Đường vào
t́nh yêu
Phạm Hữu Trác

Trong chủ đề về phụ nữ kỳ này, Truyền Thông thử góp nhặt tài liệu khoa học t́m tới người mẹ chung của nhân loại, đồng thời tŕnh bày những đặc tính sinh học nam nữ khác nhau, hy vọng góp phần vào sự t́m hiểu những dị biệt giữa đàn bà và đàn ông.

1. Bà mẹ nhân loại 

Câu hỏi đặt ra là người mẹ chung của loài người xuất hiện ở nơi nào, từ bao giờ. Dựa vào huyền sử, người ta thờ kính người xưa, nhưng nguồn gốc thực sự xa xăm của tổ tiên vẫn c̣n hư ảo trong sương mù của quá khứ.

* Hiện nay dấu vết của người đàn bà xưa nhất trong lịch sử nhân loại là Lucy do Yves Coppens t́m thấy tại Ethiopie năm 1974, thuộc loài australopithecus. Nàng có cái tên đẹp đẽ này v́ trong lúc khám nghiệm di hài, nhóm nghiên cứu vừa làm việc vừa nghe bản nhạc Lucy in the sky with diamonds của Beattles.

Theo Coppens, Lucy cao hơn 1,10 mét, nặng 25 kílô, sống hơn 3 triệu năm trước đây và chết khoảng 20 tuổi, thể tích óc 400 phân khối. Lucy trần truồng lặn lội đào cây cỏ kiếm rau ăn củ, trèo cây hái quả. 

Theo Luc Ferry và Jean Didier Vincent, Lucy cao khoảng 1,30 mét, ngực h́nh phễu, bàn tay quay về phía sau, chân ngắn, bàn chân phẳng và có thể quắp lại để cầm đồ vật, khớp xương đầu gối có thể di động theo ba chiều không gian, xương chậu khá lớn phần nào di động xoay quanh cột xương sống. V́ «ṿng số ba» quá rộng nên khi đi hai cặp gị khép chéo lại như những nàng kiểu mẫu biểu diễn thời trang «vặn ḿnh xà» trên sàn tŕnh diễn hiện nay. Lang thang trên đồng hoang rừng rậm kiếm ăn, tối đến nàng leo lên cây ngủ tránh làm mồi cho muông thú, c̣n người mẫu vào khách sạn sang trọng ngủ sau khi là thể ?quắp lại? để cầm đồ 

Lucy thuộc giống người austra-lopithecus, chỉ là bà con gần của nhân loại, nhiều nhà khoa học vẫn không ngừng đi t́m dấu tích của tổ tiên thực sự loài người homo sapiens. Ngoài những cuộc đào bới di tích, cuối thế kỷ 20 đă phát sinh ra một phương pháp mới trong khoa khảo cổ: Allan Wilson đă dựa vào sinh học đi ngược thời gian lên tới bà mẹ loài người 

Wilson sinh tại Ngaruawahia, Tân Tây Lan, tốt nghiệp đại học Otago, lúc đầu chuyên khảo sát sinh hóa học. Năm 1955 ông theo học Ph.D tại đại học Berkeley, ở lại làm việc thêm 35 năm. Ông chết năm 1991, khi mới 55 tuổi.

Tháng 12 năm 1967, trong công tŕnh nghiên cứu Immunological Time-Scale For Human Evolution trên tờ Science Magazine, ông cùng với Vince Sarich nêu lên thuyết molecular clock, cho rằng có thể nghiên cứu tiến hóa nhân loại bằng sinh học. Đó là một phương pháp không dựa vào khai quật di hài, mà tính theo các đợt đột biến của gen (mutation génétique) trong tế bào qua các thế hệ từ khi có loài ngư cứu  Đến đầu thập niên 1980, ông dựa vào chất DNA trong mitochondries, (ty lạp thể hay thể hạt sợi), từ đây viết tắt là mDNA, của tế bào chất để đưa ra một phương pháp mới trong khoa nhân chủng học, ngơ hầu truy tầm con người thuở sơ khai. 

Tế bào là một đơn vị căn bản của cơ thể gồm có nhân tế bào (noyau) ở giữa và tế bào chất (cytoplasme) bao bọc chung quanh. Nhân tế bào chứa 22 cặp nhiễm sắc thể và một cặp nhiễm thể mang giới tính, XX ở đàn bà, XY ở đàn ông.

