Nữ Quyền
Diễm Uyên

Thế kỷ 20 đă đánh dấu một sự chuyển ḿnh của nữ quyền trên thế giới.

Giấc mơ của hàng ngàn phụ nữ từ bao thế kỷ trước đă được thực hiện, nguyên tắc nam nữ b́nh quyền đă được ghi thành luật, mặc dù trên thực-tế, sự đồng-đẳng này chưa thật sự được tất- cả quốc gia kư-ước tôn trọng. Một gặt hái quan trọng của phong trào phụ nữ là đă làm tiến triển một ư thức hệ về nữ giới và nữ quyền. Lần đầu tiên,sự bất b́nh đẳng giới tính đă bị đặt thành vấn đề. Sự lệ thuộc thua kém của người đàn bà vào người đàn ông không phải là một định mệnh cay nghiệt, mà chính là v́ nhân loại từ bao thế kỷ qua đă bị thống trị bởi một chế độ phụ hệ đa quyền. Ngày nay các phong-trào phụ-nữ tuy không c̣n rầm-rộ như trong những thập-niên 60-80, vẫn tiếp-tục nới rộng môi trường hoạt động. Tại nhiều nơi, nhất là ở các nước tân tiến, đời sống người nữ đă được thăng-tiến, quyền lợi của họ ngày càng được ghi nhận, những thành-quả thâu lượm ngày nay là công-tŕnh của những năm dài tranh-đấu. Người phụ-nữ từ thế-kỷ 20 đă bước ra khỏi bóng-tối lịch-sử, từ địa-vị khán giả thầm-lặng nhưng hết ḷng tận-tụy, nữ giới đă biến dạng thành những diễn-viên đầy nhiệt-tâm trong mọi lănh-vực: xă-hội, văn-hóa, kinh-tế, chính-trị. Những tập-đoàn phụ-nữ đă biết cải-tiếán chương-tŕnh hoạt-động khiến cho các sinh-hoạt của họ được đa-dạng và hữu hiệu hơn. Những tổ-chức phụ-nữ quốc-tế đă phá vỡ sự cô-lập của người đàn-bà ở những quốc-gia chậm-tiến. Tại các xứ này, người phụ-nữ đang mở-mang kiến-thức của họ nhờ những đóng-góp của nền văn-minh nước ngoài; họ dần dần ư-thức được sự bất-công phi-lư mà họ đang là nạn-nhân trong chế-độ phụ-hệ. Nói chung, vấn-đề nữ quyền ngày càng được quan-tâm.

Nhưng ngược lại, cũng trong cùng một thời đại, đời sống của rất nhiều phụ-nữ bị đẩûy lùi. Những tiến-triển gặt-hái được ở một quốc-gia không tự-động lan ảnh-hưởng tốt qua các quốc-gia khác, thế-giới vẫn ở mức đa-diện, dị-biệt. Một số lớn nữ nhân-công trên thế-giới với trào lưu kinh-tế toàn-cầu hóa đang là nạn-nhân của sự bóc-lột lao-động. Do đó sự góp mặt đông-đảo của phụ-nữ trên thị-trường làm việc không phải luôn là dấu-hiệu của sự tiến hóa cải-cách đời sống phụ-nữ. Khoảng-cách giữa giai-cấp giàu nghèo càng nới rộng thêm. Đến ngày hôm nay, tỷ lệ người nghèo ngày càng tăng, và phụ-nữ vẫn là thành-phần nghèo nhất theo thống-kê. Người phụ nữ cũng chiếm đến 2/3 tỉ số người mù chữ trên thế giới. Những tranh-chấp chiến-tranh đă tàn-phá nhiều nơi. Vào những năm 1990 , ở Afghanistan, Bosnie, Tchétchénie, Rwanda và Somalie v.v..., hàng triệu người dân sống trong hoàn cảnh bi-đát. Người phụ-nữ tại các nước này đă phải trả một giá cực-kỳ đắt; họ vừa là cột trụ gia-đ́nh trong hoàn cảnh chiến-tranh vừa bị chà-đạp nhân-phẩm trong những cuộc cưỡng-hiếp tập thể bởi các người lính nước đối-lập mà chua-chát thay, đă không có một quốc-gia nào đă ngăn-chặn được tội-ác này. Tại các nước Đông-Âu, sự biến chuyển đă dẫn đến sự suy-thoái của nữ-phận: tỷ-lệ bạo-hành, tội-ác gia-tăng, nạn măi-dâm phát-triển, t́nh-trạng thất-nghiệp bên nữ-giới lên cao, chính-quyền không bảo-trợ hệ-thống y-tế, giáo-dục. Nữ giới đă bị loại trừ rất nhiều ra khỏi guồng máy lănh-đạo. Tại nhiều quốc gia khác, những hủ tục phong kiến, những lạm dụng tín ngưỡng vẫn gây ra nhiều nạn nhân vô tội. Điển h́nh ở Phi châu và nhiều nước Hồi giáo, hàng triệu em gái đă bị cắt bỏ âm vật bởi ngay chính những người thân của họ trong niềm hy vọng các em sẽ trở thành nhữïng người đàn bà đức hạnh sau này. Và ở Trung quốc, do quan niệm nam tôn nữ ti, hàng trăm ngàn bào thai nữ đă bị giết hại và biết bao bé gái bị ruồng bỏ sau khi chào đời.

Nói tóm lại, thế giới phụ nữ được tiêu biểu bởi những điểm tương đồng và dị biệt. Những điểm khác biệt đă được tóm lược ở trên. Về phần mẫu số chung, ở khắp mọi nơi, người phụ nữ đều mang sứ mệnh thiêng liêng là sinh con và truyền nối nền tảng văn hóa gia đ́nh. Ở khắp mọi nơi, họ đều phải cáng đáng những vai tṛ khó khăn. Giàu hay nghèo, họ đều có cùng những mối bận tâm : sinh hoạt và kinh tế gia đ́nh, sức khoẻ của riêng ḿnh và của những người thân. Tại bất cứ đâu, họ đều sợ hăi và là nạn nhân dễ dàng của những hành vi bạo lực .

Trong thiên niên kỷ thứ ba này, người phụ nữ sẽ càng linh động hóa những sinh hoạt của họ hầu xóa bớt những nét chênh lệch lệ thuộc vào hoàn cảnh từng quốc gia. Họ tiếp tục tranh đấu để nâng cao đời sống nữ giới . Sau đây là vài phần sơ lược về thực tế đương thời của phụ nữ trên vài lănh vực xă hội, chính trị, kinh tế. Đề tài vềnữ giới thật là phong phú,nhưng khuôn khổ báo lại giới hạn, những bài tường tŕnh tới tuy chỉ là tóm lược với nhiều thiếu sót, mong rằng cũng phản ảnh được phần nào chân dung người phụ nữ ở đầu thiên niên kỷ.

XĂ HỘI HẬU NỮ QUYỀN TẠI TÂY PHƯƠNG

Trào lưu nữ quyền mạnh mẽ ở thế kỷ 20 đă như những làn sóng làm luân chuyển cả xă hội Tây phương. Thật vậy,từ khi người đàn bà rời khỏi ngưỡng cửa gia đ́nh, nhiều biến chuyển đă xảy đến khiến bộ mặt xă hội Tây phương đang từ từ thay đổi. Nhiều người cho rằng phong trào nữ lưu đă đưa đến những suy hóa ngày nay. Nhưng đây chỉ là một tầm nh́n phiến diện đầy tiêu cực, v́ song song với phong trào phụ nữ, biết bao yếu tố khác đă gây ảnh hưởng sâu đậm trong cuộc sống ngày nay. Sau đây là vài nét đại cương về một số hiện tượng ghi nhận được trong giai đoạn hậu nữ quyền.

