Trần Vỹ để lại hai tác phẩm mang dấu Chúa. Một là 150 bài thơ song thất lục bát diễn ca 150 bài Thánh Vịnh, hai là một áng văn xuôi gồm 12 đoạn soạn theo sách Giảng Viên, Ecclesiaste, với tựa đề Giáo Sĩ. Trong lời tựa, Trần Vỹ không nói tới tập Giáo Sĩ. Nhưng nếu Trần Vỹ diễn ca Thánh Vịnh thành thơ song thất lục bát, người đọc tập Giáo Sĩ thấy dường như Trần Vỹ đă khởi hứng từ sách Ecclesiaste và viết tập Giáo Sĩ như một áng thơ xuôi. Cùng bạn đọc suy ngẫm về áng thơ xuôi này là mục tiêu của những trang Truyền Thông sau đây.
Theo giới nghiên cứu Kinh Thánh, Ecclesiaste là tiếng Hy Lạp có nghĩa là preacher, và gốc tiếng Do Thái là Koheleth có nghĩa là người điều khiển hay giảng dậy cho một nhóm người. Trần Vỹ dịch là Giáo Sĩ và theo nhóm phiên dịch Kinh Thánh Trọn Bộ của Ṭa Tổng Giám Mục Saigon, chữ này dịch là Giảng Viên. Kinh Thánh chữ Trung Quốc dịch là Huấn Đạo. Trong các trang kế tiếp, sách này gọi là sách Giáo Sĩ “preacher”,
Trong quá khứ, giới nghiên cứu sách Ecclesiaste cho rằng sách này chỉ dành cho những người đứng tuổi. Theo Thánh Jerôme (347-419), dịch giả Kinh Thánh sang tiếng La tinh, phải là người vào khoảng trung niên; theo triết gia Schopenhauer (1788-1860) phải là người tới bẩy mươi tuổi mới hiểu nổi, bởi sách bàn về kinh nghiệm sống rút tỉa suốt một cuộc sống. Theo Peter B. Steese, không có sách nào trong Cựu Ước đề cập tới một vấn đề rộng lớn như sách Giáo Sĩ. Albert Hari đề tựa cho cuốn Ecclésiate của André Barucq viết:
[...]en ouvrant la Bible à la page de de Qohéleth, tu ouvres toute la Bible. En faisant quelques pas avec ce sage tu tengages à faire les pas suivants avec ceux qui sont alléleth, tu ouvres toute la
(Qohéleth là cách phiên âm viết theo người Pháp đồng nghĩa với chữ Koheleth, viết theo người Anh.) Thế nên từ xưa tới nay sách Giáo Sĩ là nguồn cảm hứng cho nhiều tác gỉa, trong số đó có Trần Vỹ.
Sách Giáo Sĩ, theo Georges Vajda gồm năm đề tài chính:
1. Mọi việc trên cơi đời này đều là hư vô, bởi kiếp người ngắn ngủi;
2. Tại cơi thế này, con người phải hoàn tất nhiệm vụ khai hóa, civili- sateur, và phải buông bỏ mọi khát vọng;
3. Khác biệt giữa tỉnh, sagesse, và mê, sottise, khuyến cáo con người sớm tỉnh cơn mê;
4. Đối tượng của cuộc sống là làm việc lành, kính sợ Chúa và tuân hành mười điều răn.
5. Ngoài cơi thế này con có cơi trời khác trong đó người lành được tưởng thưởng, kẻ dữ bị trừng trị.
Trần Vỹ diễn nôm câu mở đầu Sách Giáo Sĩ:
Hư vô của mọi sự hư vô, hư vô của mọi sự hư vô, tất cả đều là hư vô!
Chữ hư vô là chữ của Trần Vỹ. Theo Michael Fox, chữ này nguyên là chữ Do Thái hebel. Theo André Baroucq, chữ hevel (phiên âm theo tiếng Pháp chữ hebel) trong ngôn ngữ Do Thái có nghĩa như sau:
Le mot hevel désigne une inatité, une inexistence, du moins quelque chose qui est bien proche du néant.
