Thi trung hữu họa, họa trung hữu thi là lời Tô Đông Pha, người đời Tống, phê b́nh tài họa và tài thơ của Vương Duy, người đời Đường. Đă có nhiều nhà phê b́nh văn học Trung Hoa viết về nét họa trong thơ của Vương Duy, nhưng bởi chưa ai t́m ra một bức họa nào đích xác là của Vương Duy, nên người xem tranh chưa ai được thấy thơ trong tranh của Vương Duy. Mối giao duyên giữa thơ và họa, ngày nay người đọc thơ cũng như người xem tranh có dịp thưởng thức qua thơ của Hồ Xuân Hương, nữ sĩ người Việt Nam và trên tranh của Gustave Courbet người Pháp. Đặc biệt là có những bức tranh và những bài thơ, từng bài từng bức họp thành một đôi có chung một đề tài.
Trên một đường hướng khác, trong thập niên 80 vừa qua, nhiều nhà lư thuyết trong cao trào tranh đấu cho nữ quyền, căn cứ trên nhiều họa phẩm và phim ảnh, cũng như trên những thành quả của giới phân tâm học, đă nhấn mạnh trên sự kiện nữ giới bị đàn áp, bị coi như vật sở hữu của nam giới. Nam giới dương mắt nh́n, nữ giới chỉ như một bức tranh bầy ra để nam giới ngắm. Nói cách khác, nam giới chủ động, nữ giới thụ động. Sự phân biệt nam nữ của giới phân tâm học, tiêu biểu là Sigmund Freud và Georges Lacan cũng là một điểm để giới tranh đấu cho nữ quyền đả kích.
Những tác phẩm đáng chú ư trong trào lưu tranh đấu của nữ quyền trong địa hạt hội họa ngày nay con được trích dẫn là cuốn Sexuality in the Field of Vision của Jacqueline Rose, Vesco, London 1986; trong địa hạt phim ảnh có Mary Ann Doan với cuốn Film and Masquerade: Theorising the Female Spectator, trong tạp chí Screen số 23, tháng chín tháng mười năm 1982; trong địa hạt phân tâm học có cuốn The Enigma of Woman: Woman in Freuds Writing của Sarah Kofman, University Press, Ithaca 1985. Trong dịa hạt luật pháp có Catharine MacKinnon, giáo sư kiêm lư thuyết gia về luật học, trong suốt 25 năm qua đă làm thay đổi sâu rộng quan điểm về nữ quyền trước pháp luật, không những khắp năm chục tiểu bang Hoa Kỳ, mà c̣n lan tràn sang nhiều quốc gia kháuốn
Trong trào lưu đó, Michael Fried xuất bản cuốn Courbet and Realisme với chủ trương là dầu trong đời tư Gustave Courbet sống như mọi người đồng thời, nhưng trong tranh vẽ, ông thường dùng những cấu trúc nghiêng về phái nữ nhiều hơn nên tranh của ông, nhất là những bức mô tả nữ tính thường vượt ra ngoài lời tố cáo của những nhà tranh đấu cho nữ quyền: trong giấc mơ nữ tính, Courbet đă đổi từ địa vị chủ động sang địa vị thụ động. Gustave Courbet (1818-1877), người Pháp sinh tại Ornans một làng nhỏ gần Besancon, mất tại La Tour de Peilz Thụy Sĩ. Ông chủ trương đưa hội họa ra ngoài ảnh hưởng các trường phái có sẳn và trở thành người dẫn đầu ngành hội họa hiện thực. Ông làm bạn với Proudhon, một nhà lănh đạo cực đoan phong trào dân quyền đương thời, và Baudelaire một nhà thơ kiêm nhà phê b́nh hội họa. Ông tham gia vào phong trào cách mạng của Pháp, bị kết tội ra lệnh đánh đổ tháp Vendôme và phải phạt bồi thường tiền tu bổ, khiến ông phải lưu vong sang Thụy Sĩ và mất tại đó. Tranh của Gustave Courbet tiêu biểu cho đường lối hiện thực, réalisme, và có nhiều h́nh ảnh mở đường cho phái biểu tượng, symbolisme sau đó.
Ngược lại, đối chiếu tranh Courbet với thơ của Hồ Xuân Hương, cho thấy v́ bà là một người nữ, nên trong những bài thơ ghi lại những giấc mơ nữ tính; trong thơ tính thụ động trở thành chủ động. Thế nên, đọc tranh Gustave Courbet cũng như đọc thơ Hồ Xuân Hương, không những cho thấy mối giao duyên giữa họa và thơ c̣n là dịp để người đọc xét lại vấn đề nữ tính, một vấn đề trở thành thời sự hiện nay, khi cao trào nữ quyền lắng đọng v́ chưa t́m ra được mục tiêu tranh đấu mới với đủ khả năng thuyết phục như trong thế kỷ vừa qua.
Phụ bản 1. The Hammock
Đọc thơ Hồ Xuân Hương, qua những tác phẩm viết về Hồ Xuân Hương ngày nay là một điều khá khó khăn. Bởi cho tới nay dường như rất ít người nói về thơ Hồ Xuân Hương, và dường như hầu hết bài viết về Hồ Xuân Hương đều bàn về thoại Hồ Xuân Hương. Vấn đề tiểu sử của Hồ Xuân Hương là một vấn đề đặt ra với nhiều giả thiết khác nhau, nhưng chưa ai đề ra được một bằng chứng nào đủ khả năng thuyết phục. Thế nên mỗi bài thơ vốn được coi là thơ của Hồ Xuân Hương là một vấn đề: bài đó của Hồ Xuân Hương nào? Bài đó nên giữ lại hay phải bỏ đi? Bởi vậy cần nói rơ tiêu chuẩn đọc thơ Hồ Xuân Hương trước khi bàn về thơ Hồ Xuân Hương. Trong cảo luận này người đọc thơ Hồ Xuân Hương dùng tiêu chuẩn do Gaston Bachelard đề ra, như ông viết trong chương Rêverie sur la Rêverie, cuốn Poétique de La Rêverie:
Dans notre utopie de lecture, nous abondonnons donc les soucis du métier de biographe, les déterminations usuelles du psychologue [...] Les oeuvres sont là pour justifier nos enquêtes vers lidéalitétes
Theo tiêu chuẩn của Gaston Bachelard trên đây, thơ Hồ Xuân Hương trích dẫn trong bài viết này là thơ Hồ Xuân Hương, mà người đọc thơ nghe được qua lời truyền miệng và tác giả là một nữ sĩ, không rơ tiểu sử .Bức tranh tiêu biểu cho mối giao duyên giữa Gustave Courbet và thơ Hồ Xuân Hương là bức Cái vơng, The Hammock, hoàn tất năm 1844, xem phụ bản 1. Bài thơ tương ứng với bức tranh này là bài:
Thiếu Nữ Ngủ Ngày
Mùa hè hây hẩy gió nồm đông
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc lỏng trôi trên mái tóc
Yếm đào trễ xuống dưới nương long
Đôi g̣ bồng đảo sương c̣n ngậm
Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi th́ cũng dở ở không xong.
Trong thơ người thiếu nữ ngủ thoải mái trong cơn gió mát, lược trúc tuột khỏi mái tóc, yếm đào trễ xuống dưới ngực, để thoáng lộ cặp nhũ hoa. Đó chính là những h́nh ảnh trong tranh Gustave Courbet. Suối tóc chẩy dài ra về phía người xem tranh, làm nổi bật vệt nắng phía sâu trong tranh, tất cả tạo nên nét thoải mái của người trong tranh trong buổi xế trưa muà hè.
Câu thơ:
Một lạch đào nguyên suối chửa thông
hiện ra trong tranh qua h́nh ảnh đôi chân người thiếu nữ quặp với nhau thả dưới vơng.
Tiếp tới hai câu kết:
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi th́ cũng dở ở không xong
tương ứng với h́nh ảnh trong tranh là một cánh hồng rớt trên má người thiếu nữ và một nhánh hồng bụi như cố vươn về phía người thiếu nữ, như mơn chớn người thiếu nữ trong giấc bướm. Theo Michael Fried, cánh hồng rớt trên má người thiếu nữ kết hợp với khay mầu trong tay họa sĩ, và nhánh hồng bụi là này biểu trương dục vọng của người vẽ tranh với người trong tranh. Đó là những biểu tượng tạo ra sự khác biệt nam nữ trong ḷng họa sĩ với cô gái trong tranh, chứ không phải là giữa họa sĩ với người thiếu nữ kiểu mẫu. Trong bài thơ trên đây, Hồ Xuân Hương, dùng chữ quân tử, cũng như trong nhiều bài khác, chữ đó cần phải rơ mạch thơ của Hồ Xuân Hương mới thấu nghĩa. Để thấu nghĩa chữ này, cần trở lại bức tranh. Vẻ mặt người trong tranh hân hoan, dường như đang mơ một giấc mơ đẹp. Khó có thể biết cảnh giới giấc mơ đó qua tranh, nhưng nếu kết hợp với thơ Hồ Xuân Hương, người xem tranh sẽ t́m được ba bài thơ ghi lại giấc mơ đẹp này. Gaston Bachelard, trong cuốn La Poétique de la Rêverie đă chỉ cho người đọc thơ nẻo vào trong cảnh mơ của người Thiếu Nữ Ngủ Ngày hay người thiếu nữ nằm trên vơng trong tranh Gustave Courbet.
