Huế là tiếng nôm, thuần Việt, bắt nguồn từ Hóa của tiếng Hán Việt. Huế là Hóa, là Hóa Châu, là châu Ri (hay châu Lư), cùng với châu Ô (hay châu Thuận), là sính lễ vua Chế Mân của Chiêm Thành dâng vua Trần Anh Tông của Đại Việt năm 1306 để cưới Công chúa Huyền Trân.
Vậy Huế ngày nay là Hóa Châu ngày xưa. Nhưng Hóa Châu ngày đó là cả một giải đất kéo dài từ sông Bồ đến sông Túy Loan, hơn nữa, Hóa Châu lại liên hệ mật thiết với Thuận Châu, cho nên nói về lịch sử của Huế th́ phải nói về lịch sử của cả vùng Huế. Mặt khác, lịch sử vùng Huế trong ḷng lịch sử Đại Việt không phải chỉ giản đơn bắt đầu từ năm 1307 đời vua Trần Anh Tông, niên hiệu Hưng Long thứ 15, là năm nhà Trần đổi hai châu Ô, Rí thành châu Thuận và châu Hóa, mà lùi lại rất xa về thời sơ sử mịt mù, khi vùng Huế được sử cũ gọi là bộ Việt Thường nước Văn Lang.
Người Việt Nam chúng ta phần đông thừa nhận rằng vùng Huế đă đóng một vai tṛ trọng yếu trong lịch sử h́nh thành và phát triển của quốc gia Đại Việt. Từ 1802 đến 1945, Huế lại là kinh đô cảa Đế quốc Việt Nam. Tuy vậy, các sử gia nước ta từ trước tới nay, khi đề cập đến lịch sử vùng Huế, tùy theo góc nh́n và thế đứng, đă có những quan điểm không tương đồng. Bài này đặt lại một số những vấn đề đó, và đưa ra đề nghị phân chia thời kỳ lịch sử vùng Huế trên cơ sở những nhận thức mới.
Cương vực vùng Huế thời sơ sử.
Sử cũ chép rằng cách đây hơn bốn ngh́n năm, nước ta là nước Văn Lang, có các vua Hùng cai trị. Nước Văn Lang, phía bắc đến hồ Động Đ́nh, phía đông đến biển, phía tây giáp nước Lăo Qua, phía nam giáp nước Hồ Tôn. Nước Văn Lang được chia làm 15 bộ. Bộ Việt Thường là bộ cực nam, là miền B́nh Trị Thiên ngày nay. Chuyện nước Văn Lang với các vua Hùng bắt nguồn từ truyền thuyết Tiên Rồng, rất phổ biến trong các nhóm cư dân bản địa vùng Lĩnh Nam mà người Tàu gọi là Bách Việt. Truyền thuyết này được Ngô Sĩ Liên đưa vào chính sử (phần ngoại kỷ) vào thời Hậu Lê. Nước Văn Lang c̣n có thêm tên là Lạc Việt, Hùng vương c̣n được gọi là Lạc vương. Dưới vua Hùng là các Lạc hầu, Lạc tướng. Con trai quư tộc được gọi là Quan lang, con gái quư tộc được gọi là Mỵ nương (Mệ nàng). Dần dà trong sử cũ, biên giới phía bắc được lùi xuống giáp tỉnh Quảng Tây cho phù hợp với thực trạng địa lư. Cương vực 15 bộ của nước Văn Lang (1) được xác định là Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, với bộ Việt Thường được phỏng đoán là vùng B́nh Trị Thiên ngày nay.
Đến thời kỳ Thục Phán từ Tây Âu tiến xuống đánh bại vua Hùng cuối cùng, tháp nhập Lạc Việt vào Tây Âu để thành lập nước Âu Lạc (năm 257 trước Công nguyên), th́ sử cũ nước ta không đả động ǵ đến biên giới phía nam của Âu Lạc, nên ngày nay khó mà đoán định vị trí vùng Huế đối với cương vực nước Âu Lạc lúc bấy giờ. Với lại, sử cũ có chép rằng sau khi bị Triệu Đà đánh bại, Thục Phán đem công chúa Mỵ Châu chạy trốn đến núi Mộ Dạ th́ cùng đường, và sau khi thần Kim Quy hiện ra bảo cho biết người làm mất nước chính là Mỵ Châu, nhà vua rút gươm chém chết Mỵ Châu rồi tự vẫn. Núi Mộ Dạ ở phía bắc Hoành sơn. Vậy nếu chuyện này không phải do người đời sau đặt ra mà là chuyện có thực, và núi Mộ Dạ là biên giới cực nam, Thục Phán chạy đến đó th́ cùng đường, th́ rơ ràng vùng Huế không nằm trong cương vực nước Âu Lạc. Nhưng nếu thế th́ tại sao sử cũ nước ta không nói, phần phía nam đèo Ngang, tức là bộ Việt Thường nước Văn Lang trước đây, thời Âu Lạc trở thành dân ǵ, xứ ǵ, thuộc nước nào; và tại sao chính sử nhà Hán khi nói đến việc lấy đất Nam Việt để thành lập Giao Chỉ Bộ, về phần quận Nhật Nam th́ chỉ nói đến việc chia đất đặt quận mới y hệt trường hợp các quận Thương Ngô, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, trong lúc đó th́ về phần hai quận Châu Nhai, Đạm Nhĩ lại ghi chú rơ ràng việc Lộ Bác Đức thừa thắng chiếm đất mới để đặt thêm hai quận này.
Năm 214 trước Công nguyên, nhà Tần tiến đánh Bách Việt, lập ra các quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận. Nam Hải là Quảng Đông, Quế Lâm là Quảng Tây, c̣n Tượng Quận th́ có sách nói là Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (2), có sách lại nói là Quư Châu và một phần Quảng Tây. Những người chủ trương Tượng Quận là Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ kéo dài xuống tận Quảng Nam, có lẽ đă lầm lẫn quận Tượng của đời Tần với huyện Tượng Lâm đời Hán. Hơn nữa, khi nhà Tần mất, Triệu Đà cát cứ ở Nam Hải, th́ vẫn c̣n nước Âu Lạc, nên về sau mới có cuộc chiến tranh giữa Triệu Đà và Thục Phán, và mối hận t́nh Trọng Thủy - Mỵ Châu. Mặt khác, sử cũ Trung Quốc có nói đến các lănh tụ kháng chiến kiệt hiệt của Bách Việt là Dịch Hu Tống và Tây Vu vương. Tây Vu là vùng Cổ Loa, nơi Thục Phán đóng đô. Vậy vào đời Tần, nước Âu Lạc vẫn tồn tại, và Tượng Quận là Quư Châu và một phần Quảng Tây; c̣n nếu Tượng Quận là Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ th́ nhất thiết phải chấp nhận giả thuyết Thục Phán đă ra hàng quân Tần và nhận tước phong (Tây Vu vương). Như vậy, vị trí của Tượng Quận đời Tần c̣n là vấn đề cần t́m hiểu thêm. Mặt khác, cho dù Tượng Quận có là Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ th́ các nhà sử học Đài Loan ngày nay phần đông cũng đă nhất trí là chính lệnh nhà Tần không xuống quá đèo Hải Vân (3).
Năm 208 trước Công nguyên, Triệu Đà đánh chiếm Âu Lạc, tháp nhập Âu Lạc vào Nam Việt. Một số sử gia nước ta gần đây viết rằng Triệu Đà chia đất đai Âu Lạc thành hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Có tác giả c̣n đi xa hơn, viết rằng Triệu Đà chia Âu Lạc làm 3 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Điều này là không đúng. Thứ nhất là đất đai Âu Lạc, ngoài Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, c̣n bao gồm cả miền nam Quảng Tây mà sau này nhà Hán đặt làm quận Thương Ngô. Thứ hai là Triệu Đà không chia Âu Lạc thành quận huyện mà vẫn duy tŕ chế độ tù trưởng Lạc hầu Lạc tướng để cai trị dân Âu Lạc. Thứ ba là Triệu Đà xem Âu Lạc là một bộ phận riêng biệt của Nam Việt, có lúc đă gọi dân Âu Lạc là dân trần truồng (4). Như vậy, các tên quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, cũng chỉ mới xuất hiện cùng lúc với các tên quận Thương Ngô, Hợp Phố, Châu Nhai, Đạm Nhĩ, sau khi Hán Vũ đế sai Lộ Bác Đức và Dương Bộc đánh diệt nước Nam Việt và thành lập 9 quận Giao Chỉ Bộ (5) vào năm 111 trước Công nguyên. Điều đáng lưu ư là danh xưng 9 quận của Giao Chỉ Bộ. Tên quận Nam Hải là tên cũ đời Tần; tên quận Uăt Lâm là do Quế Lâm đời Tần mà ra. Các quận khác đều là quận tân lập, đều mang tên mới, có điều là khi nói về các quận Thương Ngô, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, sử Tàu chỉ nói về việc chia đất lập các quận mới, trong lúc đó th́ về phần hai quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ, sử Tàu ghi rơ ràng rằng sau khi đánh diệt Nam Việt, Lộ Bác Đức thừa thắng đem quân vượt biển chiếm đất lập thêm hai quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ. Nhận xét này cho thấy vùng Huế, vào thời điểm thiết lập quận Nhật Nam, vốn từ trước đă nằm trong cương vực nước Nam Việt.
Nói tóm lại, vào thời Văn Lang, sử cũ cho rằng vùng Huế là bộ Việt Thường. Qua các thời Âu Lạc và Nam Việt, sử cũ không đả động ǵ đến bộ Việt Thường, cũng như không nói bộ Việt Thường trước kia nay thuộc cương vực nước nào. Mặt khác, sách xưa của Tàu (thiên Vũ Cống) chép rằng xứ Việt Thường ở phía nam đất Giao Chỉ, và trong các văn thư trao đổi giữa triều đ́nh Măn Thanh với vua Gia Long về việc cầu phong, cả hai phía Tàu lẫn ta đều mặc nhiên dùng danh xưng Việt Thường để chỉ phần đất phía nam đèo Ngang. Do đó, ta tạm gọi thời kỳ sơ sử của vùng Huế là thời kỳ Việt Thường.
Cương vực vùng Huế thời Bắc thuộc.
Nhà Hán lấy đất đai nước Nam Việt gộp với đảo Hải Nam để lập Giao Chỉ Bộ gồm có 9 quận. Quận cực nam của Giao Chỉ Bộ là quận Nhật Nam, chạy dài từ đèo Ngang đến đèo Cả, tức là miền trung Trung Bộ ngày nay. Quận Nhật Nam có 5 huyện : Lư Dung, Tỵ Cảnh, Tây Quyển, Tượng Lâm và Châu Ngô. Lỵ sở của quận Nhật Nam được đoán định là thành Tây Quyển, ở phía bắc thành phố Huế, trong lưu vực sông Bồ (6). Gần đây, theo tài liệu từ trong nước, các khai quật khảo cổ tiến hành năm 1997 đă phát hiện dấu tích của một ṭa thành xưa ở làng Thành Trung huyện Quảng Điền (7). C̣n phải chờ các khảo nghiệm bổ túc để xác định đây là dấu tích thành Tây Quyển đời Hán, hay đây chỉ là di chỉ của một ṭa thành khác được người Tàu hoặc người Chàm xây dựng về sau thay thế thành Tây Quyển đă bị vua Lâm Ấp Phạm Văn san bằng năm 347 sau Công nguyên, dưới triều Tấn Mục đế. Mặt khác, một số người cho rằng đây là di tích thành Hóa Châu đời Trần (8). Điều phỏng đoán này có lẽ không đúng, v́ rơ ràng thành cũ Hóa Châu ở ngă ba Śnh, tại làng Lại Ân, huyện Quảng Điền (9).
Năm 192 sau Công nguyên, đời Hán Hiến đế, niên hiệu Sơ B́nh thứ 3, con trai viên công tào huyện Tượng Lâm tên là Khu Liên nổi dậy giết huyện lệnh, chiếm huyện đường, dựng cờ tự chủ. Gặp lúc Trung Hoa loạn lạc, triều đ́nh Đông Hán mặc nhiên chấp nhận việc đă rồi, và gọi quốc gia tân lập này là Lâm Ấp, có nghĩa là đô ấp của huyện Tượng Lâm. Nước Lâm Ấp quay trở về với nền văn hóa Ấn Độ, nên đường ranh giữa hai huyện Tây Quyển và Tượng Lâm từ đây không chỉ là biên giới giữa Giao Châu và Lâm Ấp mà c̣n là biên giới giữa hai nền văn hóa Trung Hoa và Án Độ. Thực vậy, suốt thời Bắc thuộc, vùng Huế trở thành địa bàn tranh chấp ảnh hưởng giữa phương bắc và phương tây. Cuộc tranh chấp này mang tính chất giằng co, biên giới thay đổi liên tục từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân, và đến cuối đời Đường khi Lâm Ấp trở thành Chiêm Thành (Champapura) th́ biên giới này ở hẳn đèo Ngang.
Năm 248 sau Công nguyên, Lâm Ấp tiến chiếm quận Nhật Nam, rồi thừa thắng kéo ra cướp phá các quận Cửu Chân và Giao Chỉ, san bằng 2 quận thành này. Lúc bấy giờ Trung Quốc chia làm ba nước Ngụy, Ngô, Thục; và Giao Châu thuộc về Ngô. Niên hiệu Xích Ô thứ 11, Ngô chúa Tôn Quyền sai Lục Dận làm Giao Châu Thứ sử, An Nam Hiệu úy, đem đại binh từ Kiến Nghiệp sang ứng phó, Lâm Ấp phải lui binh, nhưng vẫn giữ thành Khu Túc. Từ đó, Lâm Ấp sửa sang Khu Túc thành một căn cứ quân sự hùng hậu, vừa để tiến công Giao Châu, vừa để pḥng ngự kinh đô Trà Kiệu (Shinharpura). Đến đời vua Lâm Ấp Phạm Văn th́ thành Khu Túc được xây lại bằng gạch với qui mô to lớn (10). Di tích thành Khu Túc này là thành Lồi hiện nay ở bờ nam sông Hương, tại xă Nguyệt Biều, phía tây nam Huế.
Đời Tấn Mục đế, niên hiệu Vĩnh Ḥa thứ 3, năm 347 sau Công nguyên, vua Lâm Ấp Phạm Văn tiến đánh Nhật Nam, bắt giết Thái Thú Hạ Hầu Lăm, san bằng thành Tây Quyển, và đắp lũy đất ở B́nh Chánh để làm đường phân ranh Giao Châu - Lâm Ấp. Phạm Văn gốc gác người Hán, lại đă từng lưu lạc nhiều năm bên Tàu, học được kỹ thuật xây đắp thành lũy và phương pháp tác chiến của người Tàu, nên rất giỏi dùng binh. Tướng nhà Tấn là Chinh Tây Đốc Hộ Đằng Tuấn năm 349 đem đại binh Giao Quảng vào tái chiếm Nhật Nam đă bị Phạm Văn đánh bại phải lui về Cửu Chân. Tuy vậy, Phạm Văn cũng bị thương mà chết, con là Phạm Phật lên thay. Thừa cơ, năm 351, Đằng Tuấn hợp binh với Thứ Sử Giao Châu Dương B́nh và Thái Thú Cửu Chân Quán Súy tiến đánh Tây Quyển, Phạm Phật thua chạy, bọn Đằng Tuấn đuổi theo qua Thọ Lănh đến Khu Túc rồi hai bên giảng ḥa. Để củng cố biên cương cực nam của Giao Châu, nhà Tấn lấy phần đất phía nam Cửu Chân đặt thành quận Cửu Đức (Nghệ Tĩnh ngày nay), và phần đất của huyện Tây Quyển tiếp giáp với Lâm Ấp đặt thành huyện Thọ Lănh (Phú Lộc ngày nay). Nhưng chỉ được ít lâu, vào năm 359, vẫn đời Tấn Mục đế, niên hiệu Thăng B́nh năm đầu, Phạm Phật lại ra quấy phá Nhật Nam, khiến Thứ Sử Giao Châu là Ôn Phóng Chi phải đem đại binh thủy lục vào đánh duổi. Phạm Phật giữ vững thành Khu Túc. Hai bên lại giảng ḥa, lấy bến Ôn Công (mũi Chân Mây ở cực nam Thừa Thiên) làm ranh giới Giao Châu - Lâm Ấp. Tổng kết lại, suốt 12 năm chiến tranh dưới triều Tấn Mục đế, khi đánh khi đàm, vùng Huế đă bị Lâm Ấp chiếm đóng trong 4 năm trời, và cuối cùng đường phân ranh Giao Châu - Lâm Ấp trở lại như thời Đông Ngô. Tuy vậy, ḥa b́nh chỉ được ít lâu, đến năm 399, đời Tấn An đế, niên hiệu Long An thứ 3, con Phạm Phật là Phạm Hồ Đạt (Bhadravarman I) lại tiến quân đánh hăm Nhật Nam, bắt giết Thái Thú Cảnh Nguyên, rồi chiếm cứ Cửu Đức, bắt giết Thái Thú Tào Bính, và thừa thắng tiến ra vây hăm quận thành Giao Chỉ, nhưng cuối cùng bị Thứ Sử Giao Châu Đỗ Viện đánh bại phải rút về Khu Túc.
Nhà Tấn mất, Trung Hoa rơi vào cục diện Nam Bắc triều. Năm 421, đời Tống Vũ đế (Nam triều), niên hiệu Vĩnh Sơ thứ 2, Thứ Sử Giao Châu là Đỗ Tuệ Độ hàng phục được vua Lâm Ấp Phạm Dương Mại. Vua Tống bèn phong cho Phạm Dương Mại làm Lâm Ấp vương. Qua đời Tống Văn đế, niên hiệu Nguyên Gia thứ 8, năm 431 sau Công nguyên, vua Lâm Ấp kế nghiệp là Phạm Dương Mại II đem hơn 100 chiến thuyền ra cướp phá Cửu Đức, khiến Thứ Sử Giao Châu Nguyễn Di Chi phải cất quân đánh dẹp. Phạm Dương Mại II lui về cố thủ Khu Túc. Năm 433, niên hiệu Nguyên Gia thứ 10, Lâm Ấp cử sứ bộ sang đ̣i Tống triều trao Giao Châu cho Lâm Ấp. Vua Tống không cho, Phạm Dương Mại II tức giận, thường xuyên đem quân ra cướp phá Giao Châu. Năm 446, niên hiệu Nguyên Gia thứ 23, Tống Văn đế sai Thứ Sử Giao Châu Đàn Ḥa Chi cùng Tư Mă Tiêu Cảnh Hiến, Chấn Vơ Tướng quân Tông Xác, Thái Thú Nhật Nam Khương Trọng Cơ, Tham Mưu Kiều Hoàng Dân, đem đại binh đi chinh phạt Lâm Ấp. Đàn Hoà Chi hạ được thành Khu Túc, thừa thắng kéo vào chiếm kinh đô Trà Kiệu, thu được nhiều vàng bạc châu báu, rồi rút quân về giữ Khu Túc. Mất thành Khu Túc, từ đó các vua Lâm Ấp chịu quy phục Trung Quốc, biên giới Giao Châu - Lâm Ấp trở lại như cuối thời Đông Hán, và sang triều Tề, năm 492 đời Tề Vũ đế, niên hiệu Vĩnh Ninh thứ 10, vua Lâm Ấp Phạm Chư Nông lại c̣n được gia phong làm An Nam Tướng quân Lâm Ấp vương.