Trong Kinh Thánh Do Thái chữ này được dùng sáu mươi bốn lần, trong số đó chữ này được dùng ba mươi lần trong sách Giáo Sĩ. Chính nghĩa hebel là mây khói, vapor, nên chữ này thường được biểu thị bằng những h́nh ảnh tương tự như:
1. phù du, ephemerality như ngọn gió thoảng, như vệt nắng quái, (Thánh vịnh 144:4)
2. hư không, vanity (Thánh Vịnh 94:11)
3. hư ngụy, deceit (Thánh Vịnh 62:10)
4. vô nghĩa, nonsens (Thánh Vịnh 39:7)
5. hư vô, nothingness, mà theo Michael Fox, chữ nothingness chỉ là một h́nh ảnh của chữ vapor.
6. phi lư, absurdity và chữ này rất thông dụng trong các sách bàn về Ecclesiate hiện nay.
Các bản Kinh thánh mỗi bản dịch một khác. Kinh Thánh chữ Pháp dịch là vanité; Good News Bible của American Bible Society dịch là useless; Kinh Thánh chữ Trung Quốc dịch bắng một chữ hư, nghĩa là không. Kinh Thánh Trọn Bô., xuất bản tại Saigon dịch là phù vân.
Trần Vỹ đă chọn chữ hư vô sát nghĩa với nguyên bản tiếng Do Thái, mặc dầu chữ hư vô vốn là một chữ chủ chốt của đạo Phật. Điều đó khiến người đọc Trần Vỹ không c̣n ngần ngại đối chiếu áng thơ xuôi của Trần Vỹ với các tác phẩm Tam Giáo cổ điển.
Cái hư vô của con người, hiểu theo nghĩa chữ phi lư vốn là một đề tài văn học. Ernest Hemingway (1899-1961) dùng h́nh ảnh trong sách Giáo Sĩ, viết thành tác phẩm The Sun Also Rises, mô tả cái vô nghĩa của cuộc sống cùng sự vô vọng trong việc đi t́m một đời sống thích hợp của thế hệ lạc loài, génération perdue, trong những năm chiến tranh Tây Ban Nha. Cái hư vô của cái chết, không phân biệt người hiền người ngu trích từ sách Giáo Sĩ là đề tài Albert Camus (1913-1960) khởi hứng sáng tác cuốn cảo luận Le Myth de Sisyphe. Cái phi lư của cuộc sống theo Albert Camus mô tả trong cảo luận nói trên là:
[...] ce qui est absurde, cest la confontration de cet irrationel et de ce désir éperdu de clarté dont lsappel ré[...] ce qui est absurde, c’est
Trong một trang sau Albert Camus viết rơ hơn:
Il y a des mariages absurdes, des défis, des rancoeurs, des silences, des guerres et aussi des paix. Pour chacun dentre eux, labsurdité nait dune comparaison. Je suis donc fondé à dire que le sentiment de labsurdité ne nait pas du simple examen dun fait ou dune impression mais quil jaillit de la comparaison entre un état de fait et une certaine réalité, entre une action et le monde qui la dépasse. Labsurde est essentiellement un divorce. Il nest ni dans lun ni dans lautre des éléments comparéfis, des rancoeurs, des silences, des
Nhưng khác với Ernest Hemingway và Albert Camus Trần Vỹ không chạy trốn hư vô hay cái phi lư, mà Trần Vỹ đọc Ecclésiates để có một nguồn an ủi tinh thần sống qua những năm tháng đen tối.
Bắt đầu bằng câu:
Hư vô của mọi hư vô, hư vô của mọi sự hư vô, tất cả là hư vô!
Chữ hư vô nhắc lại ba lần đưa bản văn lại gần người đọc. Ba chữ hư vô gợi cho người quen đọc sách Phật lời kinh Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh:
Sắc là không, không là sắc. Thọ tưởng hành thức cũng vậy.
Theo Georges Vajda:
Si tout est vanité, il convient de pratiquer l’abstention (zahada).
như vậy khác nào sách Phật học khuyên phật tử hai chữ buông bỏ.