  Trong tế bào chứa DNA, một chất hữu cơ gồm một chuỗi acides aminés (Adénine, Cystosine, Guanine và Thymine) mà h́nh thức liên hợp rất đa dạng. Khi thụ thai, DNA được truyền từ cha mẹ cho người con, từ thế hệ này sang thế hệ khác, tiếp nối ngàn đời. ADN không bị phá hủy như những văn bản bút tích, không bị gió mưa xoi ṃn rỉ sét, mà tồn tại măi măi trong tế bào của cơ thể. Có thể nói rằng DNA không những là trang sử của mỗi cá nhân, nhưng cũng là bộ sử của nhân loại.  Ty lạp thể (mitochondries) là một bộ phận nhỏ ly ty nằm trong tế bào chất (cytoplasme) có nhiệm vụ cung cấp năng lượng. DNA trong ty lạp thể của tế bào chất, mDNA, đơn giản hơn DNA trong nhân tế bào. Khi thụ thai chỉ có nhân tế bào của tinh trùng kết hợp với trứng noăn của người đàn bà, kết cục DNA trong nhân tế bào do cả cha lẫn mẹ truyền cho con, trái lại mDNA trong tế bào chất chỉ do mẹ truyền cho con, bất kỳ con trai hay con gái. 

Nhưng v́ một lư do nào đó DNA có thể đột biến (mutation) qua nhiều thế hệ. Lần theo các đợt đột biến của mDNA, Wilson cho rằng có thể phát kiến ra thời điểm lúc người đàn bà có mặt trên trái đất. Ông t́m ra người đàn bà đầu tiên xuất hiện ở Phi Châu khoảng 200.000 năm trước đây.  Trong số Nature, tháng 01 năm 1987 dưới tựa đề ADN mitochondrial et lévolution humaine, Allan Wilson, Rebecca Cann va Mark Stoneking, đưa ra một sơ đồ 134 thủy tổ loài người, trong đó có 16 tổ tiên của giớng người Phi châu, Âu châu, Á châu và Papou. Allan Wilson chính làợ người khai sáng ra phương pháp áp dụng di truyền vào khảo cổ học, giới khoa học cho là ông có thể được giải Nobel, nếu ông khôề “ADN mitochondrial

* Lúc đầu thuyết chỉ có một trung tâm trong tiến hóa nhân loại của Wilson bị trường phái đa nguyên (nhiều trung tâm nhân loại) phản đối, sau này nhờ có những công tŕnh nghiên cứu tương tự và rộng lớn hơn của Bryan Sykes, giả thuyết thủy tổ loài người xuất hiện từ Phi châu không c̣n bị bác khước. 

Cuộc nghiên cứu công phu của Sykes đă khám phá được bà mẹ nhân loại mà ông đặt tên là Ève mitochondriale, tổ tiên của 33 thị tộc. Theo Sykes, mẹ chúng ta sinh sống tại Đông Phi cách nay 150.000 năm, mẹ cũng không đơn chiếc, đồng thời với mẹ ước chừng có khoảng vài ngàn người khác, nhưng mẹ là người độc nhất c̣n để lại dấu vết DNA cho hậu duệ, những bà tổ khác chắc đă tuyệt ḍ“Ève

Ève mitochondriale là thủy tổ của 13 ḍng con gái, vẫn sống quanh quẩn trong vùng Đông Phi; măi 50.000 năm sau, mới t́m thấy dấu chứng có di chuyển đi nơi khác. C̣n ở lại Phi châu có các bà : Layla, Latifa, Lungile, Lila, Lubaya, Limber, Lingaire, Latasha, Lalamika, Lamia, Makeda, Ulla, Lara. 

Người phụ nữ đầu tiên rời cái nôi Phi châu của loài người là Lara. Bà sống gần vùng đông bắc Phi Châu hiện nay, qua bán đảo Sinai con cháu phân tán đi các lục địa khác: 

- Đi Đông Á, Mỹ châu : Chochmingvu, Djigonasee, Aiyana, Ina

- Đến Tây Âu, và Mỹ châu : Noami, Helena, Velda, Jasmine, Tara, Una, Uta, Uma, Ulrike, Ursula, Katrine, 

- Đến Tây Á và Trung Á : Xenia, 

- Đến Đông Á : Elia, Nuo, Gaia, Malaxshmi. 