Năm 541, niên hiệu Đại Đồng thứ 7 đời Lương Vũ đế, Lư Bôn nổi lên xưng đế ở Giao Châu, lập nên nước Vạn Xuân. Vua Lâm Ấp Luật Đà La Bạc Ma (Rudravarman) thừa cơ kéo binh ra chiếm lại Nhật Nam, củng cố thành Khu Túc, và đoạn giao với Trung Quốc. Lâm Ấp c̣n tiến quân ra Cửu Đức nhưng bị tướng của Lư Bôn là Phạm Tu đánh bại, phải rút về Nhật Nam. Suốt 62 năm tồn tại của nước Vạn Xuân, trăi qua các triều Lương, Trần (Nam triều) cho đến khi nhà Tùy thống nhất Trung Quốc, vùng Huế hoàn toàn nằm trong cương vực nước Lâm Ấp.
Nhà Tùy hàng phục Lư Phật Tử, chiếm lại Giao Châu, sai Lưu Phương làm Hoan Châu đạo Hành quân Tổng quản, cùng Thứ Sử Khâm Châu Ninh Trường Chân đem đại binh tiến đánh Lâm Ấp. Năm 605, đời Tùy Dượng đế, niên hiệu Đại Nghiệp năm đầu, Lưu Phương hạ thành Khu Túc, rồi kéo quân vào chiếm Trà Kiệu, đuổi vua Lâm Ấp Phạm Phạn Chí chạy vào Panduranga, chia đất Nhật Nam cũ thành 2 quận Tỵ Cảnh (Quảng B́nh), Hải Âm (Quảng trị, Thừa Thiên), và đặt thêm qưận Lâm Ấp (Quảng Nam, B́nh Định). Cương vực vùng Huế trở lại như đời Tây Hán.
Nhà Tùy mất năm 618, nhà Đường lên thay. Thái Thú Lư Giao cát cứ vùng Nhật Nam, chống lại nhà Đường. Bấy giờ nước Nam Chiếu ở mạn Vân Nam thường kéo xuống cướp bóc Giao Châu. Năm 622, nhà Đường hàng phục được Lư Giao, bèn lập Giao Châu Đô Hộ phủ, đến năm 679 lại đổi thành An Nam Đô Hộ phủ, do Tiết Độ sứ là chức quan vơ cai quản, để ứng phó với t́nh h́nh. Quan binh An Nam Đô Hộ phủ bận bịu với nạn Nam Chiếu, không rảnh tay lo việc phương nam, nên người Lâm Ấp nổi lên khôi phục đất cũ, và từ năm 749, đời Đường Huyền Tông, niên hiệu Thiên Bửu thứ 8, Nhật Nam trong thực tế đă thuộc về Lâm Ấp. Từ năm 758, đời Đường Túc Tông, niên hiệu Càn Nguyên năm đầu, sử Tàu gọi Lâm Ấp là Hoàn Vương. Năm 875, triều Đường Hy Tông, niên hiệu Kiên Phù thứ 2, người Chàm dời đô về Đồng Dương (Indrapura) và sử Tàu bắt đầu gọi nước này là Chiêm Thành (Champapura). Như vậy, từ trung diệp nhà Đường cho đến hết thời Ngũ Đại, lúc Đinh Bộ Lĩnh dựng nên nước Đại Cồ Việt năm 968, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc, biên giới An Nam - Chiêm Thành là ở Hoành Sơn. Vùng Huế lúc này thuộc Chiêm Thành và gồm có 5 châu : Bố Chính, Địa lư, Ma Linh, Ô và Ri (Lư).
Như vậy, vào thời Bắc thuộc, lịch sử vùng Huế có thể chia làm 2 thời kỳ: thời kỳ Nhật Nam từ năm 111 trước Công nguyên đến năm 758 sau Công nguyên, và một thời kỳ kế tiếp gọi là thời kỳ Ô Ri từ sau niên đại đó cho đến hết thời Bắc thuộc và kéo dài đến năm 1306 lúc Giao Châu đă giành lại quyền tự chủ.
Cương vực vùng Huế thời Lê Hoàn.
Sử cũ nước ta chép rằng năm Kỷ Dậu (1069), đời Lư Thánh Tông, niên hiệu Thiên Huống Bửu Tượng thứ 2, tháng 2, ngày Mậu Tuất, nhà vua thân chinh đi đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Chế Củ dâng 3 châu Bố Chính, Địa Lư và Ma Linh để chuộc mạng, nên được tha về. Năm 1075, vẫn đời Lư Thánh Tông, niên hiệu Thái Ninh thứ 4, nhà vua xuống chiếu đổi châu Địa Lư làm châu Lâm B́nh, đổi châu Ma Linh làm châu Minh Linh, và chiêu mộ dân đến lập nghiệp ở các châu ấy. Sử nước ta về sau cứ theo vậy mà chép, nghĩa là xác định 3 châu Bố Chính, Địa Lư và Ma Linh đă trở về cương vực Đại Việt cùng một lúc vào triều Lư Thánh Tông.
Chép như vậy là không đúng theo sự thực lịch sử và thiếu vô tư trong việc lượng giá sự nghiệp và ghi nhớ công trạng tiền nhân. Thật vậy, chỉ cần lật lại những trang sử vào cuối thế kỷ thứ 10 liên quan đến vùng Huế và chịu khó suy nghĩ một chút là thấy ngay châu Bố Chính đă trở về cương thổ Đại Việt từ thời Lê Đại Hành.
Trong thời Ngũ Đại, Trung Hoa loạn lạc. Cả Quảng Châu lẫn Giao Châu đều t́m cách giành quyền tự chủ. Tại Quảng Châu, năm 911, Lưu Cung lập ra nước Đại Việt (năm 947 lại đổi thành Nam Hán), định đô ở Phiên Ngung. Tại Giao Châu, năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lập ra nước Đại Cồ Việt, định đô ở Hoa Lư. Trong lúc đó, Triệu Khuông Dẫn thống nhất Trung Qưốc, lập nên nhà Tống vào năm 960, định đô ở Biện Kinh. Vua Tống sai tướng là Phan Mỹ đánh diệt nước Nam Hán, nhưng về phần Giao Châu lại tạm thời phong cho Đinh Bộ Lĩnh làm Giao Chỉ Quận vương vào năm 972. Năm 979, Đinh Bộ Lĩnh bị Đỗ Thích giết, vua kế vị c̣n nhỏ tuổi, triều thần khuynh loát lẫn nhau. Nhà Tống thừa cơ, sai Hầu Nhân Bảo và Lưu Trừng năm 980 đem quân thủy bộ hai mặt tiến đánh, đồng thời đưa thư ước hẹn vua Chiêm Thành là Tỳ Mi Thuế (Paramecvaravarman) tiến công mặt nam của Đại Cồ Việt. Quân sĩ bèn tôn Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn lên ngôi vua, lấy hiệu là Đại Hành Hoàng đế. Lê Hoàn chia quân giữ chặt mặt thủy, không cho Lưu Trừng vào sông Bạch Đằng, đồng thời đón đánh đạo quân Tàu đi đường bộ qua ngă Ôn Châu, bắt giết chủ tướng Hầu Nhân Bảo, và cầm tù bọn bộ tướng Quách Quân Biện và Triệu Phụng Hiếu. Năm 982, Lê Hoàn gửi sứ bộ sang Tống cầu hoà và được phong Tĩnh Hải Tiết Độ sứ. Yên được mặt bắc, Lê Hoàn lập tức cất quân chinh phạt Chiêm Thành.
Vua Chiêm Thành Tỳ Mi Thuế xuất quân chống cự nhưng bị chém chết ngay tại trận tiền. Quân Chiêm bị giết và bị bắt sống hàng mấy vạn người. Người Chiêm tôn Indravarman IV lên làm vua để lo việc chống giữ, nhưng không cản được đà tiến quân vũ băo của Đại Cồ Việt vào kinh đô Đồng Dương. Indravarman IV phải chạy trốn vào Panduranga (Phan Rang). Quân nhà Tiền Lê chiếm cứ Đồng Dương, thiêu hủy tông miếu hoàng gia Chiêm Thành, và chia quân đóng giữ các nơi hiểm yếu đến tận Vijaya (B́nh Định). Vua Lê Đại Hành ở lại trên đất Chiêm một năm mới ban sư. Nhà vua lưu lại một đạo quân trú pḥng dưới quyền chỉ huy của quản giáp Lưu Kế Tông để chiếm đóng miền bắc Chiêm Thành, bao gồm phần đất quận Nhật Nam cũ (B́nh Trị Thiên), miền Amaravati (Quảng Nam) và miền Vijaya (B́nh Định).
Những dữ kiện lịch sử trên đây, sử nước ta đều ghi chép đầy đủ, thậm chí c̣n ghi chép tỉ mỉ rằng khi rút quân về năm 983 vua Lê Đại Hành mang theo 100 cung nữ người Chiêm giỏi múa hát và một thầy tăng Ấn Độ cùng rất nhiều vàng bạc châu báu (11), nhưng sử cũ lại tuyệt nhiên không đả động ǵ đến việc vua Lê lưu quân chiếm đóng miền bắc Chiêm Thành, và lúng túng mô tả nhân vật Lưu Kế Tông như là một quản giáp đă trốn ở lại, bị vua Lê sai người duổi theo bắt được, đem chém. (12). Hơn nữa, sử nước ta không có lấy nửa lời nói về những việc xẩy ra trên phần đất phía nam đèo Ngang sau năm 983 xuyên suốt 3 đời vua triều Tiền Lê cho đến hết đời Thái Tổ triều Lư (13). Măi khi Lư Thái Tông đi đánh Chiêm Thành năm 1044, niên hiệu Minh Đạo thứ 3, sử cũ mới tỉ mỉ kể chuyện nhà vua trên đường hành quân đổi tên cửa Đại Ác thành Đại An, gặp các điềm lành mây đỏ che thuyền ngự, cá trắng nhảy lên chầu v.v., rồi chuyện Quách gia Di chém Xạ Đẩu (Jaya Simhavarman II), chuyện vua Lư tiến quân vào Phật Thệ bắt cung nữ múa điệu Tây Thiên, chuyện Mỵ Ê tử tiết ở sông Lư nhân thuộc phủ Trường Yên và được truy phong Hiệp chính Hựu thiện Phu nhân. Tiếp đến đời Lư Thánh Tông, năm 1069, niên hiệu Thiên huống Bửu tượng thứ 2, nhà vua xuất quân chinh phạt Chiêm Thành, sử cũ lại cũng dài ḍng kể lể lộ tŕnh hành quân và các điềm cát tường, và cuối cùng là chuyện vua Chiêm Thành Chế Củ (Rudravarman III) bị bắt và dâng 3 châu Bố Chính, Địa Lư và Ma Linh để chuộc mạng.
Trong thực tế, sau năm 983, trên phần đất phía nam đèo Ngang đă xẩy ra nhiều biến cố quan trọng mà sử ta không đả động đến nhưng sử Tàu lại ghi chép tỉ mỉ rơ ràng. Từ năm 983 đến năm 986, Lưu Kế Tông cai trị miền bắc Chiêm Thành. Năm 985, Indravarman IV cử sứ bộ sang Tống triều khiếu nại với Tống Thái Tông việc Giao Châu thiêu hủy tông miếu và chiếm cứ đất đai. Năm 986, Indravarman IV chết, Lưu Kế Tông tự lập làm vua Chiêm Thành và cử phái bộ Lư Triều Tiên sang Tống triều tiến cống và cầu phong. Người Chiêm nổi dậy chống đối và bị Lưu Kế Tông đàn áp, phải bỏ chạy sang xin qui phụ Trung Quốc. Sử nhà Tống chép rằng năm 986, đời Tống Thái Tông, niên hiệu Ung Hy thứ 3, biên thần Đạm Châu tâu rằng người Chiêm là bọn Bồ La Át bị Giao Châu bức bách nên đem hơn 100 người trong họ chạy sang xin qui phụ. Sử nhà Tống lại chép trong năm 987, niên hiệu Ung Hy thứ 4, huyện Thanh Viễn, Nam Hải, thuộc Quảng Châu, tiếp nhận 150 người Chiêm tị nạn; và năm 988, niên hiệu Đoan Cung năm đầu, biên thần Quảng Châu lại tâu có thêm 301 người Chiêm xin qui phụ. Năm 988, người Chiêm Thành nổi loan chiếm lại miền Vijaya (B́nh Định) và tôn Ku Xri Harivarman II (Băng vương La Duệ) lên ngôi vua tại thành Phật Thệ (Chà Bàn). Lưu Kế Tông lo buồn sinh bệnh và qua năm sau th́ mất (năm 989, niên hiệu Hưng Thống năm đầu đời Lê Đại Hành). Harivarman II thừa cơ tiến lên chiếm lại Amaravati, Ri, Ô, Ma Linh, Địa Lư. Năm 990, Lê Đại Hành sai quân sang đánh châu Địa Lư, bắt được nhiều tù binh. Harivarman II liền cử sứ bộ mang tê ngưu sang Tống triều tiến cống và tố cáo Giao Châu lại xâm chiếm đất đai Chiêm thành. Ngay trong năm 990, Tống Thái Tông xuống chiếu yêu cầu vua Lê băi binh. Lê Đại Hành chấp nhận nghị ḥa, ra lệnh rút quân khỏi châu Địa Lư, đem về đóng giữ châu Bố Chính. Năm 992, Lê Đại Hành trả cho Chiêm Thành 360 tù binh bị bắt trước đây ở Địa Lư, và sai Ngô Tử An đem 3 vạn người mở đường bộ từ cửa Sót (Hà Tĩnh) vượt đèo Ngang xuyên qua châu Bố Chính (Tuyên Hóa, Bố Trạch, Quảng Trạch) để đến châu Địa Lư (Quảng Ninh, Lệ Thủy). Năm 993, Lê Đại Hành được nhà Tống phong tước Giao Chỉ Quận vương (14).
Những sử liệu kể trên cho thấy nhà Tống quyết tâm ngăn cản Đại Cồ Việt thôn tính Chiêm Thành. Mặt khác, Lê Đại Hành tuy oanh liệt đánh bại quân Tống, nhưng vẫn muốn cầu ḥa và thụ phong. Do đó, trước áp lực của Tống triều, năm 983, Lê Đại Hành phải minh thị rút đại quân về Bố Chính, và âm thầm lưu quân đóng giữ miền bắc Chiêm Thành. Triều đ́nh Hoa Lư phủ nhận mọi liên hệ với đạo quân trú pḥng này, rêu rao rằng họ là những phần tử đào nhiệm. Ngay cả việc Lưu Kế Tông tự lập làm vua Chiêm Thành vào năm 986 cũng là do Hoa Lư chỉ đạo, nhưng lại biện bạch với Tống triều rằng Lưu Kế Tông chỉ là viên quản giáp đào nhiệm năm 983, đă bị bắt và bị chém.. Măi đến khi Lưu Kế Tông chết năm 989, Harivarman II chiếm lại đất đai đă mất, Lê Đại Hành mới ra mặt, sai quân đánh châu Địa Lư năm 990. Điều này chứng minh rằng châu Bố Chính trong thực tế đă thuộc cương vực Đại Việt, nếu không, vua Lê tất phải sai quân đánh châu Bố Chính trước. Lại nữa, sau khi Tống Thái Tông đích thân can thiệp, Lê Đại Hành chịu băi binh, và năm 992 sai Ngô Tử An mở đường bộ vào châu Địa Lư, nếu châu Bố Chính không phải đă là đất Đại Việt th́ làm sao Ngô Tử An mở được đường xuyên qua đồng đất nước người.
Như vậy, sử cũ nước ta về sau chép việc Chế Củ dâng 3 châu Bố Chính, Địa Lư và Ma Linh cho Lư Thánh Tông để chuộc mạng là đă chép thêm châu Bố Chính để chính thức hóa một việc đă rồi. Chính tờ chiếu của Lư Thánh Tông năm 1075, niên hiệu Thái Ninh thứ 4, về việc đổi tên châu Địa Lư làm châu Lâm B́nh, châu Ma Linh làm châu Minh Linh, và chiêu mộ di dân đến các châu ấy, mà không đả động ǵ đến châu Bố Chính, đă xác định điều này. Thời cận đại, giáo sĩ R,D. Cadière nhận xét cư dân ở Lâm B́nh và Minh Linh thường qui tụ người cùng họ để lập thành làng, như Ngô Xá, Hoàng Xá, Phan Xá, Hồ Xá v.v., và hiện tượng này không thấy có ở Bố Chính (15). Điều này chứng minh rằng việc di dân đến 3 châu Bố Chính, Địa Lư và Ma Linh đă không xẩy ra cùng một lúc, nói khác đi, khi lưu dân hưởng ứng chiếu di dân của Lư Thánh Tông đến lập nghiep ở Lâm B́nh và Minh Linh th́ ở Bố Chính đả có người Việt đến định cư rồi Như vậy, châu Bố Chính đă trở về cương vực Đại Việt từ thời Tiền Lê, dưới triều Lê Hoàn.
Vùng Huế và danh xưng Việt Thường.