Tiếp tới câu:
Thế hệ này trôi qua, thế hệ khác thay thế, nhưng quả đất vẫn tồn tại.
gợi trong kư ức người đọc hai câu:
Ngă kim nhật tại tọa chi địa
Cổ nhân tằng tiên ngă tọa chi
nghĩa là
Chỗ ta ngồi hôm nay
Cổ nhân đă ngồi đó trước ta.
của Vương Thực Phủ, người đời Nguyên trong lời tựa truyện Tây Sương Kư mà Nguyễn Công Trứ (1779-1859) trích dẫn vào bài hát nói Ngày Tháng Thanh Nhàn.
Tiếp tới câu:
Tất cả sông ng̣i chẩy về biển cả, nhưng biển cả không bao giờ đầy.
nhắc người đọc một câu trong sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử chương Thu Thủy:
Thiên hạ chi thủy, mạc đại ư hải, vạn xuyên quy chi, bất tri hà th́ thượng
nghĩa là:
Dưới trời nhiều nước không ǵ bằng biển, vạn ḍng đều đổ về đó, chẳng biết bao giờ đầy.
Phải chăng như vậy sách Giáo Sĩ không riêng liên quan tới triết thuyết Hy Lạp mà c̣n dùng nhiều h́nh ảnh quen thuộc trong các kinh sách Đông Á?
Tương tự, Trần Vỹ diễn nôm đoạn 3 sách Giáo Sỹ:
Mọi việc đều có thời điểm riêng, một thời điểm cho mọi sự vật dưới ṿm trời: một thời điểm để sinh đẻ, một thởi điểm để chết; một thời điểm để vun trồng, một thởi điểm để nhổ cây đă trồng; một thời điểm để giết tróc, một thời điểm để chữa trị; một thởi điểm để phá đổ, một thời điểm để xây dựng; một thời điểm để khóc, một thời điểm để cười một thời điểm để van la, một thời điểm để múa nhẩy; một thời điểm để ném đá, một thời điểm để nhặt đá; một thời điểm để ôm hôn, một thời điểm để xa nhau; một thời điểm để t́m kiếm, một thời điểm để đánh mất; một thời điểm để cất giữ, một thời điểm để vứt đi; một thời điểm để xé rách, một thời điểm để vá lành; một thời điểm để im lặng, một thời điểm để nói năng; một thời điểm để thương, một thời điểm để ghét, một thời điểm để chiến tranh, một thời điểm để ḥa b́nh!
Đoạn sách Giáo Sĩ trích dẫn gây hứng cho nhiễu tác giả, trong đó có đoạn mở đầu cho áng thơ East Coker của T.S. Eliote (1888-1965):
Houses live and die: there is a time for building
And a time for living and for generation
And a time for the wind to break the loosened pane
And to shake the wainscot where the field-mouse trots
And to shake the tattered aras
woven with a silent moto.
mà người đọc nhận ra những h́nh ảnh và nhịp điệu đoạn sách Giáo Sĩ. Giới phê b́nh văn học ghi nhận đó là những nét thực cổ xưa mà người thơ dùng để dẫn độc giả tới những nét thực hiện nay của Chúa Ky Tô. Người đọc qua đoạn sách Giáo Sĩ trích dẫn không khỏi nhớ tới chương II sách Đạo Đức Kinh của Lăo Tử:
[...] hữu vô tương sinh
nan dị tương thành
trường đoản tương h́nh
cao hạ tương khuynh
âm thanh tương ḥa
tiền hậu tương tùy
Nghĩa là:
[...]có không sinh ra nhau
Khó dễ tạo ra nhau
Ngắn dài sánh cùng nhau
Cao thấp nương nhau
Âm thanh pha trộn nhau
Trước sau đi cùng nhau.
Nét tương đồng giữa lời sách Giáo Sĩ trích dẫn và sách Lăo Từ là cả hai cùng dùng những h́nh ảnh đối ngược trong mỗi câu để tạo ư.
