Truyền Thông Điểm Sách 

Phải chăng
ĐoànThị Điểm
là một
vệ binh
nữ quyền?

Olga Dror, sinh viên phân đang soạn đề án tiến sĩ tại phân khoa sử học, trường Đại Học Cornell, Ithica, New York, trong luận văn Đoàn Thị Điểms Story of the Vân Cát Goddess as a Story of Emancipation đăng trên tạp chí Journal of Southeast Asian Studies, số 1, bộ 33, do National University of Singapore phát hành trong tháng 2 năm 2002 viết:

Most of the stories we known about the Vietnamese goddess Liễu Hạnh derive from Đoàn thị Điểm story Vân Cát Thần Nữ. This article analyses the story, arguing that in fact it is a piece of fiction which reflrcts the author’s views, experiences and aspirations for greater freedom for women.

Những trang kế tiếp phân tích thành quả của Olga Dror trong luận văn trên đây. 

Sau phần nhập đề tŕnh bầy chủ đề của luận văn, Olga Dror tŕnh bầy tiểu sử Đoàn Thị Điểm, căn cứ trên hai luận văn: một là bài Bà Điểm Họ Đoàn của Bùi Hạnh Cẩn, Trung Tâm Hoạt động Văn hóa Khoa Học, Hanoi 1988, hai là tác phẩm Hồng Hà Nữ Sĩ của Đỗ Thị Hảo, nhà xuất bản Phụ Nữ, Hà nội 1986. Tác giả chép lại tiểu sử Đoàn Thị Điểm rất đầy đủ, vắn tắt như sau:

Đoàn Thị Điểm sinh năm 1705, ngựi xă Giai Phạm, huyện Văn Giang, nay thuộc tỉnh Hưng Yên, lớùn lên tại quê mẹ, làng Vu Điện, nay thuộc quân Nam Sang tỉnh Nam Định. Cha là Đoàn Doăn Nghi, rớt thi hội về làng dậy học bốc thuốc., và có anh là Đoàn Doăn Luân. Năm 16 tuổi, bà về làm con nuôi tiến sĩ quậân công thượng thư Lê Anh Tuấn. Sau đo nhân v́ù cha nuôi muốn đem bà tiến chúa Trịnh, bà không chịu và trở về sống với gia đ́nh. Tại nhà cha nuôi cũng như tại nhà cha đẻ, bà luôn luôn có dịp gặp gỡ các văn tài đương thời. Đẹp ngựi đẹp nết, nhiều người muốn xin kết thân, nhưng bà không thấy một ai xứng đáng. Cha mất năm bà 24 tuổi, sau đó chẳng bao lâu anh bà cũng qua đời. Bà phải theo nghề cha, dậy học bốc thuốc cưu mang bà chị dâu đau ốm và nuôi dưỡng hai đứa cháu. Đà có lần bà được triệu vào cung dậy các cung nữ, nhưng chỉ ít lâu sau bà lại trở về làng mở trường dậy học. Năm bà 37 tuổi bà về làm kế Tiến Sĩ Nguyễn Kiều, nhưng liền đó Nguyễn Kiều phải đi sứ sang Trung Quốc suốt ba năm. Sau khi Nguyễn Kiều đi sứ về, được bổ làm quan tại Nghệ An, bà đi theo chồng vào Nghệ và mất tại đó năm 44 tuổi.

So với tiểu sử của Đoàn Thị Điểm trong sách Chinh Phụ Ngâm Bị Khảo của Hoàng Xuân Hăn, người đọc thấy Olga Dror lược bỏ một chi tiết mà khi xưa thủa chữ nho c̣n thịnh, it phụ nữ đạt nổi, đó là truyện Đoàn Thị Điểm có một học tṛ tên là Đào Duy Doăn sau đó thi đậu tiến sĩ. Ngược lại, Olga Dror cho biết diểm mới lạ là Hồng Hà Nữ Sĩ sáng tác Vân Cát Thần Nữ Truyện vào năm 1730. Vin vào thời điểm này Olga Dror đă dựa theo luận cứ của nhà nghiên cứu văn học người Nga Nikolai Nikulin, tác giả cuốn Vietnamskya Literature, nxb Nauka, Moscow 1971, đặêt Đoàn Thị Điểm vào đội ngũ những nhà nho không thành đạt, sống nhờ vào nghề làm thầy đồ, thầy thuốc và viết văn gián tiếp chống đối Khổng giáo.