1. Nạn ly dị và những hậu quả.

Một trong những thực tế đáng buồn hiện nay là con số ly dị gia tăng rất nhanh trong các nước kỹ nghệ. Có thể nói một thử thách lớn trong xă hội ngày nay là sống đời với nhau. Hiện tại tỉ số ly dị ở Hoa Kỳ, Québec và nhiều nước châu Âu là 50%. Riêng ở Phần Lan, Thụy Điển, những nước có trào lưu phụ nữ mạnh mẻ, con số này vượt qua 50%. Nhiều yếu tố đưa đến hiện trạng này:

- Nhiều người đàn ông trở nên e dè, ngại ngùng trước một khuôn mặt mới của người phụ nữ mà họ cho rằng quá hung hăn, hiếu thắng, mất đi vẻ nữ tính cố hữu. Trước sự thành công hoặc trước bầu nhiệt huyết sôi nổi của phụ nữ, một số đàn ông trở nên mặc cảm, rụt rè.

- Mặt khác, đời sống vợ chồng, đời sống xă hội ngày nay căng thẳng hơn lúc xưa. Nhất là khi người đàn bà bước chân ra ngoài xă hội, với một thời khóa biểu kép: việc sở và việc nhà.

- Ngày nay người nữ không c̣n lệ thuộc tài chánh vào người chồng nữa. Thành ra những cuộc hôn nhân được bảo vệ bởi lư do tài chánh đă giảm đi.

- Những phong tục xưa với những thành kiến xă hội đă được cởi mở nhiều khiến người ta thấy quyết định ly dị dễ dàng hơn. Số phụ nữ sống trong cảnh độc thân ngày 
nay ngày càng tăng triển.

- Nạn ly dị đưa đến sự hiện hữu ngày càng đông đảo của gia đ́nh đơn-gia-chủ chỉ có cha hoặc mẹ (famille mono-parentale), đa số là phụ nữ giữ quyền nuôi con sau khi ly dị. Ở Hoa Kỳ tổng số familles monoparentales năm 1970 là 13%, vào năm 1985 con số này đă lên 28%. Theo thống kê, người phụ nữ sau khi ly dị có nhiều gánh nặng hơn người đàn ông và nguồn tài chánh của họ giảm đi, c̣n về phía đàn ông th́ ngược lại, lợi tức của họ được tăng lên. Nhưng không phải v́ thế mà người đàn ông không là nạn nhân của sự đổ vở, số nam giới bất măn và buồn khổ v́ phải xa con cũng không ít, họ cho rằng luật pháp hơi thiên vị người đàn bà, hầu như lúc nào phía phụ nữ cũng thắng khi có cuộc tranh kiện giành giữ con.

Ngoài cảnh famille monoparentale, hiện trạng ly dị c̣n dẫn đến sự xuất hiện ngày càng nhiều của hệ thống gia đ́nh tái hợp (famille recomposée): một gia đ́nh đông đảo hơn với những thành viên không cùng máu huyết nhưng ràng buộc bởi sự kết hợp giữa hai người đă qua lần dang dở. Ngày nay số gia đ́nh tái hợp chiếm đến 20% tổng số gia đ́nh. Cảnh gia đ́nh cổ điển với cha mẹ và con cái ngày càng lui đi, nhường chỗ cho những cơ cấu mới, nhiều khi rất phức tạp : cha ghẻ, mẹ ghẻ, con anh, con em, con chúng ta.

Song song với tỷ lệ ly dị gia tăng, tỉ số hôn nhân cũng đă thụt lùi. Từ năm 1965 đến năm 1985, tỉ lệ đám cưới ở Thụy Điển đă giảm đi một nửa, ở Pháp con số này là 35%. Những người yêu nhau hiện nay chung cuộc sống chung, nhưng không ràng buộc bởi pháp lư (union libre) và nếu quyết định đi đến hôn nhân th́ tuổi của cô dâu, chú rể cũng cao hơn xưa.

Nạn phá thai cũng phát triển mạnh mẽ từ nhiều năm nay, con số này đă gia tăng ở khắp nơi, riêng tại Québec, con số này là 30%, đây là một điều khó hiểu v́ những phương pháp ngừa thai ngày nay rất được phổ biến và dễ dàng sử dụng.

Nói tóm lại, cấu trúc gia đ́nh ngày nay đang chịu nhiều biến đổi quan trọng mà nhiều quốc gia Hồi giáo Trung Đông phê b́nh là sự suy thoái của xă hội Tây phương. Nhiều nhà xă hội học đă cho rằng chính người phụ nữ và trào lưu phụ nữ đă là động cơ của những đổi thay này. Theo thống kê, tỉ số ly dị, cảnh sống chung không hôn thú, sự sinh sản ngoài ṿng hôn nhân chiếm đạt tỉ lệ cao ở những nơi mà người phụ nữ được hưởng sự độc lập tài chánh.

2. Thực tế khó khăn của các thanh thiếu niên.

Một thực trạng xă hội đang nẩy sinh ở nhiều nước kỹ nghệ như Hoa Kỳ, Canada và Anh Quốc. Đó là hiện tượng thoái lùi của một số thanh thiếu niên nam trên b́nh diện giáo dục:

- Tỷ lệ bỏ học ngày càng cao bên nam giới.

- Tỷ lệ nam sinh ghi tên trong các trường đại học ngày càng giảm ngược lại với bên nữ giới.

- Sự thất bại trên đường học vấn của các nam sinh đang là một hiện thực không thể chối căi.Nhiều người e ngại rằng nam giới đang từ từ rời khỏi hệ thống giáo dục. Theo tài liệu Indicateur de léducation 2002 ở Québec, th́ hiện nay tỷ lệ nữ sinh tốt nghiệp bậc cao đẳng cao hơn gấp rưỡi tỷ số nam sinh. Ở đại học Montréal, số nữ sinh ghi danh vào mùa thu 2002 đạt đến 60%, tổng số các nữ sinh viên y khoa năm đầu là 80%. Hiện tại chỉ có ở cấp tiến sĩ số đàn ông c̣n trội hơn đàn bà’éducation

- Nhiều thanh thiếu niên mất niềm phấn đấu, có khuynh hướng buông trôi, thờ ơ với tương lai. Rất nhiều người bỏ mộng học lên cao. Nhật báo La Presse ở Montréal đă đưa ra h́nh ảnh mới những đôi uyên ương trẻ hiện nay, người nữ với cấp bằng đại học và người nam hoặc là không có bằng cấp hoặc chỉ ở tŕnh độ cao đẳng (collège). Điều này sẽ ảnh hưởng ǵ ở xă hội tương lai ? Đây là một câu hỏi chưa có câu trả lời. 

Một lần nữa, phong trào nữ quyền bị lên án là nguyên nhân của những khó khăn của thế hệ trẻ nam giới. Nhiều tác giả không ngần ngại cho rằng sự khó khăn mà các nam sinh vấp phải là do môi trường học vấn nhiễm quá nhiều nữ tính (các em nữ sinh được đặc biệt khuyến khích, đại đa số giáo sư ở tiểu học là phụ nữ, diễn văn trong học đường nhiều khi bị ảnh hưởng bởi trào lưu nữ quyền). Đây có lẽ là những lời kết án bất công. Những vấp váp hiện tại của các em nam sinh là một thực tế phức tạp bắt nguồn từ những gốc rễ sâu xa mà các nhà xă hội học đang phải nghiên cứu, ngơ hầu t́m những giải pháp hữu hiệu. Những sự kiện sau đây đáng được lưu tâm và khảo luận, v́ có thể đem lại vài tia sáng cho vấn đề gút mắc này.