Tự nguyên thủy, nhóm 13 con cái bà Ève mitochondriale phát sinh từ Phi châu chiếm 40% dân số, hiện nay trên thế giới chỉ c̣n lại ở Phi châu có 13% dân số thế giới. Nhưng di sản DNA vẫn c̣n t́m thấy trong tế bào của các nhóm dân đă tản mác từ cổ thời sang các lục địa khác. Tóm lại, nguồn gốc các thị tộc xuất phát từ Phi châu phù hợp với những nghiên cứu khác về khảo cổ, về khai quật và về nghiên cứu ADN trong nhân tế bào.

* Những khám phá khoa học tŕnh bày bên trên đưa đến một quan niệm khác về ḍng giống. Thông tục gia phả thường lập theo theo ḍng họ người cha, điều này chắc chắn thiếu chính xác, v́ người cha sinh học không phải lúc nào cũng là người cha theo giấy tờ hộ tịch. Để lấy một ví dụ gần đây. Số là ông Trần Quốc Vượng có kể lại một câu chuyện dân gian, theo đó bà nội của Nguyễn Tất Thành (tức Hồ Chí Minh) khi về nhà chồng đă mang sẵn bào thai của một ông đồ trọ trong nhà. Nếu truyền tụng của dân gian đúng sự thực, gia phả họ Nguyễn (của ông Nguyễn tất Thành) lên đến đời thứ ba sẽ rẽ sang một ḍng họ khác họ Nguyễn của ông nội, mà là họ của ông đồ! C̣n bao nhiêu ví dụ khác trong lịch sử, như trường hợp Lă Bất Vi, cha đẻ của Tần Thủy Hoàu  Chỉ có mDNA có thể trả lời được nghi vấn này. Ví như phong trào nữ quyền càng ngày càng mạnh thêm, đến nỗi loài người trở lại chế độ mẫu hệ, gia phả sẽ lập theo họ mẹ, lúc đó những sai lầm về ḍng họ do t́nh người sẽ không c̣ng họ

* Nếu con đường ngược thời gian đi t́m mẹ loài người vất vả chông gai, th́ con đường của người phụ nữ tranh đấu cho quyền lợi chính đáng của ḿnh cũng không kém gian nan, khổ cực. Từ thung lũng OMO phía nam Éthiopie, các bà phải mất 150.000 năm, qua 6000 thế hệ, mới về tới công trường Concorde ở Paris, khi bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Pháp ra đời ngày 26 tháng 8 năm 1789. Thế nhưng văn bản dân chủ này chỉ áp dụng cho đàn ông và nam công dân. Năm 1791, bà Olympe de Gouges, người tranh đấu cho nữ quyền đầu tiên, soạn thảo bản Déclaration des droits de la femme et de la citoyenne, và đ̣i Quốc Hội công nhận. Bà viết "La femme nait libre et demeure égale à lhomme en droits". Cuộc tranh đbản vô vọng. Olympe de Gouges bị xử tử v́ giả đạo đức, phát ngôn vô cớ và vô lư; bà lên đoạn đâu đài (guillotine) ngày 3 tháng 11 năm 1793. Măi đến năm 1944, phụ nữ Pháp mới được quyền đầu phiếu và được giữ các chức vụ công cộng và năm 1948 mới có bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc công nhận quyền b́nh đẳng nam nữ.

* Nh́n theo cảm tính, có thể nói rằng hành tŕnh mADN đi từ bà mẹ thuở sơ khai đến người đàn bà tân thời ngày nay là con đường tuyệt diệu của khoa sinh học di truyền. Thế nên sự đau đớn lẫn với niềm vui sướng của người mẹ khi sinh con là mấu chốt những chu kỳ tiếp nối nhau thế hệ trước sang thế hệ sau từ ngàn xưa đến nay, là cội nguồn của t́nh mẫu tử và tinh thần thị tộc.

Đến đây, hiện ra trước mắt người viết một chuỗi dài công thức ADN phức tạp và nhức óc. Có thể nào thân phận loài người, cũng như thân phận phụ nữ, thu nhỏ lại trong những kư hiệu hóa học vô tri vô giác? Nhưng quả thực ADN là khí cụ nối liền chúng ta một cách kỳ diệu với quá khứ xa xưa, dầu muốn dầu không, cuộc sống đàn bà lẫn đàn ông, đều phải chịu sự chi phối của nó, như sẽ tŕnh bày tại phần sau của bài này.

