Thế hệ X của X
Diễm Uyên

Mỗi thế hệ có một quá tŕnh tiến hóa riêng, tùy thuộc hoàn cảnh lịch sử, địa dư, hoàn cảnh kinh tế, hoàn cảnh văn hóa và tôn giáo. Do đó mỗi thế hệ có một sắc thái riêng biệt. Nếu gặp hoàn cảnh thuận lợi th́ một thế hệ nói riêng có thể gặt hái được nhiều thành quả mà không cần phải bỏ nhiều công sức. Và nếu kém may mắn, cả một thế hệ mặc dầu đă ra sức phấn đấu cũng chỉ kiếm được chỗ đứng khiêm nhường. Nếu chúng ta chỉ nh́n vào đặc tính của từng thế hệ mà b́nh luận không chút t́m hiểu lịch sử tiến hóa th́ ta không thể tránh được những lời phê phán tiêu cực, thiếu xác thực đưa đến hố sâu chia rẽ giữa những thế hệ.

Từ mười năm nay, ở xă hội Bắc Mỹ sự xung đột giữa thế hệ X và thế hệ Baby Boomers đă gây được nhiều chú ư. Một bên là thế hệ đàn anh được thời thế ưu đăi. Một bên là thế hệ trẻ đang bước vào ngả đường gánh vác, nhưng đă vấp phải rất nhiều trở ngại. Nhiều tác giả đă phân tích đoạn đường đặc biệt gain nan của thế hệ X. Họ muốn đánh tiếng chuông cảnh tỉnh để các thế hệ cha anh đưa tay nâng đỡ thế hệ trẻ này. V́ đây là những người sẽ thay thế các thế hệ đàn anh trong một ngày gần đây. Trong bài viết này, người viết sẽ giới thiệu chân dung của những người thuộc thế hệ X cùng với những hoàn cảnh đă chi phối cuộc sống của họ.

Thế hệ X = Génération sacrifiée, Thirteenth generation

Danh từ thế hệ X đă được phổ biến rộng răi sau khi tác phẩm Generation X của nhà văn Douglas Coupland tại Vancouver ra đời năm 1991. Chuyện kể về ba người thanh niên tuổi gần 30, mặc dù tŕnh độ học vấn cao, họ vẫn sống cuộc đời thanh đạm, không chủ đích với những việc làm tầm thường, tạm bợ, lương ít ỏi không tương xứng với khả năng của họ. Đây là những người nhậy cảm, nhưng đầy mâu thuẫn. Trong tâm trạng chán chường, thất vọng, họ nương tựa vào nhau cố t́m một ư nghĩa sống cho cuộc đời vô nghĩa hiện tại. Với một nét phác họa như thế, tác giả đă có một cái nh́n rất tiêu cực về thế hệ của ḿnh. Nhưng không phải chỉ riêng ông mà nhiều tác giả khác cũng rất bi quan về thực trạng của những người thuộc thế hệ X. Ở Hoa Kỳ người ta c̣n gọi lứa tuổi này là thế hệ 13. Thật ra số 13 ở đây chỉ là ngôi thứ thế hệ đă hiện hữu kể từ ngày Hoa Kỳ lập quốc. Nhưng nhiều tác giả đă gán ép thứ tự 13 này với con số của nhiều điều xui xẻo, con số đầy bất trắc, con số mà nhiều tầng địa ốc đă băi bỏ. Phải chăng số 13 này là một điều gở khiến cho toàn thế hệ phải chịu chung một một vận mạng đen tối với thật nhiều thiệt tḥi so với những thế hệ khá phẩm “Generation

Tuổi của các thành viên trong thế hệ X không được thống nhất nhưng thông thường nhiều tác giả tại Bắc Mỹ cho rằng những người thuộc thế hệ X sanh từ khoảng 1961-1965 đến 1975-1979. Riêng nhà kinh tế học David K Foot khẳng định rằng những người thuộc thế hệ X chỉ gồm thành viên sanh từ 1961-1966 (đây là cái đuôi của thế hệ Baby Boomers, gồm 3,2 triệu dân Gia Nă Đại). C̣n những người sanh từ năm 1967-1979 (5,6 triệu người) đều thuộc thế hệ Baby Buster cùng một sắc thái với thế hệ X nhưng tương đối gặp ít khó khăn hơn.