Vùng Huế là quận Nhật Nam đời Hán. Điều này đă được chính sử ghi chép rơ ràng. Nhưng vùng Huế c̣n có một danh xưng khác xưa hơn: vùng Huế là bộ Việt Thường nước Văn Lang đời Hùng vương. Tuy điều này chỉ là truyền thuyết, không dựa vào những chứng tích xác tín của khoa khảo cổ, nhưng đă có những cơ sở vững chắc và dồi dào về mặt lịch sử, văn học và chính trị. Sử cũ nước ta chép rằng Việt Thường là một trong 15 bộ của nước Văn Lang, ở vào vị trí vùng B́nh Trị Thiên ngày nay (1). Mặt khác, trong văn học nước ta và văn học Trung Quốc có nhan nhăn những sáo ngữ 'Ngựa Hồ trông gió Bắc, Chim Việt đậu cành Nam' (Hồ mă tê Bắc phong, Việt điểu sào Nam chi). Chim Việt là chim của xứ Việt Thường. Sử cũ nước Tàu chép rằng vào đời Chu Thành vương, sứ bộ xứ Việt Thường đem cống chim trĩ trắng, chim nhớ quê hương miền nam nên cứ t́m cành nam mà đậu. Sử cũ nước Tàu c̣n chép thêm rằng sứ giả xứ Việt Thường nói thứ tiếng phải qua 12 lần trung gian phiên dịch mới hiểu được, rằng Triều đ́nh nhà Chu (Chu Công Đán) tặng sứ bộ Việt Thường xe chỉ nam để sứ bộ tiện t́m đường về xứ v.v. Thật ra th́ cho tới nay cũng chưa có sách vở nào khẳng định cái xứ Việt Thường đem cống chim trĩ trắng cho nhà Chu nằm vào cương vực nước ta ngày nay. Sách xưa của Tàu (thiên Vũ Cống) nói rằng xứ Việt Thường ở phía nam đất Giao Chỉ, nhưng danh xưng Giao Chỉ chép trong sách xưa của Tàu là để chỉ vùng đất có giao long (cá sấu) (3), tức là vùng đất ở giữa các hồ Động Đ́nh và Phiên Dương, chứ không phải là Giao Chỉ Bộ đời Hán. Mặt khác, một vài nhà khảo cổ người Pháp thuộc trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội cho rằng Việt Thường là nước Xa Lư xưa kia ở trong cương vực tỉnh Vân Nam ngày nay (16). Vậy chỉ có điều chắc chắn là xứ Việt Thường đó ở về phương nam, trong vùng cư trú của chủng tộc Bách Việt. C̣n khẳng định rằng xứ Việt Thường đó là bắc bộ quận Nhật Nam đời Hán, tức là vùng Huế ngày nay, th́ là một việc làm có phần vội vă. Hơn nữa, nếu Việt Thường là một bộ của nước Văn Lang th́ thử hỏi tương quan giữa bộ Việt Thường và nhà nước trung ương Văn Lang như thế nào mà địa phương Việt Thường lại tự tiện đem chim trĩ trắng trực tiếp giao thiệp với nước ngoài.
Mặt khác, nếu cho rằng quận Nhật Nam đời Hán là bộ Việt Thường thời Hùng vương th́ điều ức đoán này của sử cũ nước ta cũng là hồ đồ, không có đủ cơ sở khoa học, để có giá trị thuyết phục. Các danh xưng Việt Thường, Cửu Đức, Vũ Ninh, Hoài Hoan v.v. của 15 bộ nước Văn Lang đều là từ ngữ Hán, mà thời Hùng Vương, dân ta đâu đă chịu ảnh hưởng văn hóa của người Tàu, dân ta đâu đă biết dùng Hán tự để đặt tên người, tên xứ. Danh xưng của 15 bộ nước Văn Lang, ngoại trừ Việt Thường, chẳng qua là tên châu, tên quận của đời sau, sử cũ đă chép lại và gán cho các phân hạt hành chánh tưởng tượng của nước Văn Lang thời Hùng Vương. Mà ngay cả cái quốc hiệu Văn Lang cũng là một mối ngờ lớn về sự chính xác. Thực vậy, vào thời Hùng Vương, lúc nhà Tần chưa đem quân vào đất Lục Lương, lập ra các quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng quận, th́ người Tàu thường gọi Quảng Đông là Âu Việt, Quảng Tây là Tây Âu, Việt Nam là Lạc Việt. Từ thuở các vua Hùng mở nước cho đến khi Thục Phán nổi lên từ Tây Âu đánh bại vua Hùng cuối cùng và kiêm tính Lạc Việt để lập ra nước Âu Lạc vào năm 257 trước Công nguyrên th́ người Tàu gọi chung xứ này là Môn Lang (làng của người Môn). Trong quá tŕnh tiến hóa của Hoa ngữ, trước thời Hán Đường, người Tàu đọc văn là môn, cũng như ngày nay, người Tàu lại đọc văn thành wen (uân). Mà Hán tự lại là thứ chữ tượng h́nh, không phải là thứ chữ kư âm, cho nên dù đọc là môn, là văn hay là wen th́ chữ cũng viết y hệt nhau. Dân ta tiếp thụ Hán tự vào thời Hán Đường, khi mà chữ môn đă được đọc là văn, cho nên Môn Lang trở thành Văn Lang trong sử sách nước ta. Việc người Tàu trước thời Tần Thủy Hoàng gọi địa bàn sinh hoạt của cư dân Bách Việt là Môn Lang (làng của người Môn) phù hợp với các kiến giải nhân chủng học cận đại cho rằng người Môn ở Nam Á (người Indonesian) bị người Aryens đánh đuổi nên tràn qua Đông Dương và Hoa Nam rồi về sau Hán hóa mà trở thành người Tiều, người Quảng, người Việt v.v., chỉ rơi rớt các phần tử rút vào rừng sâu là c̣n giữ nguyên bản sắc mà điển h́nh là người Mường ở bắc bộ Đông Dương. Người Tây Âu và người Lạc Việt thời bấy giờ (người Môn) ở trần, đóng khố, nên trong văn thư gửi Hán Văn Đế, Triệu Vũ Vương đă nói dân Âu Lạc là dân trần truồng (4). Gần đây, Hoàng Văn Chí, vốn là dân Thanh Hóa chính gốc, đă viết rằng dân Mường Thanh Hóa ngày nay vẫn tự xưng: 'Tôi là người Môn, tôi là người Mọi'.
Tuy vậy, vẫn có sự mặc nhiên công nhận những dữ kiện lịch sử và chính trị khẳng định vùng Huế xưa kia là xứ Việt Thường, cả về phía chính giới Việt Nam lẫn về phía chính giới Trung Quốc. Thật vậy, sau khi lên ngôi vua, cùng trong năm 1802, Gia Long trước sau liên tiếp cử Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định cầm đầu 2 sứ bộ sang Tàu cầu phong. Trong biểu tấu, Gia Long xin nhà Thanh cho đặt tên nước là Nam Việt, lấy lư do là đă thống nhất An Nam và Việt Thường làm một mối. An Nam là Đàng Ngoài, từ Bắc Bộ tới Hà Tĩnh. Việt Thường là Đàng Trong, từ Quảng B́nh tới Nam Bộ. Triều Đ́nh nhà Thanh họp bàn, không mảy may thắc mắc về danh xưng Việt Thường, nghĩa là mặc nhiên nhận rằng Việt Thường là phần đất phía nam đèo Ngang, mà chỉ thắc mắc về danh xưng Nam Việt, nghi ngại Gia Long nhắc nhở đến nước cũ của Triệu Đà với ư đồ xin trả lại đất Lưỡng Quảng. V́ vậy, thay v́ Nam Việt, nhà Thanh đổi ngược lại là Việt Nam, phong cho Gia Long tước vị Việt Nam Quốc Vương, vẫn với ư nghĩa là đă thống nhất An Nam và Việt Thường làm một mối. Với việc tấn phong này, cả hai phía Việt Nam và Trung Quốc đều dùng danh xưng Việt Thường để chỉ phần đất phía nam đèo Ngang, chủ yếu là vùng Huế.
Nước non ngàn dặm ra đi.
Đất nước nào cũng có những con người làm nên lịch sử của đất nước đó, và lưu lại dấu ấn trên cảnh sắc và phong cách con người các đời sau. Vùng Huế cũng vậy. Cảnh sắc và phong tư con người vùng Huế xưa nay đă quyện vào nhau, thế hệ này tiếp nối thế hệ khác, tạo thành bản sắc đặc biệt của vùng Huế xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Trên cái tổng thể thiên nhiên sơn kỳ thủy tú do Tạo hóa an bài, những con người nước non ngàn dặm ra đi để làm nên lịch sử vùng Huế, cho dù là khách phong lưu tài tuấn, hay là bậc khí phách anh hào, đă ít mhiều lưu lại dấu ấn sâu sắc cho ngàn sau.
Nước Chiêm Thành, sau khi bị Lê Hoàn phá hủy kinh thành Đồng Dương, phải thiên đô vào Phật Thệ (Vijaya) th́ thế nước bắt đầu suy yếu. Lại hai lần bị các vua Lư Thái Tông và Thánh Tông chiếm đất bắt người, nên đối với Đại Việt, Chiêm Thành giữ phận chư hầu. Từ khi nhà Trần lên thay nhà Lư, người Chiêm Thành thỉnh thoảng sang cướp phá ven biển, v́ thế, năm 1252, niên hiệu Nguyên Phong thứ 2, vua Trần Thái Tông ngự giá thân chinh, bắt được vương phi là Bố Gia La, nhiều cung nữ và tù binh, rồi rút về. Từ đó, nhất là sau khi Indravarman V lên ngôi, Chiêm Thành đều đặn triều cống. Đến khi Hốt Tất Liệt lên làm vua Trung Quốc, lập ra nhà Nguyên, tức là Nguyên Thế Tổ, vua Nguyên phong cho Indravarman V làm Chiêm Thành Quận vương, và năm 1280, niên hiệu Chí Nguyên thứ 17, sai Toa Đô và Lưu Thâm sang chia đất đặt quan cai trị. Người Chiêm Thành không chịu, hai sứ giả phải trở về. Năm 1282, Nguyên Thế Tổ sai Toa Đô mang quân sang đành Chiêm Thành. V́ không mượn được đường bộ qua Đại Việt, quân Toa Đô phải đi đường biển. Quân Chiêm Thành thực hiện chiến thuật tiêu thổ kháng chiến, quân Nguyên lại không quen với khí hậu phương nam, hao binh tổn tướng mà không thu được kết quả ǵ, nên năm 1285, Toa Đô được lệnh rút thủy sư ra Nghệ An hội quân với Thoát Hoan đánh Đại Việt. Kháng chiến chống Nguyên Mông thắng lợi, Indravarman V xét ḿnh đă quá già nên truyền ngôi cho con là Harijit. Harijit lên làm vua, lấy hiệu là Jaya Simhavarman III, sử ta gọi là Chế Mân.
Về phía Đại Việt, nhà Nguyên Mông ba lần mang quân thủy bộ xâm lược nhưng đều bị thảm bại. Sau khi đánh đuổi Nguyên Mông, vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông, lên làm Thái Thượng Hoàng để ngao du sơn thủy. Năm 1301, tháng 2, niên hiệu Hưng Long thứ 9, Thượng Hoàng Nhân Tông sang Chiêm Thành, ở chơi 9 tháng. Trong thời gian này, Thượng Hoàng có hứa gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Năm 1305, Chiêm Thành cử sứ bộ Chế Bồ Đài sang dâng 2 châu Ô, Ri làm sính lễ để cưới công chúa Huyền Trân. Triều thần đều tỏ ư phản đối, chỉ có Văn Túc vương Đạo Tái cho là việc nên làm. Năm 1306, tháng 6, niên hiệu Hưng Long thứ 14, nhà Trân đưa công chúa Huyền Trân về Chiêm Thành. T́nh cảnh của công chúa lúc bấy giờ, má hồng da tuyết, sen ngó đào tơ, v́ nước v́ nhà mà phải cất bước ra đi ngàn dặm, thử hỏi khách phong lưu tài tuấn đương thời cũng như ngàn sau, có ai không cảm thấy ngậm ngùi:
Nước non ngàn dặm ra đi
Cái t́nh chi ...
Mượn màu son phấn, đền nợ Ô Ly.
Đắng cay v́ đương độ xuân th́
Số lao đao hay là nợ duyên ǵ?
Má hồng da tuyết
Vàng lộn theo ch́ ...
(Ca Huế, điệu Nam ai, Ưng B́nh Thúc Dạ Thị)
Đoàn thuyền của công chúa Huyền Trân ghé vào cửa biển Ô Long (nay là cửa Tư Hiền, phía nam Huế) nghỉ ngơi, nhân đó nhà Trần mới đổi Ô Long thành Tư Dung. Tư là tưởng nhớ, dung là nét mặt, dáng người. Nh́n cảnh sắc mà tưởng nhớ tới con người. Tư Dung, thật không có danh từ nào thanh nhă mà gợi cảm bằng để tỏ ḷng tri ân người xưa đă có công mở nước. Đến nhà Mạc, v́ kiêng húy Mạc Đăng Dung, nên cửa biển Tư Dung đổi tên là Tư Khách. Qua triều Lê Trung Hưng, lại lấy tên Tư Dung như cũ. Năm 1811, triều Gia Long, cửa biển Tư Dung bị cát bồi nên lần lần trở thành cạn hẹp, tàu lớn không vào được. Năm 1841, niên hiệu Thiệu Trị năm đầu, cửa biển Tư Dung được đổi tên thành Tư Hiền. Thời trước, cửa Tư Hiền c̣n rất sâu rộng, các đạo vương sư Lư, Trần và Hậu Lê chinh phạt Chiêm Thành đều dừng lại nghỉ ngơi ở đây. Vua Lê Thánh Tông c̣n lưu lại bài thơ Tư Dung Hải môn lữ thứ :
Lâu thuyền kích cổ đáo Ô Long,
Bách nhị quan hà thử yếu xung.
Liệt chướng huyền nhai thanh xúc xúc,
Kê thiên phách lăng bích trùng trùng..
Tiên triều sự nghiệp truyền di tích
Nam quốc dư đồ nhận cựu phong.
Nạp cấu tàng ô hà hải lượng,
Nhân gian vô xứ bất triều tông.
Đào Duy Từ có bài Tư Dung văn ca ngợi cảnh sắc hùng tráng của cửa biển Tư Dung, xin trích mấy câu:
Khéo ưa thay cảnh Tư Dung,
Cửa thâu bốn bể, nước thông trăm ng̣i.
Trên thời tinh tú phân ngôi,
Đêm treo thỏ bạc ngày soi ác vàng.
Dưới thời sơn thủy khác thường,
Động Đ́nh ấy nước, Thái Hàng ḱa non (17)
Cửa Tư Hiền mở vào phá Cầu Hai, ăn thông với đầm Hà Trung và phá Tam Giang ở phía bắc, bên trái là núi Túy Vân (Qui Sơn), bên phải là mũi Chân Mây (Cái Sơn), sau lưng là núi Bạch Mă, sông nước mênh mông, núi non sừng sững, thật là nơi danh thắng đệ nhất. Đă thế, vùng cửa Tư Hiền lại có nhiều di tích lịch sử thời cổ đại. Thị trấn Cầu Hai (Cao Đôi), huyện lỵ huyện Phú Lộc ngày nay, là lỵ sở huyện Thọ Lănh đời Tấn. Mủi Chân Mây là bến Ôn Công thời Bắc thuộc, dùng làm đường phân ranh giữa Giao Châu và Lâm Ấp. Trên núi Túy Vân c̣n có di tích tháp Chàm và chùa Thánh Duyên do chúa Nguyễn Phúc Tần dựng năm 1648. Năm 1841, vua Thiệu Trị trùng tu chùa, đổi lại tên là chùa Túy Vân, và làm bài thơ Vân Sơn thắng tích cho khắc vào bia đá dựng bên chùa. Trên núi Bạch Mă, ở độ cao 1500 mét, là thị trấn nghĩ mát của người Pháp, có gần 700 ngôi biệt thự lớn nhỏ, và là nơi cắm trại hàng năm của Hướng Đạo Đông Dương. V́ chiến tranh liên miên, Bạch Mă bị bỏ hoang phế từ năm 1946, và chỉ gần đây mới được chỉnh trang lại để trở thành một điểm du lịch hấp dẫn của vùng Huế.
Năm 1307, niên hiệu Hưng Thống thứ 15, vua Anh Tông sai Hành Khiển Đoàn Nhữ Hài vào dẹp loạn ở các sách La Thủy, Tác Hồng, Đà Bồng, chiêu phủ dân chúng, đổi Ô, Ri làm Thuận Châu và Hóa Châu, chọn người sở tại làm quan (18), cấp ruộng đất cho dân và miễn 3 năm tô thuế. Thuận Châu là giải đất từ sông Nhung đến sông Bồ, gồm các phủ Triệu Phong, Hải Lăng và các huyện Phong Điền, Quảng Điền ngày nay. Hóa Châu là giải đất từ sông Bồ đến sông Túy Loan, trăi dài từ huyện Hương Trà đến phủ Điện Bàn ngày nay, bao gồm cả 2 thành phố Huế và Đà Nẳng. Đoàn Nhữ Hài là danh nhân tài trí, không phải là người hoàng tộc mà được ở ngôi đại thần, là điều hiếm thấy tại triều đ́nh nhà Trần. Đoàn Nhữ Hài được ủy thác liệu lư việc phương Nam, bao nhiêu phen đi sứ Chiêm Thành đều chu toàn mệnh vua và xiển dương thế nước (19), vỗ yên trăm họ hai châu Thuận, Hóa, biết chọn lựa và tin dùng thổ quan, nhờ vậy mà chỉ 100 năm sau, trong đám cư dân bản địa đă phát sinh những nhân vật kỳ vĩ như cha con Đặng Tất, Đặng Dung, và Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Cảnh Dị, là linh hồn cuộc kháng chiến đời Hậu Trần, khiến chủ soái quân Minh là Trương Phụ phải một phen suưt chết ở ngă ba Śnh, trước thành Hóa Châu.
Thành Hóa Châu c̣n lưu di tích ở làng Lại Ân, huyện Quảng Điền. Thành Hóa Châu do người Chiêm Thành xây dựng vào thời Đường, khi người Tàu dứt khoát bỏ đất Nhật Nam vào đời Đường Hy Tông (năm 975), và bắt đầu gọi nước láng giềng phương nam của Giao Châu là Chiêm Thành (Champapura). Sau khi trở lại cương vực Đại Việt, thành Hóa Châu được Hồ Quư Ly tu bổ vào năm 1391, niên hiệu Quang Thái thứ 4 đời Trần Thuận Tông. Năm 1402, niên hiệu Thiệu Thánh thứ 2 triều Hồ Hán Thương, đường cái quan từng chặng có phố xá, có trạm ngựa, gọi là Thiên lư cù, được thiết lập để nối liền thành Hóa Châu với kinh thành Tây Giai. Hồ Hán Thương lại sai Hành khiển Đỗ Măn đem quân đánh Chiêm Thành, lấy đất Chiêm Động và Cổ Lủy, đặt thành 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghỉa và trấn Tân Ninh., đem dân Nghệ An, Tân B́nh, Thuận Hoá vào định cư lập nghiệp. Khi quân Minh sang đánh diệt họ Hồ, người Chiêm Thành thừa cơ lấy lại Chiêm Động và Cổ Lủy, đám di dân Đại Việt phải chạy về Hóa Châu. Người Minh gộp Thuận Châu và Hóa Châu lại thành phủ Thuận Hóa, và cải châu Tân B́nh thành phủ Tân B́nh.