Sau đó là phần phân tích Vân Cát Thần Nữ Truyện. Olga Dror đả tỏ ra vô cùng xuất sắc, trong việc chia truyện Thần Nữ Vân Cát thành 12 đoạn xếp thành 6 đôi câu đối như sau:

1. Tại làng Vân Cát, huyện Vụ Bản, có ông Lê Thái Công sùng đạo Phật. Ông đă có một con trai. Dưới triều Thiên Hựu (1556-1557) bà Thái Công có thai đă quá kỳ khai hoa, đồng thời đau ốm, không ăn không uống được và chỉ riêng thích ngửi mùi hương trầm. Chạy thầy đổi thuốc măi cũng không khỏi. Bỗng một hôm có người phương sĩ, tới gơ cửa cho hay là có thể giúp bà Thái Công sớm sinh con lành bệnh. Thái công mời vào. Phương sĩ ném chiếc búa ngọc cầm trong tay xuống đất, tức th́ Thái Công gục ngă bất tỉnh.

2. Trong giấc mơ Thái Công thấy ḿnh được người dẫn lối bay lên cung điện đức Ngọc Hoàng. Thái công thấy một tiên cô đang hầu rượu Ngọc Hoàng, lỡ tay là rơi bể chén ngọc. Ngọc Hoàng giận giữ phán đầy tiên nữ xuống trần. Người dẫn đường cho Thái Công cho ông hay là chuyến này chắc chắn là tiên cô bị đầy ra khỏi thượng giới.

3. Khi Thái Công tỉnh dậy, thấy khắp nhà ngát mùi hương và đồng thời bà Thái Công sinh con gái. Thái Công đặt tên con là Giáng Tiên. Giáng Tiên lớn lên sinh đẹp tuyệt trần, lại tài làm thơ giỏi nghề đàn sáo. Năm Giáng Tiên 18 tuổi, Thái Công gửi nàng làm con nuôi một vị hưu quan trong làng Vân Cát. Tại đó Giáng Tiên gặp Đào Lang, cũng là con nuôi vị hưu quan. Đào Lang lọt mắt xanh Giáng Tiên và cha mẹ đôi bên cùng thuận cho đôi trẻ thành gia thất. Ba năm sau, Giáng Tiên sinh được hai con, tṛn hai mươi mốt tuổi, không đau ốm, Giáng Tiên từ trần. Gia đ́nh vô cùng thương tiếc.

4. Trở vềâ thượng giới, Giáng Tiên buồn rầu v́ duyên trần chưa dứt. Quần tiên cùng nhau xin Ngọc Hoàng quay lại trần gian. Ngọc Hoàng ưng thuận và phong nàng làø Liễu Hạnh. công chúa.

5. Trở về nhà cũ, sau ngày mất đúng hai năm, công chúa Liễu Hạnh, thấy cha mẹ cùng anh và cả cha nuôi vẫn c̣n thương tiếc nàng. Nàng thưa cùng cha mẹ là nàng là người nhà Trời, nay trở lại nhà v́ thương cha nhớ mẹ, nhưng không sao c̣n sống cùng cha mẹ được, v́ nàng không c̣n duyên nợ với trần thế nữa. Nhưng nàng hứa cùng cha mẹ là rồi sẽ có ngày đoàn tụ như đă ghi trong sổ sách thiên triều.