Từ những năm 1975 trở đi :

- Học sinh cấp trung học là những đứa con đầu tiên chứng kiến cảnh hôn nhân đổ vỡ của cha mẹ. Sau khi ly dị, đa số phụ nữ giữ trách nhiệm nuôi và giáo dục con. Người cha thường hay biến mất hẳn vài năm sau đó. Sự vắng mặt của người cha đưa đến sự thiếu khuôn mẫu và tinh thần chán nản nơi người con trai. Nhiều nhà tâm lư học đă khẳng định vai tṛ tất yếu của người cha trong khả năng hội nhập xă hội của người con trai.

- Máy móc điện tử bắt đầu xâm nhập vào học đường cùng với những tṛ chơi điện tử. Các nam sinh đă bị lôi cuốn hơn ai hết vào những thú giải trí mới này.

- Phim ảnh có tính cách bạo hành đă xuất hiện ngày càng đông đảo với những anh hùng vai u thịt bắp, tay ôm đầy vũ khí tối tân. Những h́nh ảnh này đă có tác động tiêu cực mạnh mẽ hơn chúng ta tưởng trên các nam sinh?

- Tỷ lệ các nam học sinh làm việc phụ trội gia tăng nhanh chóng, có lẽ để thỏa măn nhu cầu vật chất đông đảo trong xă hội tiêu thụ ngày nay. Và v́ thế sự học đă không c̣n la một ưu tiên cho giới nam sinh?

- Sự thay đổi sau này của hệ thống giáo dục với những lớp học hỗn hợp nam nữ (classe mixte) đă gây bất lợi cho các em trai ngay từ bậc tiểu học. V́ cá tánh của các em trai là hiếu động nghịch ngợm, sự trưởng thành tâm lư thường đến chậm hơn so với phái nữ. Do đó, ngay từ lúc bé, khi phải ganh đua với các em bé gái chăm chỉ chú tâm, th́ các em trai đă đầu hàng chịu thua.

Trong cộng đồng người Việt hải ngoại, t́nh thế có vẻ kém bi quan hơn v́ cha mẹ Việt nam rất chú trọng đến chuyện học hành của con cái.

3. Hiện tượng Super Woman 

Hiện tượng này cũng là một đặc tính của xă hội ngày nay. Phụ nữ ngày nay luôn cố gắng chu toàn mọi lănh vực: làm mẹ, làm vợ, việc làm bên ngoài, việc làm trong nhà. Thời giờ thật giới hạn, nhưng trách nhiệm th́ thật nhiều, lại thêm ư chí hoàn tất một cách hoàn hảo những đ̣i hỏi hàng ngày này. Kết quả là người phụ nữ có thật nhiều áp lực, họ sống với tinh thần căng thẳng, nhiều phụ nữ cũng đă thành công về cả hai mặt: thăng tiến trong sự nghiệp, quán xuyến đảm đang việc nhà, nhưng giá phải trả là họ luôn mỏi mệt, họ dễ dàng là nạn nhân của sự suy kiệt sức lực hoặc suy nhược tinh thần. Nếu họ càng giữ chức vụ cao trong nghề nghiệp th́ họ càng vất vả trong việc dung ḥa việc làm và gia đ́nh. Theo thống kê th́ người đàn bà ngoài công việc ở ngoài xă hội, họ đă đảm trách đến 80% công việc gia đ́nh, dạy dỗ con cái. Sự hợp tác của người đàn ông vào công việc gia đ́nh c̣n rất hạn chế. Tuy cố gắng cật lực, nhiều người phụ nữ vẫn nuôi mặc cảm đă không làm tṛn bổn phận với gia đ́nh. Đây là thực tế chung của rất nhiều phụ nữ ở xă hội hiện đại. Có lẽ v́ thế mà cùng một lúc, hai tác phẩm đă ra đời thuật lại hoàn cảnh sống ngựa chạy tên bay của một số phụ nữ Tây phương. (The Bitch in the house của Cath Hanauer và London Telegraph của Allison Pearson). Hai tác phẩm với 26 nhân chứng khác nhau đều đưa đến một chân dung của người phụ nữ ngày nay: một lực sĩ đương chạy đua với thời gian, đối đầu với mọi thử thách, dễ dàng kiệt lực v́ đă luôn vượt sức ḿnh. Một câu hỏi thách đố sự lựa chọn đang nẩy sinh trong ḷng nhiều thế hệ phụ nữ: Gia đ́nh hay sự nghiệp ? Người phụ nữ nào cũng muốn vun đắp cả hai. Trong một xă hội lư tưởng th́ đây không phải là những phương tŕnh đối lập mà là những yếu tố bổ sung cho nhau làm phong phú đời sống phụ nữ và giúp cho sự thăng tiến của xă hội. Thật ra là xă hội ngày nay luôn cố t́m những giải pháp để làm nhẹ gánh người đàn bà: cải tiến về hệ thống nhà giữ trẻ, kéo dài thời gian nghỉ cho những người mẹ và người cha (congé de maternité, congé de paternitéù). Nhưng dù cho các nhà cầm quyền cố gắng cách nào đi nữa, nếu không có sự hợp tác của người đàn ông, người chồng th́ người phụ nữ sẽ không bao giờ đạt được nguyện vọng của họ: chu toàn cả hai phương diện sự nghiệp và gia đ́nh mà vẫn không tổn hại đến sức khỏe và tinh thần. Ở Gia Nă Đại, thống kê cho rằng người đàn ông đă tham gia nhiều hơn vào công việc nội trợ và săn sóc con cái. Tuy rằng sự góp phần của họ c̣n khiêm nhường nhưng là một bước đầu cần được khích lệ. Những người thanh niên trẻ tham dự vào việc nhà một cách tự nhiên và hăng hái hơn những người ở các thế hệ trước. Riêng về ngư cảnh sống ?ngựa chạy tên bay” của một số cùng một khả năng hay cơ hội thăng tiến, người phụ nữ Việt Nam thường để phần cho chồng. Khi cần họ có thể chấp nhận những công việc lương bổng ít hơn hoặc dưới khả năng của họ hầu có nhiều thời gian chăm sóc gia đ́nh. Họ vẫn c̣n ảnh hưởng truyền thống Việt Nam: đàn ông luôn được khuyến khích trên đường công danh sự nghiệp, người đàn bà tuy góp phần vào việc nâng cao tài chánh gia đ́nh, nhưng hầu như vẫn c̣n độc quyền trong vai tṛ nội tướng.

4. Phụ nữ và thời trang.

Phụ nữ và cách trang sức ngày nay cũng là một điểm đáng được lưu ư. Chúng ta có đang chứng kiến một phong trào thoái lùi của nữ giới: trở lại h́nh ảnh người phụ nữ cổ truyền ?