Theo thời điểm hiện tại th́ các thành viên đầu của X đang bắt đầu vào ngưỡng cửa 40, tuổi của một năng lực mạnh mẽ và một kinh nghiệm sống phong phú. Vào lứa tuổi này, nhiều người cũng đă có cuộc sống ổn định. Nhưng con đường họ đi qua đă rất gập ghềnh so với thế hệ đàn anh Baby Boomer.

H́nh ảnh tiêu cực của những người thuộc thế hệ X là những người có tŕnh độ học vấn cao (cao hẳn so với thế hệ cha anh) Sự nghiệp của họ đă gặp rất nhiều trở ngại. Thông thường họ phải gánh vác hai ba công việc cùng một lúc. Việc làm của họ thường là tạm bợ, không có bảo đảm lâu dài và cũng không liên quan ǵ đến số đông văn bằng chứng chỉ mà họ đă gặt hái được sau một thời gian dài trên ghế nhà trường. Nhiều người vẫn c̣n phải ở chung với bố mẹ vào lứa tuổi 30 v́ điều kiện tài chánh chứ không v́ theo phong tục tập quán như người Việt Nam chúng ta.

Tại sao những người thuộc thế hệ X lại gặp nhiều khó khăn về kinh tế như thế ?

Họ đă sanh lầm thế kỷ ? Chắc là không lầm thế kỷ nhưng đă lầm thời điểm. V́ sau một thời gian thịnh vượng mà thế hệ Baby Boomers đă được hưởng lộc, nền kinh tế Bắc Mỹ đă gặp cơn khủng hoảng trầm trọng vào giữa những thập niên 80-90, lúc đó các thành viên X vừa trưởng thành. Nạn thất nghiệp đă gia tăng trong thời gian này. Tỷ số thất nghiệp ở Québec của những người trẻ vào năm 1991 đă lên đến 20%. Thêm vào đó phong trào toàn cầu hóa (Mondialisation) cũng đă góp phần vào nạn thất nghiệp mà những người trẻ là những nạn nhân chính. Từ đây, các sản phẩm như quần áo, giầy dép, xe hơi v.v... đă được đưa về sản xuất tại các nước chậm tiến với nhân công rẻ. Ngoài ra tại các nước kỹ nghệ, kỹ thuật ngày càng tân tiến, máy móc ngày càng thay thế con người. Điều này cũng góp phần vào thực trạng thất nghiệp. Đồng thời điểm với sự sa sút của nền kinh tế, tài nguyên đất nước càng ngày càng mai một, nợ quốc gia càng ngày càng cao. Diễn văn của những nhà lănh đạo (phần đông là Baby Boombers) đă thay đổi. Họ hô hào khích lệ sự hy sinh của tất cả mọi người để cứu văn sự thiếu hụt ngân quỹ (déficit zéro). Lại một lần nữa, thế hệ X chịu nhiều thiệt tḥi nhất trong những giải pháp cắt xén này (v́ họ là những người sanh sau đẻ muộn, thế hệ đàn anh đă có chỗ đứng vững vàng trong các guồng máy công, tư)

Ở Québec, những thí dụ điển h́nh là: Sự đ́nh chỉ tuyển dụng trong guồng máy chánh phủ (le gel de l'embauche) và Các điều khoản mồ cô “Các điều khoản mồ côi” (tạm dịch 

Le gel de l'embauche: để tiết kiệm ngân quỹ, trong nguồn máy chánh phủ ngoài phong trào khuyến khích các công chức cao niên về hưu trước hạn định. Chính phủ đă đưa ra một điều luật đ́nh trệ việc mướn người khác thay thế. Do đó, những người trẻ đă không có may mắn giữ những chức vụ trong chính phủ. Theo thống kê Québec th́ vào năm 1976, tỷ lệ người trẻ dưới 30 giữ chức vụ trong chánh phủ là 43%. Vào năm 1995 th́ tỷ lệ này đă rơi xuống c̣n 6%. Đây quả là một giải pháp thiển cận, v́ trên thực tế chính phủ cần phải thực hiện điều ngược lại: le plan de l'embauche accéléré để tránh t́nh trạng thiếu hụt nhân viên trong một tươợc lại: “le plan