Sau đó công chúa Liễu Hạnh trẩy kinh gặp chồng và hai con. Đào Lang khi ấy buồn rầu bỏ cả học hành. Liễu Hạnh nói với chồng là nàng vốn là tiên nữ, cuộc t́nh giữa hai người là mối duyên trời định, chàng cũng chẳng nên buồn phiền, v́ sau này c̣n có dịp tái hợp. Nàng c̣n nhắc nhở Đào Lang bổn phận đối với cha mẹ ruột và cha nuôi, nên phải tiếp tục học hành. Một lát sau nàng bỗng biến mất. Đào Lang nh́n theo chỉ c̣n thấy một áng mây.

Từ đó, công chúa Liễu Hạnh biến hiện linh ứng khi làm bà lăo bên đường, khi làm ngọc nữ thổi sáo dưới trăng. Bất cứ ai trọc ghẹo đều bị trừng trị khiến gặp tai ách nguy ngập. Ai cung đốn đều được phù hộ độ tŕ thích đáng. Bao nhiêu vàng lụa chúng nhân cống hiến công chúa đều mang về dâng cha mẹ. Thời gian trôi, cha mẹ ruột, cùng cha nuôi, rồi Đào Lang đều qua đời. Hai con cũng đều trưởng thành. Không c̣n ǵ ràng buộc, công chúa ngao du nơi non cao nước đẹp.

6. Một ngày nọ, gặp cảnh thanh tú đẹp ư tại đất Lạng Sơn, công chúa ngừng lại ngắm cảnh gẩy đàn. Bỗng Phùng Khắc Khoan chợt qua, trọng lời thơ mến tiếng đàn lên tiếng ca ngợi, công chúa Liễu Hạnh liền biến biệt tăm, chỉ để lại mấy chữ nho trên hai mảnh tre, mà chỉ riêng Phùng Khắc Khoan vốn tài triết tự mới đọc nồi thành bốn chữ Liễu Hạnh công chúa trên một mảnh và trên mảnh kia là người họ Phùng phải sửa sang lại đền thờ. 

T. Từ lần găp gỡ đó, Công chúa Liễu Hạnh, vân du nơi đâu, chẳng ai được biết, nhưng vết tích công chúa giáng lâm mọi nơi phong cảnh nên thơ c̣n thấy khắp chốn trong nước. Ít lâu sau, dường nhớ cảnh phồn hoa công chúa Liễu Hạnh trở lại kinh đô.

7. Phùng Khắc Khoan đi sứ về tới kinh đô, được bổ nhiệm vào một chức vụ quan trọng trong triều, nhưng so với những ngày thảnh thơi tại quê nhà, ông không khỏi thấy bị tù túng trói buộc. Một bữa ông cùng hai bạn họ Ngô và họ Lư dạo cảnh hồ Tây uống rượu làm thơ. Ba người đi ngang quán do công chúa Liễu Hạnh làm chủ bên hồ, ba người cùng công chúa Liễu Hạnh làm thơ liên cú, đến chiều tối mới ra về. Ít lâu sau ba người trở lại chốn cũ, th́ bên hồ không c̣n dấu vết quán rượu bữa trước. 

8. Về phần công chúa Liễu Hạnh, sau khi dời quán bên hồ Tây th́ vào Nghệ An. Nàng gặp một thư sinh nhà nghèo, tên là Sinh, mà công chúa nhận ra là hóa thân của chồng cũ Đào Lang. Không hé lộ tung tích công chúa Liễu Hạnh xin ghé ở tạm một đêm tại nhà chàng Sinh. Nhưng chàng Sinh giữ lễ từ chối. Vài ngày sau, chàng thư sinh thấy một tờ hoa tiên treo trên cành đào trong có một bài thơ phi phàm. Chàng Sinh họa lại bài thơ, treo kế bên bài xướng. Rồi từ đó chàng thư sinh trông ngóng người đẹp đến xin trọ nhờ bữa trước mà chàng tin rằng nàng là tác giả bài thơ trong tờ hoa tiên. Càng chờ càng đợi chàng càng vô vọng.