B́nh Định vương Lê Lợi khởi nghĩa năm 1418, đến năm 1425 sai Trần Nguyên Hăn, Lê Nỗ, Lê Ngân, đánh chiếm Tân B́nh và Thuận Hóa, sai hàng tướng Châu Sài lập trại chăn ngựa ở Hóa Châu và định cư tù binh người Minh ở Tân B́nh. Lên ngôi năm 1428, vua Lê Thái Tổ chia nước làm 5 đạo. Thuận Hóa thuộc đạo Hải Tây, là giải đất chạy dài từ Ninh B́nh đến Đà Nẳng ngày nay. Năm 1466, niên hiệu Quang Thuận thứ 7, Lê Thánh Tông chia nước làm 12 đạo Thừa tuyên và phủ Phụng Thiên. Thuận Hóa Thừa tuyên gồm 2 phủ là Tân B́nh và Triệu Phong. Phủ Tân B́nh lĩnh 2 huyện Khương Lộc (Quảng Ninh) và Lệ Thủy, và 2 châu Bố Chính (Tuyên Hóa, Bố Trạch, Quảng Trạch) và Minh Linh (Vĩnh Linh, Gio Linh). Phủ Triệu Phong lĩnh 6 huyện Vũ Xương (Đăng Xương), Hải Lăng, Đan Điền (Quảng Điền, Phong Điền), Kim Trà (Hương Trà, Phong Điền), Tư Vinh (Phú Vang, Phú Lộc), và Điện Bàn (Điện Bàn, Ḥa Vang, Đà Nẳng).
Năm 1471, niên hiệu Hồng Đức thứ 2, Lê Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, hạ thành Chà Bàn, bắt sống vua Chiêm Thành Trà Toàn, thu phục đất cũ Chiêm Động và Cổ Lủy để đặt lại các phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa, và lấy thêm đất Vijya đặt ra phủ Hoài Nhân, gộp chung 3 phủ lại thành đạo Thừa tuyên Quảng Nam. Như vậy, nước ta lúc bấy giờ có 13 đạo Thừa tuyên và phủ Phụng Thiên (Hà Nội). Năm 1490, niên hiệu Hồng Đức thứ 21, Lê Thánh Tông đổi đạo Thừa tuyên làm xứ. Đến đời Lê Tương Dực lại đổi xứ làm trấn. Sau khi lập thêm đạo Thừa tuyên Quảng Nam, Lê Thánh Tông cho lệnh chiêu mộ dân Bắc Hà và Thanh Nghệ vào định cư lập nghiệp ở vùng đất mới. Niên đại 1471 đánh dấu việc hoàn tất sự nghiệp thống nhất Chiêm Thành với Đại Việt, đem huyện Tượng Lâm trở về với quận Nhật Nam. Những đoàn di dân miệt ngoài, nước non ngàn dặm ra đi, theo dấu mở đường của công chúa Trần Huyền Trân, thế hệ này tiếp nối thế hệ khác, đă lưu dấu ấn sâu sắc trên quê hương mới, biến đổi vùng Huế từ vai tṛ mũi xung kích của căn cứ địa Thăng Long, trở thành trung tâm h́nh thành và phát triển xứ Đàng Trong.
Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân
Nhà Hậu Lê đến triều Chiêu Tông th́ suy yếu, giặc giả khắp nơi, cuối cùng mất ngôi về họ Mạc vào năm 1527.
Ở Thuận Hóa, các thổ tù nổi dậy, đem binh chém. giết lẫn nhau. Mạc Đăng Dung lên ngôi, lấy niên hiệu là Minh Đức, sai em là Tín vương Mạc Quyết vào kinh lược Thuận Hóa, bắt giết hết bọn Hoàng Công Châu, Đinh Liễn, Thuận Hóa mới tạm yên. Sau đó xẩy ra vụ Mạc Chính Trung giành ngôi, triều đ́nh nhà Mạc phải triệu tướng sĩ Thuận Hóa về kinh dẹp loan. Việc xong, người Điện Bàn là Nguyễn Lễ được phong tước Đồng Xuân hầu, người Kim Trà là Hoàng Đ́nh Hiển được phong tước Quế Lâm bá, các người Hải Lăng là Hoàng Bôi và Hồ Biến được phong tước Viên Trạch bá và Diên Truờng bá, người Minh Linh là Hồ Công Khanh được phong tước Liễu Chữ bá, người Bố Chính là Phạm Khắc Khoan được phong tước Kỳ Giang bá (20).
Năm 1533, tại Sầm Nứa, An Thành hầu Nguyễn Kim lập con của Chiêu Tông là Lê Ninh lên làm vua, lấy niên hiệu là Nguyên Ḥa, ấy là vua Trang Tông. Nguyễn Kim được phong là Thượng phụ Thái sư Hưng quốc công. Trong thời gian từ 1539 đến 1543, Nguyễn Kim và con rễ là Trịnh Kiểm kéo quân về lần lượt chiếm lại Thanh Nghệ và Tây Đô. Năm 1545, Nguyễn Kim bị Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc chết, Trịnh Kiểm lên thay giữ chức Đô Tướng Tiết chế thủy bộ chư dinh, và được gia phong tước Lượng quốc công. Năm 1548, niên hiệu Nguyên Ḥa thứ 16, Lê Trang Tông sai Tây Quận công Lê Phi Thừa đem quân kinh lược Thuận Hóa và Quảng Nam, quan lại nhà Mạc nhiều người chịu qui thuận. Năm 1554, nhà Mạc sai Kỳ Giang bá Phạm Khắc Khoan làm Tham chính Thuận Hóa, tụ họp thủ túc, cùng Tỉnh Xuyên bá Hoàng Chất chống lại nhà Lê, nhưng trước sau đều bị giết. Viên Trạch bá Hoàng Bôi giữ đầu nguồn Hải Lăng, cầm cự được 5 năm rồi cũng bị bắt giết. Từ đó Thuận Hóa mới hoàn toàn thuộc nhà Lê.
Hai con trai của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng đều có quân công nên được phong tước hầu. Về sau dưới triều Lê Trung Tông, Nguyễn Ưông lại được tiến phong tước Lăng quận công, và Nguyễn Hoàng tước Đoan quận công. Trịnh Kiểm giữ chức Hữu tướng, Nguyễn Uông giữ chức Tả tướng, v́ thế Trịnh Kiểm nghi ngờ Nguyễn Uông âm mưu nắm lại binh quyền nên giết Nguyễn Uông. Nguyễn Hoàng sợ bị hăm hại nên giả điên và cho người đi vấn kế Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trạng Tŕnh chỉ núi non bộ trước sân mà nói với sứ giả của Nguyễn Hoàng:'Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân', nghĩa là một giải Hoành sơn, dung thân muôn đời. Hiểu ư, Nguyễn Hoàng nhờ chị là Ngọc Báu xin với Trịnh Kiểm cho đi Trấn thủ Thuận Hóa. Trịnh Kiểm nghĩ rằng Thuận Hóa xa xôi cách trở, rừng thiêng nước độc, dân t́nh ngang ngược đảo điên, lại c̣n đày dẫy dư đảng nhà Mạc, Nguyễn Hoàng vào đó trước sau rồi cũng chết nên thuận cho.
Năm 1558, niên hiệu Chính trị năm đầu, triều Lê Anh Tông, Đoan quận công Nguyễn Hoàng và đoàn tùy tùng vào Cửa Việt, ngược sông Thạch Hăn, đóng dinh tại băi cát Cồn Cỏ xă Ái Tử, thuộc huyện Vũ Xương (sau đổi là Đăng Xương, ngày nay là phủ Triệu Phong). Năm 1570, niên hiệu Chính Trị thứ 13, Nguyễn Hoàng được Lê Anh Tông cho kiêm lĩnh trấn Quảng Nam, đeo ấn Thuận Quảng Tổng trấn Tướng quân, đặt quân hiệu là dinh Hùng Nghĩa. Nguyễn Hoàng dời dinh sang xă Trà Bát, cách Ái Tử 2 kilômét, cũng thuộc huyện Vũ Xương. Sau khi đánh giết bọn thổ hào Mỹ Lương là nội gián của chúa Trịnh và dùng mỹ nhân kế diệt trừ Lập Bạo là tướng nhà Mạc, trong xứ được yên, Nguyễn Hoàng cùng các cộng sự viên thân tín là Nguyễn Ủ Dĩ (cậu ruột), Mạc Cảnh Huống (thông gia), Tống Phước Trị (nguyên Trấn thủ Thuận Hóa) chuyên tâm vào việc sửa sang nội trị, biến vùng Thuận Quảng thành nơi phồn vinh an lạc, dân t́nh thuần hậu,'ngoài đường không ai nhặt của rơi, ban đêm không nhà nào cài cửa'. Nguyễn Hoàng đều đặn nộp tuế cống và chi viện quân lương cho vua Lê, thỉnh thoảng lại ra Thanh Hoa chầu vua. Năm 1593, niên hiệu Quang Hưng thứ 16 triều Lê Thế Tông (một năm sau khi Trịnh Tùng thu phục Đông Đô), Nguyễn Hoàng đem voi ngựa quân lính ra kinh chầu vua và dâng nạp sổ sách binh lương, kho tàng 2 trấn Thuận Quảng. Nguyễn Hoàng được vua Lê Thế Tông tấn phong Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Chuởng phủ sự, Thái úy, Đoan quốc công. Nguyễn Hoàng ở lại Đông Đô 8 năm trời, thuờng đem quân giúp Trịnh Tùng đánh dẹp dư đảng nhà Mạc và các phần tử phản loạn khác, lập nhiều huân công. Năm 1600, niên hiệu Hoằng Định năm đầu, triều Lê Kính Tông, Nguyễn Hoàng xúi Phan Ngạn, Ngô Đ́nh Nga, Bùi Văn Khuê làm phản để mượn cớ đi dẹp loạn mà mang quân bản bộ trở về Thuận Hóa.
Từ đó, Nguyễn Hoàng không ra Bắc Hà chầu vua Lê nữa. Mầm mống chia cắt Đàng Trong Đàng Ngoài nẩy sinh từ đây. Để ḥa hoăn với Đàng Ngoài, Đoan quốc công Nguyễn Hoàng kết thông gia với B́nh An vương Trịnh Tùng, gả con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng. Mặt khác, Nguyễn Hoàng lập dinh trấn Quảng Nam ở Cần Húc (Duy Xuyên ngày nay) để chứa lương, lấy huyện Điện Bàn thuộc phủ Triệu Phong đặt làm phủ Điện Bàn thống thuộc trấn Quảng Nam, đổi phủ Tiên B́nh làm phủ Quảng B́nh, phủ Tư Nghĩa làm phủ Quảng Nghĩa. Năm 1611, niên hiệu Hoằng Định thứ 12, triều Lê Kính Tông, Nguyễn Hoàng sai quân đánh chiếm vùng đất phía nam phủ Hoài Nhân, đặt làm phủ Phú Yên gồm 2 huyện Đồng Xuân và Tuy Ḥa.
Nguyễn Hoàng mộ đạo Phật, b́nh sinh xây dựng nhiều chùa chiền trên đất Thuận Quảng: chùa Sùng Hóa ở Phú Vang, chùa Bửu Châu ở Trà Kiệu, chùa Kính Thiên ở Thuận Trạch (Quảng B́nh), chùa Long Hưng ở Cần Húc, và đặc biệt chùa Thiên Mụ ở Hương Trà.
Chùa Thiên Mụ do Nguyễn Hoàng cho khởi công năm 1601, tại xă Hà Khê, trên một ngọn đồi sát bờ sông Hương. Tương truyền trước đây có người chiêm bao thấy một bà già áo đỏ quần xanh ngồi trên đỉnh đồi nói rằng: 'sẽ có chân chúa đến xây chùa ở đây để tụ linh khí cho bền long mạch'. Nhân đấy, chùa có tên là chùa Thiên Mụ. Năm 1862, niên hiệu Tự Đức thứ 15, chùa được đổi tên là Linh Mụ, nhưng 7 năm sau, chùa lại mang tên cũ Thiên Mụ. Chùa Thiên Mụ là đệ nhất danh thắng của xứ Huế. Chùa ở trên đỉnh đồi cao, hướng mặt ra sông Hương. Bên kia sông là g̣ Long Thọ, thời các chúa Nguyễn có tên gọi là Thọ Khương, đời Gia Long đổi lại là Thọ Xương. Từ Thiên Mụ nh́n về hạ lưu sông Hương, bên bờ bắc là phượng đỏ, bên bờ nam là tre xanh, nh́n gần th́ nhà cửa vườn tược ẩn hiện, nh́n xa th́ ruộng đồng đồi núi trập trùng, cảnh sắc vừa hùng tráng, vừa trữ t́nh:
Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.
Năm 1715, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 11 triều Lê Dụ Tông, sau khi đúc chuông (năm 1710) và trùng tu chùa trên quy mô lớn (năm 1714), chúa Nguyễn Phúc Chu cho dựng bia trước cổng chùa, văn bia mở đầu như sau:
Ngự kiến Thiên Mụ tự
Quốc chủ Nguyễn Phúc Chu tự Động Thượng chính tông tam thập thế pháp danh Hưng Long hiệu Thiên Túng đạo
nhân đỉnh kiến Thuận Hóa Thiên Mụ tự bi kư minh.
(Chúa dựng chùa Thiên Mụ. Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu kế truyền chính tông phái Động Thượng đời thứ 30, pháp danh Hưng Long, hiệu Thiên Túng đạo nhân, ghi văn bia và dựng bia vững bền ở chùa Thiên Mụ xứ Thuận Hóa)
Văn bia cho biết: 'Từ ngoài cổng di vào có điện Thiên Vương, điện Ngọc Hoàng,, điện Đại Hùng, nhà Thuyết Pháp, lầu Tàng Kinh. Hai bên chùa th́ có lầu chuông, lầu trống, điện Thập Vương, nhà uống trà, nhà ăn, nhà thiền, điện Đại Bi, điện Dược Sư, pḥng thiền cho tăng lữ, tất cả cũng trên dưới mấy chục ngôi nhà. Thêm vườn Tỳ Da có phương trượng của sư trụ tŕ cũng có trên dưới mười mấy pḥng,huy hoàng lộng lẫy, nh́n thấy ai cũng thích thú và nể phục' (21).
Dưới các triều Gia Long và Minh Mạng, chùa Thiên Mụ đều được sửa sang tu bổ, nhưng quần thể kiến trúc Thiên Mụ thực sự hoàn hảo là dưới triều Thiệu Trị, sau khi nhà vua sai Vũ Lâm Doanh Hữu Dực Thống chế Hoàng Văn Hậu xây tháp Phước Duyên và đ́nh Hương Nguyện (từ năm 1844 đén năm 1846). Đến đời Thành Thái, năm 1904, chùa Thiên Mụ bị băo tàn phá nặng nề. Năm 1906, chùa được tái thiết nhưng với quy mô khiêm tốn như được thấy ngày nay.
Gần chùa Thiên Mụ, về phía thượng lưu sông Hương, là điện Ḥn Chén, xây trên núi Ngọc Trản, trong địa phận xă Hải Cát. Điện Ḥn Chén tuy quy mô nhỏ nhưng cũng là một nơi danh thắng. Núi Ngọc Trản đột khởi trên một nền đất đá nhô ra sông Hương, chân núi sát bờ vực thẳm, trên núi cây cối bốn mùa xanh tốt, đỉnh núi là một vùng trũng như miệng chén đầy nước trong vắt, do đó mà có tên núi Ngọc Trản. Trên lưng chừng núi nguyên là tháp Chàm thờ nữ thần Po Y Nagar. Người Việt di cư đến tiếp tục thờ thần Po Y Nagar với tên mới Thánh mẫu Thiên Y A Na, và xây điện thờ thay chổ tháp cũ. Điện có tên là điện Ḥn Chén. Ngoài ra c̣n có các tên điện Ngọc Trản và Huệ Nam điện, nhưng không thông dụng bằng. Thành phố Huế có hàng trăm am miễu lên đồng, nhưng điện Ḥn Chén là nơi thờ phượng chính và là nơi cử hành lễ hội hàng năm của Thiên Tiên Thánh giáo. Điện Ḥn Chén nh́n mặt ra sông Hương. Bên trong điện thờ gọi là Minh Kính Đài, ngoài tượng Thánh mẫu Thiên Y A Na, c̣n có tượng Phật. tượng Quan công, một số tượng La hán, các tượng Đồng cô, Đồng cậu, và ảnh vua Đồng Khánh. Về sau, công chúa Liễu Hạnh tức Vân Hương Thánh mẫu cũng thờ ở đây. Không biết rơ điện Ḥn Chén được kiến tạo vào niên đại nào, chỉ biết điện được trùng tu một lần năm 1834 dưới triều Minh Mạng, và một lần năm 1886 dưới triều Đồng Khánh.
Năm 1613, niên hiệu Hoằng Định thứ 21, Đoan quốc công mất, truyền cơ nghiệp cho con là Nguyễn Phúc Nguyên. Vua Lê Kính Tông sai sứ giả vào Vũ Xương phúng điếu và phong Nguyễn Phúc Nguyên làm Trấn Thủ Thuận Hoá và Quảng Nam, gia hàm Thái Bảo Thụy quận công.
Dư bất thụ sắc, hay là con đường từ Phú Xuân đi Gia Định.