2. Đàn bà, đàn ông

Từ khi bắt đầu có loài người, đàn ông đi săn bắn, bắt cá, đào kiếm thức ăn, đàn bà ở trong hang coi con, giữ lửa. Rồi đời sống gia đ́nh, thị tộc, bộ lạc, qua các thời kỳ mẫu hệ, phụ hệ, phong kiến, cho đến khi cách mạng dân chủ bắt đầu, từ bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp 1789 tới bản tuyên ngôn nhân quyền Liên Hiệp Quốc 1948, cuộc tranh đấu chính đáng cho nữ quyền vẫn c̣n kéo dài cho đến ngày nay. Vấn đề đặt ra là thế nào là b́nh đẳng, đến khi nào mới có b́nh quyền.

Phần tŕnh bày dưới đây chỉ giới hạn trong những điểm dị đồng giữa nam nữ trên một vài phương diện của cơ thể, sinh học, không đề cập đến những khác nhau về h́nh  hài giới tính, bộ máy sinh dục, nội tiết, do  khuôn khổ hạn hẹp của tập san. 

Bước sang thế kỷ 21, có nhiều công tŕnh chứng minh đàn ông đàn bà khác nhau về cấu trúc cơ thể qua những quan sát bệnh lư, những khám phá trong pḥng thí nghiệm, scaners, thí nghiệm sinh học, kích thích tố, IMR v.v... 

Sự "dị biệt" này bắt đầu từ cuộc tiến hóa của loài người, lúc thụ thai trong bụng mẹ, sinh ra thành người và lớn lên cho đSự ?dị biệt?

Khởi đầu từ thuở xuất hiện trên mặt địa cầu, con người c̣n sống trong hang đá, đă có phân công rơ rệt, đàn ông ra ngoài kiếm thức ăn, đàn bà trong hang giữ nhà canh lửa, coi con. Phát triển cơ thể và tâm lư theo luật tuyển lựa tự nhiên (sélection naturelle) đă bắt đầu khác từ đó.

Khi thụ thai trong bụng mẹ, thai nhi hưởng thụ 46 nhiễm sắc thể, 23 do mẹ và 23 do cha di truyền cho con, người con tiếp nhận nhiễm sắc thể X do mẹ và nhiễm sắc thể X của cha sẽ thành con gái XX, nếu nó tiếp nhận nhiễm sắc thể X của mẹ và nhiễm sắc thể Y của cha (chỉ đàn ông mới có nhiễm sắc thể Y), nó sẽ thành con trai XY. Tuy nhiên trong những tuần lễ đầu tiên sau khi thụ thai, bào nhi c̣n ở t́nh trạng vô tính, chưa nhất định sẽ phát triển thực thụ thành trai hay gái. Bác sĩ người Đức Gunther Dorner nhận thấy rằng, dù bào thai mang tiềm năng nam tính XY, cần phải 6 tới 8 tuần lễ, khi testostérone của hài nhi có đủ các yếu tố hoạt động về lượng cũng như về phẩm, mới có thể h́nh thành các cấu trúc cơ thể và sinh lư của đàn ông. Hiện tượng tương tự cũng xẩy ra đối với hài nhi XX. 

Lúc mới sinh ra đời, tâm tính con trai con gái đă khác biệt. Đứa con trai trèo leo không ngừng lên bàn lên ghế, trong khi đứa con gái yên lặng ngồi mở sách coi tranh; khi đứa con gái muốn trèo lên bậc thang, nó sẽ đặt chân từng bậc một, thong thả đi lên, trong khi con trai chạy xông lên tuốt lên bậc thang cuối cùng một cách vội vă không cần đắn đo, sợ hăi. Các công tŕnh nghiên cứu cho biết là bán cầu năo bên trái của trẻ em gái phát triển mau hơn con trai, như vậy con gái sẽ nói mau hơn, đọc mau hơn và học ngoại ngữ mau hơn. Trái lại bán cầu năo bên phải của con trai phát triển mau hơn con gái; nhờ vậy sớm có khả năng về không gian, lư luận và nhận thức.

Khi đă trưởng thành, sinh hoạt năo bộ và giác quan của đàn ông và đàn bà cũng không hoàn toàn giống nhau.