Một ngày nọ, dưới trời mưa tầm tă, chàng Sinh chợt nghe thấy tiếng đàn bà chào chàng. Chàng vui mừng thú nhận với nàng nỗi chàng nhớ nhung từ lần gặp gỡ trước. Thiếu phụ cũng kể lại hoàn cảnh côi cút của nàng, luôn luôn lo sợ bị người ta trọc ghẹo, và nàng cũng thú nhận là thấy chàng nàng thật sự qúy mến nét nho nhă của chàng. Khi chàng bàn đến sự mối lái, th́ nàng gạt đi, và chỉ nói tới truyện chung sống không cần nghi lễ. Hai người cùng nhau quay về, chỉ trăng mà thề nguyền. Chàng Sinh định tâm bỏ học để khỏi phải xa nhà xa vợ. Nàng khuyên chàng tiếp tục dùi mài kinh sử, không phải để thỏa mộng ước khoa bảng, mà để có cơ hội giúp người. Nghe lời vợ, chàng Sinh gắng công học hành, thi đỗ rồi được tuyển vào dậy học trong Quốc Tử Giám. Hai người có thêm một đứa con trai kháu khỉnh. 

Tới một hôm, vợ chàng Sinh bỗng khóc lóc thảm thiết, nàng kể cho chồng nghe truyện nàng vốn là tiên nữ, v́ lỡ tay đánh vỡ chén ngọc mà phải đầy xuống thế gian, nay kỳ hạn lưu đầy đă măn, nàng phải quay về Trời, dầu điều đó làm nàng buồn ḷng. Sau khi công chúa Liễu Hạnh về Trời, chàng Sinh từ quan t́m nơi mây khói, nuôi con, suốt đời không tục huyền mà chỉ chuyên tâm làm thơ.

9. Công chúa Liễu Hạnh trở về Trời, nhưng ḷng c̣n vương vấn cảnh trần, bèn xin Ngọc Hoàng cho giáng trần lần nữa.

10. Có Quế Nương và Thị Nương theo hầu, công chúa Liễu Hạnh giáng lâm xuống làng Phố Cát, thuộc tỉnh Thanh Hoá.

11. Công chúa Liệu Hạnh hiển linh phù trợ người lành, trừng phạt kẻ ác. Dân chúng trong vùng kính cẩn xây đền thờ phụng công chúa. Tời đời Cảnh Thịnh (1661-1671), danh oai công chúa thấu tới triều đ́nh. Nhưng triều đ́nh vẫn c̣n nghi ngờ công chúa là một tà thần, bèn sai quan quân cùng phương sĩ đi đánh dẹp. Đền thờ công chúa cháy thành tro. Không phải là chiến thắng của quân nhà vua, mà là nhờ mưu sâu của một phương sĩ Nội Đạo. Tức thời khắùp vùng gặp nạn dịch tễ, người thú chết như ngảûgiạ. Dân chúng sợ hăi lập đàn thành kính kêu cầu. Công chúa hiện ra trên đàn, xưng là tiên nữ giáng lâm và phán bảo dân chúng phải xin triều đ́nh cho xây lại đền thờ. Và nhờ đó dân chúng mới thoát nạn dịch tễ.

12. Triều đ́nh công nhận công chúa là bậc linh dị và phong làm Mă Hoàng Công Chúa, và sai xây đền thờ tại Phố Cát. Tiếp tới kỳ triều đ́nh cất quân dẹp loạn, công chúa bèn khiến âm binh giúp sức. Triều đ́nh phong công chúa lên hàng Chế Thắng Ḥa Diệu Đại Vương. Từ đó về sau c̣n cho xây đền thờ tại nhiều nơi khác để hương khói phụng thờ công chúa.

Từ phân đoạn Vân Cát Thần Nữ Truyện trên đây, Olga Dror đề ra những phân tích kế tiếp:

Nửa đầu Vân Cát Thần Nữ Truyện, từ đoạn 1 tới đoạn 6, kể sự tích công chúa Liễu Hạnh từ lúc đầu thai xuống trần tới khi gặp Phùng Khắc Khoan. Nửa sau, gồm những đoạn 7 tới đoạn 12 kể sự tích công chúa Liễu Hạnh từ lần gặp gỡ thứ hai với Phùng Khắc Khoan cho tới khi công chúa được triều đ́nh phong thần. Hai nửa câu truyện nối với nhau bằng một khúc chuyển đoạn chỉ định bằng kư hiệu T. Chuyển đoạn này là mấu chốt của toàn thể câu truyện, đặt giữa hai lần gặp gỡ giữa công chúa Liễu Hạnh và Phùng Khắc Khoan. Chuyển đoạn vẽ rơ h́nh ảnh tiến tŕnh của một phụ nữ trí thức phải trải qua để tạo lập được sự b́nh đẳng với nam giới trí thức.