Les clauses orphelins cũng là một dẫn chứng của sự bất công hiện hữu giữa những thế hệ. V́ ở đây tuổi tác cũng đă nghiễm nhiên trở thành yếu tố phân biệt. Les clauses orphelins được phổ biến rộng răi vào đầu thập niên 90. Và ngày nay, mặc dù bị nhiều người lên án, những định chế này vẫn c̣n tồn tại dưới nhiều h́nh thức kín đáo trong cả hai lănh vực công và tư. Theo cách thực hành này, th́ một người nhân viên được mướn vào sau một thời điểm nào đó (được hạn định bởi nghiệp đoàn công nhân và giới chủ) phải luôn chịu mức lương thấp hơn những người đến trước mặc dù cùng làm một công việc. Do đó sau cùng một khoảng thời gian làm việc, những người trẻ vẫn không tích lũy được những quyền lợi ưu tiên như những người đến trước. 

Một thí dụ điển h́nh gần gũi với y giới là sự thương lượng giữa chính phủ Québec và nghiệp đoàn bác sĩ chuyên môn vào năm 1995. Những bác sĩ thâm niên đă thỏa thuận với chánh phủ để hạ mức lương từ 15 đến 30% của những bác sĩ mới ra trường trong những năm đầu hành nghề. Trong bàn điều đ́nh đă vắng mặt những bác sĩ thường trú (Résident) họ đă không được mời đến để thương lượng về tương lai của chính họ. Lớp đàn anh đă quyết định thay cho họ.

Một thí dụ khác, mùa thu năm 1996, nghiệp đoàn cảnh sát ở Montréal đă thỏa thuận để định ngạch lương đầu của những nhân viên mới được tuyển sau ngày 1-1-1997 là 24,612$ thay v́ 30,000$ như những người được tuyển từ trước. Và để đạt đến ngạch lương cao nhất, những người cảnh sát mới phải đợi 72 tháng thay v́ 60 tháng như quy định cho những người cũ.

Hai giải pháp này tuy đầy bất công nhưng được phổ biến rộng răi dưới mọi h́nh thức. Và đưa đến hậu quả là những người trẻ phải chịu cảnh thất nghiệp hoặc không được những quyền lợi như những người đến trước. Ở Hoa Kỳ, chính sách échelle salariale à deux étages (two tier wage scales) cũng tương tợ như les clauses orphelins tại Québec, vẫn nhằm mục đích bảo vệ nhân viên kỳ cựu bằng cách giảm bớt mức lương của những người đ “échelle salariale