Trên lư thuyết, đây là một sự kiện khó hiểu. V́ một trong những yêu cầu của phong trào phụ nữ từ thế kỷ qua là xă hội phải nh́n và đánh giá người phụ nữ qua giá trị tinh thần và tài năng của họ chứ không phải trên những đặc tính bề ngoài. Người phụ nữ ở bước đầu đ̣i quyền giải phóng từ chối bị xem như một món trang điểm xinh xắn, họ đ̣i hỏi xă hội phải nh́n họ qua chiều sâu. Vào những năm 1920, khi tác phẩm nổi tiếng La Garconne của Victor Marguerite ra đời, một cuộc cách mạng thời trang đă xuất hiện. Người đàn bà từ bỏ y phục cổ truyền, họ cắt tóc ngắn và khoác lên người bộ âu phục theo kiểu đàn ông. Thông điệp của người phụ nữ qua cách trang phục này thật là rơ rệt: giá trị tinh thần phải được trọng hơn sắùc đẹp bên ngoài. Vào thiên niên kỷ thứ ba, hơn 70 năm tiếp theo thời đại La Garconne, chúng ta đang mục kích điều ngược lại, hơn lúc nào hết ư niệm đẹp đang rất thịnh hành cho tất cả tầng lớp tuổi. Quan niệm bonne fille, phương chỉ nam của các cô gái trẻ ngày xưa đă chuyển qua thành "cho fille". Chưa lúc nào mà người phụ nữ lại phải bận tâm về nhan sắc của ḿnh như thế. Bằng đủ mọi cách các cô, các bà phải đẹp, qua quần áo, qua son phấn qua các cách ăn kiêng cữ ... Đây cũng là một mưu lược được nghiên cứu kỹ lưỡng đánh vào tâm lư thiếu tự tin, xu thời của nữ giới. Các nhà kinh doanh đă khôn ngoan đưa trở lại h́nh ảnh người phụ nữ với sắc đẹp tuyệt hảo thiếu thực tế, họ đang hốt bạc với sự thành công của họ v́ ngay các em bé gái từ chín, mười tuổi đă bắt đầu để ư đến diện mạo và theo đuổi thời trang. H́nh ảnh hoàn mỹ không thực của những người mẫu đă khiến rất nhiều phụ nữ trên thế giới phải nhờ đến những phương pháp giải phẫu thẩm mỹ để tăng vẻ thu hút của ḿnh. H́nh ảnh phụ nữ là đa dạng, tiêu chuẩn đẹp lại đồng dạng, một vẻ đẹp tây phương, bất kỳ chủng tộc, mầu da. V́ thế nên phong trào giải phẫu thẩm mỹ trở nên cực thịnh từ Âu sang Á. Riêng ở Hoa Kỳ, theo thống kê của American Society of Plastic Surgeons, từ năm 1992 số người giải phẫu ngực đă gia tăng rất nhiều. Đặc biệt là ở các thiếu nữ tuổi dưới 18, con số này hầu như tăng lên gấp đôi. Thống kê ở Québec cũng đưa ra cùng một kết luận.

Đây là một mâu thuẫn rất đỗi lớn lao: Người phụ nữ đ̣i hỏi tự do, nhưng họ lại bị, một cách vô t́nh, giam hăm ḿnh vào những quy luật thời trang khắt khe và giả tạo. Trong tinh thần này, họ sẽ không bao giờ đạt được sự b́nh đẳng. Người phụ nữ đ̣i hỏi sự tôn trọng của nam giới, nhưng hơn bất cứ lúc nào, thân thể người phụ nữ được khai thác. H́nh ảnh người phụ nữ hầu như bị lột trần trong những bích chương quảng cáo để bán bất kỳ món hàng ǵ, từ xe hơi, bia rượu, ngay cả đến giầy dép. Một hiện tượng tương tự cũng được thấy qua các nữ ca sĩ, diễn viên điện ảnh ngay cả trong tập đoàn người Việt hải ngoại. Rất nhiều nghệ sĩ gây ấn tượng buổi ban đầu không phải v́ tài nghệ mà là cách trang phục táo bạo. Phải chăng một yếu tố để thành công là phải phô bày thân thể ?
Làm đẹp bằng mọi giá, phô trương thân thể để mưu sinh, để thăng tiến trong việc làm hay điều kiện để chinh phục. Ở địa hạt này, sự quan tâm thái quá về dáng thể của người đàn bà biểu tượng một điều: họ vẫn c̣n lệ thuộc vào nhu cầu của nam giới. Theo lăng kính và ư nghĩa ấy, những nỗ lực giải phóng phụ nữ đă là một thất bại.

PHỤ NỮ VÀ CHÍNH TRỊ

Có thể nói trên phương diện chính trị, sự hiện diện của phái nữ rất là khiêm nhường. Mặc dù sự b́nh đẳng nam nữ trên trường chính trị được coi là một thực tế thiết yếu; mặc dầu tại các nước Tây phương người phụ nữ có vẻ rất hăng hái, họ sẵn sàng vạch trần mọi hành động có khuynh hướng kỳ thị giới tính, nhưng tỉ số ít ỏi của phái nữ trong bộ máy chính quyền, nắm giữ vai tṛ lănh đạo hầu như không thay đổi. Và có nhiều nơi, con số này c̣n bị giảm sút đi trong những năm gần đây. Trước khi đi vào những thí dụ cụ thể, chúng ta có thể đưa ra một nhận định tổng quát: đến ngày nay, chưa có nơi nào trên thế giới có đồng đẳng nam nữ trong lănh vực chính trị. 

- Chỉ có 10 quốc gia trên thế giới có tỉ số phụ nữ trong quốc hội chiếm hơn 1/4.

- Trong đại đa số quốc gia, người phụ nữ không nắm thực quyền.

Đi vào chi tiết :

- Những thay đổi chính trị và kinh tế ở các nước Đông Âu đă làm thụt giảm một cách đáng kể tổng số nữ đại biểu quốc hội vào những năm 90.

Ở Roumanie, vào năm 1983, phụ nữ trong quốc hội chiếm 34,4%. Ngày hôm nay, con số đó rơi xuống 5%, đánh dấu một sự thụt lùi đến 50 năm v́ vào năm 1946, tổng số nữ nghị sĩ ở Roumanie là 5,3%.

- Tại Liên Sô, tỉ lệ phụ nữ trong quốc hội đă rơi từ 13% xuống 9%.

- Vào tháng 1/1997 trên toàn thế giới, tổng số nữ thủ tướng chỉ vỏn vẹn 3 người.

- Ở Birmanie, chế độ quân phiệt đă ngăn cản một người phụ nữ đắc cử thủ tướng đảm nhiệm chức vụ này.

- Tại những nước có phong trào phụ nữ rất mạnh mẽ như Hoa Kỳ và Pháp, tỉ số nữ giới trong quốc hội năm 2000 là 12% và 10,9%. Hoa Kỳ, một nước có vẻ dân chủ và b́nh đẳng đă được xếp hạng 54 trên thế giới về sự đồng đẳng nam nữ. Ở Gia Nă Đại, tỉ số này là 18%.

- Các nước Bắc Âu là những xứ đạt kỷ lục về tổng số đàn bà tham gia vào đại biểu quốc hội. Theo thống kê năm 2000, Thụy Điển đứng hàng đầu với tỉ lệ 42,7%; Đan Mạch 37,4%; Phần Lan 37,6%; Na Uy 36,4% khiến cho Thụy Điển trở thành một nước b́nh đẳng nhất thế giới.

Tại sao có nhiều sự khác biệt như thế ?

Các tác giả đă đưa ra vài nhận xét để giải thích:

- Từ bao nhiêu thế kỷ, bộ máy chính trị ở tất cả quốc gia trên thế giới đều là thuộc quyền của đàn ông. Thêm vào đó, với phong trào phụ nữ, địa hạt chính trị là một trong những chỗ đứng cuối cùng mà người đàn ông c̣n nắm độc quyền. Do đó, sự phản kháng của nam giới về sự đột nhập chính trị của phái nữ tuy kín đáo nhưng rất mạnh mẽ.

