏ quân lực chúa Nguyễn khá mạnh không kém. Điều nầy giúp giải thích v́ sao chúa Nguyễn đă thắng thế trong cuộc tranh hùng nam bắc vào thế kỷ thứ 17.

Sau trận nầy, Công ty Đông Ấn Ḥa Lan không c̣n gởi tàu bè đến khiêu khích Đàng Trong. Đến năm 1648, khi Dũng Lễ Hầu Nguyễn Phúc Tần, người anh hùng trong trận đánh năm 1643, thay cha cầm quyền tức Hiền Vương (cầm quyền ở Đàng Trong 1648-1687), tỏ ra sẵn sàng nói chuyện với người Ḥa Lan, th́ Công ty Đông Ấn Ḥa Lan gởi đại diện đến Đàng Trong thương lượng. Ngày 9-12-1651 hai bên đi đến thỏa thuận bỏ qua những tranh chấp cũ, trao trả những người bị bắt, người Ḥa Lan được tự do ra vào buôn bán ở Đàng Trong, những người của hai bên phạm tội đều sẽ bị hai bên xét xử, hai bên sẽ giúp đỡ nhau khi thuyền bè bị đắm... Dầu vậy, người Ḥa Lan cho rằng công việc buôn bán của họ vẫn tiếp tục bị trở ngại nên tự ư rút lui và đóng cửa thương cuộc ở Đàng Trong năm 1654.(25)