Thêm vào đó việc làm càng ngày càng mất tính cách vững bền. Theo một thống kê gần đây th́ ở Québec từ năm 1976 đến năm 1995 những việc làm dài hạn (emploi permanent) đă hầu như ngưng trệ. Phần đông các việc làm sau này được ấn định theo những hợp đồng kéo dài trong một khoản thời gian nhất định (contrat à durée déterminée). Sau đó th́ những người trẻ lại rơi vào t́nh trạng thất nghiệp. Hoặc nếu may mắn hơn, họ sẽ được gia hạn hợp đồng cũ. Theo quy chế làm việc trên nguyên tắc hợp đồng như thế, dù làm lâu năm một chỗ, những người này cũng không tích lũy được những quyền lợi theo thăng bậc thâm niên. Lương bổng ngày càng thấp, thông thường người trẻ kiếm được nhiều tiền hơn bậc cha mẹ. Nhưng trong những thập niên 90 t́nh trạng đă thay đổi. Thí dụ điển h́nh ở Hoa Kỳ vào đầu thập niên 1979, mức lương trung b́nh của một người 30 tuổi cao hơn lương một người 60 tuổi khoảng 6%. Hai mươi năm sau, ta chứng kiến cảnh ngược lại, lương của một người 60 tuổi cao hơn lương của một người trẻ khoảng 14%. Đó là nhờ vào những quyền lợi của những người làm việc kỳ cựu. Và những người trẻ đă không bao giờ được hưởng những quyền lợi như những người đi trước. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử ở Bắc Mỹ một thế hệ đă sống chật vật hơn thế hệ đi trước. Thế hệ X quả đă sinh ra trong một thời điểm éo le, khi họ vừa vào đời th́ tất cả việc làm vững chắc đă nằm trong tay của thế hệ đàn anh Boomers. Ngày nay nhu cầu nhân lực bắt đầu gia tăng th́ người ta cho là họ đă quá già để có thể thích ứng với một số những công việc, hoặc là họ thiếu kinh nghiệm để có thể đảm nhận những chức vụ quan trọng. Và nhất là họ sắp phải đương đầu cạnh tranh với một thế hệ đàn em đầy ưu thế: Thế hệ Y, thế hệ của kỹ thuật tân tiến, của máy móc điện tử. Một bên là thế hệ X đầy thiệt tḥi, việc làm khó khăn, ít quyền lợi. lương bổng kém. Một bên là thế hệ cha anh với tất cả đặc ân: việc làm vững bền, chế độ hưu bổng rộng răi, họ mua sắm, đi chơi với những giá biểu thấp hơn những người trẻ ((rabais d'âge d'or) Điều này cũng không có ǵ ngạc nhiên v́ chính là thế hệ Baby Boomer, thế hệ cao niên đang nắm giữ quyền lực chánh trị, những quy chế họ đặt ra đều có lợi cho họ. Quả thật, đă không có sự tương trợ giữa những thế hệ. Những người X với những hoàn cảnh bất lợi đă không bao giờ được các thế hệ đi trước d́u dắt nâng đỡ.

Về mặt tinh thần những người của thế hệ X cũng đă trải qua nhiều khủng hoảng. Trong thập niên 70, những người trẻ của thế hệ Baby Boomers đă hô hào các phong trào: Phụ nữ b́nh quyền, Tự do luyến ái, Cải cách tôn giáo. Ngoài những thành quả mong muốn, các trào lưu này cũng đă nẩy sanh ra nhiều hậu quả mà những người của thế hệ X đă phải gánh chịu. Tỷ lệ ly dị ở Bắc Mỹ đă gia tăng rất nhanh trong thập niên 70. Riêng ở Hoa Kỳ, tổng số ly dị đă tăng gấp đôi từ năm 1965 - 1975Từ những năm 1990 thảm trạng SIDA (AIDS) ngày càng bành trướng. Vai tṛ của người đàn ông đă không c̣n rơ ràng gây ra hiện tượng hoang mang: mất niềm tin nơi nam giới. Phụ nữ càng hăm hở đ̣i b́nh đẳng, nam giới càng lúng túng. Thiếu khuôn mẫu của người đi trước, lại thêm sự tấn công vũ băo của phong trào phụ nữ, người thanh niên X trở nên nhút nhát mặc cảm. Họ t́m đường thoát thân bằng cách lẩn tránh trách nhiệm. Hậu quả: tổng số ngườimẹ trẻ độc thân ngày càng gia tăng.

Với những khó khăn này rất nhiều người ở thế hệ X đă kết án đàn anh là nguyên nhân của những bất hạnh của họ Nous partions sur les ruines de nos prédécesseurs et c'était très lourd. Ils ont joui de la libération sexuelle, on se bat avec le SIDA. Ils réclament l'égalité des sexes, on vit l'éclatement de la famille. Chủ nghĩa cá nhân là nét tiêu biểu của thế hệ X. Chứng nhân của những ảo vọng tan vỡ của lớp người trước. Những người X thường có khuynh hướng sống một ḿnh. Chỗ dựa tinh thần qua tôn giáo và gia đ́nh đă lung lay rất nhiều. Sinh ra và trưởng thành trong một hoàn cảnh gia đ́nh, xă hội, kinh tế phức tạp như thế, mầm mống bất măn và bi quan dễ phát triển. Ở Bắc Mỹ từ thập niên 80, tỷ lệ tự tử, nghiện ngập và những hành vi bạo động của lớp tuổi này đă lên cao, nhất là về phí của những bất