- Vai tṛ của người phụ nữ trong quốc hội đối với nhiều tác giả chỉ mang đặc tính tượng trưng hơn là hiệu quả. Người phụ nữ giữ vai tṛ trang điểm trong thời b́nh tại các nước xă hội chủ nghĩa. Sự hiện diện của họ cho mọi người có cái cảm giác đă có một sự cố gắng trong việc giữ cân đối nam nữ trong chính quyền. Nhưng khi có biến động, nhiều nước cần phải có giải pháp hữu hiệu, nhanh chóng, mặc dầu có thể tàn nhẫn, trong những t́nh cảnh như thế người ta không cần vai tṛ thụ động, bù nh́n của người phụ nữ nữa. Đây là cách giải thích tại sao tỉ số phụ nữ trong quốc hội đă giảm sút một cách nhanh chóng tại các nước Đông Âu.

- Tại các nước Bắc Âu (Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch...), sự góp phần quan trọng của phụ nữ trong chính quyền được giải thích một phần bởi sự áp dụng những quy chế ứng cử đặc biệt nhằm khuyến khích và hỗ trợ sự tham gia của phái nữ vào chính quyền. Với tỉ số nữ đại biểu quốc hội là 36,4%, Na Uy được xem là một trong những nước b́nh đẳng nhất thế giới. Nhưng theo một cuộc thăm ḍ trong nước The Scenario 2000 th́ sự hiện diện đông đảo của phụ nữ Na Uy trong chính trị là kết quả của sự rút lui của nam giới ra khỏi lănh vực này. Người đàn ông Na Uy đầu tư vào một địa hạt khác mà họ cho rằng có nhiều lợi tức và quyền vinh hơn, đó là lănh vực kinh tế quốc tế với những đại xí nghiệp đớc “The Scenario

- Một lư do khác giải thích sự hiện diện ít ỏi của phụ nữ trong chính trị là sự e dè của phụ nữ. Chính trị là một thế giới đàn ông đầy tranh chấp và xô xát. Chính nét đặc thù này làm cho nhiều người phụ nữ chùn bước. Ngoài ra, nhiều tác giả đă nhận xét rằng người nữ chính trị gia, nhất là những người nắm quyền thường là nạn nhân của sự phê b́nh bất công. V́ họ không những bị chỉ trích về tài năng, cá tính của họ mà những khía cạnh rất cá nhân cũng bị khai thác như cách trang phục, đời sống gia đ́nh. Một thí dụ điển h́nh, khi Margaret Thacher c̣n nắm quyền ở Anh Quốc, nhiều kư giả đă phê b́nh cách ăn mặc của bà, của chồng bà mặc dầu bà là người lănh đạo có tài.

Nói tóm lại, tại rất nhiều quốc gia trên thế giới, sự đồng đẳng về chính trị, với nhiều lư do khác biệt, vẫn c̣n là một vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng. Tuy nhiên đây là một đề tài được nhiều người chú ư, các giải pháp đang được khảo cứu tại nhiều quốc gia. Tại Pháp vào năm 2001, điều luật Sanction économique được chấp nhận. Theo quy luật này th́ các đảng chính trị phải bảo đảm sự có mặt của một tỉ số tối thiểu nữ ứng cử viên. Những đảng không tôn trọng luật này sẽ bị phạt về tài chính. Tại Québec, phong trào phụ nữ Collectif Fémmimis & Démocratie đang vận động để đạo luật này được chấp thuận. Nhiều người mong mỏi sự có mặt tích cực hơn của phụ nữ vào bộ máy lănh đạo quốc gia v́ họ cho rằng người phụ nữ đem vào trong chính phủ một luồng gió mới, một cách suy nghĩ uyển chuyển và những giải pháp dung ḥa hơn. Có người cho rằng, thế giới sẽ bớt đẫm máu hơn, nếu số người phụ nữ lănh đạo được đông đảo hơn. Tâm tính hiền ḥa, chuộng ḥa b́nh của người phụ nữ do thiên bẩm, hay là kết quả của bao nhiêu thế kỷ đấu tranh mà lúc nào người phụ nữ cũng phải điều đ́nh thương thuyết? Một khi người phụ nữ đă thực sự b́nh đẳng với đàn ông, khi mà họ không c̣n bị g̣ bó với những phong tục của chế độ phụ hệ th́ những đặc tính kiên nhẫn, dịu dàng, xu hướng hiếu ḥa có c̣n tồn tại hay chúng ta sẽ được thấy những người lănh đạo nữ rất tham vọng và hiếu thắng như đàn ông ? Đây là một câu hỏi không có câu trả lời thỏa đáng tức khắc, nhưng trong một nước thật sự dân chủ th́ sự hiện diện đồng đều nam nữ phải là một điều kiện tiên quyết. Thực tế thế giới vẫn c̣n xa lư thuyết.

Hiện tại sự hiện diện của giới lănh đạo nữ chưa đem lại những cải cách quan trọng cho đời sống phụ nữ. Tuy thế ở các nước tự do, đă có nhiều cải tiến xă hội nhằm nâng cao mức sống người phụ nữ.

Ở các nước chậm tiến hay trong xă hội 
Hồi, các nhà cầm quyền nữ đă không thể (hay không dám?) ra các đạo luật nhằm 
xóa bớt mọi bất công. Nhiều người đă phê b́nh rằng, các nhà lănh đạo này đă điều khiển đất nước họ dưới sự quản lư của nam giới. Những thí dụ tiêu biểu: Bà Indra Gandhi, nữ Thủ tướng trong hai nhiệm kỳ tại Ấn Độ, nơi mà nhiều phụ nữ đă bị giết hại nhất bởi những hủ tục. Dưới sự lănh đạo của bà đă không thấy có một sự thay đổi nào cho giới nữ. Ở Pakistan, Benazir Bhutto ngay những tháng đầu nhậm chức thủ tướng đă chấp nhận những đạo luật trừng phạt nạn nhân bị hăm hiếp, cho họ là người gián tiếp gây ra tai nạn và trả tự do cho các can phạm (hung thủ) v́ đây mới chính thực là nạn nhân do những khiêu khích của đàn bà.

Một điều cần được đề cập, tuy rằng số người nữ cầm quyền rất ít ỏi, nhưng tại khắp nơi, Âu Châu và Bắc Mỹ, sự hiện diện của phụ nữ rất đông đảo trong các cơ cấu chính trị, con số tham gia của phụ nữ lên đến 50% trong nhiều đảng chính trị. Và các chính trị gia phái nữ được tượng trưng qua h́nh kim tự tháp (Pyramide), càng ở dưới thấp, ít quyền hành, th́ đại diện phái nữ càng đông. Tuy không nắm quyền, nhưng sự có mặt tích cực của họ cũng mang ít nhiều ảnh hưởng trong chính trị. Quả thật, người phụ nữ ngày càng chú tâm về chính trị. Từ năm 1970 trở đi, người phụ nữ đă chiếm đến 50% tổng số người đi bầu, ở Hoa Kỳ và Thụy Điển tổng số nữ cử tri cao hơn đàn ông, sự lựa chọn của họ có thể lật đổ một mô h́nh chính trị. Do đó các ứng cử viên và các đảng phái chính trị phải lưu tâm và lấy ḷng họ. Đây cũng là một điều an ủi cho nữ giới, bằng cách này cách khác họ đă gieo ảnh hưởng trên địa hạt chính trị.

LAO ĐỘNG NỮ GIỚI

Kể từ năm 1970, sinh hoạt kinh tế của 
phụ nữ đă không ngừng phát triển trên thế giới ngoại trừ ở Phi châu (ở đây, người phụ 
nữ luôn làm việc rất cơ cực, hơn cả đàn ông, họ đảm nhiệm đến 75% công việc đồng áng, chưa kể đến việc nội trợ. Có thể nói, họ là những người cung cấp phần lớn thực phẩm cho xă hội, nhưng kết quả lao động của họ không được kể đến v́ không có lương bổng chính thức). 