Gaston Bachelard viết:
[...] la rêverie du jours bénificie dune transquillité lucide [...] cette transquillité lucide est la simple conscience de labscence de soucis. [elle se] nourrie par des images de la douceur de vivre, par les illusions du bonheur. La rêverie dun rêveur suffit à faire rênificie d’une transquillité lucide
Trong một đoạn khác, Gaston Bachelard viết về nội dung tổng quát giấc mơ:
[...]dans la rêverie solitaire nous nous connaissons à la fois au masculin et au feminin. La rêverie qui vit lavenir dune passion idéalise l object de sa passion. Lêtre féminin idéal écoute le rêveur passionné. La rêveuse suscite les déclarations dun homme idéaliséverie
Và trong đoạn tiếp:
Parfois des désirs dialoguent en nous [...]un homme et une femme parlent dans la solitude de notre être. [...] ils parlent pour savourer leurs désirs, pour communiquer dans la tranquillité dune double nature bien accordétre.
Ngôn ngữ của cuộc đối thoại này, theo Gaston Bachelard là một thứ ngôn ngữ không bị kiểm duyệt, langage sans censure. Cảnh mơ như một cuộc đối thoại, dùng ngôn từ không bị kiểm duyệt, nói lên nhưng dục vọng của người nam và người nữ, animus và anima, trong nội tâm Thiếu Nữ Ngủ Ngày của Hồ Xuân Hương ghi rơ trong ba bai tứ tuyệt sau đây:
Bánh Trôi Nước
Thân em vừa trắng lại vừa tṛn
Bẩy nổi ba ch́m với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm ḷng son.
Quả Mít
Thân em như quả mít trên cây
Vỏ nó xù x́ múi nó dầy
Quân tử có yêu th́ đóng cọc
Xin đừng mân mó nhựa ra tay.
Con Ốc Nhồi
Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi
Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi
Quân tử có thương th́ bóc yếm
Xin đừng ngó ngáy lỗ trôn tôi.
Animas và animus hay người nữ và người nam trong nội tâm con người là một
khái niệm trừu tượng do nhà phân tâm học Carl Jung đề xướng. Triết gia Gaston Bachelard đưa khái niệm này sang văn học.
Ông viết:
Je ne serai jamais qu’un psychologue des livres.
Giới phê b́nh hội họa cũng dùng thuyết này, lấy chiếc bút vẽ trong tay nghệ sĩ là animus, lấy khay mầu trong tay kia làm anima. Sự kết hợp này dùng h́nh ảnh chiếc bút và khay mầu để diễn tả hai chữ animus và anima. Có lẽ đă từ lâu, từ trước khi Carl Jung đề ra thuyết anima-animus, người Việt Nam thường đă phân biệt Nàng Thơ với Bút Thơ của thi nhân. Rơ ràng Nàng thơ là animas và Bút thơ là animus. Nàng thơ đưa người thơ ra khỏi hoàn cảnh, sang cảnh mộng rồi vào cảnh thơ. Bút Thơ ghi lại nhưng cảm hứng của người thơ trong diễn tŕnh đi theo Nàng Thơ mà thành bài thơ.
Trở lại thơ Hồ Xuân Hương, cả ba bài thơ có cùng một cấu trúc: hai câu đầu người trong thơ ví thân ḿnh với một món đồ ăn: cái bánh trôi, quả mít rồi con ốc nhồi. Hai câu kế tiếp là lời người nữ nói với người nam: người nặn bánh hay người quân tử. Điều đáng chú ư là cả ba món ăn người trong thơ dùng để ví với ḿnh đều cùng có chung một dạng: đó là dạng tṛn của viên bánh trôi, quả mít và con ốc nhồi. Theo Gaston Bachelard, dạng tṛn là dạng của trái lựu trái cam trái nho. Dạng tṛn này tiêu biểu cho cảnh mơ dấy từ người nữ trong người đang mơ. Mầu trắng của viên bánh trôi, theo Wassily Kadinsky, một trong những họa sư tạo ra họa phái trừu tượng, abstrait, là mầu biểu thị chuyển động trong nội tâm con người, chuyển động này là chuyển động ly tâm, tượng trưng cho sự đối kháng mang nhiều hứa hẹn, une résistance pleine de pos- sibilités. Cuộc đối thoại giữa người nữ và người nam trong nội tâm tác giả là lời tự hứa hẹn của người nữ, dầu phải trải qua ba ch́m bẩy nổi, vẫn một ḷng kiên quyết với bàn tay người nặn, người nam trong nội tâm người thơ.
Trong hai bài Qủa Mít và Con Ốc nhồi,
hai câu mở đầu rơ là lời người nữ nói rơ thân phận ḿnh, và hai câu kế tiếp là lời nhắn nhủ với người nam ra tay đón ḿnh, và đồng thời nói rơ ư ḿnh về những cử chỉ âu yếm của người nam không hoàn toàn hợp với ư ḿnh. Rơ là cả trong bốn bài thơ của Hồ Xuân Hương trích dẫn trên đây, ngoài bàn tay người nặn, ba lần chữ quân tử được dùng để mô tả người nam trong nội tâm người thơ. Ngôn từ rất phóng túng, không kiểm duyệt, khiến người đọc thơ không khỏi không cho đó là ư ngoài lời của tác giả. Hương vị thanh tao của viên bánh trôi, cùng hương vị đậm đà của miếng mít cũng như hương vị mặn mà của miếng ốc đem sánh với thân phận người nữ cho thấy rơ là vai nữ lúc này giữ vai chủ động gợi lên dục vọng trong ḷng phe nam, giữ vai thụ động.
Phụ bản 2. Still life
Tương ứng với dạng tṛn của viên bánh trôi, của quả mít, của con ốc nhồi trong thơ Hồ Xuân Hương, là dạng tṛn của trái cam, trái táo, trái lựu trong tranh Gustave Courbet. Những trái cây này đều là những trái cây ăn có hương vị thơm ngon. Giới phê b́nh hội họa thường vin vào dạng tṛn đó để liên kết những bức tranh tĩnh vật này với những bức tranh diễn tả vẻ đẹp phụ nữ. Tương ứng với ngôn từ siêu thực của Hồ Xuân Hương là mầu đỏ gợi cảm trong tranh Gustave Courbet dùng để vẽ trái lựu bổ, trong bức tĩnh vật thực hiện vào năm 1871-72 (xem phụ bản 2). Gaston Bachelard cho thấy ư nghĩa của những trái cây trong tranh Gustave Courbet cũng như của viên bánh trôi, của trái mít, của con ốc nhồi trong thơ Hồ Xuân Hương như sau:
Devant cette prodigalité des fruits qui nous invitent à gouter au monde, devant ces Mondes-Fruits qui sollicitent nos rêverie, comment ne pas affirmer que lhomme de la rêverie est cosmiquement heureux. A chaque image correspond un type de bonheur [...] Lhomme de la rêverie baigne dans le bonheur de rêver le monde, baigne dans le bien êverie, comment ne pas
Trong nhiều ngôn ngữ chữ quả thường đi liền với chữ hoa, nên hoa thường hiện trong mơ. Giấc mơ hoa là giấc mơ mang lại hạnh phúc cho người mơ. Gaston Blanchard viết:
[...] le poète nous montre que, dans la rêverie déjà, les fleurs coordonnent des images généralisées. Non pas simplement des images sensibles, des couleurs et des parfums, mais des images de lhomme, des délicatesses de sentiments, des chaleurs de souvenirs, des tentations doffrande, tout ce qui peut fleurir dans une âes. Non
Phụ bản 3.The ladies on the bank of the Seine
Giấc mộng hoa trong nh́n thấy rơ trong bức tranh The Young Ladies on the Banks of the Seine, Thiếu Nữ Bên Bờ Sông Seine. (xem phụ bản 3) Bức tranh vẽ hai thiếu nữ năm nghỉ trong bóng mát. Giữa hai người có một điểm đối trọi: người tóc vàng mặc một áo váy trang trọng, người tóc đen phong phanh trong manh áo déshabillé, thường chỉ mặc trong nhà. Người tóc vàng cầm trong tay một bó hoa dại; người tóc đen cài hoa trên nón treo trên cành cây và cầm trong tay một nhánh dây leo. Những chi tiết đó ḥa đồng hoa lá in trên y phục hai người thiếu nữ với cảnh cây lá chung quanh. Những h́nh ảnh đó như gợi lên không những mầu sắc, hương thơm mà c̣n gợi lên cả những tế nhị t́nh cảm, những đầm ấm của kỷ niệm, làm nở hoa trong tâm hồn con người, như Gaston Bachelard viết trong trích dẫn trên đây. Như vậy tranh của Gustave Courbet không c̣n ư nghĩ lấy phụ nữ làm đối tương tượng tính dục. Người xem tranh dường như bị lôi cuốn về câu truyện hai cô gái trong tranh đang tâm sự với nhau. Chủ ư bài thơ sau đây của Hồ Xuân Hương có thể cho biết nội dung câu chuyện giưa hai tố nữ trong tranh:
Phụ bản 4. Sleeping Blond girl
Tranh Tố Nữ
Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô ḿnh
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đôi lứa như in tờ giấy trắng
Ngh́n năm c̣n măi cái xuân xanh
Thiếu mai chi dám t́nh trăng gió
Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh
C̣n thú vui kia sao chẳng vẽ
Trách người thợ vẽ khéo vô t́nh.
