Do sự kiểm soát gắt gao về tư tưởng và an ninh cá nhân, những người thuộc lớp tuổi X hiện đang sinh sống trong nước và những người từ Việt Nam du học tại nước ngoài, mặc dù tán thưởng chủ đề về tuổi trẻ tại quốc nội, nhưng đă ngần ngại cộng tác với Truyền Thông số đặc biệt này.
Chúng tôi chỉ có thể cống hiến tài liệu sưu tầm dưới đây, căn cứ vào các nghiên cứu của Tổ Chức Liên Hiệp Quốc về Dân Số (UNFPA) và của Tổng Cục Thống Kêâ Hà Nội ( Dự báo Dân số, Học sinh đến trường và Lực lượng Lao động Việt Nam 1990-2005, nhà xuất bản Thống kê Hà Nội, 1994; Niên Giám Thống Kê, nhà xuất bản Thống Kê Hà Nội, 1995) để có một khái niệm nhất lăm về các lớp tuổi và t́nh trạng học sinh và dân số tại Việt Nam năm 1990 và năm 2005 (theo dự báo). Từ đó người đọc có thể suy ngẫm về tuổi trẻ trong nước, đặc biệt về hai thế hệ X và Y.
Bây giờ và về sau, Truyền Thông vẫn mong nhận được tiếng nói của giới trẻ trong nước để có dịp tŕnh bày trong những số tới.
1 - Nhân số trong tuổi đi học trong năm 1990 (biểu đồ 1), tiểu học từ 6 tới 11 tuổi, trung học phổ thông (cơ sở) từ 12 tới 15 tuổi, trung học phân ban 16 tới 18 tuổi, và đại học từ 19 tới 24 tuổi. Xin lưu ư, đây là nhân số trong tuổi, không phải là số lượng học sinh.
Biểu đồ cũng cho biết tỷ lệ đi học và không đi học của bốn lớp tuổi, tiểu học, trung học (gồm có hai thành phần: phổ thông từ 12 tới15 tuổi, chuyên ban từ 16 tới 18 tuổi) và đại học.
Tỷ lệ học sinh bỏ học khá cao, sau 11 tuổi, nam 32,2 % (1,000 - 0,678), nữ 41,4 % (1,000-0,586) và sau 15 tuổi, nam 73,6 % (1,000 - 0,264), nữ 81,6 % (1,000 - 0,184).
Các học sinh thuộc các cấp trung và đại học trong năm 1990 (từ 11 tuổi tới 24 tuổi) nay đă vào lớp tuổi X, lớp tuổi sản xuất, thành phần quan trọng của lực lượng lao động trẻ trong xă hội hiện nay. Họ quan niệm thế nào về xă hội, và sẽ giữ vai tṛ ǵ trong tương lai gần, đó là câu hỏi cần được nghiên cứu.
2 - Nhân số dự báo trong tuổi đi học năm 2005 (biểu đồ 2), dựa theo phương án I, từ 6 tới 24 tuổi, phần đông thuộc lớp tuổi Y hiện nay.
Biểu đồ cũng cho biết số học sinh đến trường của các cấp tiểu học, trung học phổ thông, trung học chuyên ban và đại học giữa hai giới tính nam nữ. Từ đó suy ra số trẻ em bỏ học sau 11 tuổi, nam 25,5% (1,000-0,745), nữ 34,5% (1,000-0,655) và sau 15 tuổi, nam 71% (1,000 - 0,290) và nữ 79% (1,000 - 0, 21).
So với năm 1990, tỷ lệ bỏ học không giảm bớt khả quan. Những người này sinh sống ra sao trong thời gian không đến trường này là một câu hỏi cần giải đáp.
3 - Dân số Việt Nam trong năm 1990 (biểu đồ 3), từ 0 tới 75 tuổi, chia thành 16 nhóm tuổi, mỗi nhóm 5 năm, Có thể nhận thấy rơ ràng nhân số lớp tuổi đă trải qua thời kỳ chiến tranh tương đối ít so với lớp tuổi sinh trưởng thời kỳ không có chiến tranh.
Dựa theo biểu đồ này, có thể biết số lượng những người trong tuổi 11 tới 29 tuổi năm 1990, nay đang thuộc lớp tuổi X, thành phần quan trọng của lực lượng lao động trẻ trong xă hội hiện nay. Hiện họ giữ vai tṛ nào trong xă hội, đó là câu hỏi cần được nghiên cứu.
4 - Dân số Việt Nam dự báo cho năm 2005 theo phương án II (biểu đồ 4), chia thành 16 nhóm tuổi, mỗi nhóm bao gồm 5 năm.
So với 15 năm trước, năm 1990, độ tăng trưởng của các lớp tuổi trẻ khá quan trọng. Lớp tuổi X và Y chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng số dân số.