Cấu trúc câu truyện làm rơ nghĩa câu truyện. Cấu trúc này mang h́nh ảnh những cặp câu đối, trong đó ư nghĩa vế nọ soi sáng ư nghĩa vế kia. Sự phân phối thành những cặp câu đối như sau: 1-12, 2-11, 3-10, 4-9; 5-8, và 6-7. Mỗi cặp kể lại một chuyển biến trong truyện phản ánh một giai đoạn trong cuộc chuyển biến trong sự tích công chúa Liễu Hạnh. Cấu trúc câu truyện, khởi từ đầâu và cuối câu truyện và đưa dần vào tới chuyển đoạn, nên chuyển đoạn cũng là đoạn kết. 

Cặp 1-12 Đối chiếu việc Công chúa Liễu Hạnh đầu thai xuống trần với việc công chúa Liễu hạnh được đại chúng tôn thờ triểu đ́nh phong thần. Hai đoạn này tạo nên khung sườn câu truyện. Trong đoạn 1, đại chúng cầu Phật cầu Thánh. Trong đoạn 12, đại chúng cầu Thánh mẫu Liễu Hạnh. Vậy hai đoạn này cho thấy sự biến hóa của công chúa Liễu Hạnh, từ một tiên nữ trên thượng giới hóa thành một vị thần linh chốn trần gian

Cặp 2-11: Đối chiếu việc Công chúa Liễu Hạnh đánh vỡ chén ngọc trên thiên đ́nh mà phải lưu đầy xuống trần thế với việc công chúa hiển linh ra oai tại vùng Thanh Hóa mà bị triều đinh dấy binh đốt đền thờ tiễu trừ. Trong cả hai trường hợp h́nh phạt đều trở thành phần thưởng. Đầu thai xuống trần công chúa Liễu Hạnh vui cảnh trần, quyến luyến cảnh trần đến nỗi quần tiên phải xin Ngọc Hoàng cho công chúa tái sinh xuống trần. Quân nhà vua đốt đền th́ vua lại cho xây đền lớùn hơn để thờ công chúa

Cặp 3-10 Đối chiếu truyện công chúa Liễu Hạnh tái sinh xuống trần với truyện công chúa Liễu Hạnh giáng lâm lần thứ ba cùng Quế Nương và Thị Nương.Trong đoạn 3, Ngọc Hoàng cho công chúa Liễu Hạnh đầu thai vào nhà Thái Công dường như có ư để công chúa tu tâm sửa tính hối cải những lỗi lầm mà bấy lâu công chúa không làm toại ḷng Ngọc Hoàng. Nhưng dường như công chúa vẫn chứng nào tật ấy, như qua truyện công chúa đột ngột về trời rồi lại quến luyến cơi trần khiến Ngọc Hoàng phải cho giáng lâm. Trong đoạn 10, Ngọc Hoàng cho Quế Nương và Thị Nương theo hầu công chúa giáng lâm lần thứ ba dựng như có ư khiến hai tiên nữ này thay thế Thái Công giúp công chúa tu tâm sửa tính. Căp 3-10 này cho thấy cả người dương trần lẫn người thượng giới cùng không giúp ǵ công chúa Liễu Hănh trong việc tu tỉnh để toại ư Ngọc 
Hoàng. 