Điều đáng buồn hơn nữa là cha mẹ của thế hệ X đă không thể nào thông cảm được vị trí khó khăn của con họ. Theo David K. Foot, cha mẹ của những người thế hệ X thuộc về thế hệ « Les enfants de la crise » đang ở vào lứa tuổi 60-70. Họ là những người đă gặp nhiều thuận lợi trong cuộc sống. Họ đă không hiểu tại sao con họ bị lận đận và họ cho rằng v́ thiếu tham vọng, thiếu ư chí và lười biếng nên con họ đă không thành công.
Các thế hệ khác cũng trách những người X đă quá ích kỷ, luôn thờ ơ với những biến chuyển chính trị. Sự thật th́ họ đă rất ít tham gia vào những hoạt động chính trị xă hội. Họ sống bên lề những biến cố xă hội và không có tham vọng đóng góp ư kiến. Theo một cuộc thăm ḍ thực hiện ở tỉnh bang Québec vào năm 1995, có đến 1/6 người trẻ đă xác nhận họ đă không bao giờ đi bỏ phiếu trong những cuộc bầu cử. Tỷ số này chỉ chiếm 1/20 nơi thế hệ Boommers và 1/50 của thế hệ cao niên. Cũng theo kết quả thăm ḍ này, sự hiểu biết của những người trẻ về những hoạt động, hướng đi của các đảng chính trị ở Québec hạn hẹp hơn những người lớn tuổi. Rất ít người trẻ tham dự trực tiếp vào guồng máy chính trị. Ở Québec hiện nay, những nghị sĩ tuổi từ 35 trở xuống chỉ chiếm 9 trên tổng số 125. Những người X quả thật rất lănh đạm trên phương trường chính trị xă hội. Điều này cũng dễ hiểu, dân số họ quá ít ỏi, đời sống họ không ổn định, xă hội đă làm ngơ trước những khó khăn của họ. Niềm ưu tư lớn nhất của họ không phải là thay đổi thế giới, cải cách xă hội, mà chính là làm sao bảo đảm được đời sống với những việc làm ổn định. Họ đă quá bận rộn trong việc mưu sinh, thành ra họ không c̣n thời giờ, tâm trí cho những hoạt động mà họ cho rằng ít cần thiết.

Vừa qua là một thực tế khó khăn của những người thuộc thế hệ X. Mặc dầu trong hoàn cảnh bất lợi như thế, ngày nay bước vào ngưỡng cửa 40, nhiều người của thế hệ X cũng đă tạo dựng được cho ḿnh một cơ nghiệp tương đối vững chắc. Nhưng cũng có những người vẫn c̣n sống trong cảnh bấp bênh. Để thành công những người thuộc thế hệ X phải cật lực phấn đấu. Nói chung đây là những người có óc độc lập, có tài xoay sở. Họ rất tháo vát, uyển chuyển, thích nghi dễ dàng với mọi thay đổi của đời sống.. Họ chăm chỉ, có tinh thần cầu tiến. Không như thế hệ đàn anh, cách suy nghĩ của họ thực tiễn hơn. Họ không có những hoài băo quá to lớn. Họ ấp ủ những nguyện vọng đơn giản nhưng thiết thực: bảo vệ hạnh phúc gia đ́nh, củng cố t́nh bạn hữu, t́m lại những giá trị thật của cuộc sống. Đây không phải là một thế hệ bàng quan, hoàn toàn ích kỷ. Để gầy dựng một cơ nghiệp như cha anh nhiều người đă phải miệt mài cố gắng trong cả 10-15 năm. Thành tựu đến với họ vất vả và muộn màng hơn. Vào tuổi 40, một số người đă ổn định, rất có thể họ sẽ tham gia tích cực hơn trong lănh vực chính trị, xă hội. Ở Québec, sự thành công của nghị sĩ trẻ Mario Dumont cùng với các đảng viên của ADQ (Action Démocratique du Québec) chống lại đảng kỳ cựu như PQ (Parti Québecois), Parti Libéral trong cuộc bầu cử tháng 6 vừa qua đă là dấu hiệu cho sự chuyển ḿnh của thế hệ X ? Ta không thể phủ nhận đây là một thế hệ đầy tiềm năng. Nhưng nhiều người đă mất niềm tin v́ các nhà lănh đạo đă làm ngơ trước những trắc trở của họ. Hố sâu giữa những thế hệ phát nguồn từ sự thiếu cảm thông của thế hệ cha anh và sự bất măn của những người thuộc thế hệ X.

