Nhân Văn - Giai Phẩm là tên của hai đặc san xuất bản vào đầu năm 1956 tại Hà
Nội, đă đăng những bài báo bị chế độ cộng sản kết án là đối kháng và không chấp
nhận sự “lănh đạo văn nghệ” của đảng. Chẳng những hai đặc san nầy bị đóng cửa mà
các tác giả bị đấu tố, kết án và có người không chịu khuất phục nên bị trù dập
suốt đời. Để hiểu rơ câu chuyện, hăy thử bắt đầu từ tổng quan hoàn cảnh nẩy sinh
ra vụ án văn chương đối kháng nầy.
I.- TỔNG QUAN
1.- CHÍNH SÁCH VĂN HÓA CỦA CỘNG SẢN VIỆT NAM
Chế độ cộng sản Việt Nam là chế độ độc tài toàn trị, theo mẫu mực của chế độ
cộng sản Liên Xô và cộng sản Trung Hoa, tức độc tài về mọi mặt, mọi sinh hoạt,
như chính trị, kinh tế, tài chánh, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, tư tưởng, thông
tin, báo chí...
Về giáo dục, chính sách giáo dục của VM do Nguyễn Khánh Toàn (1905-1993) đưa về
từ Liên Xô. Nguyễn Khánh Toàn là thứ trưởng bộ Giáo dục trong chính phủ Việt
Minh ngày 3-11-1946. Tuy chỉ là thứ trưởng, nhưng Nguyễn Khánh Toàn nắm thực
quyền trong bộ Giáo dục, c̣n bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên chỉ làm bù nh́n mà thôi.
Nguyễn Khánh Toàn, có tên Nga là Minin, đă ṭng học tại Học viện Thợ thuyền Đông
phương (Université des Travailleurs d’Orient) ở Moscow (Liên Xô) từ năm 1928 đến
năm 1931.
Nguyễn Khánh Toàn ứng dụng triết lư giáo dục của Liên Xô, gọi là “giáo dục phục
vụ nhân dân” hay “giáo dục phục vụ chính trị”. Đó là nền giáo dục nhằm mục đích
trên lư thuyết là phục vụ nhân dân, phục vụ công nhân lao động, nhưng trên thực
tế là phục vụ chính trị, tức phục vụ chế độ do đảng CSĐD lănh đạo.(1)
Giáo dục học đường nhắm mục đích phục vụ chính trị, phục vụ chế độ, th́ chính
sách văn hóa cũng không ngoài mục đích nầy. Khi chiến tranh xảy ra, dựa vào lư
do phục vụ công cuộc kháng chiến chống Pháp, Việt Minh kiểm soát chặt chẽ tất cả
các sinh hoạt văn hóa. Sách báo, thơ nhạc, kịch nghệ ở vùng VM rất hạn chế, chỉ
xoay quanh chủ đề kháng Pháp, chiến thắng giặc “Tây”, và chủ đề nông nghiệp.
Những nội dung lăng mạn bị hạn chế, bị kiểm điểm và dần dần hầu như bị cấm đoán.
Sau hiệp định Genève (20-7-1954), đất nước bị chia hai ở sông Bến Hải, ngang qua
vĩ tuyến 17. Đảng Lao Động (LĐ) và Hồ Chí Minh cai trị phía Bắc (Bắc Việt). Hồ
Chí Minh tiếp tục chính sách kiểm soát văn hóa, giới hạn các sinh hoạt văn hóa
trong đường lối đảng.
Cần chú ư là cộng sản chỉ xem hiệp định Genève (20-7-1954) là cơ hội tạm thời
hưu chiến, nghỉ dưỡng sức, và cài người ở lại miền Nam, “trường kỳ mai phục”,
chuẩn bị tiếp tục chiến tranh chống miền Nam. (2) Sau năm 1954, để chuẩn bị gởi
quân xâm lăng miền Nam, Cộng Sản Bắc Việt t́m cách ổn định tuyệt đối hậu cứ ở
miền Bắc.