Đôi lứa như in tờ giấy trắng
Ngàn năm con măi cái xuân xanh
Hai câu:
Đôi lứa như in tờ giấy trắng
Ngh́n năm c̣n măi cái xuân xanh
là truyện người tố nữ vô tri trong tranh, c̣n truyện người con gái ngoài đời thật là:
Thiếu mai chi dám t́nh trăng gió
Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh
Hai chữ thiếu mai và bồ liễu trong câu thứ năm và thứ sáu gợi cho người đọc thơ hai câu trong bài văn sách Mẹ Ơi Con Muốn Lấy Chồng của Lê Qúy Đôn:
Ḱa những kẻ liễu yếu đào tơ, t́nh vân vũ hăy c̣n e ấp nguyệt. [...] Nay con tủi là thân bồ liễu, giữ đầu xanh e ấp một buồng không.
Hiểu như vậy bài thơ của Hồ Xuân Hương đặt hai người tố nữ đối mặt với những câu truyện bắt gốc từ nữ tính của chính bản thân. Câu truyện đó phải chăng cũng là câu truyện của hai thiếu nữ bên bờ sông Seine của tranh Gustave Courbet?
Tiếp tới là ḍng tranh vẽ phụ nữ khỏa thân của Gustave Courbet. Điểm đặc sắc của Gustave Courbet trong những bức họa này là vẫn là nét hiện thực của họa sĩ, người vẽ không tạo ra những nét biểu thị cái đẹp lư tưởng cho người trong tranh, mà ngược lại tạo cho người trong tranh bằng những dáng diệu nhắm biểu lộ t́nh cảm của người trong tranh. Một trong những bức tranh đó là bức Sleeping Blond Girl, Gustave Courbet vẽ vào năm 1849 (xem Phụ bản 4). Người trong tranh là một cô gái tóc vàng khỏa thân, nằm ngủ trên chiếc giường hẹp, đầu gối cao, trong một căn pḥng mờ tối. phía bên phải là một lọ hoa. Nằm ôm một tấm chăn đơn trắng che nửa ngực bên trái, dưới bụng và ngang đùi đắp một tấm chăn xẫm mầu. Khuôn măt nh́n nghiêng, có vẻ như thiếu thoải mái trong giấc ngủ. Khó mà biết lúc nàng thiêm thiếp ngủ này là lúc nửa đêm hay lúc sớm mai. Nếu là lúc nửa đêm th́ người xem tranh chợt nhớ tới bài Tự T́nh sau đây của Hồ Xuân Hương:
Canh khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế nguyệt chưa tṛn
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy ḥn
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh t́nh san sẻ tí con con.
Cảnh là cảnh nửa đêm, tiếng trống sang canh đổ dồn, người trong tranh nửa thức nửa ngủ, đem cái hồng nhan sánh nước non, người trong thơ chợt thấy thời gian qua mau, trăng tṛn rồi lại khuyết, năm này sang năm khác. Người trong tranh như phơi bầy nữ tính với ḍng thời gian, nên thời gian của Hồ Xuân Hương hay người trong tranh khác với thời gian thường gặp trong thơ văn của các đại bút trong hàn lâm. Thời gian này đo bằng cái hồng nhan, khiến người đọc thơ và xem tranh nhớ tới thời gian của người phụ nữ trong văn của nữ sĩ Pháp Marie Cardinal, mới qua đời năm nay, 2001. Đoạn văn trích từ cuốn Autremenet Dit, do nhà Grasset xuất bản tại Paris năm 1977. Đoạn văn như sau:
[...] le temps de la femme est toujours présent, toujours inclus dans ma vie, réglé par ses règles, coupé en tranches par sa fécondité. Pas un seul mot pour traduire ma durée; car je croix que les femmes nont pas de la durée le même sens que les hommes, elles savent vivre la gestion de lintée; car
Nhưng rồi dường không khỏi nghi ngờ sức mạnh của nữ tính, người trong tranh trở thành thụ động: trao tay lèo tay lái con thuyền t́nh nghĩa vào tay người thăm ván.
Chiếc bách buồn về phận nổi nênh
Giữa ḍng ngao ngán nỗi lênh đênh
Lưng khoang t́nh nghiă dường lai láng
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh
Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến
Dong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh
Ấy ai thăm án cam ḷng vậy
Ngán nỗi pôm đàn những tấp tênh.
Nếu nhận ra thời điểm trong tranh là lúc về sáng, th́ người xem tranh nhớ tới bài sau đây của Hồ Xuân Hương:
Tiếng gà văng vẳng gáy trên hom
Oán hân trông ra khắp một cḥm
Mơ thẳm không khua mà cũng cốc
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om
Trước nghe nhưng tiếng thêm rầu rĩ
Sau giận v́ duyên để mơm ṃm
Tài tử văn nhân ai đó tá
Thân này đâu đă chịu già lom.
Tàn đêm về sáng, vẫn trong cảnh nửa ngủ nửa thức, người trong tranh nh́n lại nữ tính của ḿnh mà không khỏi thoáng buồn trong cảnh cô đơn. Nàng vẫn c̣n chưa chọn được ai xứng mặt tài tử văn nhân, để đón nhận làm prince charmant, làm Mr. Right. nhưng người trong tranh bỗng lấy lại được niềm tự tin ở nữ tính của ḿnh:
Thân này đâu đă bị già lom.
Phụ bản 5. The women with a Parrot
Tiếp tới là bức La Femme au Perroquet, hoàn tất năm 1866 (xem Phụ Bản 5) , cũng là một bằng chứng cho thấy Gustave Courbet muốn dành cho người xem tranh đi t́m ư nghĩa bức tranh ngoài nét vẽ của họa sĩ. Bức vẽ tŕnh bầy h́nh ảnh một phụ nữ khỏa thân nằm chéo trên giường, tay trái dơ cao, và trên bàn tay có một con vẹt dương cánh mầu sắc rực rỡ. Mái tóc của người trong tranh chiếm gần trọn góc trái bức tranh, tấm khăn giường mầu trắng tương phản với mầu tóc nâu và mầu da ngà của người trong tranh. Cặp đùi mở rộng nhưng một góc chăn trắng phủ trên nửa đùi phải và khúc bụng dưới của người trong tranh. Môi người trong tranh hé mở như đang truyện tṛ cùng con vẹt. Nửa bên phải góc trên bức tranh dường như bỏ trống, và ch́m trong bóng tối tạo cho người trong xem cảm tưởng như người trong tranh có điều ǵ bí mật muốn nói với con vẹt. Con vẹt này, theo nhiều người b́nh tranh tượng trưng cho người bạn trai của người trong tranh. Người xem tranh tự hỏi người trong tranh tâm sự ǵ với con vẹt mang h́nh ảnh của người vắng mặt. Câu trả lời dường như đọc thấy trong bài thơ dưới đây của Hồ Xuân Hương.
Cả nể cho nên hóa dở dang
Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc
Phận liễu sao đà nẩy nét ngang
Cái nghiă trăm năm chàng nhớ chửa
Mảnh t́nh một khối thiếp xin mang
Quản bao miệng thế lời chênh lệch
Không có nhưng mà có mới ngoan.
Bài thơ tương truyền có tựa đề là Không Chồng mà Chửa. Người trong tranh có điều muốn nói cùng người bạn t́nh vắng mặt. Nàng tự xưng là thiếp, gọi người vắng mặt là chàng, không c̣n gọi người nam là quân tử như trong những bài trích dẫn trên đây. Người t́nh vắng mặt, nàng nói với con vẹt, biết đâu chẳng là món quà mà chàng đă tặng nàng để nàng tâm sự khi chàng không có mặt bên nàng. Nếu bài thơ của Hồ Xuân Hương trên đây là điều nàng muốn tâm sự với con vẹt, th́ điều nàng nói với con vẹt chứng tỏ nàng làm chủ hoàn toàn nữ tính của nàng. Nàng không hề hối hận, không tiếc nuối là đă đánh mất cái khôn ba năm để chuốc lấy cái dại một giờ.
Cả nể cho nên sự dở dang
Chữ nể này biểu lộ niềm kính trọng trong yêu thương mà nàng dành cho chàng. Nàng tự ư trao thân cho chàng, để cùng chàng tạo nên cái nghĩa trăm năm giữa hai người. Nàng không oán trách chàng, không buộc tội chàng lợi dụng nàng. Nàng nhận trách nhiệm do t́nh yêu tạo nên:
Mảnh t́nh một khối thiếp xin mang
Hănh diện làm Mẹ, nàng không quản ngại miệng lưỡi thế gian.