Theo thống kê của OCDE (1998) có đến 71% phụ nữ góp mặt trên thị trường lao động ở Hoa Kỳ. Ở Âu Châu, con số trung b́nh của nữ nhân công là 58%, nhưng có điểm dị biệt lớn giữa các nước. Ở Thụy Điển con số này là 76% so với 44% ở Ư và 48% ở Tây Ban Nha. Nhưng tại hai quốc gia này, trong những năm gần đây, phụ nữ đảm nhiệm đến 90% những công việc mới được sáng lập.

Ở khắp mọi nơi, nam giới và nữ giới thường không cáng đáng cùng một công việc, không đảm nhận cùng một trách nhiệm. Người phụ nữ thường tập trung vào những dịch vụ (75% ở Hoa Kỳ, 65% ở Âu Châu) và trong bất kỳ địa hạt nghề nghiệp nào, người phụ nữ cũng ít giữ vai tṛ lănh đạo. Anh Quốc là xứ chiếm tỷ lệ cao nhất ở Âu Châu về tỷ số phụ nữ nắm quyền trong doanh nghiệp 11,2% so với 5,7% ở Pháp quốc và 0,6% ở Ư Đại Lợi (thua cả các nước châu Á với tỷ số 1%).

Các tác giả cho rằng sở dĩ có sự dị biệt này v́ các phụ nữ và ngay cả các nữ sinh bây giờ đều có khuynh hướng chọn những ngành học về văn chương, về luật pháp và tránh né những ngành khoa học kỹ thuật. Nếu đi về ngành khoa học th́ họ thường chọn y học hay sinh vật học hơn là vật lư học và toán học, nhưng chính những ngành kỹ thuật này mới đào tạo nhiều công việc đa dạng và nhiều cơ hội tiến triển. Đây có lẽ cũng là một cách giải thích đơn giản cho một câu hỏi phức tạp.

Ngoài ra, lương bổng của người phụ nữ cũng thấp hơn lương của người đàn ông. Khoảng cách trung b́nh của mức lương nam nữ là 30%. Ở Thụy Điển một nước được coi là rất b́nh đẳng, sự khác biệt này là 15-20%. Tại các nước kỹ nghệ, Nhật Bản giữ khoảng cách lớn nhất về đồng lương nam, nữ. Sự chênh lệch này được cắt nghĩa bằng nhiều sự kiện.

- Những nghề nghiệp có tính cách nữ hóa, lương bị trả thấp hơn là nghề nghiệp nam tính.

- Cùng một việc làm, lao động tay chân hoặc trí óc, người phụ nữ nhận lương thấp hơn đàn ông.

- Trong một xí nghiệp với đại đa số là nữ nhân viên, hệ thống nghiệp đoàn rất yếu.

- Cùng văn bằng chứng chỉ, sự nghiệp người phụ nữ bị giới hạn hơn. Điều này lại rơ ràng hơn khi người phụ nữ có gia đ́nh, con cái. Một người phụ nữ nuôi tham vọng muốn tiến cao trên đường công danh thường phải hy sinh về mặt chồng con.

Ngày nay tại nhiều quốc gia kỹ nghệ, nhiều giải pháp đang được nghiên cứu và thi hành ngơ hầu làm nhẹ bước gánh nặng của người nữ nhân viên. Nhưng đây là một vấn đề nan giải v́ cho đến giờ phút này, người phụ nữ vẫn phải rối trí để cân bằng hai đơn vị gia đ́nh và việc làm.

Cũng cần kể đến phong trào toàn cầu hóa đă tung ra thị thường rất nhiều việc làm với tính cách bấp bênh với giờ giấc thu ngắn lại (travail à temps partiel) hay những việc làm tại gia. Những công việc này rất thích hợp với người phụ nữ v́ họ vừa có thể quán xuyến việc nhà vừa kiếm được tiền. Nhưng trên thực tế, chính những công việc này duy tŕ sự bất b́nh đẳng về việc làm giữa nam giới và nữ giới. Công việc tại gia là một phương cách bóc lột v́ lương rất thấp. Và cả hai h́nh thức làm việc này đều không bảo đảm quyền lợi cho nữ công nhân.

Ngoài ra nạn thất nghiệp cũng chiếm tỷ lệ cao nhất bên giới phu nữ. Đặc biệt ở Đông Đức giới nữ chiếm đến 2/3 tỉ số người thất nghiệp. Nói tóm lại, phụ nữ là lực lượng lao động đáng kể của nhân loại. Nhưng những nỗ lực của họ không được trả giá xứng đáng. Theo thống kê của ONG (Organismes Non Gouvernementaux), nữ giới đang đảm trách 67% tổng số giờ làm việc trên thế giới, nhưng họ chỉ nhận được 10% tổng số lương và chỉ làm chủ 1% gia sản thế giới. Khi nào nhân loại sẽ đạt được mức đồng đẳng nam nữ trên lănh vực kinh tế? Tổ Chức Quốc Tế Lao Động (Orga-nisation Internationale du Travail) ước đoán rằng điều này sẽ được thực hiện vào khoảng... 2470! Nhưng nếu ta chỉ b́nh luận trong phạm vi của xă hội tây phương th́ tương lai của người phụ nữ tại đây được điểm rất nhiều hứa hẹn. V́ hiện tại số nữ sinh tốt nghiệp cấp cao đẳng và đại học trội hơn tỷ lệ nam sinh. Con đường học vấn thường là giấy thông hành dẫn đến sự thành công sau này. Trong ṿng một vài thập niên nữa, nếu khuynh hướng nữ tiến nam lùi trong ngành giáo dục vẫn không thay đổi, chúng ta có thể dự kiến một sự hoán chuyển vô tiền khoáng hậu của xă hội tây phương : nam giới sẽ từ từ nhường bước cho nữ giới vào những bậc thang danh vọng trong lănh vực kinh tế xă hội. 

NỮ PHẬN TẠI VIỆT NAM

Từ ngàn xưa, người phụ nữ Việt Nam luôn là h́nh ảnh đẹp trong thần thoại và trong văn chương nước Việt. Ngay từ thuở khai thiên lập địa, khác với thần thoại một số nước, các vị thần giữ vai tṛ quan trọng trong vũ trụ và sinh hoạt của con người là nam giới, th́ đối với Việt nam đa số là nữ thần (Thần Nữ Oa, Thần Thượng Ngàn, Thần Mẫu Thoại, Quan Âm Nam Hải, Thần Mẫu Thiện). Trên thực tế, qua bao cơn chinh chiến, người phụ nữ Việt Nam đă đương đầu với bao nhiêu cuộc thử thách. Họ đă luôn chứng minh rằng họ quả xứng đáng với những lời ca tụng trong văn chương v́ trong mọi hoàn cảnh họ luôn phát huy được tinh thần hy sinh, bản năng tháo vát, sức chịu đựng và ḷng can đảm vô biên. Trong lịch sử, một trong những người Việt Nam đầu tiên đứng lên khởi nghĩa chống ngoại xâm giành độc lập cho nước nhà là hai người phụ nữ: Trưng Trắc và Trưng Nhị. Cao Bá Quát một bậc tài danh với khí phách hào hùng đă tỏ ḷng kính phục của ông đối với Hai Bà qua hai câu đối :

Túng bất kim đao, thiên khải vận
Ứng vỗ đồng trụ , địa phân cương .

Nghĩa là : 

Nếu không có kim đao do Hai Bà mở vận,
th́ đất nước này đâu có được một cơi bờ riêng.