Trên một hướng khác, cái hư vô của cuộc sống cũng như cái vô nghĩa của cái chết thường đưa con người vào ngả hưởng lạc, Giáo Sĩ viết:
Tôi c̣n thấy thế này nữa: đối với con người, thật là một điều tốt nếu được ăn uống thỏa thích và hưởng lạc thú trong khi làm lụng những ngày c̣n sống dưới ṿm trời; tuy nhiên được ăn uống thỏa thích và sử dụng các của cải để làm đẹp đời sống , cũng là do ân Chúa.
Từ đoạn này, nhiều nhà nghiên cứu sách Ecclesiate thường lấy thơ của Omar Khayyam (1047-1122), thi sĩ người Ba Tư thường ca tụng những thú vui của rượu và hoa trên cơi trần thế này để dẫn giải. Gần gũi hơn với người đọc là ư thơ trong bài hát nói sau đây của Nguyễn Công Trứ
Mượn Rượu Làm Vui
Nhân sinh thích chí
Chẳng ǵ hơn mượn rượu làm vui
Việc tầy trời khi say đoạn cũng thôi
Một trận phá thành sầu lũy năo
Tửu trái tầm thường thành xứ hữu
Nhân sinh thất thập cổ lai hi
Danh mà chi lợi nữa mà chi
Mượn ba chén dập d́u trăng gió
Ngh́n vàng hết hết rồi lại có
Chén c̣n không ngục áo để làm chi
Bên tai gác tiếng thị phi
Màn trời chiếu đất dầu khi ngang tàng
Mơ màng trong cơi túy hương.
Trong đoạn kết, Giáo Sĩ cho biết là người sưu tầm và sắp xếp một số câu ngạn ngữ [...] để viết thẳng thắn những điều thật. Điểm đáng chú ư là những h́nh ảnh trong những ngạn ngữ dùng trong sách Giáo Sĩ rất gần gậm với những h́nh ảnh trong ngạn ngữ Viễn Đông như thấy qua một vài thí dụ sau đây. Trong Chương IV sách Giáo Sĩ có ngạn ngữ: một dây thừng có ba sợi khó mà đứt được gọi lên h́nh ảnh ngạn ngữ: một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên ḥn núi cao. Trong chương V có câu Giấc ngủ của kẻ lao động ngon lành dầu anh ta ăn nhiều ăn ít, nhưng giấc ngủ của kẻ trọc phú bị dạ dày quá no làm khó chịu, gần gậm với câu: ăn thịt ḅ th́ lo ngay ngáy, ăn mắm cáy th́ ngáy o o. Cuối chương VIII, có h́nh ảnh: người công chính lănh những thành quả của kẻ dữ vă kẻ dữ những thảnh quả của người công chính chẳng khác ǵ câu ngạn ngữ thằng c̣ng làm cho thằng ngay ăn. Mở đầu chương X có câu: Vài xác ruồi chết làm hỏng b́nh dầu thơm chẳng khác ǵ câu: con sâu làm rầu nồi canh.
Trên một hướng khác, h́nh ảnh thằng c̣ng làm cho thằng ngay ăn, dường như biến câu ở hiền gặp lành ở ác gặp ác trở thành vô nghĩa dưới ánh mặt trời. Theo Giáo Sĩ, câu chuyện thưởng phạt công bằng chỉ có ở nước Chúa:
Nếu anh thấy ở một nơi nào kẻ khó bị đàn áp và công lư cùng các quyền của con người bị chà đạp, cũng chớ cho là lạ và hăy tin chằng người quyền thế năo cũng có người có quyền thế cao hơn, và người này c̣n có người có quyền thế cao hơn nữa (để trị).