Nguyễn Phúc Nguyên được thủ hạ tôn làm Thống lănh thủy bộ chư quân, kiêm Tổng nội ngoại b́nh chương quân quốc trọng sự, Thái bảo Thụy quận công. Dân chúng thường gọi là chúa Phật, chúa Săi, hay Săi vương. Chúa băi chức các quan lại do nhà Lê bổ nhiệm, bỏ các ty Đô, Thừa, Hiến, mà thay bằng các ty Xá sai, Tướng thần lại, và Lệnh sử. Chúa dời phủ từ làng Trà Bát huyện Vũ Xương vào làng Phước Yên huyện Quảng Điền. Chúa lại đặt dinh Ai Lao gồm 6 thuyền quân tại thượng nguồn sông Cam Lộ ở nơi tiếp giáp với xứ Lào để khống chế các bộ tộc Lục Hoàn, Vạn Tượng, Trấn Ninh, Qui Hợp. Chúa bổ nhiệm trưởng công tử là Chưởng cơ Kỳ làm Trấn thủ Quảng Nam, và sau khi công tử Kỳ mất th́ đưa công tử Anh lên thay thế. Về sau, khi chúa Săi mất, công tử Anh làm phản, mưu việc tranh ngôi với thế tử Nguyẽn Phúc Lan (chúa Thượng), bị bắt và bị giết, nên từ đó, các chúa Nguyển có lệ để các công tử kế nghiệp (thế tử) làm Trấn thủ Quảng Nam trước khi lên làm chúa.
Nguyễn Phúc Nguyên chiêu hiền đăi sĩ, b́nh sinh thu dụng được 3 vị hiền tài khai quốc công thần là Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Hữu Tiến. Cả ba đều là người Thanh Hoa. Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Hữu Tiến giỏi việc dùng binh, lập nhiều công trạng trong các chiến dịch đánh nhau vời quân Trịnh. Đào Duy Từ là mưu sĩ tài trí, giúp chúa Săi chấn chỉnh các việc cải cách hành chánh, tổ chức pḥng thủ, huấn luyện binh lực, phát triển kinh tế, khuyến khích học thuật, và đối phó với âm mưu khuynh loát của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.
Chúa Trịnh thường thác mệnh vua Lê sai sứ giả mang chiếu chỉ đ̣i chúa Săi nạp cống phẩm, cho thế tử ra bắc làm con tin, và thúc dục chúa đích thân ra chầu vua Lê tại Đông Đô. Mặt khác, các chúa Trịnh không bỏ lỡ các cơ hội có thể chen vào nội bộ Đàng Trong. Đương thời B́nh an vương Trịnh Tùng, nhân có biến loạn các chưởng cơ Hiệp và Trạch (năm 1620), chúa Trịnh sai Đô Đốc Nguyễn Khải đem quân vào đóng ở Nhật Lệ để làm thanh viện. Đến khi nghe tin Hiệp và Trạch bị bắt, Nguyễn Khải bèn rút quân về. Sau việc này, chúa Săi không nạp tuế cống nữa. Đến đời Thanh đô vương Trịnh Tráng, năm 1626, niên hiệu Vĩnh Tộ thừ 8 đời Lê Thần Tông, chúa Trịnh sai Thái Bảo Nguyễn Khải và Thiếu Bảo Nguyễn Danh Thế đem quân đóng ở Hà Trung, rồi liên tiếp sai Nguyễn Hữu Bổn và Lê Đại Nhậm làm sứ giả vào đ̣i thuế và khám đất ruộng. Bị chúa Nguyễn từ chối , năm sau, chúa Trịnh rước vua Lê tiến quân vào Nhật Lệ, nhưng bị quân Nguyễn cố thủ, nên rút về. Năm 1629, niên hiệu Đức Long năm đầu, vẫn đời Lê Thần Tông, Trịnh Tráng được tiến phong Thanh vương. Trước khi đem đại binh đi đánh phương nam, chúa Trịnh sai Lại bộ Thượng thư Nguyễn Khắc Minh đem sắc vào tiến phong Nguyễn Phúc Nguyên làm Tiết chế Thuận Hóa Quảng Nam nhị xứ thủy bộ chư dinh, kiêm Tổng nội ngoại b́nh chương quân quốc trọng sự Thái Phó quốc công, và giục chúa Nguyễn đến Đông Đô để đi đánh Cao Bằng. Biết rơ thâm ư của chúa Trịnh chỉ muốn kiếm cớ để động binh, chúa Nguyễn theo mưu của Đào Duy Từ, chịu nhận sắc phong, hậu đăi sứ giả, để tạm ḥa hoăn. Sứ giả về rồi, chúa Săi cho đắp lũy Trường Dục để làm tuyến pḥng thủ, và ráo riết luyện tập quân sĩ. Trong ṿng một tháng, lũy Trường Dục đắp xong, chúa Săi sai Tướng thần lại Văn Khuông dùng cái mâm đồng hai đáy đựng sắc phong và tấm thiếp có viết mấy câu: mâu nhi vô địch, mịch phi kiến tích, ái lạc tâm trường, lực lai tương địch, đem lễ vật ra Đông Đô tạ ơn. Trước ngày ra về, Văn Khuông dùng cái mâm hai đáy đó bày hoa quả lên trên để vào bái biệt chúa Trịnh, rồi lên thuyền nhẹ lẻn về. Văn Khuông đi rồi, chúa Trịnh sinh nghi, sai phá cái mâm ra, thấy tờ sắc, và sau khi được Phùng Khắc Khoan giải thích theo khoa chiết tự mấy câu trong tấm thiếp đính kèm có nghĩa là Dư bất thụ sắc (Ta không nhận sắc), chúa Trịnh giận dữ đă toan cất quân đi đánh Săi vương, nhưng v́ vụ Cao Bằng chưa yên nên lại thôi. Thế là nam bắc đoạn giao. Năm sau, 1630, chúa Nguyễn sai quân đánh châu Nam Bố Chính là phần đất phía nam sông Gianh, cải làm dinh Bố Chính, c̣n gọi là dinh Ngói. Năm 1631, Đào Duy Từ và Nguyễn Hữu Dật lại đốc suất quân lính đắp Định Bắc Trường Thành, từ cửa Nhật Lệ đến chân núi Đâu Mâu, để kiện toàn hệ thống pḥng thủ biên thùy phía bắc.
Năm 1635, niên hiệu Dương Ḥa năm đầu, chúa Hy Tông Nguyễn Phúc Nguyên mất, truyền ngôi cho con là Nguyễn Phúc Lan. Vị chúa mới được quần thần tôn xưng là Thái Bảo Nhân quận công, thường gọi là chúa Thượng hoặc Công Thượng vương. Vua Lê sai Nguyễn Quang Minh và Nguyễn Trật vào điếu tế chúa Săi, nhưng không phong cho chúa Thượng nữa. Bắt đầu từ đây, các chúa Nguyễn không nhận sắc phong của vua Lê, nhưng vẫn dùng niên hiệu của vua Lê. Phong hay không phong là quyết định của chúa Trịnh, không phải tự ư vua Lê. Chúa Trịnh bức hiếp vua Lê, chúa Nguyễn không nhận sắc phong là tỏ ư chống đối kẻ nghịch thần. C̣n vẫn dùng niên hiệu vua Lê là để nêu rơ nghĩa tôn phù, chúa Nguyễn cát cứ ở Thuận Quảng nhưng tự xem ḿnh trước sau vẫn là công thần nhà Lê.
Biết rằng chiến tranh sắp xẩy ra, chúa Thượng thấy địa thế Phước Yên chật hẹp lại quá gần biên giới phía bắc nên năm 1637 dời phủ vào xă Kim Long huyện Hương Trà, sát thành phố Huế ngày nay. Bấy giờ Đàng Ngoài tạm yên, năm 1643, Thanh vương Trịnh Tráng bèn sai Thái Bảo Trịnh Tạc đem đại binh hộ giá vua Lê và chúa Trịnh vào đánh Nam Bố Chính. Quân Nguyễn giữ vững pḥng tuyến, quân Trịnh đánh măi không được, phải rút về. Năm 1648, niên hiệu Phước Thái thứ 6, đời Lê Chân Tông, chúa Trịnh lại sai Đô Đốc Trịnh Đào đem quân thủy bộ vào cửa Nhật Lệ, trận đầu thắng lợi, nhưng khi tiến đến Vơ Xá, th́ bị thế tử Nguyễn Phúc Tần đánh thua to, 3 tỳ tướng và 3 vạn lính bị bắt sống. Chúa Thượng đem số tù hàng binh này định cư từ miệt Thăng Hoa trở vào Phú Yên. Cùng năm ấy, chúa Thượng mất, Nguyễn Phúc Tần lên nối ngôi cha, được quần thần tôn xưng là Thái Bảo Dũng quận công, tục gọi là chúa Hiền.
Chúa Hiền rất giỏi chiến trận, tính khí cương cường, chăm lo việc mở mang bờ cơi.. Hồi c̣n là thế tử, năm 1644, Hiền vương đă đánh ch́m một chiến hạm Ḥa Lan ở ngoài khơi Thuận An. Lên làm chúa, năm 1653, niên hiệu Khánh Đức năm đầu, Hiền vương sai quân lấy đất từ đèo Cả đến Phan Rang đặt làm dinh Thái Khương, túc là tỉnh Khánh Ḥa ngày nay. Nhân năm 1655 Trịnh Đào lại đem quân xâm lấn Nam Bố Chính, chúa Hiền quyết định cử binh đánh Đàng Ngoài, dùng Nguyễn Hữu Tiến làm Tiết chế, Nguyễn Hữu Dật làm đốc chiến. Quân Nguyễn chiếm được Hà Trung, bấy giờ gọi là dinh Cầu. Chúa Trịnh sai Thái Bảo Trịnh Trượng đem đại binh vào phản công, nhưng bị thua, phải lui về An Trường. Quân Nguyễn tiến lên chiếm 7 huyện mạn nam sông Lam: Kỳ Hoa, Thạch Hà ,Thiên Lộc, Nghi Xuân, La Sơn, Hương Sơn, và Thanh Chương. Chúa Hiền xuống lệnh tổ chức việc cai trị vùng đất mới chiếm, lập tuyển trường để kén lính, thu thuế để nuôi quân. Mặc dù Thanh vương Trịnh Tráng cho hai con là Trịnh Tạc và Trịnh Ninh dem đại quân vào tăng viện, quân Nguyễn vẫn giữ vững bờ nam sông Lam. Nguyễn Hữu Tiến cũng có lần đem quân vượt sông Lam nhưng bị quân Trịnh đảy lui. Năm 1657, chúa Trịnh Tráng mất, Trịnh Tạc lên nối ngôi. Trịnh Tạc sai con là Trịnh Căn làm Tiết chế thay Trịnh Ninh. Quân hai bên cầm cự nhau ở Lam Giang cho đến năm 1660, niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 3, triều Lê Thần Tông (22), Trịnh Căn phản công, quân Nguyễn thua luôn mấy trận, tinh thần mệt mỏi, tiếp tế khó khăn, nên Nguyễn Hữu Tiến rút toàn quân về Nam Bố Chính, 7 huyện Nghệ An và châu Bắc Bố Chính lại thuộc về Đàng Ngoài. Năm sau, 1661, tháng 12, Trịnh Tạc rước Thần Tông vào đánh Nam Bố Chính, quân Nguyễn cố thủ, nên tháng 3 năm 1662, quân Trịnh thiếu lương phải rút về. Qua năm 1672, niên hiệu Dương Đức năm đầu, Tây vương Trịnh Tạc lại rước vua Lê Gia Tông đem đại binh đi đánh chúa Nguyễn. Quân Trịnh do Trịnh Căn làm Nguyên súy, quân Nguyễn do Nguyễn Phúc Hiệp làm Tiết chế, hai bên đánh nhau to trong 6 tháng trời, cầm cự nhau ở lũy Trấn Ninh, bất phân thắng phụ. Cuối cùng, năm 1673, hai bên giảng ḥa, lấy sông Gianh làm ranh giới Đàng Trong Đàng Ngoài.
Yên mặt bắc, Hiền vương lo kinh dinh việc phương nam. Năm 1674, nhân Chân Lạp có nội loạn, chúa Hiền đưa quân sang can thiệp, chia Chân Lạp làm hai, đặt một vua chánh ở Long Úc, và một vua phó ở Sài Côn. Năm 1679, bọn tướng nhà Minh là Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến, Trần Thượng Xuyên, Trần An B́nh, đem quân binh bộ hạ và chiến thuyền trốn nạn Măn Thanh sang tá túc chúa Nguyễn, được chúa trao cho quan chức và đưa vào khai thác vùng Mỹ Tho, G̣ Công.
Năm 1687, chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn (Phúc Thái) lên nối ngôi, dời phủ sang xă Phú Xuân kế cận, thuộc huyện Hương Trà, ở góc đông nam kinh thành Huế ngày nay. Phủ cũ Kim Long th́ dùng làm phủ thờ chúa Thái Tông. Năm sau, 1688, ở Mỹ Tho, Hoàng Tiến giết chủ tướng Dương Ngạn Địch, và ở Long Úc, vua chánh Nặc Thu làm phản, chúa Nghĩa sai quan quân vào đánh dẹp. Chân Lạp lại thần phục và nạp tuế cống. Đến đời Nguyễn Phúc Chu, thường gọi là Minh vương, năm 1692, niên hiệu Chính Ḥa thứ 13, nhân người Chiêm thường cướp bóc vùng biên giới, chúa Nguyễn lấy đất Chiêm Thành c̣n lại đặt trấn Thuận Thành, đến năm 1697 th́ đổi làm phủ B́nh Thuận. Năm 1698, Minh vương sai Thống suất Nguyễn Hữu Kính vào lấy đất Đông Phố và Lộc Dă đặt huyện Phước Long, lập dinh Trấn Biên (Biên Ḥa), lấy xứ Sài Côn đặt huyện Tân B́nh, lập dinh Phiên Trấn (Gia Định), di dân đến lập làng xă, và đặt quan cai trị.
Thế là v́ vụ Dư bất thụ sắc năm 1629 mà phát sinh cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn 1643-1673. Thật ra th́ trước vụ đó, họ Trịnh đă có lần đem quân răn đe họ Nguyễn (năm 1626), và sau vụ đó, họ Nguyễn cũng đă tiến quân chiếm lại Nam Bố Chính (năm 1630), nhưng thực sự đánh nhau là bắt đầu năm 1643. Rồi cũng v́ vụ Dư bất thụ sắc mà các chúa Nguyễn không c̣n bị ràng buộc với Đàng Ngoài, tự do kinh dinh việc phương nam, mở thông con đường từ Phú Xuân đi tới Gia Định chỉ trong ṿng hai mươi lăm năm (từ 1673 đến 1698).
Bát Thế Hoàn Trung Đô.
Nguyễn Hoàng gọi nơi đặt bản doanh ở Ái Tử và Trà Bát là Dinh. Năm 1626, Nguyễn Phúc Nguyên dời bản doanh vào Phước Yên và gọi nơi này là Chánh Dinh, dinh Trà Bát ngoài Vũ Xương thỉ gọi là Cựu Dinh, c̣n chổ ở th́ gọi là Phủ. Năm 1636, Nguyễn Phúc Lan dời vào Kim Long và vẫn gọi nơi ở là Phủ. Đến năm 1687, Nguyễn Phúc Trăn dời phủ xuống Phú Xuân, rồi năm 1713, Nguyễn Phúc Chu dời phủ về Bác Vọng, và năm 1739 Nguyễn Phúc Khoát lại dời trở về Phú Xuân, bên tả phủ cũ. Ngày 12 tháng 4 năm 1744, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 5, đời Lê Hiển Tông, để ứng với câu sấm truyền tụng trong dân gian 'Bát thế hoàn Trung Đô', Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi Vương ở Phú Xuân, chổ ở được gọi là Điện, vá Chánh Dinh Phú Xuân th́ gọi là Đô Thành.
Vơ vương Nguyễn Phúc Khoát cho đúc ấn quốc vương nhưng vẫn dùng niên hiệu vua Lê. Vương tổ chức lại cơ cấu chính quyền trung ương, đặt lục bộ Lại, Hộ, Lễ, Binh, H́nh, Công, đổi gọi thân quân là Vũ Lâm quân, văn chức là Hàn Lâm viện. Vương cải cách phong tục, sửa đổi mũ áo, qui định triều phục. Ở Đô Thành, Vương ra lệnh kiến trúc thêm cung điện, đền tạ: dựng hai điện Kim Hoa, Quang Hoa; ba gác Dao Tŕ, Triêu Dương, Quang Thiên; Tựu Lạc đường, Chánh Quan đường, Trung Ḥa đường, Di Nhiên đường, đài Lương Xuân, đ́nh Thụy Vân, hiên Đồng Lạc, am Nội Viện, đ́nh Giáng Hương. Bên kia sông Hương, phía thượng nguồn, lại có phủ Dương Xuân, điện Trường Lạc, hiên Duyệt Vơ. Tất cả các kiến trúc đều chạm trổ, cực kỳ tinh xảo (23).
Vơ vương muốn tự xưng là An Nam Quốc vương, nhưng triều thần là Nguyễn Quang Tiền bàn là không nên v́ c̣n có nhà Lê. Đối với họ Trịnh, Vơ vương muốn giữ ḥa khí nên không đáp ứng lời cầu viện của Lê Duy Mật. Vơ vương cũng nhờ người vận động với Thanh triều để cầu phong, nhưng không có kết quả. Tuy vậy, việc bang giao với nhà Thanh vẫn tốt đẹp. Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên giữ đúng phận thần tử. Về phần Chân Lạp, nhân lúc nước ấy có nội biến, Nặc Nguyên mang quân Xiêm về tranh quyền, Vơ vương sai Nguyễn Cư Trinh mang quân lên Nam Vang can thiệp, Nặc Nguyên bỏ chạy sang Hà Tiên và nhờ Mạc Thiên Tứ làm trung gian dâng đất Tầm Bôn và Lôi Lạp để chuộc tội. Sau khi Nặc Nguyên chết, Vơ vương lấy thêm các đất Trà Vinh, Ba Thắc và Tầm Phong Long. Vương cho dời dinh Long Hồ đến Tầm Bào (Vĩnh Long), đặt thêm các đạo Đông Khẩu (Sa Đéc), Tân Châu, Châu Đốc, Kiên Giang (Rạch Giá), Long Xuyên. Số người Chiêm Thành chạy sang tị nạn ở Chân Lạp trước đây, gọi là người Côn Man hay Vô T́ Man, nay bị người Chân Lạp hiếp chế, Vơ vương sai Trương Phước Du mang quân sang che chở và định cư ở Bà Ninh (Tây Ninh). Các nước Thủy Xá, Hơa Xá ở Tây nguyên, và nước Vạn Tượng ở Lào đều vào cống. Tóm lại, dưới triều Vơ vương Nguyễn Phúc Khoát, toàn bộ đất Nam Kỳ ngày nay đă thuộc cương vực Đại Việt, và các sắc dân cư trú ở phía tây dăy Trường sơn đă tự đặt ḿnh trong ṿng ảnh hưởng của chính quyền Phú Xuân.