* Năo bộ

Bộ óc con người gồm có hai bán cầu năo. Bán cầu bên trái chủ tŕ suy tư, lư luận, diễn dịch, phân tích, ngôn ngữ, bán cầu bên phải chủ về cảm xúc, thị quan, trực giác, tưởng tượng, sáng tạo. 

Chức năng biện luận trong năo bộ đàn ông

Ở đàn ông bán cầu năo bên trái lớn hơn, trong khi hai bán cầu năo của phụ nữ bằng nhau, và đàn bà thường có thể đồng thời hoạt động năo cả hai bên cùng một lúc.

Một nửa số đàn bà không phân biệt  được bên phải hay bên trái, đó là do cấu trúc của năo bộ, hai bán cầu có thể hoạt động cùng một lúc. Phần đông đàn ông phân biệt phải trái dễ dàng hơn. 

Chức năng biện luận trong năo bộ đàn bà

Năm 1995 Bác sĩ Bennett và SallyShaywitz khào sát bằng IRM trên đàn ông và đàn bà, xem phần nào của năo bộ hoạt động trong lúc làm thơ, kết quả là đàn  ông dùng bán cầu bên trái trong khi đàn bà dùng cả hai bán cầu. Nhiều nghiên cứu khác trong thập niên 1990 chứng minh đàn ông, đàn bà có những hoạt động năo bộ khác nhau

Chức năng ngôn từ trong năo bộ đàn ông

Thị lực và khả năng đo lường khoảng cách trong năo bộ đàn ông (đàn bà không có trung tâm này)

Các chức năng tiêu biểu trong năo bộ phụ nữ, diện tích mỗi khu vực tỷ lệ với khả năng.

1. Điện thoại, tán gẫu
2. Đậy nắp cầu tiêu
3. Lưỡng lự, không quyết định
4. Thèm vị ngọt
5. Đọc bản đồ
6. Mua sắm
7. Khám phá thủ phạm trung tiện
8. Bàn chuyện thiên hạ
9. Đậu xe chỗ hẹp
10. Thính tai
11. T́m phương hướng
12. Ghen tuông
13. Quần áo, dày dép
14. Khám phá nói láo

Trung tâm ngôn ngữ nằm ở bán cầu năo bên trái của đàn ông trong khi nó ở cả hai bán cầu nơi đàn bà. Khi đàn ông bị tổn thương năo bên trái sẽ không nói được, trong khi đàn bà c̣n nói được hay chỉ bị nhẹ hơn.

Khi ngừng nghỉ, điện năo đàn ông chỉ hoạt động 30%, trong khi óc của đàn bà hoạt động tới 90%.

Corps calleux là những sợi dây thần kinh nối tiếp hai bán cầu năo bên phải và bên trái. Corps calleux giữ nhiệm vụ thông tin liên lạc giữa hai bên năo bộ. Bác sĩ Roger Gorski thuộc đại học UCLA đă chứng minh là đàn bà có corps calleux, một bộ phận của năo, dầy hơn của đàn ông, có nhiều tiếp nối (connexions) trong năo bộ, do đó khả năng thông báo tín hiệu 30% nhanh hơn so với đàn ông. 

Các chức năng tiêu biểu trong năo bộ phụ nữ, diện tích mỗi khu vực tỷ lệ với khả năng.

1. Lái xe nguy hiểm
2. T́m đồ vật
3. Không chú tâm vào câu chuyện
4. Chuyển hóa thức ăn thành hơi trong ruột già
5. Hỏi thăm phương hướng
6. Coi truyền h́nh
7. Làm việc trong nhà, ủi quần áo
8. Kiếm cớ, tạ sự
9. Găi bụng
10. Đánh trống lăng
11. Đi tiểu vào bồn cầu
12. Nghe tiếng con khóc ban đêm
13. Nói dối và phóng đại
14. Thể thao

H́nh vẽ trên đây tuy có tính tượng trưng, nhưng diễn tả đặc tính của mỗi phái nam nữ

* Cũng như năo bộ, khoa học cũng khám phá những khác biệt năm giác quan giữa đàn bà và đàn ông.