Chủ đề thứ hai tiêu biểu mối giao duyên giữa tranh Gustave Courbet và thơ Hồ Xuân Hương là chủ đề về các hang động. Chủ đề này, theo Gaston Bachelard là một chủ đề đă có đông đảo tác giả nổi danh tại nhiều nước Âu Châu khai thác. Tây Ban Nha có Miguel de Cervantès (1547-1616) tác gia bộ Don Quichotte; Pháp có Victor Hugo (1802-1885), Pivert De Sénancour (770-1846) , Anh có Virginia Woolf (882-1941) , Đức có Ludwig Tieck (1773-1853). Trong phạm vi hội họa có Lucientes Goya (746-1828) cũng vẽ nhiều về hang động. Nhưng chủ đề hang động của Gustave Courbet không cùng một hướng với các tác gia kể trên. Trong nét họa của hang động của Gustave Courbet, người xem tranh thấy ư thơ của Hồ Xuân Hương rơ rệt hơn cả. Ḍng văn thơ lấy hang động làm chủ đề, trong văn hoc Việt Nam, quen biết nhất có truyện Động Từ Thức của Nguyễn Dư, tác phẩm này gợi hứng cho Tản Đà viết bài Tống Biệt. Nhưng ḍng thơ viết về hang động của Hồ Xuân Hương đứng ngoài ḍng thơ hang động mơ cảnh thần tiên nói trên. Trái lại, trong thơ Hồ Xuân Hương, với chủ đề hang động, người xem thơ thấy nét họa của Gustave Courbet.
Những bài thơ quen thuộc nhất, với chủ đề hang động của Hô Xuân Hương là bốn bài dưới đây:
Động Hương Tích
Bầy đặt kia ai khéo khéo pḥm
Nứt ra một lỗ hỏm ḥm hom
............................................
Giọt nước vô t́nh rơi thánh thót
Con thuyền vô trạo cúi lom khom
.............................................
tiếp là bài:
Hang Cắc Cớ
Trời đất sinh ra dá một cḥm
Nứt ra đôi mảnh hỏm ḥm hom
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn
Luồng gió thông reo vỗ phập pḥm
Giọt nước hước hữu t́nh rơi lơm bơm
Con đường vô ngạn tối om om
..................................................
rồi tới bài:
Kẽm Trống
Hai bên th́ núi giữa th́ sông
Có phải đây là Kẽm Trống không
Gió giật sườn non khua lắc cắc
Sóng dồn mặt nước vỗ long bong
Ở trong hang núi c̣n hơi hẹp
Ra khỏi đầu non đă rộng thùng
................................................
và bài:
Hang Thánh Hóa:
Khen thay con tạo khéo khéo phàm
Một đố giương ra biết mấy ngoàm
Lườn đá cỏ leo sờ rậm rạp
Lách khe nước rỉ mó lam nham
...............................................
Trong chủ đề hang động, những bức tranh của Gustave Courbet thường được giới phê b́nh hội họa nhắc nhở tới là bức La Source de La Loue, 1863, La Source de La Loue, 1864, (xem Phụ bản 6) và trong tập sơ họa có bức Deme Verte, (xem Phụ Bản 7) là bức Gustave Courbet phác họa từ ngoài hai chục năm trước: năm 1840. Phê b́nh bức Dame Verte, Werner Hoffman viết:
What again and again draws Coubet’s eye into caves, crevices, and grottoes is the fascination that emanates from the hiden, the imprenetrable, but olso the longing for security. What is behind this is a panerotic mode of experience that perceives in nature a femal creature and consequenly projects the experience of cave and grotto into the female body, At this point ‘realism’ turns into symbolism [...]

Phụ bản 6. Thesource of loue
Lời b́nh tranh Gustave Courbet trên đây có thể dùng để b́nh thơ Hồ Xuân Hương. Thật vậy, đọc những bài ngâm vịnh cảnh thiên nhiên như hang, động, kẽm, người đọc thơ không ai không nhận ra ư ngoài lời thơ của Hồ Xuân Hương: Nữ sĩ ngâm vịnh những bộ phận thâm sâu trên cơ thể phụ nữ với những h́nh ảnh hiện thực, hiện thực đến mức trở thành những biểu tượng cho người đời sau.
Trở lại tranh Gustave Courbet, cảnh cửa hang không có cửa đóng mở theo Charles Baudouin chính là cái khêu gợi:
le desir de curiosite est le desir de connaitre le secret de la procréation.

Phụ bản 7. Dame Verte
Miệng hang không có cửa đóng như tạo cho con người đứng trước cửa hang như t́m thấy một chốn chú thân đồng thời không có ǵ kiềm tỏa. Phải chăng đó chính là niềm an lạc mà tranh hang động của Courbet tạo cho người xem tranh? Tranh Gustave Courbet thường có một tiêu điểm, focal point, đó là một khoảng mầu đen đặt gần trung tâm khung vải. Tiêu điểm này trong bức La Source de la Loue, năm 1864 là cửa động. Trên phụ bản 6, người xem tranh thấy một ḍng nước từ trong hang chẩy ra ngoài hơi xiên về mé phải. Ngược ḍng nước người xem tranh nh́n vào ḷng hang. Mờ mờ hiện giữa ḷng hang có một cột đá chia ḷng hang làm hai phần. Bóng cột đá cũng hiện mờ mờ trên mặt nước, cũng chia ḍng nước thành hai. Vách đá cùng mặt nước cùng một mầu đen: giữa vách đá và ḍng nước có một sự phân biệt không có ǵ để tách biệt. Người xem tranh vẫn biết đâu là nước và đâu là đá. Đó là cái khác biệt giữa mầu đen và mầu đen trên khắp tiêu điểm bức tranh. Ḍng nước, cũng cùng mầu đen với vách đá, từ ḷng hang chẩy ra, trong tranh Gustave Courbet, như tạo ra âm thanh trong tai người xem tranh. Trong bài Hang Cắc Cớ, tiếng nước mô tả bằng hai chừ tượng thanh lơm bơm cũng vần với ba chữ hỏm ḥm hom tượng h́nh mô tả cửa hang. Trong bài Động Hương Tích cửa hang vẽ bằng chữ hỏm ḥm hom và tiếng nước mô tả bởi chữ thánh thót. Sang bài Hang Thánh Hóa, cửa hang mô tả bằng chữ ngoàm và tiếng nước đổi thành cảm xúc trên đầu ngón tay: mó lam nham. Phải chăng âm thanh của nước trong ḷng hang tối đen, trong tranh Gustave Courbet cũng như trong thơ Hô Xuân Hương có đặc tính đúng như tả bằng chữ ‘ngoàm’
The ears can hear deeper than eyes can see.

Nhận thấy hai phụ bản 8 và 9 Origine du Monde và tranh của Andre Masson quá hiện thực, vượt khỏi tầm chấp nhận của đa số độc giả, Ban Thường Vụ Truyền Thông xin thay thế bằng bức tranh trên. Xin trân trọng cáo lỗi cùng bạn đọc cùng tác giả bài cảo luận. Bạn đọc nào muốn xem hai bức họa nói trên, xin vào www.google và t́m Coubert Gustave hoặc Origine du Monde.
Trong bóng đêm, con người không những lấy tai nghe thay mắt thấy, mà nhiều khi c̣n lấy tay quờ quạng để ḍ đường. Như vậy phải chăng khoảng mầu đen tiêu điểm trên tranh Gustave Courbet, tượng trưong cửa động và ḍng nước ḷng hang, tương ứng với những chữ tượng h́nh tượng thanh cùng cùng vần trong thơ Hồ Xuân Hương? Phải chăng đó là mối giao duyên giữa thơ Hồ Xuân Hương và tranh Gustave Courbet? Tiếng nước là ngôn ngữ của nước. Như thơ Paul Eluard:
Je tiens le flot de la riviere comme un violon.
Gaston Bachelard dùng tiếng nước làm kết luận cuốn LEau et les Rêves. Ôm kết
[...] la cascade fracasse ou le ruisseau balbute.Limagination est un bruiteur, elle doit amplifier ou assourdir. Une fois limagination maitresse des correspondances dynamiques, les images parlent vraiment. On comprendra cette correspondance des images et des sons, si lon médite ces vers subtils où une jeune fille, penchée sur le ruisseau, sent passer dans ses traits la beauté [...] la cascade fracasse ouAnd Beauty born of murmuring sound
Shall pass into her face.
Three years she grew.
Phải chăng, đúng như lời Gaston Bachelard, từ tiếng nước trong tranh của Gustave Courbet và trong thơ Hồ Xuân Hương đă nẩy ra cái đẹp của nữ tính trong tưởng tượng của người xem tranh và người đọc thơ?
Bài thơ hang động phổ thông nhất của Hồ Xuân Hương là bài:
Đèo Ba Dội
Một đèo một đèo lại một đèo
Khen ai khép tạc cảnh cheo leo
Cửa son đẻ loét tùm hum nóc
Ḥn đá xanh ŕ lún phún rêu
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc
Đầm d́a lá liễu giọt sương gieo
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn chèo.
Bài thơ đặc biệt v́ tác giả phá luật thơ trong câu mở đầu. Theo luật bằng trắc thơ bẩy chữ, chữ thứ hai và chữ thứ sáu phải cùng một vần bằng hay cùng một vần trắc. Trong bài Đèo Ba Dội này chữ thứ hai vần bằng và chữ thứ sáu là vần trắc. Trong một câu bẩy chữ tác giả nhắc lại ba lần chữ đèo, để vẽ lên ba cái đèo liên tiếp nối nhau. Đọc câu thơ thất luật mà người đọc như thấy hơi thở nhẹ nhàng hơn khi người thơ thong thả xuống hết cái đèo thứ ba. Người đọc thơ liên tưởng tới một bài thơ của Ludwig Tieck một nhà thơ người Đức mà mà Albert Béguin dịch sang tiếng Pháp như sau:
Au loin, cachée dans les buissons
Se trouve une grotte depuis longtemps oubliée
A peine peut-on encore en reconnaitre la porte
Tant elle est profondément ensevelie dans le lièvre
De rouge oeillets sauvages la masquent
A lintérieur des sons légers éA
Parfois deviennent violents puis sé’évanouissent
En une douce musique...