CHÚ THÍCH

1. Từ năm 1570 (canh ngọ) Nguyễn Hoàng cai quản 2 xứ Thuận Hóa và Quảng Nam. Thuận Hóa gồm 2 phủ: phủ Tân B́nh (ở phía bắc) và phủ Triệu Phong (ở phía nam). Phủ Tân B́nh gồm 1 châu (Bố Chánh) và 3 huyện (Phong Lộc, Lệ Thủy và Minh Linh). Châu Bố Chánh nằm ngay phía nam Hoành Sơn (Đèo Ngang), được chia thành Bắc Bố Chánh (B́nh Chánh, Minh Chánh ngày nay) và Nam Bố Chánh (Bố Trạch ngày nay). Giữa Bắc và Nam Bố Chánh là sông Gianh (Linh Giang). Trên danh nghĩa, châu Bố Chánh thuộc phủ Tân B́nh, và thuộc xứ Thuận Hóa, nằm dưới quyền quản lĩnh của Nguyễn Hoàng. Tuy nhiên, khi chiến tranh Trịnh Nguyễn xảy ra (1627), th́ các viên quan cai trị phía bắc sông Nhật Lệ, nghĩa là từ Động Hải (Đồng Hới) trở ra bắc, kể cả Nam Bố Chánh, tùng phục vua Lê và chúa Trịnh, c̣n phía nam sông Nhật Lệạ, tức từ huyện Lệ Thủy trở vào, về theo chúa Nguyễn. 
2. Li Tana, Nguyễn Cochichina, Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries [Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Nam phần Việt Nam vào các thế kỷ 17 và 18], New York: Cornell University, 1998, tt. 159-160, 171. Tác giả Li Tana dựa vào số hộ mà các sách từ Dương Văn An (Ô Châu cận lục), đến Lê Quư Đôn và các bộ chính sử ghi nhận được về hộ tịch, nhân trung b́nh mỗi hộ 5 người để ra dân số trên đây. Việc nầy chỉ cho một h́nh ảnh khái quát tương đối mà thôi, v́ lúc đó việc kiểm tra chưa được chính xác, nhất là ở miền nam mới khai phá, tổ chức c̣n lỏng lẻo.
3. Charles Maybon và Henri Russier, Lectures sur lhistoire dAnnam depuis lavènement
des Lê [Những bài viết về lịch sử Việt Nam từ thời nhà Lê], Hà Nội: xuất bản lần thứ 3, Imprimerie dExtrê Henri Russier, Lectures sur 4. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Sài G̣n: Nxb Tân Việt, in lần thứ 7, 1964, tr. 326. [Trung Bắc Tân Văn xuất bản lần đầu năm 1920 ở Hà Nội.]
5. Li Tana, sđd. tt. 41-42.
6. Đại Việt sử kư toàn thư, viết tắt Toàn thư, Hà Nội: Nxb. Khoa học Xă hội, 1998, bản dịch tập 3, tr. 185.
7. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, [chữ Nho, soạn xong năm 1844], Hà Nội: bản dịch của Nxb. Giáo Dục, 2002, tập 1, tr. 48.(Viết tắt ĐNTL)
8. Li Tana, sđd. tt. 44-45.
9. ĐNTL, bản dịch tập 1, sđd. tr. 43. Sông Nhật Lệ ở Động Hải (Đồng Hới), Quảng B́nh, nằm về phía nam Đèo Ngang khoảng dưới 60 cây số. Theo tài liệu của giáo sĩ Alexandre de Rhodes, th́ vua Lê Thần Tông chỉ vào đến Thanh Hoa mà thôi. (Phạm Văn Sơn trích dẫn lại, Việt sử tân biên, quyển 3, Nam Bắc phân tranh, Sài G̣n: 1959, tr. 121.)
10. Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, viết tắt Cương mục, Hà Nội: Nxb. Giáo Dục, 1998, bản dịch tập 2, tr. 246. 
11. Đào Duy Từ (1572-1634): Người huyện Ngọc Sơn, Thanh Hoa, con ông Đào Tá Hán, làm nghề xướng ca, nên Đào Duy Từ không được dự thi Hương. (Ngày xưa, theo quan niệm xướng ca vô loại, người theo nghề hát xướng không được xem là công dân thông thường.) Đào Duy Từ bỏ vào nam, giúp việc chăn trâu cho một phú ông ở xă Ṭng Châu (phủ Hoài Nhơn, B́nh Định ngày nay). Thấy Đào Duy Từ giỏi chữ nghĩa, phú ông giới thiệu với quan Khám lư phủ Hoài Nhơn là Trần Đức Ḥa. Đức Ḥa mời về nhà dạy học, rồi gả con gái. Đào Duy Từ sáng tác bài Ngọa long cương, tự ví ḿnh với Khổng Minh đời Tam Quốc bên Trung Hoa. Sau khi được Săi Vương tín nhiệm giao chức vụ, Đào Duy Từ giúp Săi Vương bảo vệ miền nam, chống đánh chúa Trịnh rất hữu hiệu. (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện tiền biên (bằng chữ Nho, soạn xong năm 1852), Huế: bản dịch của Nxb. Thuận Hóa, 1993, phần tiểu truyện Đàa, theo quan niệm ?xướng 
12. ĐNTL, bản dịch tập 1, sđd. tr. 44, 46. Chữ mâu không có phảy nách (dịch) là chữ dư (ta); chữ mịch không có chữ kiến là chữ bất (không); chữ ái rơi mất chữ tâm thành chữ thụ (nhận, chịu), chữ lực và chữ lai ghép lại thành chữ sắc (sắc chỉ). Góp lại là Dư bất thụ sắc nghĩa là Ta khôd. tr. 44, 
13. Lê Quư Đôn, Phủ biên tạp lục, Hà Nội: bản dịch của Nxb. Khoa học Xă hội, 1977, tr. 53.
14. ĐNTL, bản dịch tập 1, sđd. tt. 50-53. Lúc đó, khi Săi Vương cho người mang giấy tờ vào Quảng Nam điều động Nguyễn Phúc Anh ra Quảng B́nh, th́ Anh bỏ dinh Thanh Chiêm, đi săn một tuần chưa về. (Theo cách tính ngày xưa, một tháng có 3 tuần: thượng, trung, và hạ tuần, nên 1 tuần là 10 ngày.) Người nầy về tŕnh lại cho Săi Vương. Ông nổi giận đổi ư, cử Nguyễn Phúc Kiều làm trấn thủ Quảng B́nh.  Nguyễn Phúc Kiều là chồng của Nguyễn Phúc  Ngọc Đỉnh, con gái út của Nguyễn Hoàng.
15. Hội đồng Trị sự Nguyễn Phúc tộc, Nguyễn Phúc tộc thế phả, viết tắt là Thế phả, Huế: Nxb. Thuận Hóa, 1995, tr. 126.
16. Pierre Bernard Lafont, On the Relations Between Champa and Southeast Asia, [nguyên văn bằng Pháp ngữ, giáo sư Huỳnh Đ́nh Tế chuyển qua Anh ngữ], tŕnh bày tại cuộc hội thảo quốc tế về Chiêm Thành tại Đại học Copenhagen (Đan Mạch) ngày 23-5-1987, đă16. Pierre Bernard Lafont, “On the Relations Between Champa and Southeast Asia”, [nguyên văn bằng Pháp ngữ, giáo sư 
17. Vùng tự trị nầy về sau thuộc chính phủ Ḥa Lan khi Công ty VOC phá sản năm 1798. Khi Ḥa Lan bị hoàng đế Pháp là Napoléon I (trị v́ 1802-1813) xua quân chiếm đóng năm 1811, th́ Anh Quốc chiếm Dutch East Indies.
18. Jennifer Mulherin, Spices & Natural Flavourings, Tiger Books International, London, 1992, tr. 10. Maguelone Toussaint Samat, Histoire naturelle et morale de la nourriture, Bordas, Paris, 1987; bản dịch tiếng Anh: History of Food, dịch giả Anthea Bell, Blackwell, London, 1992, chương 15 (Gia vị với bất cứ giá nào), tt. 480-545.
19. Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong [Sài G̣n], Houston: Nxb. Xuân Thu tái bản không đề năm, quyển hạ, tt. 546-547. Tác giả Phan Khoang cho biết ông trích dịch trong Dagh, Registe, 1637 của Công ty Đông Ấn Ḥa Lan, nhưng ông không cho biết ai đă dịch nguyên bản chữ Nho của chúa Nguyễn, và ông đă dịch từ bản chữ Pháp hay bản chữ Anh? Câu Năm thứ 3 triều ta, là năm thứ 3 niên hiệu Dương Ḥa (1637) của Lê Thần Tông, v́ lúc đó các chúa Nguyễn vẫn lấy niên hiệu vua Lê để ghi năm tháng. (Điều nầy thấy rơ trong các bộ sử nhà Nguyễn như Cương mục hay ĐNTL.) Vua Lê Thần Tông làm vua 2 lần. Lần thứ nhất từ 1619 - 1643. Trong lần nầy, ông có 3 niên hiệu: Vĩnh Tộ (1619-1628), Đức Long (1629-1634), Dương Ḥu ?Năm
20. Li Tana, sđd. tr. 176. 
21. Phan Khoang, sđd. tt. 547-548.
22. Li Tana, sđd. tr. 177. (Francisco là tên Ki Tô giáo (tên thánh) hay tên Âu hóa của viên thông ngôn người Nhật.)
23.ĐNTL, bản dịch tập 1, sđd. tt. 55-56.
24. Li Tana, sđd. 178-179.
25. Phan Khoang, sđd. tt. 549-550.