* Thị giác 

Trong khi đàn bà thấy, đàn ông c̣n đang đi t́m, đó là cảnh thường xảy ra trong mọi gia đ́nh. Ông chồng lục tung tóe đồ đạc, gắt gỏng, hỏi vợ cái quyển sách anh mới mua em vất đâu rồi; bà vợ lặng lẽ đến góc nhà, cầm quyển sách vứt lên mặt bàn : cái ǵ đây? Tại sao, v́ đàn ông không «thấy» những ǵ mà đàn bà thấy được.

Đàn ông là một ống kính zoom trong khi đàn bà là một ống kính wide angle. Từ thuở sơ khai, khi c̣n phải săn mồi kiếm ăn, đàn ông đă phải ŕnh ṃ trong rừng sâu rậm rạp, thị giác nhắm vào con mồi, t́m cách vồ chộp; đàn bà ở nhà săn sóc các vật gần gũi, nàng chú ư mọi chi tiết nhỏ chung quanh. Nàng có một góc nh́n 90 độ hai bên, và đảo mắt kiểm soát đủ 180 độ dễ dàng. Đàn ông không nh́n vào chi tiết, họ chú ư vào cái ǵ mà họ cho là quan trọng, rồi hành đ “zoom” trong

Về mầu sắc, con mắt có 100 triệu tế bào h́nh trụ phân biệt đen trắng và 10 triệu tế bào h́nh nón phân biệt mầu sắc. Khả năng này do nhiễm sắc thể X chi phối, mà đàn bà có nhiều nhiễm xác thể X hơn đàn ông. V́ vậy không lạ ǵ đàn ông hay thích mầu xanh đậm, trong khi đàn bà thích bleu marine, bleu roi, lavande, turquoise ...

Đàn bà c̣n có tài nói bằng mắt, một cái liếc có biết bao nhiêu ư nghĩa, yêu đấy, ghét đấy, tŕu mến đấy. Đàn ông thua kém xa về mặt này, có lẽ con mắt họ chỉ trội hơn về khả năng nh́n xa ban đêm.

* Thính giác

Về thính thị, đàn bà vượt hẳn đàn ông,  tiếng con khóc, tiếng ṿi nước chẩy, con mèo ngoài cào cửa muốn vào trong nhà. Ai nghe thấy trước? Ngước? –

Đàn ông phản ứng mau và cấp thời hơn. 

Đang đêm, một cành cây lớn đổ, một tiếng động mạnh ngoài sân. Lập tức chàng nhổm dậy, ghé mắt qua khe cửa, nhanh tay cầm dao pḥng bị bất trắc.

Đàn bà có một độ thẩm âm rất tế nhị, tinh tường. Yêu cầu mười người đàn ông hát lại một điệu hát, chỉ có 2 người trúng giải, đàn bà th́ khỏi nói.

Đàn bà có thể theo dơi hai câu chuyện cùng một lúc, bàn ăn bên cạnh ai nói ǵ nàng đều nghe hết.

Từ khi mới sinh ra được một tuần lễ, đứa bé gái h́nh như đă biết nhận được tiếng nói của mẹ, trong khi em bé trai lạnh lùng mơ hồ nh́n lên trần nhà!

Ở tuổi dậy th́ các em trai có một thời kỳ «điếc» tạm thời. Lư do ở tuổi dậy th́, bộ phận thính thị bị xáo trộn., nó nhận được âm thanh, nhưng không phản ứng thuận hay nghịch. 

* Khứu giác 

Trong đời sống hàng ngày, không ai chối căi được là người phụ nữ có một cái mũi nhậy ứng hơn đàn ông thật nhiều. Ở thời kỳ trứng rụng, độ nhậy này tăng gấp bội. Tại sao? Khoa học giải thích rằng đàn bà sinh con và có nhiệm vụ bảo tŕ ḍng giống. Với nhiệm vụ này, phụ nữ có tài thiên phú chọn người cha tương lai tốt nhất cho cái trứng đang chờ đợi gặp được một tinh trùng hảo hạng. Nàng có thể từ chối một bữa ăn tối để chờ chàng điện thoại đêm nay. Đây không phải là lăng mạng, cũng không phải là châm biếm, chỉ là quy luật tự nhiên bảo vệ ṇi giống của loài người cũng như loài vật.

* Vị giác

Anh ơi, nếm hộ em xem vừa miệng chưa? Nói thế nhưng nàng đă sẵn biết mặn nhạt, chỉ cần sự đồng ư của chàng để kết thúc một món ăn đăi khách. 