Ou comme des animaux prisonniers
gémissent doucement
C’est la grotte magique de l’enfance
Quil soit permis au poèQu’il soit permis au poète
Đối chiếu thơ của Ludwig Tieck với thơ Hồ Xuân Hương, cho thấy dường như Ludwig Tieck viết bài thơ trên khi đă xuống hết cái đèo thứ ba, và đứng đối diện với cửa hang. Câu thơ Hồ Xuân Hương:
Cửa son đỏ loét tùm hum nóc
Ḥn đá xanh ŕ lún phún rêu
tương ứng với những đóa oeillets che kín lối vào động trong thơ Ludwig Tieck. Tiếp tới câu:
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc
Dường như tương ứng với tiếng nhạc trong ḷng động vang trong tai Ludwig Tieck.
Tới hai câu kết:
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.
tạm hoăn xét ư ngoài lời trong thơ Hồ Xuân Hương, dường như Lidwig Tieck đă cho biết tại sao người quân tử dầu mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo. Bởi theo Lidwig Tieck trở về với động là trở về với mẹ.
Theo Saintyves, hang động c̣n là h́nh ảnh cái dạ con của muôn vật. Câu 13 và câu 18 trong Bài Ca của Ông Mô Sê, Sách Đệ Nhị Luật đoạn 32 chép:
13Người cho nó nếm mật ong chẩy từ hốc đá,
Nếm dầu từ tảng đá hoa cương
..............................................................
18 Núi đá sinh ra ngươi ngươi lại coi thường.
Núi đá tượng trưng Thiên Chúa trong câu Kinh Thánh trên đây.
Trong văn học, thông thường, trần động tiêu biểu cho trời tṛn, mặt động tiêu biểu cho đất vuông. Trong ḷng động là chỗ ánh sáng ḥa cùng bóng tối. Ánh sáng này tựa như ánh sáng trong những giấc mơ. Ánh sáng này in bóng cảnh vật trên vách đá tạo ra những h́nh ảnh tựa như h́nh ảnh trong mơ. Những h́nh ảnh đó dường như những h́nh ảnh trong những giấc mơ từ nhiều kiếp trước như trong thơ Baudelaire:Et que leur grands pillier droits et
majestueux,
Rendraient pareils, le soir, aux grottes
basaltiques,
La Vie Antérieure
Những h́nh ảnh đó, có thể có những ư ngoài lời như trong bài Đèo Ba Dội của Hồ Xuân Hương. Diễn tả ư ngoài lời trong bài đó không ǵ hơn là bức tranh LOrigine du Monde của Gustave Courbet (xem phụ bản 8) hoàn tất vào năm 1886. Để thấy rơ tương quan giữa Đèo Ba Dội của Hồ Xuân Hương và LOrigine du Monde của Gustave Courbet, thiết tưởng cần trở lại cái nh́n vào hang theo quan diểm của Gaston Bachelard. Ông tự đặt câu hỏi và bức tranh
Comment ce simple trou noir peut-il donner une image valable pour un regard profond? Il y faut une masse de rêveries terrestres; une méditation du noir en profondeur du noir sans substance, ou du moins sans autre substance que sa profondeur.
Ông trích lời Guillaume Apollinaire viết về tranh Picasso:
[...]ses lumières lourdes et basses comme celles des grottes. [...] Picasso sest habitué à limmense lumières lourdes et
Les Peintres Cubistes.
Trong bức LOrigine du Monde, Gustave Courbet vẽ một phụ nữ khỏa thân, nhưng chỉ có một khúc từ ngang ngực tới ngang đùi. Đúng như câu đầu bài ĐèTrong bức L’Origine
Một đèo một đèo lại một đèo
Cũng như trong bức tranh La Source de La Loue, tiêu điểm của bức lOrigine du Monde là một khung tam giác một mầu đen tuyền, tương ứng với hai câu của Hồ Xuân Hươiểm
Cửa son đỏ loét tùm hum nóc
Ḥn đá xanh ŕ lún phún rêu.
Trong tranh LOrigine du Monde, Gustave Courbet không dùng mầu son đỏ, nhưng ông dùng mầu son đỏ hiện thực để vẽ quả lựu trong bức Tĩnh Vật vẽ vào năm 1871-72. Hai câu tiếp, tả về tiếng gió và tiếng nước, cũng cùng một mạch thơ với các bài thơ vịnh hang động xét trên đây. Hai câTrong tranh
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.
Cả ư trong lời thơ và ư ngoài lời thơ phù hợp với đầu đề bức tranh: l’Origine du Monde.
Giới phê b́nh hội họa đồng ư là Gustave Courbet vẽ bức tranh LOrigine du Monde theo ư của Khalil Bey, một nhà ngoại giao người Thổ Nhĩ Kỳ, ưa thích sưu tầm tác phẩm hội họa. Bức tranh sau đó truyền qua tay nhiều người, có một thời gian bức tranh xuất hiện tại Budapest, thủ đô nước Hung Gia Lợi; vào thập niên 50 nhà phân tâm học Jacques Lacan là Gustave Courbet vẽ bức tranh L’Origine
Ông không treo tại nhà riêng hay pḥng mạch mà treo tại ngôi nhà nghỉ mát, sau khi ông nhờ họa sĩ André Masson (xem Phụ Bản 9) vẽ một bức tranh khác đễ treo trùm lên bức của Gustave Courbet. Từ năm 1995 bức tranh này triển lăm tại bảo tàng viện dOrsay, Paris để cho đại chúng chiêm ngưỡng. Tiểu sử bức tranh đă được viết thành truyện và quay thành phim do Arte-Vidéo phát hành. Nội dung bức lOrigine du Monde ngày nay vẫn c̣n là một đầu đề cho giới phân tâm học nghiên cứu. Neil Hetz đối chiếu nội dung bức tranh, đặc biệt là tiêu điểm mầu đen trong tranh với một đoạn văn trong cuốn LÉducation Sentimentale, xuất bản năm 1869 của Gustave Flaubert (1821-1880).Truyện này dường như tự truyện của Gustave Flaubert,. Tác giả kể lại truyện Fédéric Moreau, vai chính trong tiểu thuyết, lần đầu nắm tay cô bạn già mà chàng đang say mê. Rời bước khỏi căn nhà cô bạn Fédéric Moreau lang thang trên đường phố Paris, trong bóng chiều. Chàng ngừng bước trên cầu Pont-Neuf, nh́n xuống ḍng sông Seine. Những h́nh ảnh lọt vào mắt Fédéric Monreau là nội dung trong đọan trích dẫn dưới đây:
Les réverbères brillaient en deux lignes droites, indéfiniment, et de longues flammes rouges vacillaient dans la profondeur de leau. Elle était de couleur ardoise, tandis que le ciel , plus clai, semblait soutenu par les grandes masses dombre qui se levait de chaque côté du fleuve. Des édifices, que lon apercevait pas, faisaient le redoublements dobscurité. Un brouillard lumineux flottait au delà, sur les toits; tous les bruits se fondaient en un seul bourdonnement; un vent léfiniment, et
Theo Neil Hertz, Gustave Flaubert viết trong đoạn này hệt như Gustave Courbet vẽ. Câu Des édéfices, que lon apercevait pas, faisaient des redoublements dobscurité tương ứng với khối mầu đen trên tiêu điểm bức tranh Coubet vẽ hang động. Hàng cao ốc mà người ta không nh́n thấy, mà vẫn biết là hàng cao ốc ở chỗ đó, đó là cái làm bóng tối tăng gấp bội. Và mọi tiếng động như quến quyện vào nhau, tạo ra một tiếng ŕ rầm duy nhất. Thị giác thính giác cùng bị thu nhỏ lại để tạo ra cảnh đơn độc của người trong truyện Bút pháp của Gustave Flaubert đáng sánh cùng nét bút vẽ mầu đen trong mầu đen, cái phân biệt không khác biệt của Gustave Courbet. Ngoài ra cuồng mộng của Féderic Moreau với người bạn già là tiêu biểu cho cuồng mộng của người nghệ sĩ t́m về Gốc Gác Nhân Gian, lOrigine du Monde. Nhắc lại bố cục bức lOrigine du Monde, Gustave Courbet đóng khung bức tranh từ ngang ngực tới ngang đùi người trong tranh, đặt khối tam giác mầu đen trên tiêu điểm của bức tranh. Tiêu điểm này thu hút cái nh́n của người xem tranh bất kỳ đứng từ mọi vị trí trước bức tranh và làm lu mờ cặp vú người trong tranh kín hở dưới lớp chăn đơn mầu trắng. Bố cục này giống hệt hai câu đầu bài Đèo Ba Dội của Hồ Xuân Hương: xuống hết đèo thứ nhất, đèo thứ hai, rồi xuống hết đèo thứ ba người xuống đèo đối mặt với cửa hang. Đó là mối giao duyên giữa bút thơ của Hồ Xuân Hương và bút vẽ của Gustave Courbet. Đọc thơ và xem tranh, người thưởng ngoạn thấy như animus của Hồ Xuân Hương giao ḥa cù ‘Des édéfices, que l’on apercevait pas, faisaient des.