Năm 1765, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 26, Vơ vương mất. Trương Phúc Loan mưu giết Thái Phó Trương Văn Hạnh, bắt giam công tử Nguyễn Phúc Luân và tôn công tử Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên ngôi chúa, lấy hiệu là Định vương. Trương Phúc Loan là người tham tàn, làm nhiều điều thất nhân tâm, nên anh em Nguyễn Văn Nhạc thừa cơ nổi lên, mượn danh nghĩa tôn phù Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương, chiếm ấp Kiến Thành năm 1773, rồi đánh úp thành Qui Nhơn, dựng cờ hiệu Tây Sơn, chia binh làm 5 đạo tiến ra Quảng Nghĩa. Quân chúa Nguyễn do Chưởng Cơ Nguyễn Cửu Thống chỉ huy không quen chiến trận, bị thua to, Nguyễn Cửu Thống tử trận. Chiếm xong Quảng Nghĩa, quân Tây Sơn kéo vào chiếm các phủ Diên Khánh và B́nh Khang. Trong lúc chúa Nguyễn lo điều bát tướng sĩ vào Quảng Nam chống Tây Sơn th́ chúa Trịnh thừa cơ sai Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc đem đại binh vào đánh Thuận Hóa, đích thân Tỉnh Đô vương đem quân vào Nghệ An đóng ở Hà Trung làm thanh viện. Đến Hồ Xá, Hoàng Ngũ Phúc hiểu dụ dân chúng rằng quân Trịnh vào là để giúp trừ gian thần Trương Phúc Loan. Triều đ́nh Phú Xuân bắt Trương Phúc Loan đem nạp, nhưng quân Trịnh vẫn tiến. Quá Hải Lăng, quân Trịnh không theo đường cái quan vượt sông Ô Lâu ở trạm Hoàng Giang mà ngược lên thượng nguồn, men chân núi bắc cầu cho quân qua Thác Trầm, Thác Ma (24), rồi vượt sông Bồ đổ xuống Hiền Sĩ đánh úp đạo quân của Nội tả Chưởng Dinh Nguyễn Văn Chính. Nguyễn Văn Chính tử trận. Tháng giêng năm 1775, quân Trịnh chiếm thành Phú Xuân, Định vương Nguyễn Phúc Thuần, Công tôn Nguyễn Phúc Ánh và một số quan lại ṭng vong đi thuyền chạy vào Gia Định, c̣n Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương th́ qua đèo Hải Vân vào giữ Cu Đê. Định vương là đời chúa thứ 9, nhưng sớm lâm cảnh lưu vong, đoản mệnh, nên cũng có nhiều người cho rằng triều đại các chúa Nguyễn Nam Hà chỉ có bát thế và Chính Dinh Phú Xuân trở lại (hoàn) cương vị biên trấn của phủ Phụng Thiên, ứng với lời sấm truyền Bát thế hoàn Trung Đô.
Tháng 4 năm 1775, Nguyễn Văn Nhạc sai Tập Đ́nh và Lư Tài đánh bắt Nguyễn Phúc Dương đưa về Qui Nhơn. Qua tháng 5, Hoàng Ngũ Phúc tiến quân vào Quảng Nam, đánh thắng quân Tây sơn nhiều trận, đồn binh ở Châu Ổ, đồng thời, quân Nguyễn do Tống Phước Hợp chỉ huy tiến ra lấy lại Diên Khánh và Phú Yên. Ở thế lưỡng đầu thọ địch, Nguyễn Văn Nhạc qui hàng quân Trịnh, được Hoàng Ngũ Phúc dâng biểu xin vua Lê phong cho làm Tây Sơn Trưởng hiệu Tráng tiết Tướng quân. Quân Trịnh ở Châu Ổ bị dịch bệnh chết quá nửa nên Hoàng Ngũ Phúc rút quân về Thuận Hóa, bàn giao việc trấn thủ Thuận Hóa cho Đoan quận công Bùi Thế Đạt, rồi trở về bắc và mất dọc đường. Tháng 2 năm 1776, Nguyễn Văn Nhạc sai Nguyễn Văn Lữ vào đánh Gia Định, chiếm được thành Sài Côn. Nguyễn Văn Nhạc bèn xưng là Tây Sơn vương, đúc ấn vàng, phong Nguyễn Văn Lữ làm Thiếu Phó, Nguyễn Văn Huệ làm Phụ Chính. Được ít tháng, Đỗ Thanh Nhơn đem quân Đông sơn chiếm lại Sài Côn. Hoàng tôn Dương bèn trốn khỏi Qui Nhơn chạy vào Gia Định và được Định vương nhường ngôi cho, lấy hiệu là Tân Chính vương. Định vương th́ lên làm Thái Thượng vương. Năm 1777, Nguyễn Văn Nhạc được chúa Trịnh tâu vua Lê cho chính thức làm Quảng Nam Trấn thủ Tuyên úy Đại sứ, tước Cung quốc công. Yên mặt bắc, Tây Sơn vương sai hai em Lữ và Huệ đem đại quân thủy bộ vào đánh Gia Định, lần lượt bắt giết Tân Chính vương và Thái Thượng vương, chiếm trọn đất Nam Kỳ. Lữ và Huệ giao Gia Định cho các bộ tướng chia nhau trấn giữ và trở về Qui Nhơn. Đầu năm 1778, Nguyễn Văn Nhạc lên ngôi Hoàng Đế, lấy niên hiệu là Thái Đức, đổi tên thành Chà Bàn là Hoàng đế thành, phong Nguyễn Văn Lữ làm Tiết chế, Nguyễn Văn Huệ làm Long nhưỡng Tướng quân.
Năm 1776, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 37, tháng giêng, chúa Trịnh cử Lê Qúy Đôn vào làm Tham Thị, giúp Bùi Thế Đạt kinh lư việc quân dân bạ tịch trấn Thuận Hóa. Thuận Hóa lúc bấy giờ giàu có, Hoàng Ngũ Phúc năm trước đă thu trong kho 30 vạn quan tiền đồng thứ tốt đời Đường đời Tống và rất nhiều đồ đồng, đồ sứ kư kiểu chở về bắc, nay Bùi Thế Đạt lại được lệnh đem các súng cũ đă rộng ḷng, cùng các đỉnh to, vạc lớn của các chúa Nguyễn, cồng kềnh không chở được, đem đúc tiền Cảnh Hưng Thuận Bửu, thu thêm được 30.362 quan (20). Tháng 7 năm ấy, chúa Trịnh ra lệnh cho nhân dân Thuận Hóa thay đổi y phục theo lối Đàng Ngoài. Qua tháng 8, chúa Trịnh cử Tạo quận công Phạm Ngô Cầu làm Trấn thủ thay Bùi Thế Đạt, lệnh cho Phạm Ngô Cầu định lại các ngạch thuế, mở khoa thi hương lấy Hương cống và Sinh đồ, hợp Nam Bắc Bố Chính làm một cho thống thuộc Nghệ An.
Thành Phú Xuân có hơn 3 vạn quân Trịnh trú đóng, quân dân ở lẫn lộn, quân đội cậy thế lấn hiếp, cướp đoạt của dân, đă dở các kho hàng trại lính làm củi đốt c̣n dở cả nhà dân, đặt trạm khám xét, bắt bớ, bày ra các sở thuế tuần, thuế chợ, thuế đ̣ phiền hà tuế toái hơn 140 sở (23). Dân t́nh oán vọng, quân lính mệt mỏi, chủ soái Phạm Ngô Cầu với Phó soái Hoàng Đ́nh Thể lại không hạp nhau. Tây Sơn ḍ biết t́nh h́nh ấy nên quyết định đánh Thuận Hóa. Tháng 5 năm 1786, niên hiệu Thái Đức thứ 8, vua Tây Sơn sai Nguyễn Hữu Chỉnh làm Hữu quân, Vũ Văn Nhậm làm Tả quân, Nguyễn Văn Lữ điều khiển thủy quân, Nguyễn Văn Huệ làm Tiết chế, kéo quân ra đánh chiếm Phú Xuân. Hoàng Đ́nh Thể cùng 2 con và tỳ tướng Vũ Tá Kiên liều chết giữ thành, người th́ tử trận, người th́ tự sát. Phạm Ngô Cầu ra hàng, bị đưa về Qui Nhơn, và bị giết. Quân Trịnh trong thành hơn 3 vạn đều bị giết chết, vượt được sông Gianh trở về chỉ có vài trăm. Nguyễn Văn Huệ tiến quân ra Dinh Cát và Đồng Hới, các tướng Trịnh giữ đồn đều đă bỏ chạy. Ngày 14 tháng 5 năm 1786, quân Tây Sơn chiếm trọn trấn Thuận Hóa (26).
Vượng khí đất Phú Xuân c̣n thịnh nên từ đây Phú Xuân lại ra khỏi ṿng kiềm tỏa của Đông Đô và trở thành trung tâm quyền lực của phong trào 'áo vải cờ đào'. Bởi lẽ đó, nhiều người lại diễn dịch câu sấm Bát thế hoàn Trung Đô ứng vào việc Vơ vương là đời chúa Nam Hà thứ 8 dời phủ từ Bác Vọng trở về lại Phú Xuân vào năm 1739, và Trung Đô là Phú Xuân chứ không phải phủ Phụng Thiên.
Phong trào Áo Vải Cờ Đào và chiếc xuồng câu xứ Huế.
Chiếm xong Thuận Hóa, Nguyễn Văn Huệ, nghe lời xúi dục của Nguyễn Hữu Chỉnh, kiểu chiếu kéo toàn bộ thủy lục ra đánh Đàng Ngoài. Quân Trịnh tan vỡ nhanh chóng, các tướng Trịnh Đinh Tích Nhưỡng, Bùi Thế Dận, Trịnh Tự Quyền, Hoàng Phùng Cơ không sao ngăn cản được. Nguyễn Văn Huệ vào Đông Đô ngày 21 tháng 7 năm 1786. Đoan Nam vương Trịnh Khải chạy lên Yên Lăng bị dân bắt, cấu rốn moi ruột tự sát. Nguyễn Văn Huệ yết kiến vua Lê Hiển Tông nêu rơ ư tôn phù, được vua Lê phong làm Nguyên súy Dực chính Phù vận Uy quốc công, và gả công chúa Ngọc Hân cho. Ít lâu sau, vua Hiển Tông mất, Hoàng tự tôn Lê Duy Kỳ lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Chiêu Thống. Trong lúc đó, ở Quy Nhơn, vua Thái Đức Nguyễn Văn Nhạc ngờ em có bụng khác nên tức tốc ra Đông Đô, úy lạo tướng sĩ, trả Bắc Hà lại cho vua Lê, rồi cùng Nguyễn Văn Huệ rút quân về. Nguyễn Hữu Chỉnh bị bỏ ở lại, sáng dậy thấy quân Tây Sơn đă rút hết, bèn vội vă chạy theo, được vua Thái Đức cho làm Trấn thủ Nghệ An, nhân thể tháp nhập Nghệ An vào lănh thổ Đàng Trong.
Năm 1787, vua Thái Đức chia đất cho các em, tự ḿnh cai quản từ Quảng Nam đến B́nh Thuận, xưng là Trung Ương Hoàng đế, đóng đô ở Quy Nhơn, phong Nguyễn Văn Lữ làm Đông Định vương, cai quản miền Gia Định, đóng đô ở Sài Côn, và phong Nguyễn Văn Huệ làm Bắc B́nh vương, cai quản Thuận Hóa và Nghệ An, đóng đô ở Phú Xuân. Bắc B́nh vương thấy Thuận Hóa với Quảng Nam xưa nay vẫn khắng khít làm một, nên đ̣i thêm đất Quảng Nam. Không được chấp thuận, Bắc B́nh vương tiến quân vào vây thành Quy Nhơn, vua Thái Đức thân lên mặt thành khóc lóc, Bắc B́nh vương chịu giảng ḥa và chia đất từ Quảng Nghĩa trờ vào cho anh.
Trong lúc anh em Tây Sơn bất ḥa với nhau, Nguyễn Hữu Chỉnh chiêu binh măi mă, củng cố thế lực ở Nghệ An, và Trịnh Bồng kéo đồng đảng trở lại Đông Đô, ép vua Lê Chiêu Thống phong làm Án Đô vương, trở lại làm chúa ức hiếp vua Lê như các đời trước. Nguyễn Hữu Chỉnh bèn kéo quân ra bắc đánh đưổi Trịnh Bồng, được vua Lê phong làm Đại Tư Đồ Bằng Trung công, lấy nghĩa phù Lê phản lại Tây Sơn. Nguyễn Văn Huệ bèn sai Vơ Văn Nhậm làm Tiết chế, Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân làm Tham tán quân vụ, đem quân từ Phú Xuân ra bắc đánh Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyễn Hữu Chỉnh rước vua Chiêu Thống chạy lên Yên Thế, bị tướng Tây Sơn Nguyễn Văn Ḥa đánh úp bắt được, đem về Đông Đô xử chém. Lê Chiêu Thống trốn tránh lo việc trung hưng, và sai bề tôi pḥ bà Hoàng Thái hậu sang Tàu cầu viện. Vơ Văn Nhậm bèn tôn Sùng Nhượng công Lê Duy Cận lên làm Giám Quốc. Vơ Văn Nhậm là Pḥ mă của vua Thái Đức, lại là người có tài, nay lập công lớn, dùng Lê Duy Cận mà thu tóm đại quyền Bắc Hà trong tay, Bắc B́nh vuơng nghi ngờ có nhị tâm, nên đem kỵ binh cấp tốc ra Đông Đô bắt chém Vơ Văn Nhậm. Bắc B́nh vương chỉnh đốn lại mọi việc, vẫn để Lê Duy Cận làm Giám Quốc, đưa Ngô Văn Sở lên thay Vơ Văn Nhậm, cắt đặt các quan lục bộ và trấn thủ, rồi trở về Phú Xuân.
Năm 1788, vua Càn Long nhà Măn Thanh Trung Quốc thừa dịp nhà Lê cầu viện nên sai Tôn Sĩ Nghị điều động 20 vạn quân và 10 vạn phu chia làm 3 đạo theo các ngă Lạng Sơn, Cao Bằng và Hà Giang tiến đánh nước ta. Càn Long gửi mật chiếu cho Tôn Sĩ Nghị vạch kế hoạch phô trương thanh thế và từ từ tiến binh, 'để cho quân Lê đánh nhau với Tây Sơn, đại binh tiến theo làm thanh viện, đến chừng quân Lê thu phục được đất cũ, bấy giờ đứng ra giảng ḥa hai bên, rồi đóng đại quân ở giữa mà kiềm chế cả hai. Nhược bằng kẻ kia (Tây Sơn) cường ngạnh, không biết sợ oai trời, bấy giờ sẽ tiến quân đến tận hang ổ của chúng (Phú Xuân) mà tiêu diệt'. Quân Măn Thanh tiến vào nước ta, Chiêu Thống sang Kinh Bắc đón rước vào Đông Đô, c̣n Ngô Văn Sở rút quân bộ về giữ Tam Điệp và quân thủy về Biện Sơn, và sai Nguyễn Văn Tuyết cưỡi ngựa lưu tinh về Phú Xuân cấp báo.
Ngày 24 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), tin đến Phú Xuân. Để trấn an ḷng người và giữ vững tinh thần tướng sĩ, Bắc B́nh vương Nguyễn Văn Huệ sai đắp đàn ở Bân sơn phía tây thành Phú Xuân để tế cáo trời đất, lên ngôi Hoàng đế, lấy năm Mậu Thân làm niên hiệu Quang Trung năm đầu, rồi chỉnh đốn voi ngựa binh lính tiến quân ra bắc. Thành Phú Xuân lúc bấy giờ có 6 vạn lính, chủ yếu là người Thuận Quảng. Vua Quang Trung để lại một vạn giữ thành, đem 5 vạn ra bắc. Ngày 29 tháng 11, đại quân đến Nghệ An, nhà vua sai Hô Hổ Hầu tuyển thêm binh, cứ 3 suất đinh lấy 1 người, được thêm 3 vạn lính nữa. Vua Quang Trung làm lễ điểm binh, tổng cộng được 8 vạn lính và 200 thớt voi. Nhà vua sai Trần Danh B́nh cầm đầu sứ bộ mang thư đến bản doanh của Tôn Sĩ Nghị xin nghị ḥa, lời lẽ khúm núm sợ sệt để đánh lạc hướng quân địch. Quả nhiên Tôn Sĩ Nghị mắc mưu, kiêu căng xé thư và giết Trần Danh B́nh. Vua lại nhờ Nguyễn Thiếp thân hành ra Đông Đô mang thư cho Đề Lĩnh họ Đinh hẹn làm nội ứng. Bố trí xong mọi việc, vua Quang Trung ra lệnh xuất quân, ngày 20 tháng chạp năm Mậu Thân, đại binh đến Tam Điệp. Bọn Ngô Văn Sở, Phan VănLân, Ngô Thời Nhậm ra yết kiến và xin chịu tội tự tiện lui binh. Vua Quang Trung an ủi, tha tội cho các tướng, rồi gộp binh đồn trú ở Bắc Hà với đại quân, tất cả là 10 vạn người. Nhà vua cho quân lính ăn Tết trước và hẹn đến mồng bảy tháng giêng vào Đông Đô sẽ ăn Tết tiếp.
Người đời sau đọc đến đoạn sử này tự hỏi làm sao vua Quang Trung chỉ trong ṿng ba bốn ngày có thể điều động 5 vạn bộ binh từ Phú Xuân ra đến Nghệ An cách nhau hơn 300 kilômét vào thời đại trên bộ chưa có phương tiện vận chuyển cơ khí. Rất may là sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí (25) đă tường thuật tỉ mỉ việc vua Quang Trung chia quân ra từng nhóm nhỏ 3 người, mỗi nhóm dùng một chiếc cáng đựng khí giới, quân trang , lương thực, vật dụng cá nhân của cả nhóm, rồi một người lên nằm trên cáng để hai người kia khiêng, vừa đi vừa chạy, cứ thế luân phiên nhau, gặp sông gặp suối th́ đặt cáng xuống mặt nước mà lội qua. Những nhà viết sử về sau dựa vào Hoàng Lê Nhất Thống Chí cũng thuật lại chuyện cái cáng , hoặc đổi ra là cái vơng cho dễ hiểu hơn (26). Có điều là cái cáng (hay cái vơng) lịch sử đó thực ra là chiếc xuồng câu của miền B́nh Trị Thiên mà tác giả Hoàng Lê Nhất Thống Chí chưa trông thấy bao giờ nên tưởng lầm là cái cáng. Miền bắc miền nam có thuyền đinh, thuyền thúng, ghe bầu, ghe tam bản, ghe cà dom, nhưng không đâu có chiếc thuyền nan độc đáo của vùng Huế. Thuyền nan, c̣n gọi là xuồng câu, h́nh thon thon, dài chừng 2 đến 3 mét, rộng từ 60 đến 70 centimét, lườn thuyền làm bằng nan tre quét dầu rái và hắc ín, mạn thuyền kẹp bằng nẹp tre buộc lạt mây. Xuồng không có cọc chèo, v́ di chuyển bằng dầm chứ không phải bằng mái chèo. Dầm có hai loại: dầm ngắn th́ hai tay sử dụng hai cái, dầm dài th́ hai tay nắm đoạn giữa mà lần lượt hạ hai đầu dầm xuống khoắng nước. Xuồng dùng để đi câu hoặc để đuổi cá vào lưới. Ngay tại Huế th́ xuồng c̣n dùng để chở hàng quà bán rong ban đêm trên sông Hương.