Lời Giáo Sĩ không xa lạ với người Việt Nam qua các ngạn ngữ cao nhân tất hữu cao nhân trị, hay câu ngoài ṿm trời này c̣n có ṿm trời cao hơn nữa.Theo các nhà b́nh giảng sách Giáo Sĩ, người ở trên tầng trời cao nhất là Thiên Chúa, không có một hành động của bất kỳ một ai lọt khỏi mắt Thiên Chúa, và tại nước Chúa mới có việc thưởng phạt công b́nh chân chính. Phải chăng Trần Vỹ cũng vững tin như vậy, như ông viết trong lời tựa tập Diễn Ca Thánh Vịnh:
Sau hơn bốn năm bị giam cầm trong các trại khổ sai cải tạo của Việt Cộng, trở về cùng gia đ́nh, tôi nộp đơn xin đoàn tụ cùng các con tại ngoại quốc. Chúng ngâm đơn xin xuất ngoại của tôi [...]trong gần mười năm. [...]Sống trong một xă hội do công an mật vụ kiểm soát ŕnh ṃ mọi hành vi của mỗi người dân, vi phạm mọi quyền tự do căn bản của con người[...]trong t́nh cảnh ấy, nguồn an ủi tinh thần cho tôi là để nhiều th́ giờ đọc Thánh Kinh, đặc biệt là các Thánh vịnh.
Phải chăng Trần Vỹ đă t́m thấy niềm an ủi khi ông diễn nôm bài Thánh Vịnh số 130 dưới đây:
Từ đáy vực sâu, con kêu Chúa
Xin Chúa vui ḷng lắng nghe con!
Mong sao tai chúa sẵn sàng
Nghe lởi cẩu khẩn con dâng lên Ngài.
Nếu Chúa nhớ điều con phạm lỗi
Th́ Chúa ơi! Chẳng sót một ai!
Nhưng ḷng tha thứ của Ngài,
Làm c̣n tồn tại, ai tôn kính ngài.
Con mong đợi ở Ngài vĩnh cửu,
Hồn mong nơi lởi hứa của Ngài
Hồn con tin ở Chúa Trời
Như người canh gác mong chờ b́nh minh.
........................................
Bài Thánh Vịnh trên là một bài Thánh Vịnh quen thuộc, nội dung đă chuyển thành Kinh Vực Sâu như sau:
Lậy Chúa tôi, tôi ở dưới vực sâu kêu lên Chúa tôi, xin chúa tôi hăy thẩm nhận lời tôi kêu van, hăy lắng nghe tiếng tôi cầu xin.
Nếu Chúa tôi chấp tội, nào ai rỗi được. Bởi Chúa tôi hằng có ḷng lành, cùng v́ lời Chúa tôi phán hứa, tôi trông cậy Chúa tôi, linh hồn tôi v́ lời hứa ấy th́ đă trông cậy Chúa tôi.
Những kẻ làm dân Đức Chúa Trời đêm ngày hăy trông cậy Người cho liên, v́ Người rất nhân lành hay thương vô cùng sẽ tha hết mọi tội lỗi kẻ làm dân Người thay thẩy.
Lậy Chúa tôi, xin ban cho các linh hồn được nghỉ ngơi đời đời và được sáng soi vô cùng.
Lậy Chúa tôi, xin cứu lấy các linh hồn cho khỏi tù ngục mà được nghỉ yên.
Amen.
Bài kinh Vực Sâu cùng bài diễn ca Thánh Vịnh của Trần Vỹ làm người đọc nhớ tới tiết 2, bản giao hưởng số 3 hay c̣n gọi là Symphony of Sorrowful Songs, của Henryk Mikolai Górecky người Ba Lan, đoạn nhạc cổ điển này khởi hứng từ một bài thơ mà tác giả là một cô gái 19 tuổi, dùng móng tay viết trên tường trong một trại tạm giam của công an quốc xă Đức, bài thơ gửi mẹ với trọn đức tin đúc cậy nơi Đức Mẹ, dịch sang tiếng Anh như sau:
No, Mother, do not weep
Most chaste Queen of Heaven
Supports me always
Zdrowas Mario (Ave Maria)
Để kết luận bài viết này, người viết xin trở lại sách Giáo Sĩ và Trần Vỹ, qua lời Thánh Augustin, viết trong sách The City of God về tác giả sách Ecclesiate:
[...] he devoted this whole book to a full exposure of this vanity, evidently with no other object than that we might long for that life in which there is no vanity under the sun, but verity under Him who made the sun.