Xuân Hương đồng nhất với anima của người trong tranh. Đèo Ba Dội trở thành biểu tượng của Gốc Gác Nhân Gian, l’Origine du Monde.
Dùng h́nh ảnh thiên nhiên biểu thị nữ tính không phải là tiếng thơ riêng của Hồ Xuân Hương. Dường như đó là ngôn ngữ đă có từ ngàn xưa: Lăo Tử đă dùng những h́nh ảnh đó để viết nhiều chương trong sách Đạo Đức Kinh. Chương VI Đạo Đức Kinh chép:
Cốc thần bất tử thị vị huyền tẫn
Huyền tẫn chi môn thị vị thiên địa căn.
Nghiêm Toản dịch là:
Thần hang không chết, ấy gọi là Mẹ nhiệm mầu sâu xa
Cửa ngơ Mẹ nhiệm mầu sâu xa ấy gọi là gốc rễ trời đất.
Tổng b́nh chương này Nghiêm Toản viết:
Ḷng hang trống rỗng không h́nh không tượng, dài lâu vĩnh viễn, không bao giờ chết [...] Đạo cũng như thế [...] v́ thế gọi là Mẹ nhiệm mầu. Mẹ nhiệm mầu là gốc rễ của trời đất, mọi vật đều từ đấy mà ra.
Nhà hán học Max Kaltenmark dịch sang tiếng Pháp:
La divinité du val ne meurt pas: c’est la femelle obscure
La porte de la Femme Obscure, voilà l’origine du Ciel et de la Terre.
Max Kaltenmark giảng:
Le sens du chapitre 6 [...] suggère lidée que le Tao est une puissance maternelle, une matrice doù est issu le monde visible [...]. Il est normal que, dans une telle conception de lunivers, la catégorie de sexe joue un rôle prére
Francois Houang và Pierre Leyris, hai dịch giả Đạo Đức Kinh sang tiếng Pháp, dịch hai chữ thần cốc dich là LEsprit du Val, và chú thích thêm: et le ruisseau qui y coule, làm người đọc thơ liên tưởng tới câ L’Esprit du Val,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chẩy ra.
R.L.Wing dịch sang tiếng Anh:
The mystery of the valley is immortal;
It is known as the Subtle Female.
The gate way of the the Subtle female
Is the source of Heven and Earth.
R.L. Wing chú thích:
Lao Tzu refers to the Tao as the Subtle Female because the Tao refects characteritics that Lao Tzu viewed as archetypically feminine . [...] Lao Tzu used the image of the valley as a metaphor for the human perception of reality. The boundaries of the valley obscure the view of the source of creation beyond: the Absolute. The '‘gate way’' leads from the source of creation into the valley where its actions become visible in worldly affairs.
Đạo Đức Kinh là một cuốn sách nhỏ chỉ gồm có năm ngàn chữ, đến nay có cả hàng ngàn pho sách chú giải, hàng trăm bản dịch sang chữ Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, v.v... số sách dịch xuất bản nhiều năm đứng hàng thứ hai sau cuốn Kinh Thánh đạo Chúa Kitô. Qua trích dẫn chương 6 Đạo Đức Kinh trên đây, ngôn ngữ dùng h́nh ảnh cái hang rỗng Lăo Tử dùng để mô tả gốc trời đất dường như không xa ngôn ngữ của Hồ Xuân Hương trong những bài thơ vịnh hang động cũng như nét vẽ của Gustave Courbet trong nhưng bức trang mang cùng một đề tài. Tuy nhiên trong bài Đèo Ba Dội và bức lOrigine du Monde, bút thơ Hồ Xuân Hương cũng như bút vẽ Gustave Courbet đă vượt quá sự chấp nhận của người đương thời. Lời họa sư Wassily Kandinsky mô tả phương cách sáng tác của nghệ sĩ, trích dẫn dưới đây, có thể giúp người đọc dễ bề nh́n ra mối giao duyên giữa thơ Hồ Xuân Hương và tranh Gustave Courbet, trong ngôn ngữ dùng h́nh ảnh, vượt thời gian và phi khôức l’Origine du Monde, bút
Lartiste doit être aveugle vis-à-vis de la forme reconnue ou non reconnue, sourd aux enseignements et aux déL’artiste doit être aveugle
Son oeil doit être dirigé vers sa vie intérieure et son oreille tendue vers la voix de la nécessité intérieure. Il pourra alors se servir de tous les moyens autorisés et tous aussi facilement de ceux qui sont interdits.
Cest lằ la seule voie pour exprimer le Mystique néC’est
Tous les moyens sont sacrés sils sont intérieurement nés
Tous les moyens sont péchés sils ne découlent pas de la source de la nécessité intés
Điểm tương đồng khác giữa thơ Hồ Xuân Hương và tranh Gustave Courbet là điểm thơ Hô Xuân Hương, đặc biệt là bào Ba Dội thường bị coi là loại thơ lời thanh ư tục và tranh Gustave Courbet bị loại vào hàng tranh khiêu dâm, pornographic, nhất là bức lOrigine du Monde. Việc sắp loại như vậy dường như khó chấp nhận được nếu coi tự do sáng tác của người nghệ sĩ là thiêng liêng như lời Wassily Kandinsky. Câu truyện này liên quan chặt chẽ với phong trào tranh đấu giành Nữ Quyền, trong phạm vi chống các vụ tŕnh diễn có tính cách khiêu dâm và tự do sáng tác và tŕnh diễn của nghệ sĩ bức
Họa sư Wassily Kandinsky viết đoạn trích dẫn trên đây năm 1954, cho tới nay tại đất Bắc Mỹ này, tự do tŕnh diễn của nghệ sĩ cũng có phần suy thoái, xét riêng trên mặt luật pháp. Theo Jean-Francois Grandreault-DesBiens, th́ từ sau thế chiến
thứ hai các phong trào đ̣i b́nh quyền của các sắc dân từ trước vốn bị khai thác và áp bức bùng nổ mạnh. Công cuộc tranh đấu cho nữ quyền, có từ trước đó hơn nửa thế kỷ cũng nhân đó phát triển gấp bội. Tương quan giữa phái nam với phái nữ hoàn toàn thay đổi. Theo Kate Millett th́ Ềđời sống riêng tư biến thành một vấn đề chính trịỂ. Trong tất cả mọi phong trào tranh đấu cho công b́nh xă hội, phong trào tranh đấu cho nữ quyền là phong trào lớn rộng và kéo dài lâu nhất. Phong trào cải cách tập tục này dường như thay đổi hẳn nếp sống người Anh, Mỹ vốn theo kiểu mẫu thời nữ hoàng Victoria. Việc tŕnh diễn mang sắc tính không c̣n là một điều cấm kỵ. Bộ mặt nghệ thuật và văn hóa dân gian cũng theo đó thay đổi. Được đông đảo quần chúng đón nhận, những h́nh ảnh sắc tính tràn ngập khắp nơi, kể cả những sản phẩm khiêu dâm cũng nhân phong trào tự do đó mà tràn lan trên mọi lănh vực. Đến thập niên bẩy mươi giới lănh đạo phong trào tranh đấu cho nữ quyền, đặt lại vấn đề cải cách dục tính. Cuộc cải cách này đă không mang lại cho phái nữ những thành quả mong muốn: người đàn bà trước đó vẫn là và tiếp tục vẫn là đối vật để khơi dục cho phái nam. Họ kết tội việc tŕnh diễn nghệ thuật mang h́nh ảnh sắc tính đă đặt người đàn bà vào vị trí tùy thuộc trong xă hội. Susa Brownmiller chủ trương rằng những đặc phẩm khiêu dâm là những ḍng tuyên truyền gây thù hận chống đàn bà và đưa tới những vụ hiếp dâm. Robin Morgan đưa ra công thức: khiêu dâm là lư thuyết, hiếp dâm là thực hành. Tự do diễn đạt, trước đó là một công cụ trong các phong trào giành b́nh quyền, nay trở thành khí giới đàn áp phụ nữ. Phong trào Nữ Quyền đặt lại vấn đề tự do diễn đạt trên mặt pháp luật và tích cực đ̣i đặt ra việc kiểm duyệt mọi tŕnh diễn mang sắc tính. Luật gia Catharine MacKinnonn khởi xướng phong trào chống khiêu dâm và cùng
Andrea Dworkin chủ trương việc kiểm duyệt mọi tŕnh diễn mang sắc tính. Từ đó đến nay đă có hàng trăm chuyên luận trong các sách báo luật học viết về vấn đề này. Trong cuộc tranh luận sôi nổi này
bức tranh lOrigine du Monde của Gustave Courbet thường
được nhắc nhở tới như một thí
dụ sống động. Emily Jackson, đứng trên
lập trường coi một sản phẩm nghệ
thuật có thể cùng lúc mang nhiều ư nghiă khác nhau
đă đặt câu hỏi về nhận xéy bức tranh l’Origine du Monde của Gustave Courbet thường
Peut être cette toile dit-elle en effet que les femmes peuvent être réduites à leurs organes sexuels. Mais sagit-il dun commentaire sur la société qui procède à cette ré leurs organes sexuels. Mais s’agit-il d’un