Cặp 4-9: Đối chiếu truyện công chúa Liễu Hạnh về thượng giới sau lần giáng lâm thứ nhất với truyện công chúa Liễu Hạnh xin giáng thế lần thứ ba. Trong cảø hai truyện hành động của công chúa Liễu Hạnh chứng tỏ một sư thay đổi nội tâm. Trong phần 4 công chúa Liễu Hạnh đầu thai vào nhà Thái Công là do y của Ngọc Hoàng. Trong đoạn 9, chính công chúa Liễu Hạnh xin Ngọc Hoàng cho giáng lâm lần thứ ba.

Cặp 5-8 Đối chiếu truyện công chúa Liễu Hạnh trở lại gia đ́nh sau cái chết hai năm với truyện công chúa Liễu Hạnh hiển linh tai Nghệ An và kết duyên cùng chàng Sinh, hậu thân của Đào Lang. Trong đoạn 5, công chúa Liêeu Hạnh trở về nhà cha mẹ ruột chỉ từ chập tối tới sáng hôm sau. Truyện này cho thấy công chúa giữ vẹn tṛn phận con với Thái Công cũng như trưóc kia công chúa đă từng phục ṭng phụ quyền thành hôn với Đào Lang v́ Đào Lang yêu công chúa và cha mẹ đôi bên tác thành. Trong đoạn 8, chuyển biến của câu truyện hoàn toàn đổi khác. Công chúa nhận ra chàng Sinh là hậu thân của Đào Lang, rồi kết duyên với chàng Sinh ở ngoài mọi tục lệ mối mai cưới hỏi. Trong thời gian chung sống cùng chàng Sinh hai ngựi tương kính tương thân khác với thời làm vợ Đào Lang công chúa chỉ một mực kính trọng và vâng lời chồng. Công chúa Liễu Hạnh đă hoàn toàn biến đổi từ một người vợ theo mẫu mực tam ṭng tứ đức thành một thiếu phụ hoàn toàn độc lập, giữ phần điều động gia đ́nh, kể cả việc công chúa thuyết phục chàng Sinh trở lại việc sách đèn. Nhưng rồi một người chồng tốt, một đứa con ngoan không đủ cầm chân công chúa Liễu Hạnh. Công chúa lấy cớ là kỳ hạn lưu đầy dưới trần thế đă măn và phải về Trời, và dứt áo ra đi. 

Cặp 6-7 Đối chiếu truyện gặp gỡ giữa công chúa Liễu Hạnh với Phùng Khắc Khoan tại vùng Lạng Sơn với truyện gặêp gỡ lấn thứ hai bên hồ Tây. Hai đoạn này dẫn tới đoạn kết và cũng chính là khúc chuyển đoạn trong truyện. Cuộc gặp gỡ tlần thứ nhất là cuộc gặp gỡ tại vùng Lạng Sơn, khi công chúa Liễu Hạnh c̣n đang đi t́m những danh lam thắng cảnh, tức là trong thời kỳ công chúa muốn xa lánh thế nhân cơi trần. Trong cuộc gặp gỡ này, công chúa Liễu Hạnh ngồi ghế thổi sáo ngâm thơ, Phùng Khắc Khoan đi ngang. Hai bên một tiên nữ một văn nhân trổ tài triết tự trao đổi hai câu đối. Rồi công chúa thăng biến sau khi triết tự khiến Phùng Khắc Khoan sửa chùa. Phùng Khắc Khoan hết sức khâm phục tài đối đáp của công chúa.

Sau cuộc gặp gỡ này công chúa bỗng nhớ cảnh đế đô, tức muốn có sự tiếp xúc với thế nhân. Cuộc gặp gỡ lần thứ hai với Phùng Khắc Khoan khác hẳn lần đầu. Công chúa hiện ra làm một cô chủ quán cùng Phùng Khắc Khoan và hai người bạn trẻ làm thơ liên cú. Điều này chứng tỏ rằng trên mặt thơ văn công chúa không những chẳngthua kém ǵ lớp văn nho ưu tu mà c̣n khiến cả ba văn nhân xuất sắc phải chịu phục tài. Tóm lại, t́nh tiết công chúa Liễu Hạnh trổ tài thơ khiến Phùng Khắc Khoan cùng hai bạn phải tâm phục là điểm dẫn tới khúc chuyển đoạn T. Đó cũng là khúc biến đổi quan trọng trong truyện Vân CáÙt Thần Nữ, mô tả sự chuyển biến từ một tiên nữ bị lưu đầy xuống trần tới khi trở thành một vị thần một bậc thánh giữa cơi nhân gian. Đó cũng là h́nh ảnh mà tác giả Vân Cát Thần Nữ cho thấy nỗi khó khăn mà một phụ nữ phải vượt qua để đoạt cho ḿnh quyền tự chủ. 