Ngày 30 tháng chạp, quân Tây Sơn vượt sông Gián thủy, đánh tan đạo quân của Hoàng Phùng Nghĩa, và bắt trọn toán xích hầu của Măn Thanh đi theo quân Lê. Ngày mồng 3 Tết, vua Quang Trung vây đồn Hà Ḥi. Quân Tây Sơn la ó vang trời, quân Thanh bất ngờ bị tấn công nên kinh hoảng hạ khí giới đầu hàng. Mờ sáng ngày mồng 5, vua Quang Trung đánh đồn Ngọc Hồi, quân Thanh chống cự kịch liệt nhưng cuối cùng bại trận, chạy lui về Đông Đô lại bị quân của Đại Đô Đốc Bảo chận đánh lùa xuống Đầm Mực nên chết thêm hàng mấy vạn người. Trong lúc đó, Đô Đốc Long đánh đồn Khương Thượng rồi tiến lên công hăm thành Đông Đô. Các tướng Tàu Hứa Thế Hanh, Trương Triều Long, Thượng Duy Thăng tử trận, Sầm Nghi Đống tự sát. Quân Thanh phần chết trận, phần chết đuối, phần hoảng sợ dày xéo lên nhau mà chết, sự tổn thất về nhân mạng vô cùng lớn lao. Tôn Sĩ Nghị vượt cầu phao chạy trốn, đến vùng Phượng Nhỡn lại bị phục binh của Đại Đô Đốc Lộc đón đánh, phải bỏ cả ấn tín, kỳ bài, sắc thư, chạy thoát thân về Tàu. Vua Lê Chiêu Thống cũng chạy theo rồi về sau chết ở bên Tàu. Vua Quang Trung đại thắng tiến quân vào thành Đông Đô ngày mồng 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789), trước kỳ hẹn với quân sĩ hai ngày.
Thấy Tôn Sĩ Nghị thua chạy không c̣n manh giáp, vua Càn Long giận lắm, xuống chiếu điều động quân 9 tỉnh giao cho Phúc Khang An thống lĩnh chuẩn bị sang đánh nước ta. Vua Quang Trung sai Ngô Thời Nhậm thảo biểu cầu phong với nhà Thanh và vận động Phúc Khang An và Ḥa Thân bảo tấu với Càn Long. Cuối cùng, vua Càn Long nhà Thanh đă nghe lời bàn của triều thần, bỏ rơi Chiêu Thống và phong Quang Trung làm An Nam quốc vương.
Đánh đuổi quân Thanh ra khỏi bờ cơi, vua Quang Trung đổi tên Đông Đô làm Bắc Thành, và trở lại Phú Xuân. Nhà vua thấy ḷng người Bắc Hà c̣n tưởng nhớ nhà Lê, Đông Đô lại ở quá gần biên giới Tàu, bốn mặt trống trải, nên cả 3 lần ra đánh chiếm Bắc Hà, lần nào xong việc, nhà vua cũng quày quả trở lại Phú Xuân. Tuy nhiên, vua Quang Trung có nhờ Nguyễn Thiếp nghiên cứu xây thành Phượng Hoàng ở Nghệ An., ư muốn dời đô ra đấy là nơi trung độ đất nước. Nhưng rồi vua Quang Trung mất sớm, đô thành Phượng Hoàng chưa kịp xây. Vua mới Cảnh Thịnh vẫn tiếp tục đóng đô ở Phú Xuân. Vă lại, lúc này vua Cảnh Thịnh kiêm tính cả giang san của vua bác Thái Đức, biên giới phía nam của Tây Sơn đến tận B́nh Khang, Nghệ An không c̣n là trung độ đất nước nữa, nên triều đ́nh Tây Sơn từ bỏ ư định dời đô. Phú Xuân tiếp tục là đô thành của nhà Tây Sơn cho đến năm 1801 là năm Nguyễn Phúc Ánh chiếm lại thành Phú Xuân.
Kinh thành Phú Xuân dưới triều Nguyễn.
Ngày 13-6-1801 (mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu), Nguyễn Phúc Ánh chiếm lại kinh thành Phú Xuân. Hai ngày sau, Nguyễn Phúc Ánh chính thức vào thành. Tháng 2 năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh đánh tan đạo quân phản công của Nguyễn Quang Toản ở lũy Trấn Ninh, thu phục toàn cơi Nam Hà. Trong lúc đó, Nguyễn Quang Toản chạy ra Bắc Hà, cải niên hiệu Cảnh Thịnh thành Bảo Hưng, sửa sang điện Kính Thiên trong thành Đông Đô, đắp đàn tṛn ở Ô Chợ Dừa và khơi đầm vuông ở Hồ Tây tế cáo Trời Đất, sai Nguyễn Huy Lượng làm bài phú Tụng Tây Hồ ca ngợi công nghiệp nhà Tây Sơn, mưu tính việc lấy lại sông Gianh làm biên giới phân tranh nam bắc. Đă có sẳn dự tính thống nhất sơn hà, từ năm 1796, tại Gia Định, Nguyễn Phúc Ánh cho đúc tiền Gia Hưng, nay trước ư đồ của triều đ́nh Tây Sơn, tháng 5 năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua tại Phú Xuân, lấy niên hiệu là Gia Long, và cử đại binh ra đánh chiếm Bắc Hà. Chỉ trong ṿng hai tháng, quân nhà Nguyễn đă bắt trọn vua quan nhà Tây Sơn. Ngày 20-7-1802, vua Gia Long vào thành Đông Đô, giữ nguyên việc nhà Tây Sơn đổi tên đô cũ của nhà Lê làm Bắc Thành, và trở nên ông vua nhất thống nam bắc.
Sau khi lấy được Bắc Hà, vua Gia Long liên tiếp gửi 2 sứ bộ sang Tàu cầu phong và xin đặt quốc hiệu là Nam Việt. Vua Càn Long nhà Măn Thanh sợ Gia Long có ư đồ khôi phục Lưỡng Quảng, nên phong cho Gia Long tước hiệu Việt Nam quốc vương. Vua Gia Long phải ra Bắc Thành để làm lễ thụ phong. Các vua Minh Mạng và Thiệu Trị về sau cũng đều phải ra thành Hà Nội làm lễ thụ phong. Chỉ đến đời Tự Đức mới làm lễ thụ phong ở Huế. Sau khi lên ngôi, Minh Mạng đổi quốc hiệu lại là Đại Nam. Ngày 4 tháng 5 năm 1945, Bảo Đại đổi trở lại là Việt Nam.
Vua Gia Long cải các xứ ở Đàng Ngoài thành trấn cho giống với Đàng Trong, và để cho 2 miền bắc nam tự trị rộng răi bằng cách đặt 2 toà Tổng Trấn Bắc Thành và Gia Định Thành. Từ Thanh Hoa ngoại trấn (Minh Mạng đổi tên là Ninh B́nh) trở ra thuộc Bắc Thành, từ Biên Ḥa trở vào thuộc Gia Định Thành. Miền giữa gọi là Trực Lệ hay Trực Kỳ, gồm một số trấn và dinh. Chính dinh Phú Xuân thời các chúa Nguyễn nay gọi là dinh Quảng Đức, nơi có kinh thành Phú Xuân. Đến đời Minh Mạng, các ṭa Tổng Trấn Bắc Thành và Gia Định Thành được băi bỏ, các trấn và dinh được đổi thành tỉnh trực thuộc triều đ́nh. Riêng chính dinh Quảng Đức được cải thành phủ Thừa Thiên, gộp cùng với kinh thành Huế thành Kinh sư. Vua Minh Mạng lại lấy đất Cao Mên lập Trấn Tây Thành gồm có 33 phủ và 2 huyện, cử Trương Minh Giảng làm Tổng Trấn. Nhà vua lại lập thêm một số phủ ở Trung và Hạ Lào, sai Nguyễn Văn Xuân đưa A Nội trở lại Viên Chân làm vua và cho quân ở lại bảo hộ. Về sau, Thiệu Trị rút bỏ Trấn Tây Thành. Cuối đời Tự Đức, 6 tỉnh Nam Kỳ và 3 thành phố Hà Nội, Hải Pḥng và Đà Nẳng trở thành nhượng địa của Pháp. Người Pháp c̣n cắt phủ Cần Bột và phần đất phía tây kênh Vĩnh Tế nhập vào xứ Cao Mên, lấy tất cả đất đai phía tây đường phân thủy Trường Sơn nhập vào xứ Lào, chia lănh thổ Đại Nam c̣n lại làm 3 xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, và Nam Kỳ, gộp chung 5 xứ lại thành Đông Dương thuộc Pháp. Thủ phủ của Đông Dương thuộc Pháp trước ở Sài G̣n, đến năm 1902 th́ dời ra Hà Nội. Huế chỉ c̣n là kinh đô của xứ Trung Kỳ. Ngày 11-3-1945, Huế trở lại là kinh đô của Đế quốc Việt Nam gồm cả 3 miền Trung, Nam, Bắc, cho đến ngày 25-8-1945, Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị, chấm dứt triều đại nhà Nguyễn.
Sau khi chiếm lại Phú Xuân và lên ngôi vua, Gia Long ở và làm việc tạm thời tại ṭa thành cũ trên Vương đảo của Vơ vương, trên bờ sông Hương, đoạn giữa 2 sông Kim Long và Bạch Yến, từ Long Hồ đến Tiên Nộn. Nhà vua bắt tay ngay vào việc thiết kế trên nền ṭa thành cũ một ṭa thành rộng lớn hơn, lấy núi Ngự làm b́nh phong, sông Hương làm minh đường, Cồn Hến làm thanh long, Dă viên làm bạch hổ, trong địa phận tổng Phú Xuân, bao gồm các làng Phú Xuân, Vạn Xuân, Diên Thái, An Vân, An Ḥa, An Mỹ, An Bảo, Thế Lại. Công việc xây đắp bắt đầu năm 1805 dưới triều Gia Long, và hoàn tất năm 1832 dưới triều Minh Mạng, ṛng ră 27 năm trời, huy động thường xuyên 30 ngh́n nhân lực, làm việc dưới sự điều khiển của Giám Thành Nguyễn Văn Yên.
Ṿng ngoài của thành Huế gọi là Kinh Thành cao 6 mét 60, dày 21 mét, rộng 525 hecta, chu vi 10 kilômét. Tường thành xây bằng gạch vồ, gồm 3 lớp, mặt thành bằng phẳng, chia làm 2 cấp, voi ngựa đi lại được, tường ngoài có những ô trống để trí súng đại bác. Thành có 10 cửa, bên trên có vọng lâu, và 2 thủy quan, thông nước Ngự hà với hệ thống sông và hào bao quanh thành. Chính giữa mặt trước có kỳ đài với cột cờ cao 55 mét, dựng năm 1817. Đằng trước kỳ đài là Phu Văn Lâu, dựng năm 1819, và Nghinh Lương Tạ sát bờ sông Hương. Bên trong 2 cửa Thể Nhân và Quảng Đức có nhà súng che cho 9 khẩu súng đồng rất lớn gọi là cửu vị thần công. Chung quanh thành có hào sâu, có cầu gạch bắc ngang để vào các cổng thành. Xa một chút, mặt trước có sông Hương, mặt tả có sông Đông Ba, mặt hữu và mặt sau có Hộ Thành Hà. Các sông Kim Long và Bạch Yến thời trước được lấp đi. Trong khuôn viên Kinh Thành c̣n có Cơ Mật Viện, Lục Bộ, Di Luân đường, Long An điện, Tàng Thơ lâu, Xă Tắc đàn, Âm Hồn miếu và Trấn B́nh đài.
Ṿng thành bên trong gọi là Hoàng Thành cao 4 mét, dày 1 mét, khởi công xây cất năm 1804. Hoàng Thành có 4 cửa: Ngọ Môn, Hiển Nhơn, Chương Đức và Ḥa B́nh. Các công tŕnh chính trong Hoàng Thành là điện Thái Ḥa và lầu Ngọ Môn. Điện Thái Ḥa khởi công tháng 2 năm 1805, đến tháng 10 th́ xong. Điện Thái Ḥa được xây cất theo lối trùng thiềm điệp ốc, mái chồng lên nhau 2 tầng nên rất cao, nhà ghép liền sát 3 cái nên rất rộng. Điện Thái Ḥa là nơi đặt ngai vàng, nơi cử hành lễ Đăng Quang, lễ Vạn Thọ, nơi thiết triều, tiếp sứ. Chính tại điện Thái Ḥa vua Gia Long đă chính thức làm lễ Đăng Quang năm 1806, mặc dù nhà vua đă lên ngôi từ năm 1802. Trước điện Thái Ḥa là sân Đại Triều Nghi, từ nơi này vượt qua cầu Trung Đạo th́ đến lầu Ngọ Môn. Lầu Ngọ Môn được xây dựng năm 1833, dưới triều Minh Mạng, thay thế Nam Khuyết Đài đời Gia Long. Ngọ Môn có 5 cửa, 9 mái lầu. Chính tại đây chiều 25-8-1945, Bảo Đại đă đọc chiếu thoái vị, chấm dứt 143 năm triều đại nhà Nguyễn.
Ṿng thành trong cùng là Tử Cấm Thành, rộng 10 hecta, là nơi ở và làm việc của vua và hoàng gia. Các công tŕnh bên trong Tử Cấm Thành được tái quy hoạch năm 1833, dưới triều Minh Mạng. Qua Đại Cung Môn là điện Cần Chánh, hai bên có Tả Vu và Hữu Vu, đằng trước có 2 vạc đồng lớn đúc xong năm 1662 dưới thời chúa Hiền vương. Đàng sau điện Cần Chánh là cung Càn Thành, sau nữa là điện Kiến Trung.
Trong Tử Cấm Thành c̣n có Tam cung (Diên Thọ, Tràng Sinh, Khôn Thái) là nơi ở của Hoàng thái hậu, Thái Hoàng thái hậu, Hoàng hậu, Hoàng quư phi, và Lục viện (Thuận Huy, Đoan Thuận, Đoan Ḥa, Đoan Huy, Đoan Tường, Đoan Trang) là nơi ở của các cung tần. Ngoài ra c̣n có Nhật Thành lâu, Dưỡng Tâm lâu, Thiện Thượng lâu, Tịnh Quang điện, Duyệt Thị đường, Thái B́nh lâu, Ngự Tiền Văn pḥng. Các công tŕnh trong Tử Cấm Thành đều đă bị chiến tranh hùy hoại. Cũng như điện Thái Ḥa và điện Long An, điện Cần Chánh, các cung Càn Thành, Diên Thọ, Trường Sanh, Khôn Thái v.v. trong Tử Cấm Thành đều xây dựng theo lối trùng thiềm điệp ốc, mái lợp ngói hoàng lưu ly, sân lát đá Thanh hoặc gạch Bát tràng, nóc nhà, đ̣n đao trang trí họa tiết pháp lam, đố bản chạm trổ theo lối nhất thi nhất họa, vô cùng công phu và tinh tế.
Trong Hoàng Thành c̣n có khu miếu thờ tổ tiên và vua chúa nhà Nguyễn: Triệu miếu, Thái miếu, Hưng miếu, Thế miếu. Ngoài ra c̣n có Phụng Thiên miếu để cho nữ giới đến lễ bái, và Hiển Lâm các thờ các công thần. Trước sân Thế miếu có 9 đỉnh đồng lớn đúc dưới triều Minh Mạng, gọi là cửu đỉnh, khởi công từ năm 1835 đến năm 1837 mới xong, mỗi đỉnh nặng từ 2000 đến 2500 kilôgam, với 153 h́nh ảnh tiêu biểu sông núi cây cỏ và cầm thú nước Đại Nam chạm khắc quanh thân đỉnh.
Chung quanh Kinh Thành Huế có nhiều quần thể kiến trúc như miếu Văn Thánh, đàn Nam Giao, chùa chiền, giáo đường, phủ thờ các thân vương, dinh thự các đại thần, và đặc biệt là lăng tẩm các vua nhà Nguyễn.
Lăng Gia Long, c̣n gọi là Thiên Thọ lăng, khởi công năm 1814 và hoàn tất năm 1820, nằm giữa ḷng một quần sơn 42 ngọn núi, với diện tích 128 kilômét vuông, chung quanh không có la thành mà chỉ có rừng thông bát ngát và những trụ biểu ṿi vọi uy nghi. Chính giữa một ngọn đồi bằng phẳng là 2 ngôi thạch thất xây theo lối càn khôn hiệp đức, nơi an nghỉ ngh́n thu của vua Gia Long và Thừa Thiên Cao Hoàng hậu. Đằng trước là đ́ện Minh Thành. Xa hơn một chút là Thiên Thọ hữu lăng với điện Gia Thành, nơi chôn cất và thờ phụng Thuận Thiên Cao Hoàng hậu, mẹ vua Minh Mạng. Giáo sĩ R. D. Cadière trước đây có khuyến cáo khách thăm lăng Thiên Thọ nên đến vào buổi chiều để chiêm ngưỡng nét đẹp tuyệt vời của núi rừng cây cỏ dưới ánh chiều tà.