Tấm gương sáng này có lẽ đă là khuyến lực cho đời sau, khiến lịch sử Việt Nam đă có bao thế hệ nữ khác v́ nước quên ḿnh như Triệu Ẩu, Huyền Trân Công Chúa, Công chúa Ngọc Khoa, Ngọc Vạn ... Ngoài ra, tài năng xuất chúng bên giới nữ lưu đă làm phong phú thêm kho tàng văn chương Việt Nam. Đă bao thế hệ trôi qua, những áng thơ tuyệt hảo của các nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan vẫn gây bao niềm thán phục cho hậu thế nam cũng như nữ. Cũng không quên được nữ sĩ Hồ Xuân Hương ngoài tài thơ thiên phú, c̣n là h́nh ảnh linh động của sự can đảm. Bà đă dùng thi thơ phản kháng tính chất nam quyền trong xă hội, g̣ bó, phong kiến ngày xưa.

Ghé mắt trong sang thấy bảng treo,
Ḱa đền thái thú đứng cheo leo.
Ví đây đổi phận làm trai được,
Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu?

Nếu dựa theo sự kiện này Việt Nam có thể c̣n là một nước tiên phong trong vấn đề tranh đấu cho nữ quyền. Ngoài ra, trong văn chương Việt Nam, sự trung trinh, đảm đang của phụ nữ Việt Nam cũng được thể hiện qua hai người đàn bà tiêu biểu cho thế hệ cùng thời đó là cụ bà Trần Tế Xương và Phan Bội Châu. Thật ra đă có biết bao nhiêu người phụ nữ vô danh cả đời tận tụy hy sinh cho chồng con . Xét cho cùng trước những nữ tiền bối tài đức như thế, xă hội không thể có cách đối xử khác hơn là sự tôn trọng người phụ nữ Việt Nam.

Theo quan niệm nhiều người đàn ông, th́ phụ nữ Việt Nam trên một khía cạnh nào đó đă được đồng đẳng với nam giới. V́ vai tṛ của người đàn bà rất quan trọng, họ là nội tướng trong nhà, họ ảnh hưởng toàn bộ gia đ́nh từ việc giáo dục con cái, điều hành sinh hoạt, ngay cả việc thay chồng đối xử với cha mẹ chồng cũng như anh em, họ hàng bằng hữu. nhiều nhà đàn bà nắm mọi quyền hành trong tay. Thực tiễn, th́ người đàn bà Việt Nam có lẽ nổi tiếng về tánh chịu đựng, hy sinh. Việt Nam là một nước triền miên trong chiến tranh, tai biến, chính hoàn cảnh đất nước này đă đặt người đàn bà trước muôn ngàn cơ cực, nhưng càng gian nan , người phụ nữ Việt Nam càng lộ rơ những tiềm năng, càng can đảm xốc vác gánh nặng gia đ́nh. 

Thi sĩ Hồ Dzếnh đă bày tỏ ḷng cảm kích của ông qua những ḍng thơ sau đây:

Hỡi cô con gái Việt Nam ơi,
Nếu chữ hy sinh có ở đời,
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực,
Cho đời cô gái Việt Nam tươi.

Ngoài hoàn cảnh đất nước, triết lư sống Á đông với ảnh hưởng phong kiến cổ xưa nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô, cũng đặt người đàn bà vào một đời sống khắc nghiệt với những hủ tục tảo hôn, đa thê, cảnh mẹ chồng nàng dâu ngày trước.

Sau ngày Saigon thất thủ, đất nước hoàn toàn rơi vào chế độ độc tài cộng sản. Người phụ nữ Việt Nam phải đương đầu với những khó khăn mới. Rất nhiều người đàn ông đă trải qua nhiều năm dài trong trại tù cải tạo, người đàn bà lại phải đứng ra gánh vác trong một hoàn cảnh gia đ́nh, xă hội kinh tế cực kỳ khó khăn: một ḿnh với đàn con thơ dại, ṿ vơ ngóng tin chồng, rồi lặn lội thăm chồng tù tội nơi xa. Thật đúng là :

Con c̣ lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non.

Ngày nay trại tù cải tạo đă trở thành một cơn ác mộng, phụ nữ Việt Nam có đỡ nhọc nhằn hơn xưa???

Cộng sản Việt Nam luôn hô hào b́nh đẳng giai cấp, b́nh đẳng nam nữ, nhưng bao giờ, lời của người cộng sản cũng chỉ là những lời lọc lừa. Thân phận người phự nữ trong xă hội cộng sản đắng cay hơn bao nhiêu ngày tháng trước.

Mặc dù cộng sản Việt Nam cũng như bao nhiêu quốc gia khác đă kư kết công ước quốc tế cam kết băi bỏ tất cả sự phân biệt nam nữ ở Hội nghị Quốc tế năm 1982 (Convention des Nations Unies), mà hơn lúc nào hết, tại Việt Nam quan niệm b́nh đẳng giới tính chỉ là một ư niệm trừu tượng trang trí hơn là một hiện thực hiển nhiên. Và nặng nề hơn nữa là phẩm giá người phụ nữ đă bị tổn hại nặng nề với tất cả h́nh thức măi dâm ngày càng bành trướng v́ nhà cầm quyền cộng sản nhắm mắt làm ngơ.

Những thực tại về đời sống lao động của người phụ nữ.

The 1972-1998 Vietnam living standard Surveys cho rằng bất kỳ ở lớp tuổi nào người phụ nữ cũng làm việc nhiều hơn người đàn ông. Không những thế, họ c̣n là những người bỏ nhiều th́ giờ hơn người đàn ông trong việc mư“The 1972-1998

- Người đàn bà ở những vùng nông thôn chịu nhiều thiệt tḥi nhất, v́ tŕnh độ học vấn và văn hóa thấp, họ không được biết những quyền lợi của ḿnh. Họ là những người có thời khóa biểu lao động đầy ắp: 12 đến 14 tiếng một ngày ở ngoài đồng ruộng. Họ không có cơ hội cải thiện đời sống. Những chương tŕnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền sản xuất nông nghiệp được dành ưu tiên cho đàn ông.

- Theo cùng một tài liệu, mức lương tháng trung b́nh của người phụ nữ là 32 Mỹ kim so với 41 Mỹ kim của người đàn ông (đây là ngạch lương được ấn định bởi các hăng xưởng ngoại quốc, mức lương tháng của chính phủ cộng sản được ấn định vào khoảng 13 Mỹ kim). Thật ra th́ không chỉ ở Việt Nam, tại rất nhiều quốc gia t́nh trạng bất tương đồng về việc làm và lương bổng nam nữ đều hiện hữu, chỉ có điều ở các nước tân tiến vấn đề này được đặt ra trong tinh thần xây dựng nhằm xóa bỏ những dị biệt, c̣n ở Việt Nam sự thay đổi sẽ gần như một cơn ảo mộng không thực hiện được.