Lúc mới tiếp thu, tại miền Bắc, về phương diện chính trị, Hồ Chí Minh và đảng LĐ
quyết áp đặt trên toàn miền Bắc chế độ độc tài đảng trị theo chủ thuyết Mác-Lê,
khác hẳn với truyền thống văn hóa và chính trị của người Việt từ trước đến nay.
Đảng LĐ đă đưa ra kế hoạch chiến lược dài hạn: quản lư chặt chẽ dân số toàn
quốc, đặt định nền kinh tế chỉ huy, và quản lư văn hóa tư tưởng theo đường lối
cộng sản.
Về trị an xă hội, tháng 9-1955, nhà nước cộng sản ra lệnh “quản lư hộ khẩu”,
theo bài bản của Liên Xô và Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH). Tất cả công
dân đều phải có sổ hộ khẩu [sổ gia đ́nh] do công an địa phương cấp. Sổ hộ khẩu
buộc chặt người dân ở yên một chỗ, rất khó xin chuyển đổi nơi cư trú. Nhà cầm
quyền cộng sản dùng sổ hộ khẩu kiểm soát dân chúng, bắt lính dễ dàng. Không một
thanh niên nào dám trốn tránh “nghĩa vụ quân sự”, v́ nếu không thi hành chính
sách của nhà nước, sổ hộ khẩu sẽ bị tịch thu, th́ gia đ́nh sẽ không c̣n cách ǵ
làm ăn sinh sống được nữa.
Về kinh tế, đảng LĐ theo con đường kinh tế chỉ huy của Liên Xô và CHNDTH. Trước
hết, CSVN nhắm ngay đến thành phần đông đảo nhất trong xă hội Việt Nam là nông
dân. Cộng Sản tiếp tục thi hành Cuộc cải cách ruộng đất (CCRĐ) đợt 5 từ tháng
6-1955 cho đến tháng 7-1956, một cách gay gắt sắt máu hơn các cuộc cải cách
trước, tổ chức đấu tố rùng rợn, hủy hoại cấu trúc hạ tầng cơ sở, triệt hạ toàn
bộ các hào mục lănh đạo xă thôn cũ để thay bằng lớp cán bộ cộng sản mới. Cuộc
CCRĐ lần nầy giết hại 172,008 người.(3)
Tại thành phố, đối với các ngành sản xuất và thương mại, nhà nước cộng sản cho
thi hành kế hoạch công tư hợp doanh. Dưới chế độ cộng sản, công tư hợp doanh có
nghĩa là tư nhân đưa tài sản riêng của ḿnh, tức là cơ sở riêng ḿnh đang đầu
tư, vào hợp doanh với nhà nước. Tất cả mọi doanh gia đều phải vào công tư hợp
doanh. Ngày 24-11-1955, ban bí thư Trung ương đảng LĐ ra lệnh thiết lập hợp tác
xă mua bán ở nông thôn và hợp tác xă tiêu thụ ở các thành phố,(4) nắm toàn bộ
việc lưu thông và phân phối hàng hóa trong cả nước.
Về phương diện thông tin và văn hóa, ngay khi vừa về Hà Nội ngày 15-10-1954, Hồ
Chí Minh và nhà cầm quyền cộng sản đưa ra một số quy định nghiêm cấm báo chí
trong tháng 10-1954, đại để là: “Không được chống chính phủ và chế độ; không
được xúi giục nhân dân và bộ đội làm loạn; không được nói xấu các nước bạn;
không được tiết lộ các bí mật quân sự; không được đăng bài vở có phương hại đến
thuần phong mỹ tục”.(5) Đây là bước đầu quản lư văn hóa tư tưởng giới trí thức
văn nghệ sĩ thành phố.