Olga Dror tiến xa hơn một bước: đồng nhất công chúa Liễu Hạnh với tác giả Hồng Hà Đoàn Phu Nhân, bắng cách đề ra tám điểm tương đồng giữa sự tích công chúa Liễu Hạnh và tiểu sử Đoàn Thị Điểm. Một là Đoàn Thị Điểm trưởng thành tại Vân Cát, nơi công chúa Liễu Hạnh đầu thai vào nhà Lê Thái Công. Hai là Giáng Tiên cũng như Đoàn Thị Điển cùng có một người anh trai. Ba là cả công chúa Liễu Hạnh và Thị Điểm cùng là những người hay chữ giỏi thơ. Bốn là công chúa Liễu Hạnh cùng Đoàn Thị Điểm là hai tuyệt sắc giai nhân khiến nam giới phải ngưỡng mộ. Năm là cả hai cùng có nghĩa phụ là những bậc trưởng thượng trong xă hội. Sáu là cả hai cùng trọn chữ hiếu với cha mẹ. Bẩy là cả hai cùng gặp các bậc trượng phu văn tài và cả hai cùng khiến nam phái phải kính nể. Tám là cả hai cùng duy tŕ tự do của ḿnh như một kho báu..

Biện chứng cho ba điểm 6,7 và 8 trên đây, Olga Dror đối chiếu tiểu sử Đoàn Thị Điểm với nề nếp nho học như sau. Đoàn Thị Điểm không chịu sớm lấy chồng đẻ con v́ e ngại bổn phận làm vợ làm mẹ cản trở việc trau dồi văn sách. Hơn nửa viết văn làm thơ Đoàn Thị Điểm không những bước vào một địa hạt xưa nay vẫn dành riêng cho nam giới mà con tạo nên một nhân vật làm rung chuyển nền móng nho học. Trong Vân Cát Thần Nữ Truyện, công chúa Liễu Hạnh ngoài mặt như phục ṭng đạo lư Khổng học. Đào Lang và chàng Sinh, hai đời chồng của công chúa Liễu Hạnh đều là nho sinh cũng như Phùng Khắc Khoan. Nhưng đằng khác vai Liễu Hạnh lại là h́nh ảnh một kẻ trối đạo. Thật thế công chúa Liễu Hạnh không tṛn chữ hiếu với cha mẹ ruột, bỏ cha mẹ, và hai lần bỏ chồng bỏ cả con quay về thượng giới và đi ngao du sơn thủy. Đào Lang cũng như chàng Sinh, tuy là thư sinh, nhưng việc dùi mài kinh sử đạo lư chỉ để làm vừa ḷng vợ. Khi vợ bỏ th́ cả hai cùng quay về đời sống ẩn dật. Như vậy, đạo Khổng chẳng được Đào Lang cũng như chàng Sinh coi trọng. 

Olga Dror coi đó là những h́nh ảnh Đoàn Thị Điễm vẽ ra để trả thù nho học v́ nho học coi thường phụ nữ.