Tương quan giữa khiêu dâm và hiếp dâm cũng là một lập luận khó đứng vững khi người có trách nhiệm làm luật nh́n sang các quốc gia như như Afghanistan của phe taliban, sang Iran, hoặc Arabie Saoudite, những quốc gia triệt để chống mọi h́nh thức khiêu dâm, chống mọi tŕnh diễn mang sắc tính, nạn bất công giữa phái nam và phái nữ cũng như việc bạo hành với phái nữ, tại các nước đó rơ là trầm trọng hơn tại Bắc Mỹ. Riêng về việc tŕnh diễn mang sắc tính, phe MacKinnon đă gặp hai điểm khó giải quyết. Điểm thứ nhất là phe này từ chối không xét tới tính cách nhiều nghĩa, polysémie, của những h́nh ảnh, mà theo họ đều là những h́nh ảnh đáng bị kiểm duyệt. Điểm thứ hai là khái niệm về khiêu dâm vô cùng mơ hồ, và là một vấn đề mở rộng cho nhiều cuộc bàn căi hiện c̣n đang tiếp diễn. Câu truyện luật pháp tạm ngưng tại đây.Trở lại thơ Hồ Xuân Hương và tranh Gustave Courbet, bảo rằng thơ tục hay thơ thanh, bảo rằng tranh khiêu dâm hay không khiêu dâm, tất cả đều do người đọc thơ hay người xem tranh nhận định. Trên thực tế vẫn c̣n nhiều người đọc thơ Hồ Xuân Hương và c̣n đông người sắp hàng vào viện bảo tàng xem tranh Gustave Courbet. Trên địa hạt văn học, câu hỏi là tại sao Hồ Xuân Hương lại chọn bút pháp khác thường như vậy, và tại sao nét họa của Gustave Courbet lại tương đồng với ư thơ của Hồ Xuân Hương. Trả lời câu hỏi này có lẽ không cách ǵ hơn là t́m trong những tác phẩm viết về tương quan giữa nữ quyền và văn học. Văn học, từ Đông sang Tây, xưa kia là một phạm vi dành cho nam giới, v́ phụ nữ ít người được ăn học tới nơi tới chốn. Tuy nhiên vẫn có một số nữ sĩ để lại những tác phẩm giá trị. Ngày nay, tại nhiều đại học Bắc Mỹ, số nữ sinh viên, không phân biệt các phân khoa, đă vượt cao hơn số nam sinh viên. Trong phạm vi văn học, số nữ sĩ tăng rất nhanh trong mọi địa hạt. Từ vài chục năm nay, v́ vậy nẩy ra vấn đề nữ quyền và văn học. Vấn đề này rất rộng lớn, nên trong những trang kế tiếp, cảo luận này thu gọn trong những ư kiến do Marie Cardinal đề ra trong cuốn Autrement Dit, do Grasset xuất bản tại Paris, năm 1977. Những ư kiến này đă mở đường cho nhiều tranh luận kế tiếp. Giới nữ sĩ chối bỏ chữ phái nữ đặt sau các chữ văn học, ngôn từ, và sáng tác. Nữ sĩ Susan Sontag khẳng định:
Dire que mon oeuvre est feminine...je naccepte pas. Cest une limitation, je veux dépasser ces limites, tout en restant complèDire que
Câu trên đây, theo Trịnh Thị Minh Hà, cho thấy rơ địa vị của những nữ sĩ múa bút giữa hàn lâm, vào cuối thiên kỷ thứ hai. Marie Cardinal đưa ra nhận xét: để tránh mọi ngộ nhận, nữ văn thi sĩ thường phải mất công không ngừng giải thích những danh từ nữ sĩ dùng trong tác phẩm. Làm sao ra khỏi t́nh cảnh này, Marie Cardinal từ khước xử dụng một ngữ vựng dành riêng cho phái nữ, và chủ trương trong việc sáng tác, người phụ nữ không cần dè dặt, cứ tự nhiên xử dụng những chữ mà phái nam thường dùng, đọc giả rồi sẽ quen dần. Trịnh Thị Minh Hà nhấn mạnh:
Pour éviter un nouvel enfermement dans le ghetto féminin, il est important dutiliser le même langage sans tenir compte des interdits, sams ladapter, sans le retoucher, et forcer, par cet usage irrespectueux, le lecteur à opéminin, il est important d’utiliser le même langage
Marie Cardinal phơi bầy sự thiếu hụt ngôn từ để giăi tỏ thực thể của phụ nữ:
Il faut pour cela ‘nous mettre au ras de notre corps, d’exprimer l’inexprimable.’
Trịnh Thị Minh Hà nối lời:
Se mettre au ras du corps dans lécriture, cest, entre autre, toucher du doigt lévidence, la diffé’écriture, c’est, entre autre,
Hồ Xuân Hương, bước vào rừng bút, nơi vốn vắng h́nh bóng phụ nữ, và từ thực cảnh:
[...] Một bên con khóc một bên chồng
Bố cu lổm ngổm ḅ trên bụng
Thằng bé hu hơ khóc dưới hông
Tất cả những là thu với vén
Vội vàng nào những bống cùng bông
[...]
Hồ Xuân Hương làm thơ, thơ Hồ Xuân Hương truyền tụng sâu rộng trong dân gian.
Khéo lợi dụng cách đọc thơ t́m ư ngoài lời của độc giả, Hồ Xuân Hương đưa vào thơ những h́nh ảnh hiện thực liên quan tới nữ tính. Dân gian, nam cũng như nữ, chấp nhận ngôn ngữ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương qua những h́nh ảnh đó. Ngôn ngữ bằng h́nh ảnh không dè dặt này nói lên những thực thể của phụ nữ. Ngôn ngữ này đă khiến thơ Hồ Xuân Hương, khác với thơ bà huyện Thanh Quan, thí dụ như bài Qua Đèo Ngang, bài thơ nếu không giới thiệu th́ khó biết được đó là thơ của một nữ sĩ. Ngôn ngữ này cũng khác hẳn ngôn ngữ trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, dẫu là Ôn Như Hầu viết thay lời một cung nữ. Ngôn ngữ này cũng khác hẳn ngôn ngữ Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn, bằng chữ nho, viết ra lời than của người vợ lính thời loạn, cũng như khác hẳn ngôn ngữ bản dịch nôm của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương rất ít nếu chẳng phải là không dùng điển cố, không cách biệt hẳn với thơ nôm của mọi thi sĩ thơ nôm khác, nếu chỉ xét ư thơ theo lời thơ. Nhưng nếu xét ư ngoài lời th́ thơ của Hồ Xuân Hương không hề qua tay người kiểm duyệt, kể cả tác giả tự kiểm duyệt, dẫu tác giả là người đầu tiên đọc những áng thơ đó. Đúng như lời Trịnh thi Minh Hà nói về ngôn ngữ của những nhà văn nữ hiện thời, ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương, xét theo ư ngoài lời, với những h́nh ảnh sâu kín trên thân thể tác giả, quả đă đạt tới mức khiến độc giả như sờ thấy sự hiển nhiên, sự khác biệt, vượt qua mọi cấm kỵ, thấy rơ đời sống thực không che dấu. Ư ngoài lời thơ Hồ Xuân Hương quả diễn đạt trọn vẹn được những điều thường th́ không ai diễn đạt nổi. Cũng đúng như lời Susan Sontag trích dẫn trên đây, nếu bảo thơ Hồ Xuân Hương là thơ đàn bà, th́ quả là tạo ra một giới hạn giả tạo quanh thơ Hồ Xuân Hương, không có một giới hạn nào bao nổi thơ Hồ Xuân Hương, nhưng đồng thời thơ Hồ Xuân Hương vẫn không ra ngoài sự chừng mực. Trong thơ, Hồ Xuân Hương làm chủ nữ tính của người nữ, đồng thời nh́n nhận sự hiện hữu người nam, mà chẳng hề làm suy giảm tiềm năng nữ tính. Người đọc thơ không khỏi nhớ tới lời Lăo Tử, chương 28 sách Đạo Đức Kinh.
Tri kỳ hùng, thủ kỳ thư, vi thiên hạ khê,
Vi thiên hạ khê thường đức bất ly.
Nghiêm Toản dịch là:
Biết sống giữ mái, làm khe lạch cho thiên hạ.
Làm khe lạch cho thiên hạ đức hằng không
Francois Houang et Pierre Leyris dịch sang tiếng Pháp:
Connais en toi le masculin
Adhère au féminin
Fais-toi Ravin du monde
Etre Ravin du monde
C’est fait corps avec la Vertu immuable
R.L. Wing dịch sang tiếng Anh:
Known the male, hold to the femal;
become the wirld’s stream.
Be the world’s stream,
the power will never leave.
Trong chương 61, Lăo Tử viết :
tẫn thường dĩ tĩnh thắng mẫu, dĩ tĩnh vi hạ
Nghiêm Toản dịch là:
giống cái thường lấy tĩnh thắng giống đực, lấy tĩnh đặt ḿnh chỗ thấp
Francois Huang và Pierre Leyris dịch sang tiếng Pháp:
Le Féminin conquiert dans la passivité
Conquérir en sabaissant dans la passivitrir
R.L. Wing dịch sang tiếng Anh:
The femele always overcomes the male by stillness.
Through stillness, she makes herself low.