Lăng Minh Mạng được xây cất theo một trục thần đạo 70 mét trong một la thành chu vi 1720 mét. Từ ngoài vào là Đại Hồng môn, tiếp đến là sân chầu với văn vơ bá quan và voi ngựa bằng đá, rồi đến Bi đ́nh, qua sân 4 bậc đến Hiển Đức môn, Sùng Ân điện, Hoàng Trạch môn, xuống 17 bậc thềm, vượt hồ Trừng Minh bằng 3 cây cầu Chính Đạo, Tả Phù, Hữu Bật, đến Minh lâu h́nh vuông có 2 tầng và 8 mái, tượng trưng cho càn khôn, lưỡng nghi, tứ tượng, và bát quái, đi tiếp giữa 2 trụ biểu và 2 vườn hoa, tượng trưng cho vinh hoa phú quư của hoàng gia ở cả hai cơi âm dương, qua cầu Thông Minh Chính Trực bắc ngang Tân Nguyệt tŕ là đến Bữu thành, nơi chôn cất quan quách nhà vua. Lăng Minh Mạng chỉ xây trong 3 năm là xong nhưng phải mất 14 năm suy nghĩ thiết kế, là một công tŕnh kiến trúc kết tụ tinh túy của hội họa, thi ca và triết học.
Ngoài ra c̣n có lăng Thiệu Trị chân phương với hồ Ngưng Thúy, lăng Tự Đức tráng lệ rộng 225 hecta, ḥa hợp cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng với 50 công tŕnh nhân tạo tinh xảo:
Tứ bề núi phủ mây phong, Mảnh trăng thiên cổ, bóng tùng vạn niên. và khu An lăng giản dị, nơi chôn cất các vua Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân.
Tiếp đến lăng Đồng Khánh, nguyên là điện thờ Kiên thái vương, đuợc vua Khải Định chỉnh trang năm 1916, với điện Ngưng Hy, là bước chuyển tiếp giữa phong cách kiến trúc cổ truyền của lăng Tự Đức và phong cách hiện đại xây cất theo kỷ thuật Tây phương của lăng Khải Định. Thật vậy, lăng Khải Định là sự giao thoa văn hóa Á Âu trong nghệ thuật kiến trúc. Xi măng cốt sắt đă thay thế gỗ lim, gỗ kiền kiền, ngói ardoise đă thay thế ngói hoàng lưu ly, gạch carreau đă thay thế gạch bát tràng, nhưng vẫn c̣n quan binh voi ngựa bằng đá hai bên sân chầu, vẫn c̣n hoa văn, họa tiết mang mầu sắc phương đông trên nóc điện, trên vách tường nội thất. Nghệ nhân Phan Văn Tánh và đồng sự đă đưa nghệ thuật tạo h́nh sành sứ và thủy tinh lên đỉnh cao với các bức phù điêu và bích họa tuyệt mỹ trong cung Thiên Định và điện Khải Thành. Đặc biệt là cái bửu tán xi măng cốt sắt che trên bức tượng đồng trông linh động tưởng như may bằng nhung lụa.
Ngoài lăng tẩm các vua Nguyễn c̣n có lăng mộ các chúa Nguyễn và các nhà quư tộc ở Huế. Đáng lưu ư nhất là lăng Ba vành ở làng Cư Chánh, kế cận lăng Thiệu Trị và lăng Tự Đức. Giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu nghi rằng đây là di tích lăng vua Quang Trung Nguyễn Văn Huệ. Nhưng Lư trưởng làng Cư Chánh đă có tờ tŕnh lên Ṭa Khâm sứ Trung Kỳ rằng đây là lăng Ư Đức hầu. Quả thật ngày nay bên trong khuôn thành có mộ Ư Đức hầu. Có điều là ṿng thành trong của lăng Ba vành có vết tích đào bới như để lấy hài cốt đi, và quy mô lăng Ba vành quá rộng lớn đến mức độ khó hiểu đối với lăng mộ của một ông quan. Chả lẽ trong những điều kiện b́nh thường thời phong kiến mà con cháu Ư Đức hầu lại vô ư thức xây lăng mộ cha ông to rộng và bề thế hơn lăng mộ chúa Vơ vương bội phần?
C̣n chuyện nữa đáng nói là Đàn Nam Giao, nơi các vua Nguyễn cử hành lễ tế trời đất, 3 năm một lần (27). Đàn Nam Giao xây đắp dưới triều Gia Long, lấy đất từ 45 tỉnh thành trong cả nước gom lại. Đàn gồm 2 tầng, tầng dưới vuông, tầng trên tṛn, và trai cung ở giữa rừng thông, chung quanh có thành cao bao bọc. Rừng thông do các quan triều theo lệnh vua Gia Long mỗi người trồng một cây, có ghi tên họ chức tước, và tự tay lo việc chăm sóc. Sau năm 1946, trai cung và tường thành bị phà hủy, rừng thông bị chặt làm củi đốt. Đàn Nam Giao lâm vào t́nh trạng hoang tàn đổ nát. Năm 1955, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cho sửa sang lại nền đàn. Theo nhà văn Thanh Tịnh viết trên tạp chí Sông Hương ấn hành ở Huế sau năm 1975 th́ trong ḷng đất bên dưới nền đàn Nam Giao có một hệ thống cộng âm rất tinh xảo, xây bằng những phiến đá Thanh ghép thành hộc, người đứng trên nền đàn cất tiếng nói hay hát có thể nghe được từ xa 3,4 trăm mét. Thanh Tịnh ghi lại hồi ức trước năm 1945, lúc làm phán sự pḥng du lịch ṭa Khâm sứ Trung Kỳ, đă có dịp hướng dẫn vợ chồng một vị Bá tước người Pháp thăm đàn Nam Giao. Người chồng đứng trên nền đàn nói với giọng b́nh thường mấy tiếng Salut, grand talent! và người vợ đứng cách xa 400 mét đă hân hoan khoa tay gật đầu tỏ ư nghe rơ. Tiếc rằng sau năm 1975, ty Thông tin Văn hóa B́nh Trị Thiên đă đào bới nền đàn Nam Giao để đổ móng xây đài tưởng niệm chiến sĩ, các phiến đá Thanh đă bị tháo gỡ và tẩu tán, và cái công tŕnh văn hóa mang đậm dấu ấn lịch sử rất đáng được trân trọng đó đă bị hủy diệt bởi bàn tay những người làm văn hóa mà thiếu ư thức văn hóa.
Tổng kết.
Trên cơ sở nhửng nhận thức mới, phát sinh từ góc nh́n và thế đứng được điều chỉnh lại, lịch sử vùng Huế trong ḷng lịch sử Đại Việt đối với người Việt Nam chúng ta ngày nay không phải bắt đầu từ năm 1307 khi nhà Trần đổi 2 châu Ô Lư thành Thuận Châu và Hóa Châu, mà lùi lại rất xa vào thời sơ sử mịt mù khi sử cũ cho rằng vùng Huế là bộ Việt Thường nước Văn Lang. Sau kỷ nguyên Hồng Bàng, sử cũ không nói bộ Việt Thường có danh xưng ǵ mới, thuộc Thục, thuộc Tần, hay thuộc Triệu, hay không thuộc một nước nào cả, có điều là vùng Huế thuở bấy giờ vẫn có cùng Lạc Việt chung một cơ sở đất nước và con người: Văn Lang, hay đúng hơn Môn Lang, làng của người Môn. đất nước của người Môn. Đến thời Bắc thuộc, vùng Huế là quận Nhật Nam, và là địa bàn tranh chấp ảnh hưởng của 2 nền văn minh Trung Hoa vá Ấn Độ. Cuối thời Bắc thuộc, vùng Huế là 2 châu Ô Lư của Chiêm Thành, là địa đầu của vùng ảnh hưởng Ấn Độ, và thời kỳ này kéo dài lan qua suốt buổi đầu của Giao Châu tự chủ. Từ năm 1307, vùng Huế là Thuận Hóa của Đại Việt, là mũi xung kích của căn cứ địa Thăng Long trong sự nghiệp nam tiến. Từ năm 1558, khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, hay chính thức hơn, từ năm 1629, khi Nguyễn Phúc Nguyên 'Dư bất thụ sắc', vùng Huế là trung tâm quyền lực của xứ Đàng Trong. Từ năm 1802 đến năm 1945, vùng Huế là đất Kinh Sư, là kinh đô của nước Việt Nam thống nhất. Sau năm 1945, quyền lực chính trị chuyển về 2 trung tâm Hà Nội và Sài G̣n, vùng Huế trở thành Cố Đô Huế mà thực chất chỉ là một tỉnh Thừa Thiên-Huế không có tiềm năng kinh tế, đổ nát, điêu tàn, và bị bỏ quên. Như vậy, theo gịng lịch sử, Huế đă trải qua các thời kỳ như sau:
. Thời kỳ Việt Thường (Hồng Bàng, Thục, Triệu).
. Thời kỳ Nhật Nam (từ 111 trước Công nguyên đến 758 sau Công nguyên).
. Thời kỳ Ô Ri (từ 758 đến 1306).
. Thời kỳ Thuận Hóa (từ 1307 đến 1558)
. Thời kỳ Đàng Trong (từ 1558 đến 1802).
. Thời kỳ Kinh Sư (từ 1802 đến 1945).
. Thời kỳ Thừa Thiên-Huế (từ 1945 đến nay).
Tuy rằng đă có lúc Huế bị nhà cầm quyền Hà Nội xếp vào loại thành phố hạng 3, ngang tầm với các thành phố Lạng Sơn và Cà Mâu, và điều này đă khiến Hiệp Hội Kiến trúc sư Việt Nam phản đối kịch liệt, nên được xếp hạng lại thành loại thành phố đặc biệt, mặc dù vậy, Huế ngày nay vẫn được đa số người Việt Nam xem là vốn liếng văn hóa nước nhà rất đáng trân trọng, và tổ chức UNESCO đă xếp các quần thể kiến trúc ở Huế vào danh sách các di sản văn hóa thế giới. Mặt khác, v́ ở vị trí trung độ bắc nam của Việt Nam, và đầu mối hành lang đông tây của bán đảo Đông Dương, Huế vẫn luôn luôn là một điểm chiến lược quan yếu, vừa là điểm tựa của chiếc đ̣n gánh sơn hà Việt Nam, vừa là căn cứ thâm nhập và khai thông nội địa các xứ Tây Nguyên, Thượng Lào, Bắc Thái. Trong tương lai, Huế kết hợp với Đà Nẳng thành một phức hợp đô thị hoàn chỉnh để trở thành trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của miền Trung, góp phần vào việc hóa giải các mâu thuẩn nam bắc, củng cố nền thống nhất quốc gia, tô bồi t́nh đoàn kết dân tộc.
Tháng tư năm 2003
Minh vũ Hồ văn Châm;
Chú giải :
(1) 15 Bộ của nước Văn Lang theo sử cũ:
1. Văn Lang (Bạch Hạc, Vĩnh Yên)
2. Châu Diên (Sơn Tây)
3. Phúc Lộc (Trung châu)
4. Tân Hưng (Hưng Hóa, Tuyên Quang)
5. Vũ Định (Thái Nguyên)
6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)
7. Lục Hải (Lạng Sơn)
8. Ninh Hải (Quảng Yên)
9. Dương Tuyền (Hải Dương)
10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định)
11.Cửu Chân (Thanh Hóa)
12.Hoài Hoan (Bắc Nghệ An)
13.Cửu Đức (Nam Nghệ An, Hà Tĩnh)
14.Việt Thường (B́nh Trị Thiên)
15.B́nh Văn (?)
(2) Người Tàu có câu đối viếng Tôn Thất Thuyếtt:
Thù nhung bất cộng đái thiên, vạn cổ phương danh lưu Tượng Quận,
Hộ giá biệt tầm tĩnh địa, thiên niên tàn cốt kư Long Châu,
(3) Trần Kinh Ḥa. Khảo về danh xưng Giao Chỉ. Tạp Chí Đại Học, số 15, tháng 5, 1960. Viện Đại Học Huế, VN.
(4) Tư Mă Thiên. Sử Kư. Nam Việt Úy Đá. Thư Nam Việt vương Triệu Đà gửi Hán Văn đế. Bản dịch của Giản Chi
và Nguyễn Hiến Lê. Lá Bói 1972, Sài G̣n, VN.
(5) 9 quận Giao Chỉ Bộ: Nam Hải, Uăt Lâm, Thương Ngô, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai,
Đạm Nhĩ.
(6) L. Aurousseau. Bulletin de l'École francaise d'Extrême Orient, Tome 23. (Tập san Trường Viễn Đông Bác
cổ).Hà Nội.
(7) Bùi Minh Đức. Từ Điển Tiếng Huế, Nhà Xuất bản Tâm An, 9381 Shadwell Drive, Huntington Beach, CA,
92646, USA.
(8) Đại Nam Nhất Thống Chí, Cao Xuân
Dục, 1910, Qưốc sử quán, Huế.
(9) Dương Văn An. Ô Châu Cận Lục ghi:'Sông lớn ở huyện Đan Điền (Quảng Điền) ḍng sông rất xa, đường sông
rất dài, miếu cũ Minh Uy chặn trên đầu núi, thành lớn Hóa Châu dài đến cửa sông'.Cửa sông nói ở đây là ngă ba
Śnh, tại làng Lại Ân, nơi sông Bồ đổ vào sông Hương.
(10) Thủy Kinh Chú chép rằng thành Khu Túc có chu vi 6 dặm, cao 2 trượng, có mở nhiều lỗ vuông, có 5 tầng gác,
có lầu cao 7, 8 trượng, có 13 cửa, chung quanh có 2 vạn nóc nhà.
(11) Ngô Thời Sỹ. Việt Sử Tiêu Án. Bản dịch của Hội Việt Nam Nghiên Cùu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu. Nhà Xuất
bản Văn Sử, 728 North 9th street, San Jose, CA 95112, USA.
(12) Đại Việt Sử Kư Toàn Thư chép năm Thiên Phúc thứ 3 (983), vua Lê sai con nuôi (không tường danh tánh)
đuổi theo bắt được Lưu Kế Tông và đem chém.
(13) Sử cũ có chép đời Lư Thái Tổ, năm 1011, niên hiệu Thuận Thiên thứ 2, Chiêm Thành vào dâng sư tử, và
năm 1020, niên hiệu Thuận Thiên thứ 11, vua sai Khai Thiên vương Phật Mă và Đào Thạc Phụ đánh trại Bố Chính,
đến núi Long Tị (huyện B́nh Chánh, nay là huyện Quảng Trạch), chém. được tướng giặc là Bố Linh. Nhưng sư tử
ở nước ta là con ǵ th́ khó mà đoán được. C̣n nói đánh trại Bố Chính th́ cũng như trứớc đó sử cũ đă chép việc
đánh Diễn Châu và việc đánh châu Vị Long, chỉ là những chiến dịch trừng phạt thổ tù làm phản, không phải là
chiến tranh với các nước láng giềng.
(14) Nhà Tống dùng chính sách nhỏ giọt trong việc tấn phong Lê Hoàn để làm áp lực ngoại giao:
Năm 982 phong Tĩnh Hải Tiết Độ sứ,
Năm 989 phong An Nam Đô Hộ Tĩnh Hải Tiết Độ sứ Kinh Triệu Quận hầu, gia phong Kiểm Hiệu Thái Úy,
Năm 993 phong Giao Chỉ Quận vương,
Năm 997 phong Nam B́nh vương.
(15) R. P. Cadière. Géographie historique du Quảng B́nh d'après les annales impériales. Trong B.E.F.E.O năm
1905.
(16) B.E.F.E.O. năm 1908, Tome 8. Les barbares du Yun Nan. Hà Nội, VN.
(17) Đoàn Khoách. Thắng cảnh Tư Dung. Trong Tuyển Tập Nhớ Huế, só 6, 1994, Vơ Văn Tùng chủ biên, 9559
Bolsa Ave, suite D, Westminster, CA 92683, USA.
(18) Khi hai châu Ô Ri trở về cương vực Đại Việt, người Chàm phần lớn đă bỏ đi, nhưng tại đây đă có người Việt
đến định cư lập nghiệp từ trước, tỷ như Việt kiều ngày nay ở Mên, Lào và
Thái Lan vậy.
(19) Trước đây, sứ thần nước ta phải lạy vua Chiêm Thành .Đoàn Nhữ Hài đi sứ, vào đại điện, đặt sắc chỉ vua ta
lên hương án dể vua Chiêm lạy, xong Đoàn Nhữ Hài cũng lạy, nhưng là lạy tờ chiếu chứ không lạy vua Chiêm. Từ
đó, sứ nước ta cứ nghi thức đó mà theo, không phải lạy vua Chiêm nữa.
(20) Phan Khoang. Việt sử xứ Đàng Trong.Nhà xuất bản Xuân Thu, Houston,
TX 77272, USA.
(21) Nguyễn Hữu Vinh. Về tháp Phước Duyên của chùa Linh Mụ, trích dẫn văn bia của chúa Nguyễn Phúc Chu,
bản dịch của Thích Giới Hương, 1994, do Thích Trí Tựu cung cấp. Trong Tuyển Tập Nhớ Huế, số 12, 2001, Vơ Văn
Tùng chủ biên. 9559 Bolsa Ave, Suite D, Westminster, CA 92683, USA.
(22) Năm 1643, Lê Thần Tông nhường ngôi cho con là Lê Chân Tông để làm Thái Thượng Hoàng. .Năm 1649,
Chân Tông mất, không có con nối ngôi, Lê Thần Tông trở lại làm vua lần nữa.
(23) Lê Quư Đôn. Phủ biên tạp lục, quyển II, chếp rằng:'.. mái nhà nguy nga,
đài cao rực rỡ, tường bao quanh, cửa bốn bề, chạm vẽ khéo đẹp cùng cực. Vườn sau có núi giả, đá lạ, ao vuông,
hào quanh, cầu vồng, thủy tạ, tường trong tường ngoài xây dày mấy thước, dùng vôi và mảnh sành đắp thành
h́nh rồng, cọp, lân, phụng, cỏ, hoa....'
(24) Gần Thác Ma có bến đ̣ Cây Đa nổi tiếng v́ câu chuyện t́nh dang dở của cô lái đ̣:
Trăm năm đà lỗi hẹn ḥ,
Cây đa bến cộ (bến cũ) con đ̣ khác đưa.
Cây đa bến cộ c̣n lưa (vẫn c̣n đó),
Con đ̣ đă khác năm xưa tê (kia) rồi!
(25) Ngô gia Văn Phái. Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Bản dịch Ngô Tất Tố, Cơ sở Xuất bản và Báo chí Tự Do, Sài
G̣n, 1958.
(26) Phạm Văn Sơn. Việt Sử Toàn Thư. Thư Lâm Ấn Thư Quán, 231-233 đường Phạm Ngũ Lăo, Sài G̣n, 1960.
(27) Bửu Liêm. Lễ Tế Nam Giao. Đặc san Tưởng niệm 200 năm công nghiệp thống nhất quốc gia của Hoàng đế
Gia Long. Hội Đồng Nguyễn Phước tộc hải ngoại ấn hành. California 2002. .