Theo những tác giả tham khảo, đây là một vấn đề nghiêm trọng cần được giải quyết, v́ trong tương lai, với dân số ngày càng già đi, xă hội sẽ gặp nhiều thử thách cần sự đoàn kết của tất cả các thế hệ. Giải pháp đầu tiên là giải tỏa nạn thất nghiệp, trả lại cho những người X chỗ đứng xứng đáng với tài năng của họ. Điều này không khó với hoàn cảnh xă hội hiện tại, chỉ cần thiện chí và sự sáng suốt của các nhà lănh đạo. V́ ở Québec từ đây cho đến 10 năm nữa, guồng máy chánh phủ sẽ mất đi khoảng 40% công chức thường trực (21000 người sẽ nghỉ việc trên tổng số 500000). Trong khu vực tư nhân, t́nh trạng tương tự cũng sẽ xảy ra. Điều quan trọng thứ hai là thay v́ phê phán, các thế hệ cha anh phải lắng nghe và t́m hiểu tiếng nói của thế hệ X. Chỉ có trong tinh thần nâng đỡ, cảm thông và tôn trọng, cả thế hệ X mới có thể gạt bớt chủ nghĩa cá nhân của họ để góp phần tích cực vào công việc xây dựng xă hội.

Thế hệ X tại Hoa Kỳ

Như đă đề cập, thế hệ X cũng như thế hệ Baby Boomers là những thực tế chung cho toàn Bắc Mỹ. Phần đông những thí dụ diễn giải trong bài viết này được trích ra từ những thống kê ở Québec. Nhưng tại Hoa Kỳ và những tỉnh bang khác ở Canada, những phần tử X đều chung những điều kiện kinh tế nghiệt ngă. Về phương diện xă hội, văn hóa, mỗi địa phương hiển nhiên có những nét biệt lập, nhưng cũng đưa đến cùng kết quả : sự thành h́nh của nhân vật X đầy bất măn, nhưng tháo vát độc lập. Xă hội Hoa Kỳ luôn là sân khấu của những biến cố chấn động toàn thế giới. Bối cảnh xă hội mà những người X đă trưởng thành có thể là một đề tài thu hút mọi người. V́ thế người viết xin trích dẫn lại bài nhận định của một tác giả Hoa Kỳ về các giai đoạn phát triển của những người thuộc thế hệ X, hay phổ biến hơn, thế hệ 13.

Các hài nhi X ra đời cùng một lúc với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào kế hoạch hóa gia đ́nh. Lúc này người phụ nữ bắt đầu rời khỏi ngưỡng cửa gia đ́nh đi vào xă hội. Quan niệm sống của người dân Mỹ đă thay đổi. Con cái không c̣n là yếu tố thiết yếu của hạnh phúc. Trái lại tiện nghi vật chất đă trở thành ưu tiên một cho cuộc sống thành công đầy đủ. V́ thế các phương pháp ngừa thai đă gia tăng gần như gấp đôi : ngừa thai bằng hóa chất, ngừa thai bằng giải phẫu. Thậm chí cũng có nhiều người ngừa thai bằng cách... phá thai (ít nhất 1/3 tỷ số thai nghén lúc bấy giờ bị kết thúc bằng giải pháp này).