Hai đoạn Đạo Đức Kinh trên đây có nhiều nghĩa, có thể dùng tu thân, có thể dùng làm đường lối ngoại giao giữa một nước mạnh với một nước yếu; cũng như có thể áp dụng cho mối liên lạc giữa các nhà cầm bút phái nữ, vốn làm chủ nữ tính của ḿnh, ở giữa rừng bút mà đại đa số thuộc phái nam. Nghiêm Tỏan b́nh chương 28: biết hùng, tức nam, giữ thư tức nữ, làm khe lạch cho thiên hạ. Khe lạch là h́nh ảnh chỗ trũng, nơi có nước tụ. Làm khe lạch cho quần chúng th́ quần chúng lấy đó làm chỗ quy tụ. Claude Larre một dịch giả Đạo Đức Kinh sang tiếng Pháp b́nh chươg 61 bằng nhận xét Humilité, abaissement volontaire: cest la loi des relations [...]. R.L. Wing tóm tắt chương 61 ngắn gọn trong năt ‘Humilité, abaissement volontaire: c’est la loi
Phải chăng trong thơ truyền tụng tới nay, Hồ Xuân Hương dường như thực hiện đúng lời Lăo Tử: một ḿnh một bút giữa chốn hàn lâm, nữ sĩ lấy ḿnh làm khe lạch cho thiên hạ, khiến người người ai đọc thơ Hồ Xuân Hương cũng đều tụ về với Hồ Xuân Hương? Phải chăng v́ vậy người ḿnh có đông người thuộc thơ Hồ Xuân Hương hơn thơ của mọi tác giả chữ nôm khác? Theo Michael Fried, đường nét và mầu sắc trong tranh Gustave Courbet tạo nên h́nh ảnh nữ tính nh́n theo nhăn quan của họa sĩ. Nhăn quan này, như tŕnh bầy trên đây có nhiều điểm tương ứng với h́nh ảnh trong thơ của Hồ Xuân Hương. Đặc biệt là bức lOrigine du Monde, cùng những bức tranh vẽ hang động, có những chủ đề ít từng thấy trong lịch sử hội họa. Nét vẽ Gustave Courbet cũng như h́nh ảnh trong thơ Hồ Xuân Hương, vượt ra ngoài những điều cấm kỵ thông thường, ở ngoài giới hạn của mọi sự kiểm duyệt. Bức tranh này không phải là một bức tranh khiêu dâm, cũng không phải là một bức minh họa trong các cuốn sách về phụ khoa. Ư nghĩa bức tranh, mượn lời Trịnh thị Minh Hà, giúp người xem tranh nhận ra thực thể của gốc gác nhân gian cũng như Lăo tử ngoài hai ngàn năm trăm năm về trước mượn h́nh ảnh hang động để tượng trưng Mẹ Thiên Hạ và lấy cửa hang làm Gốc Gác Thiên Hạ. Phải chăng đó chỉ là một sự trùng hợp hay phải chăng đó chính là chủ ư người đặt tên cho bức tranh của Gustave Courbet mô tả Đèo Ba Dội trong thơ Hồ Xuân Hương là gốc của nhâ bức l’Origine l'Origine Monde, cùng
Có một bài thơ của Hồ Xuân Hương bứt ra ngoài ḍng tranh hiện thực của Gustave Courbet. Đó là bài:
Đánh Đu
Bốn cột khen ai khéo khéo trồng
Người th́ lên đánh kẻ ngồi trông
Trai đu gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa ḷng
Bón mảnh quần hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song
Chơi xuân đă biết xuân chăng tá
Cọc đă nhổ rồi lỗ bỏ không.
Đặc điểm của bài thơ là cái động trong cái tĩnh của cảnh thơ. H́nh ảnh cặp trai gái đánh đu Hồ Xuân Hương ghi lại trong thơ là h́nh ảnh cái đu đă lên tới điểm cao nhất trên qũy đạo: cặp trai gái dường như nằm ngang so với mặt đất. Cái đu lên tới điểm đó, không c̣n vận tốc. Động năng triệt tiêu, và thế năng cực đại. Đó là khởi điểm thế năng bắt đầu giảm đổi thành động năng đưa cái đu sang vị trí cao nhất bên phía bên kia cái đu. Hồ Xuân Hương để người đọc thơ tưởng tượng cảnh cái đu tới vị trí đối xứng, lúc đó hai câu thư ba và thứ tư đổi thành:
Gái đu gối hạc khom khom cật
Trai uốn lưng ong ngửa ngửa ḷng.
Vị trí của gái sẽ đổi thành vị trí của trai, vị trí của trai đổi thành vị trí của gái. Sự hoán đổi vị trí này dường như khiến người đọc thơ trở lại với quan hệ nam-nữ trong đời sống hàng ngày hiện nay. Ngày nay, trong nhiều gia đ́nh, không phải chỉ có riêng người chồng giữ việc kiếm sống cho gia đ́nh, người vợ nhiều khi cũng có công ăn việc làm hay sự nghiệp riêng. Danh từ việc nội trợ mất nghĩa: việc trong nhà không c̣n là một công việc phụ trợ. Việc trong nhà không c̣n là việc riêng của người vợ mà là việc người chồng phải chia xẻ cùng người vợ như người vợ chia xẻ việc kiếm sống với người chồng. Phải chăng h́nh ảnh cặp trai gái hoán đổi vị trí trên cây đu để cùng chung hướng thú chơi xuân là h́nh ảnh tiêu biểu cho việc chung sống giữa vợ chồng khi cả hai cùng nhau lo kiếm sống cùng nhau lo việc nhà? Quan điểm này khác xa với h́nh ảnh người đàn ông thời đồ đá, tay cầm ŕu đá tay kéo con thú về hang nuôi gia đ́nh. Quan điểm này dường như gần gận với quan điểm của nữ sĩ Michèle Aumont, tŕnh bầy tron tác phẩm LAventure Hommes-Femmes à la croisée des chemins, xuất bản tại Paris năm 1992. Michèle Aumont đi ngược lại quan điểm nữ quyền của Simonne de Beauvoir, tác giả cuốn Le Deuxième Sexe, một tác phẩm chỉ hướng cho phong trào nữ quyền từ năm 1974; Michèle Aumont cũng chống lại nhiều điểm Elisabeth Badinter khẳng định, trong cuốn LUn est LAutre, xuất bản năm 1986, về tính bổ xung, complementarité, giữa hai phái nam nữ và cần có một cuộc cách mạng về phong tục mới mong xóa bỏ nổi mọi phân cách nam nữ do xă hội tạo nên. Theo Michèle Aumont, loài người phân làm hai phái nam và nữ, phái nọ không phải chỉ riêng bổ túc cho phái kia, mà thực ra là phái nọ bất ly với phái kia. Không có cuộc cách mạng xă hội nào xóa bỏ nổi cách biệt giữ phái nam và phái nữ, nếu không phải là sự cảnh tỉnh của mỗi cá nhân, đặt trên t́nh yêc
Điều Hồ Xuân Hương muốn nói với người đọc thơ ngày nay qua h́nh ảnh đánh đu phải chăng là câu truyện t́m ra một nếp sinh hoạt trong gia đ́nh để cuộc chung sống vui như ngày hội xuân. H́nh ảnh này phải chăng gần gận với quan điểm của Michèle Aumont?
Sách Tham Khảo
Gaston Bachelard, La Poétique de La Rêverie, Quadrige, Presses Universitaires de France, 4e edition, Paris, 1993
Gaston Bachelard, LEau et Les RêGaston Bachelard, L’Eau et Les Rêves,
Gaston Bachelard, La Terre et les Rêverie du Repos, 12e édition, José Corti, Paris 1982.
Gaston Bachelard, La Poétique de l’’Espace, Quadrige, Presse Universitaire
de France, 5e édition, Paris, 1992.
Michael Fried,Courbet’s Feminity University of Chicago Press, 1990.
Neil Hertz, The End of The Line,Columbia University Press, New York, 1985.
Jack Lindsay,Gustave Courbet:His life and Art, Harper and Row, New York, 1973.
Charles Baudelaire, Les Fleurs du Mal, 2e édition revue, Gallimard, Paris 1996.
Jean-Frabcois Gaudreault-DesBiens, Le Sexe et le Droit, Liber-Yvon Blais, Montreal, Québec, 2001.
Kinh Thánh Trọn Bộ, Ṭa Tổng Giám Mục Thành Phố Hồ Chí Minh, 1998.
Lăo Tử Đạo Đức Kinh, Nghiêm Toản dịch thuật, Cơ sở Xuất Bản Đại Nam tái bản tại Hoa Kỳ
Lao Tseu et Le Taoisme, Max Kaltenmark, Robert Lafont, Paris 1974.
Lao-Tzeu La Voie et sa Vertue, Tao-Tê-king, Francois Houang et Pierre Leyris, Seuil, Paris 1979.
Larre, Desclée de Brouwer Bellamin, Paris 1977.
The Tao of Power, R.L.Wing, Doubleday & Compagny, Inc, New York 1986.
Wassily Kadinsky, Du Spirituel dans l’art et dans la peinture en particulier, Folio Essai, Paris 1989.
Marie Cardinal, Autrement dit, Grasset, Paris 1977.
Trinh Thị Minh Hà, LInnécriture: Féminisme et Litté, L’Innécriture: Féminisme et Littérature, French Forum,
Simonne de Beauvoir, Le Deuxième Sexe, NRF, Paris 1974.
Elisabeth Badinter, L’un est lỂautre, Odide Jacob, Paris 1986.
Michèle Aumont,LAventure Hommes-Femmes à la croiséle Aumont,L’Aventure Hommes-Femmes à la croisée