2.- TÂM T̀NH GIỚI TRÍ THỨC VÀ VĂN NGHỆ SĨ BẮC VIỆT SAU 1954
Giới trí thức và văn nghệ sĩ chân chính là những người nhạy bén trước những hiện
tượng xă hội và chính trị, nhất là vấn đề tự do dân chủ. Trong thời gian chiến
tranh, giới trí thức và văn nghệ sĩ miền Bắc sống phân tán khắp nơi. V́ tinh
thần đoàn kết, v́ lư tưởng dân tộc, trong thời gian chiến tranh, các trí thức,
văn nghệ sĩ đều nhẫn nhục, chấp nhận đặt ḿnh vào kỷ luật, để cùng nhau đoàn kết
chống Pháp. Cần chú ư, trước khi theo Việt Minh (VM), họ là những người đă từng
sinh sống ở các thành phố và hấp thụ tinh thần tự do dân chủ của nền văn hóa
Pháp.
Sau khi ḥa b́nh được tái lập, giới trí thức và văn nghệ sĩ tập trung về Hà Nội,
nên có cơ hội gặp nhau để bàn bạc, trao đổi kinh nghiệm, và so sánh những hứa
hẹn của Hồ Chí Minh và đảng LĐ trước kháng chiến với thực tại xă hội mới sau năm
1954. Dưới chế độ mới của cộng sản Hà Nội, người nghệ sĩ chẳng những cảm thấy
cay đắng v́ bất công xă hội, mà c̣n bị mất tự do, nhất là tự do tư tưởng và sáng
tác. Họ bị bắt buộc phải theo sát giáo điều Mác xít và đường lối chính sách của
nhà nước, đến nỗi có người đă phát biểu: “Hai năm ḥa b́nh, chúng ta thấy nhiều
nhà văn (trước kia) có tài, (ngày nay) bị buộc chặt vào địa vị, bằng những sợi
lụa có tẩm độc. Tác phẩm của họ (ngày nay) chỉ là chỉ thị, kế hoạch, công văn,
thông cáo...” (6)
Chính lối viết văn như thông cáo, làm thơ theo chỉ thị, đă gây dị ứng nơi những
văn nghệ sĩ chân chính, nhất là khi đọc những bài thơ đại loại như:
“...Sta-lin! Sta-lin!
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu ḷng, con gọi Sta-lin! ...”
(Tố Hữu, “Đời đời nhớ ông”, viết năm 1953) (HVC, sđd.200)
Hoặc:
“...Mẹ xưa chăm cháo, chăm cơm,
Đảng nay nuôi nấng c̣n hơn mẹ hiền.
Bệnh từ đời cũ liên miên,
Đảng trong thức ngủ chăm liền sớm hôm...”
(Xuân Diệu, “Trước đây bốn tháng”, viết năm 1953) (7)
Trước t́nh h́nh như vậy, thi sĩ Hữu Loan nhận xét:
“...Một điều đau xót,
Trong chế độ chúng ta
Trong chế độ “Dân chủ Cộng ḥa”
Những thằng nịnh hót c̣n thênh thang đất sống...”
(“Cùng những thằng nịnh hót”) (8)
Trong bài “Phê b́nh lănh đạo văn nghệ” đăng trên Giai Phẩm Mùa Thu, tập 1 (Hà
Nội, 1956), Phan Khôi chia giới văn nghệ sĩ lúc đó ở Bắc Việt thành hai giai cấp
rơ rệt: đó là “lănh đạo văn nghệ” và “quần chúng văn nghệ”.(9) “Lănh đạo văn
nghệ” c̣n được gọi là những “ông quan văn nghệ” gồm những người viết văn theo
lệnh đảng LĐ, được đảng tin cậy và giao phó nhiệm vụ chỉ huy nền văn nghệ cộng
sản.