- Trong môi trường lao động, người nữ công nhân cũng là nạn nhân của sự bóc lột, cách đối xử không công bằng của các hăng xưởng tư và công. Đồng lương họ thấp hơn đàn ông, họ dễ bị sa thải hơn. Nghiệp đoàn lao động hầu như không có, mà nếu có cũng chỉ là bù nh́n. Ngoài ra phẩm giá của người nữ công nhân không được coi trọng, họ có thể bị khám xét một cách sỗ sàng, lạm dụng mà vẫn phải cam chịu để giữ việc làm. Trong những năm gần đây, nhiều hăng ngoại quốc, điển h́nh là hăng Nike đă bị dư luận lên án v́ những đại diện đă có những hành vi bóc lột và sàm sỡ với các nữ nhân công. Đây là một hành động vô nhân, phạm luật đáng bị trừng phạt. Thế nhưng nhà cầm quyền cộng sản đă có những biện pháp nào để bảo vệ người dân của họ trước sự thao túng của giới chủ ngoại quốc? Để dẫn chứng hăy lấy một thí dụ gần đây, một số nữ công nhân Việt nam và Trung quốc qua đảo Samoa làm việc và đă bị bức hiếp bởi những chủ nhân ngoại quốc. Những kẻ bạo hành này đă bị xét xử bởi ṭa án Hoa kỳ. Thiết tưởng ở Việt nam, nếu chính phủ đă có những biện giải nghiêm khắc để bảo vệ công nhân bản xứ th́ sự lộng hành của giới chủ sẽ giảm bớt rất nhiều.

- Ngoài việc mưu sinh, người phụ nữ c̣n phải đi lao động cưỡng bách (travaux forcés) 10 tiếng mỗi năm. Họ phải đảm trách việc nhà bằng chính giờ nghỉ ngơi của họ. Theo một cuộc thăm ḍ thực hiện tại Việt Nam, th́ người phụ nữ quán xuyến công việc nhà (quét dọn, đi chợ, nấu ăn, giặt giũ) trong một tỉ lệ 70% so với đàn ông 14%. Con gái làm việc nhà với tỉ lệ 31% so với con trai 4,7%.

Cái ư thức coi việc nhà là nghĩa vụ của người đàn bà vẫn c̣n ăn sâu vào trong tư tưởng của người phụ nữ và cả người đàn ông. Ở xă hội Tây phương, t́nh trạng này cũng xảy ra nhưng chênh lệch ít hơn và người phụ nữ Tây phương không có bản tính hồn hậu, chịu đựng như người phụ nữ Việt Nam. Họ đă lên tiếng phản kháng sự bất công này. Đó là một loại lao động không tên tuy chiếm nhiều th́ giờ và công sức nhưng không có giá trị dưới mắt của gia đ́nh và xă hội.

Ngoài sự bất b́nh đẳng trên địa hạt lao động, người phụ nữ Việt Nam chịu nhiều thiệt tḥi hơn trên lănh vực văn hóa. Tỉ số phụ nữ mù chữ cao hơn nam giới.

Mặc dầu ở Việt nam cũng có những Phong Trào Phụ Nữ địa phương và Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam, nhưng những sinh hoạt của các hội đoàn này rất giới hạn, có tính cách tượng trưng hơn thực tiễn. Sự hiện diện của họ đă không mang lại những cải cách đáng kể.

Một tệ trạng đang trở thành thảm trạng ở Việt Nam v́ nó chà đạp phẩm giá của bao nhiêu phụ nữ và ngay cả trẻ em gái. Đó là nạn măi dâm, bán người tại Việt Nam hiện nay. Thương tâm hơn nữa, đây là một thị trường càng ngày càng bành trướng, v́ nhu cầu phía ngoài càng ngày càng cao. Ở khắp nơi, các dịch vụ lạ lùng được tung ra: những quán bia ôm, cà phê ôm, tắm biển ôm v.v...tất cả những h́nh thức kinh doanh này đều có thể là những ổ măi dâm trá h́nh.

Phụ nữ bán dâm v́ nhiều lư do: gia cảnh nghèo, không có việc làm, bị gạt gẫm. Rất nhiều cô gái quê nghèo khổ đă bị gạt gẫm đưa vào con đường bán phấn buôn hương. Có nhiều tổ chức buôn người đă đánh lừa và cưỡng ép bán các cô gái này cho những người đàn ông Đài Loan, Tân Gia Ba, cộng sản Việt Nam vẫn nhắm mắt làm ngơ.

Từ thảm trạng này dẫn đến những thảm trạng khác đó là nạn dịch SIDA đang lan tràn mănh liệt ở Việt Nam và các nước Á châu, kết quả của sự hiện đại hóa kinh tế với làn sóng đông đảo khách ngoại quốc. Theo thống kê chính thức của chính phủ Việt Nam, th́ hiện nay có khoảng trên 56.500 người bị nhiễm siêu vi khuẩn VIH, gần 8.500 người bị bệnh ứng phát và 4.700 người tử vong v́ bệnh này. Nhưng theo nguồn tin ngoại quốc th́ con số người nhiễm trùng đă vượt rất xa những con số trên và nhà cầm quyền Việt Nam bị quốc tế chê trách là đă thờ ơ không nhận thức được tầm quan trọng của đại dịch này. Theo ước lượng, từ đây đến năm 2015, mười triệu phụ nữ Á đông sẽ bị giết hại bởi tử thần SIDA .

Thật đáng thương cho thân phận người phụ nữ Việt Nam! Trong khi đại đa số các quốc gia, mức sống của người phụ nữ đă và đang được cải thiện, th́ xă hội chủ nghĩa Việt Nam luôn đi ngược trào lưu. Từ những h́nh ảnh cao đẹp hiện hữu từ ngàn xưa, nhiều người phụ nữ Việt Nam tại quê nhà đang bị tước đoạt nhân phẩm, bị hạ xuống thành một món đồ vật mua bán, giải trí cho những thú vui đàn ông. Đó là chưa kể sanh mạng của họ cũng đang bị đe dọa trầm trọng bởi nạn dịch SIDA. Đáng lo ngại hơn nữa, bệnh dịch SIDA đă dẫn đến một thảm kịch khác, khách mua vui càng ngày càng đ̣i hỏi những cô gái trẻ hay thật trẻ để bớt hiểm họa nhiễm trùng. Do đó tệ trạng các em gái vị thành niên hành nghề măi dâm càng ngày càng cao.

Chúng ta thường quan niệm tuổi trẻ là cành hoa, là mạch sống của đất nước. Trước hiểm họa hoa tàn trước tuổi, đất nước sẽ đi về đâu. Một xă hội không có khả năng vun bón những mầm non dân tộc tất sẽ đi đến chỗ suy thoái, nhưng đợi đến xă hội cộng sản hoàn toàn sụp đổ sẽ c̣n bao nhiêu cánh nhụy gẫy nát trước khi thực sự được trở thành hoa. Đây cũng là một vấn đề nhân tâm hệ trọng chỉ mong rằng những người Việt Nam tại hải ngoại nếu không có những giải pháp ngăn chận thảm họa này th́ cũng không phải là những người góp phần vào việc tăng trưởng những hoạt động ác nghiệt này..

Tài liệu tham khảo

. AGENCE FRANCE-PRESSE,Vietnam-Santé, Sida, Decembre 2002
. BOSIO_VALICI Sabine, ZANCARINI-FOURNEL Michelle, Femmes et fières de lêtre. Un siècle démancipation fé’être. Un siècle d’émancipation
. BROOKS Geraldine, Nine parts of desire, New York, Doubleday, 1995
. FERLAND Guy, «Pôvres» gars! La Presse, Montréal,16 septembre 2002, p.A9
. HANAUER Cathi, The bitch in the house, Newyork, Harper Collins Publishers Inc 2002.
. LÊ MINH, Chân dung người phụ nữ Việt nam, Nhà xuất bản Hà nội
. NAVARRO Pascale, Pour en finir avec La modestie féminine, Montréal, Boréal 2002.
. PROGRAMME DE COOPÉRATION INDUSTIELLE , Profil de légalité ’égalité des sexes, Vietnam, Aỏt
. SEAGER Joni, Atlas des femmes dans le monde. Émancipation ou oppression: un paysage contrasté, Collection Atlas Monde 1997