Chấm dứt bài luận văn, Olga Dror đối chiếu truyện Phùng Khắc Khoan trọng văn tài công chúa Liễu Hạnh với tương quan giữa Phùng Khắc Khoan và Đoàn Thị Điểm. Đoàn Thị Điểm viết vềâ Phùng Khắc Khoan trong truyện An Ấp Liệt Nữ Lục, một truyện kể lại một hiền phụ có chồng đi sứ sang Trung Quốc. Đoàn Thị Điểm nhấn mạnh trong truyện này niềm trọng vọng của một nho giả với một trang nữ lưu hay chữ giỏi thơ văn. Đó cũng là cảnh của Đoàn Thị Điểm khi về làm kế Nguyễn Kiều. Nhưng nếu xét trong thơ văn Phùng Khắc Khoan để lại thời không thấy dấu vết của những truyện này. Từ đó Olga Dror lập luận rằng Đoàn Thị Điểm đă dựa trên nhưng truyện truyền miệng trong đại chúng để viết Vân Cát Thần Nữ Truyện và An Ấp Liệt Nữ Truyện. Với văn tài sẵn có, Đoàn Thị Điểm đă thành công trong việc biến đổi những truyện truyền miệng rất thô sơ thành những áng văn truyền kỳ có cấu trúc chạêt chẽ và lời văn điêu luyện. Đó chính là lập luận của nhà văn Tiệp Khắc Milan Kundera mà Olga Dror đă trích dẫn và đặt sau đầu đề luận văn.
Trong lời tri ân, Olga Dror cảm tạ bốn nhà sử hoc: một là Keith W. Taylor, tac giả cuốn The Birth of Việt Nam, hai là Nguyễn Thế Anh, J.M. Law và Tamara Loos về những lời b́nh bài luận văn của nàng. Olga Dror c̣n thêm: mọi sai lầm là của riêng nàng.

Nhóm Điểm Sách của Truyền Thông không thấy Olga Dror sai lầm, v́ xưa nay ai t́m ǵ th́ thấy nấy. Đúng như lời Milan Kudura mà Olga Dror trích dẫn và đặêt sau đầu đề bài luận văn:

Neither poetry, nor philosophy, nor human sciences are in a position to integrate a novel, but a novel is capable of integrating poetry and philosophy and human sciences. The novel is a case of supreme intellectual synthesis.

Olga Dror đi t́m bằng chứng cho lập luận của Milan Kundera th́ Vân Cát Thần Nữ Truyện quả là môt thí dụ điển h́nh. 

Trong bài luận văn Olga Dror tỏ ra xuất sắc trong việc phân đọan và phân tích theo cấu trúc bản văn của Đoàn Thị Điểm. Rồi từ đó Olga Dror đi t́m h́nh ảnh vệ binh nữ quyền theo đường lối của phong trào nữ quyền dưới ánh sáng của Nikolai Nikulin chủ trương xét lịch sử qua những vụ đấu tranh giai cấp. Olga Dror không đi t́m thi thuyết, không đi t́m triết học, không xét tới khoa học nhân văn trong bài luận văn, Olga Dror đi t́m bằêng chứng một cuộc đấu tranh giai cấp, đi t́m h́nh ảnh anh hùng vệ binh nữ quyền, Olga Dror đă phát hiện được cuôc đấu tranh giữa giai cấp nhà nho ra làm quan với giai cấp nhà nho quay về với nho y lư số, cũng như Olgar Dror đă nhận diện công chúa Liễu Hạnh cùng Đoàn Thị Điểm là những vệ binh nữ quyền. Olga Dror đă thành công trong dự tính của nàng. 

Chỉ tiếc là Olga Dror không lưu tâm tới việc giúp người đọc t́m hiểu Vân Cát Thần Nữ Truyện trên măt thi thuyết, trên măt triết lư cũng như trên mặt khoa học nhân văn. 

Vấn đề cùng người đọc t́m hiểu, những truyện truyền kỳ như Vân Cát Thần NưƠ Truyện theo những chiều hướng như Mila Kundera vạch ra trên đây là một vấn đề c̣n để ngỏ chờ những nhà nghiên cứu đa nguyên không tự trói ḿnh vào một ư thức hệ. 

Tài liệu:

Hoàng Xuân Hăn, Chinh Phụ Ngâm bị khảo, Minh Tân, Paris 1952.
Olga Dror, Đoàn Thị Điểms Story of the Vân Cát Goddness as a Story Emancipation’s Journal of Southeast Asia Studies, vol. 33, #