Đứng đầu những “ông quan văn nghệ” là Tố Hữu, uỷ viên Trung ương đảng, Trưởng
ban Tuyên huấn Trung ương. Thứ đến là những người đă giác ngộ sâu sắc sau phong
trào chỉnh huấn, ngoan ngoản vâng lệnh đảng LĐ, và được lănh đạo đảng tin dùng,
như Hoàng Xuân Nhị, Hoài Thanh (Nguyễn Đức Nguyên), Nguyễn Đ́nh Thi, Nguyễn
Chương, Hồng Chương, Hà Xuân Trường, Chính Hữu, Như Phong (NMC, sđd. 83). Ngoài
ra, phải kể thêm Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Thế Lữ. Nguyễn Tuân đă có lần can đảm
tuyên bố một cách chua chát: “Tao c̣n sống đến bây giờ là c̣n biết sợ! “ (10)
“Quần chúng văn nghệ” là những thành phần c̣n lại, yêu nước và yêu tự do dân chủ,
không muốn bị g̣ bó trong khuôn khổ giáo điều và sự quản lư chỉ đạo của “lănh
đạo văn nghệ”. Thành phần quần chúng văn nghệ đông đảo hơn và hăng say tranh đấu
cho tự do sáng tác. Họ không thể viết thẳng ra, nên chỉ nói bóng gió như Văn Cao
trong bài thơ dài “Những người trên cửa biển”, đăng trên Giai Phẩm Mùa Thu tập
2, Hà Nội, tháng 10-1956:
“... Những con bạch tuộc
Bao nhiêu tay chân d́m chết một con người
Đất nước đang lên da lên thịt
Đất nước c̣n đang nhỏ máu ngày ngày
Ta muốn gói cuộc đời gọn gàng như trái vải
Đă thấy loài sâu nằm trong cuống
Chúng muốn các em nhỏ mới biết đi phải rụng
Ṃn mỏi dần sức vỡ đất khai hoang
Làm rỗng những con người, lùi dần niềm hy vọng
Héo dần mầm sáng tạo, mất phẩm giá con người....” (HVC, sđd. 225.)
3.- NHỮNG NHÀ VẬN ĐỘNG
Trước khi những văn nghệ sĩ Hà Nội thực sự cùng nhau bắt tay vào việc tranh đấu
đ̣i hỏi tự do văn nghệ năm 1956, đă có nhiều nhà hoạt động văn hóa vận động, yểm
trợ và thúc đẩy các văn nghệ sĩ trong việc đưa ra tiếng nói trung thực của ḿnh
để phản kháng chế độ cộng sản can thiệp thô bạo vào nền tự do tư tưởng. Đó là
Nguyễn Hữu Đang, Thụy An Lưu Thị Yến, Trần Thiếu Bảo, Hoàng Cầm và Trần Dần.
Nguyễn Hữu Đang quê ở Thái B́nh, tham gia những phong trào ái quốc rất sớm.
Trước năm 1942, ông hoạt động trong phong trào “Truyền bá Quốc ngữ”. Có thể
trong thời gian nầy, ông đă tiếp xúc với VM nên được VM phân công tham gia “Hội
Văn hóa Cứu quốc” năm 1942. Khi VM cướp chính quyền năm 1945, tại Hà Nội, ông
rất có uy tín trong giới trí thức, văn nghệ sĩ Hà Nội. Ông là trưởng ban tổ chức
ngày lễ 2-9-1945 của VM tại Hà Nội, (11) và sau đó đă giữ chức thứ trưởng một bộ
trong chính phủ Hồ Chí Minh. (NMC, sđd. 77).
Nguyễn Hữu Đang gia nhập đảng Cộng Sản năm 1947, lúc đó đảng nầy hoạt động trong
ṿng bí mật, nhưng ông lại ra khỏi đảng năm 1951, và bắt đầu lên tiếng đả kích
những sai trái của đảng.(12) Trong thời gian ở Thanh Hóa khoảng 1952-1953,
Nguyễn Hữu Đang làm tổng thanh tra B́nh dân học vụ. Sau năm 1954, Trung ương
đảng LĐ cho xe vào Thanh Hóa mời Nguyễn Hữu Đang ra Hà Nội, muốn nhận chức bộ
trưởng nào th́ nhận, mời sinh hoạt đảng trở lại, nhưng ông Đang đều khước từ.(13)
Nguyễn Hữu Đang là người đứng ra tập họp anh em, vận động ra báo. Trong vụ Nhân
Văn, Nguyễn Hữu Đang lo việc quyên góp tài chánh, chạy mua giấy in, sắp đặt
chuyện ấn hành, lại c̣n viết nhiều bài kư tên khác. Cách gây quỹ của ông rất
khéo léo nên được nhiều người ủng hộ. Trong đợt học tập của các trí thức và văn
nghệ sĩ từ ngày 1-8 đến 18-8-1956 ở Hà Nội, Nguyễn Hữu Đang đọc một bài tham
luận mạnh mẽ, đả kích đường lối lănh đạo văn nghệ của đảng LĐ.