Cái nh́n của người lớn về thế giới trẻ thơ đă thay đổi. Ngày xưa các em nhi đồng Baby Boomers luôn là tâm điểm thu hút mọi chú ư. Trái lại đến thế hệ 13, sự hiện diện của các em bé X thường xuyên là nguyên nhân của sự bực dọc cáu kỉnh của người lớn. Người ta không ngừng phàn nàn khi phải đóng thuế tài trợ cho nhà trường, cho các sinh hoạt thiếu nhi. Phong trào Zéro Population Growth Movement hiện hữu trong thời gian này đă không ngừng rêu rao rằng mỗi em bé chào đời là một trở ngại. Tốt hơn là không nên sản xuất những sinh vật này. Các em bé X đă luôn cảm thấy ḿnh là những phần tử dư thừa.

Vào năm 1967, khi các người đầu của thế hệ 13 bước vào vườn trẻ, mẫu giáo, tỷ lệ ly dị đă vọt tăng rất nhanh như một nạn dịch. Cơ cấu gia đ́nh đă thay đổi. Hạnh phúc gia đ́nh với « My Three Sons » của thế hệ Boomers đă trở thành « My Two Dads » ở thế hệ 13. Các em bé X đă lớn lên giữa cấu trúc gia đ́nh lỏng lẻo, không điểm tựa, không gương theo. Người lớn đă bị hụt hẫng trước những xáo trộn gia đ́nh xă hội, họ không c̣n là khuôn mẫu để vẽ hướng đi cho con em họ.
Năm 1970, các em tiểu học X đă trở thành công cụ thí nghiệm của những phương pháp giảng dạy mới.

Năm 1973, ở lớp 6ù, các em bắt đầu học nằm ḷng những bài công dân, trong khi tin tức thời sự nóng hổi xoay quanh sự kiện tai tiếng Watergate của Nixon. Đây không phải là lần đầu tiên mà sự mâu thuẫn giữa lư thuyết nhà trường và thực tế xă hội đă gây ra niềm hoang mang cho các em. 

Vào năm 1979, khi cacù phần tử X tốt nghiệp trung học, th́ xă hội Mỹ đang chiếm kỷ lục về tỷ số tội ác, nạn nghiện ngập và dịch tự tử ở lớp thanh thiếu niên.

Năm 1983, khi các thành viên X vừa tốt nghiệp đại học, thời kết quả của một khảo cứu rất nổi tiếng, « A Nation Risk Report », đă vạch trần tính chất tồi tệ của chương tŕnh giáo dục đương thời. Do đó, một cách gián tiếp, văn bằng đại học mà người X vừa đạt được đă bị giảm bớt giá trị. Nhưng không sao, mọi người thân đều kỳ vọng nơi họ : Các người trẻ X sẽ rời khỏi mái gia đ́nh để tự lực cánh sinh. Họ sẽ có một việc làm tương xứng với tài năng của họ. Thế mà không, họ vẫn tiếp tục ở chung với gia đ́nh vào lứa tuổi 25, 30. Họ vẫn tiếp tục làm những công việc bấp bênh. Họ thường là nhân viên bán hàng, người giao hàng chuyển thơ, người hầu bàn, gác kho. Một cách tóm tắt, những việc làm của họ thật là tạp nhạp, lương thấp, không quyền lợi. Người ta gọi chung những việc làm không hấp dẫn này một cái tên thật b́nh dân Mc Jobbers (đồng nghĩa với No Future, No Prestige). Đây là khởi đầu của những thất vọng liên tiếp của những người X. Hoàn cảnh kinh tế Hoa Kỳ bấy giờ cũng chịu một sự khủng hoảng nặng nề, nợ quốc gia đă tăng đến mức vô tiền khoáng hậu. Các người thế hệ thứ 13 trông chờ sự trợ giúp của chính phủ và những người đi trước. Nhưng lạ lùng thay, guồng máy chính phủ đă khôn khéo đưa ra những đạo luật khiến cho giới trẻ ngày càng nghèo đi. Và những người Boomers và cao niên vẫn có những quy chế riêng để bảo vệ quyền lợi của họ. Phũ phàng hơn nữa, thay v́ cảm thông với những khó khăn của thế hệ này, các người của thế hệ trước không ngừng chỉ trích họ là những người biếng nhác, ích kỷ, là biểu tượng cho sự suy tàn của toàn nước Mỹ.