Từ thuở c̣n ăn hang ở lỗ, đàn bà đă có thói quen nếm trước thức ăn trước khi đưa vào miệng đứa con nhỏ dại. Chính nàng phải quyết định mớ rau này ăn được, trái cây kia mang độc tính. 

Trong 4 vị mà lưỡi con người có thể phân biệt được, đàn bà trội về vị ngọt, trong khi đàn ông thích mặn và đắng. Vị chua th́ hai bên không thích lắm trừ khi người đàn bà mang bầu! 

* Xúc giác:

Diện tích da thân thể người ta rộng từ 1,5 thước vuông đến gần 2 thước vuông, trên đó có 3.500.000 điểm thụ cảm (tiếp nhận cảm giác), mà buồn thay có đến 2.800.000 điểm tiếp nhận cảm giác đau đớn, chỉ c̣n 500.000 điểm nhận cảm giác va chạm. Về khía cạnh này hoàn toàn có sự b́nh đẳng nam nữ, nhưng... nhưng, da đàn ông dầy hơn, cảm giác dĩ nhiên bớt bén nhậy. Tại sao? Từ thái cổ, đàn ông săn bán, kiếm ăn trong rừng sâu, chống trả với môi trường thiên nhiên mưa nắng, phải có một bộ da dầy hơn chịu đựng đau đớn, do đó da phía sau lưng dầy hơn da bụng 4 lần.

Ngày nay, những điểm thụ cảm vẫn c̣n b́nh đẳng, nhưng phụ nữ có cảm nhận xúc giác bén nhậy hơn đàn ông 10 lần, đến nỗi nếu so sánh người đàn ông nhậy cảm nhất với một người đàn bà ít nhậy cảm nhất thời phần thắng vẫn về phía phụ nữ.

Sự mơn trớn làn da mang hai ư nghĩa. Nó có thể hữu ích, người ta chứng minh rằng khi khỉ con thiếu vuốt ve của mẹ nó, sẽ dễ bị bệnh. Trong những trường hợp giao tiếp xă giao thông thường, đàn bà không thích vuốt ve, đụng chạm, bởi v́ những điểm thụ cảm phân phối đồng đều trên thân thể, mà đàn ông lại có khuynh hướng đụng chạm vào một vài vùng đặc biệt. Hẳn chưa ai quên một nhân vật chính giới Canada bị tố cáo là hay sờ mông các bà ngay cả ở nơi công cộng! Gần đây hơn nữa, cử chỉ ôm lưng Nữ Hoàng của một nhân vật Québec đă gây sóng gió trong báo giới Anh quốc. 

* Giác quan thứ sáu

Đàn bà «tinh lắm, chưa nói đă biết», khả năng «nh́n thấy» , đoán trước sự việc một cách phi thường là của đàn bà. Dưới đây là kết quả cuộc thực nghiệm năm 1978 do Allan và Barbara Pease thực hiện: người ta quay vidéo trong 10 giây đồng hồ một đứa trẻ sơ sinh đang khóc, nhưng không thu âm tiếng khóc. Khi mang phim ra hỏi người xem, phần đông các bà mẹ đều nhận biết là đứa trẻ đang đói, đang đau, hay muốn ói, trong khi chỉ có 10% người cha đoán được t́nh trạng khẩn trương của đứa trẻ. Đối với các vị đă lên bậc ông bà : 50% tới 60% các bà trả lời đúng trong khi phần lớn các ông nội, ông ngoại không nhận ra được đứa cháu của ḿnh đang muốn ǵ! 

Đối với các cặp sinh đôi, các ông khó phân biệt được, trong khi phần đông đàn bà trong gia đ́nh có thể phân biệt dễ dàng đứa nào là anh, đứa nào là em.

Người ta quay phim một pḥng họp có khoảng 50 cặp vợ chồng; một người đàn bà mới bước vào đă có thể nhận biết từng người, cặp này ăn ư, cặp kia đang có vấn đề, ai ḱnh địch với ai; người đàn ông mới vào, trước hết nh́n quanh pḥng, cửa vào cửa ra, rồi anh ta đi t́m người quen, né tránh kẻ không ưa, rồi mới quan sát toàn diện buổi hội.