Nói tóm lại giống như những chiến sĩ , những người thế hệ X đă và đang đối đầu với tương lai bằng một thái độ vừa dũng cảm vừa chán nản, họ phải tỉnh táo, nhanh lẹ, để có thể tồn tại trong một cơ cấu xă hội bất công. Thanh niên của thế hệ 13 cảm thấy họ càng ngày càng bị cô lập. Họ không t́m thấy giải pháp cho những trở ngại của họ. Họ mất niềm tin. Từng bước một, họ lần ṃ t́m cách mở cánh cửa giải tỏa tất cả khó khăn. Ánh sáng chưa đến với họ. Trước mặt họ cả một chướng ngại vật to lớn cản trở con đường công danh hạnh phúc.

Chướng ngại vật này là ǵ ? Chính là cả thế hệ Baby Boomers.

Những người Việt Nam thuộc lớp tuổi X ở hải ngoại

Họ là những người bắt đầu vào lớp tuổi 30-40. Họ cũng chia xẻ với dân bản xứ những điều kiện kinh tế xă hội hết sức khắt khe. Và họ đă phải phấn đấu nhọc nhằn hơn những người bản xứ. Với bản chất cần cù, kiên nhẫn thuần túy của người Việt Nam, nhiều người thuộc lứa tuổi X đă thành công. Khác với dân bản xứ, họ không nuôi phẫn uất, không cay đắng trước những trở ngại chất chồng. Nhiều người trong thế hệ X đă sống nhiều năm dưới chế độ cộng sản. Chế độ độc tài này đă như một ḷ luyện thép khiến họ trở nên cứng rắn, kiên cường hơn, và đă khắc phục được khá dễ dàng mọi thử thách. Họ không than văn v́ họ nghĩ rằng họ đă rất may mắn so với những người c̣n ở lại quê nhà. Họ không uất ức, ganh tỵ v́ con đường cha anh họ đă gặp nhiều chông gai hơn. V́ thế đă không có những tranh chấp quyền lợi dẫn đến sự chia rẽ giữa các thế hệ trong cộng đồng Việt Nam. Tuy nhiên giữa các thế hệ Việt Nam tại hải ngoại cũng tiềm tàng ít nhiều mâu thuẫn, bất đồng phát nguồn từ sự khác biệt về mức độ hội nhập vào nền văn hóa Tây phương của từng thế hệ.

Thế hệ cao niên đă thấm nhuần văn hóa Việt Nam nặng tinh thần Khổng Giáo, quen với cung cách trên kính dưới nhường. Thế hệ trẻ hấp thụ tinh thần dân chủ Tây phương, chủ trương sự b́nh đẳng. V́ thế trong những cuộc hội thoại, những người lớn tuổi có thể bị ngỡ ngàng thất vọng cho rằng lớp trẻ đă mất đi sự kính trọng đối với các bậc cao niên. Người trẻ có thể cho rằng thế hệ già độc đoán và cố chấp. Trong gia đ́nh và ngoài xă hội, những va chạm này dễ xảy ra. Chỉ cần tất cả những lớp tuổi ư thức được hiện tượng khác biệt văn hóa để có thể ngồi lại với nhau. Hơn lúc nào hết sự cảm thông và đoàn kết giữa các thế hệ Việt Nam hải ngoại là yếu tố thiết yếu để xây đắp một gia đ́nh hạnh phúc, để củng cố cộng đồng và duy tŕ nền văn hóa Việt Nam.

Trong thời gian vừa qua, những người X Việt Nam đă bận rộn trong vấn đề sinh kế. Ngày nay vào lứa tuổi 35-40, họ đă tạm ổn định. Rất nhiều người ôm ấp nguyện vọng phải làm một điều ǵ hữu ích cho cộng đồng, cho quê hương. Để thực hiện dự định cao đẹp này, chúng tôi cần có sự dẫn dắt của thế hệ cha anh./.