* Bài viết chỉ tŕnh bày những khám phá mới trong khoa sinh học xă hội (biosociologie), nâng thêm tầm hiểu biết về tiến hóa của loài người qua lịch sử, sự cấu trúc cơ thể và điều hành sinh lư từ lúc trong bụng mẹ đến khi lớn lên. Hiển nhiên đă có những dị biệt nam nữ chứng minh bằng khoa học

Thực ra người ta đă biết có sự khác biệt này, nhưng không chấp nhận nó, v́ người ta lẫn lộn về vai tṛ và t́nh cảm của mỗi phái. Họ nói với nhau, nhưng chẳng ai hiểu ai, không đồng ư với nhau, đến xung đột.

Bản chất đàn ông thời ham muốn quyền hành, thành tựu, nhục dục; đàn bà lại thích giao thiệp, ổn định và t́nh yêu thương. Quan hệ trở nên vô cùng khó khăn khi mỗi bên từ chối chấp nhận rằng họ không nghĩ như ta, không muốn làm như ta, không có cùng một ước mơ, một ư thích, một tham vọng. Những quan niệm về đồng dạng giới tính (uniformité sexuelle) thật sự vô ích và nguy hiểm bởi v́ buộc con người có cùng một cách đối xử khi hoạt động của năo bộ khác nhau. Thử lấy ví dụ các trẻ em trai gái được giáo dục y hệt nhau, b́nh đẳng trên mọi mặt, một ngày đẹp trời nào đó khi đă lớn, chúng khám phá ra rằng chúng khác nhau mọi mặt, tất nhiên sẽ hành sử theo bản chất của giới tính.

Thương thay, chúng ta sống trong một môi trường xă hội đ̣i hỏi nam nữ phải đồng dạng, mặc dù một núi những khác biệt; bộ máy năo bộ của con người đă được thảo chương sẵn (programmé) và chúng ta tiến hóa với những năng khiếu, khuynh hướng rơ rệt không như nhau. Làm trái ngược điều này cũng như đứng giữa sa mạc cầu mưa, rồi khi băo gió thổi, cầm dù che cát. 

Để kết luận, khác nhau cũng có nghĩa là không ai hơn ai, kém ai, hoàn toàn ngang nhau về quyền lợi và bổn phận mà mỗi xă hội phải bảo đảm cho con người, và cộng đồng thế giới phải bênh vực, đ̣i hỏi thực hiện tại nơi nào chưa có sự quân b́nh đó. 

Nhưng, giữa đàn bà và đàn ông, t́nh yêu trên hết, ... dù có trăm lần vui, có vạn lần sầu... có phải thế không, thưa người đn

Tài liệu tham khảo

- ARONSON Elliot, The Social Animal, Worth Pubkishers, New York, 1999, 548 pp.
- BEST Steven & KELLNER Douglas, Postmodern Theory, The Guilford Press, New York, 1991, 324 pp.
- ENSLER Eve, The Vagina Monologues, Villard, New York, 1998, 185 pp.
- FERRY, Luc, VINCENT Jean-Didier, Qu’est-ce que l’homme?, Odile Jacob, Paris, 2001, 286 pp.
- KEEN Sam, A la recherche de lhomme perdu, Mieux-Ê- KEEN Sam, A la
- NAVARRO Pascale, Pour en finir avec la modestie féminine, Boréal, Montréal, 2002, 119 pp.
- PEASE Allan et Barbara, Pourquoi les hommes nécoutent jamais rien et les
femmes ne savent pas lire les cartes routiè’écoutent jamais rien et les femmes ne
- PEASE Allan et Barbara, Pourquoi les hommes mentent et les femmes pleurent, First, Paris, 2002, 405 pp.
- RUANO-BORBALAN Jean-Claude, LIdentité- RUANO-BORBALAN Jean-Claude, L’Identité, Sciences Humaines,
- SYKES, Bryan, Las sept filles dÈ’Ève, Albin Michel, Paris 2001, 364pp
- WILLER Ellen, Les hommes, les femmes, etc..., Marabout, Allemagne, 2002, 200 pp.
- Espaces de la parole, Les rapports homme-femmes, Drummondville, 2001
- Le Nouvel Observateur, Génétique, la révolution est là!, Paris, 1998.
- Le Nouvel Observateur, La Quête des origines, Paris, 1997 
- Les cahiers de lexpress, Lodyssée de la géné- Les cahiers
- Manière de voir 44, Femmes, le mauvais genre?, Paris, 1999.
- Sciences humaines, Lesouci du corps, Paris, 2002.