Trần Thiếu Bảo: Nguyễn Hữu Đang quen thân với Trần Thiếu Bảo từ trước 1945. Trần
Thiếu Bảo thuộc một gia đ́nh giàu có ở Thái B́nh. Ông mở nhà sách Minh Đức, v́
vậy người ta c̣n gọi là ông Minh Đức. Sau nhà sách biến thành nhà xuất bản. Nhà
xuất bản nầy cùng chủ lên chiến khu cho đến năm 1954 mới trở về Hà Nội.
Trong năm 1956, nhà xuất bản Minh Đức của Trần Thiếu Bảo đă đứng ra ấn hành các
giai phẩm gồm có Giai Phẩm 1956 (sau nầy gọi là Giai Phẩm Mùa Xuân) Giai Phẩm
Mùa Thu 1, 2 và 3, Giai Phẩm Mùa Đông, báo Nhân Văn từ số 1 đến số 6 (bị đóng
cửa khi c̣n đang in), và giai phẩm Đất Mới (của sinh viên đại học Hà Nội, ra một
số th́ bị đ́nh bản).
Thụy An Lưu Thị Yến là một nữ văn sĩ kỳ cựu, đă từng cộng tác với báo Phụ Nữ Tân
Văn, (14) và là tác giả của tiểu thuyết Một linh hồn, mà theo nhà phê b́nh Vũ
Ngọc Phan trong sách Nhà văn hiện đại: “Một linh hồn đáng kể là cuốn tiểu thuyết
xuất sắc nhất của phụ nữ Việt Nam từ trước cho đến nay, tác giả đă giàu tưởng
tượng, lại xây dựng một cách vững vàng chắc chắn.”(15)
Thụy An thường đến sinh hoạt ở Hội Nhà văn, gặp gỡ nhiều văn nghệ sĩ. Bà là một
nữ văn sĩ lớn tuổi kỳ cựu, trải qua nhiều trào lưu chính trị, có nhiều kinh
nghiệm sống thực tế, lại rất hào phóng giúp đỡ anh em trong lúc khó khăn, nên bà
được nhiều người quư mến. Bà phản đối chế độ cộng sản đă bần cùng hóa nhân dân,
và bà khuyến khích giới văn nghệ nói lên tiếng nói lương tâm. Sau vụ Nhân Văn -
Giai Phẩm, trong bản tự kiểm, Lê Đạt viết về Thụy An như sau: “Mỗi lần ở nhà
Thụy An ra là mỗi lần tôi thấy ḿnh tài giỏi thêm và chán nản thêm, ḷng tin
tưởng của tôi mất dần khi Thụy An nói đến những con người không đất đứng và tôi
cũng tự hỏi đất đứng của ḿnh ở đâu?”(Thụy Khê, bđd.).
Hoàng Cầm: Người đầu tiên vận động đ̣i hỏi tự do văn nghệ ngay từ lúc c̣n ở
trong chiến khu có lẽ là Hoàng Cầm. Năm 1950, trong một hội nghị văn công tổ
chức ở Việt Bắc, Hoàng Cầm, lúc đó phụ trách đoàn Văn công quân đội khu Việt
Bắc, đă phát biểu: “Đảng không nên nhúng tay vào chuyên môn của nghệ thuật”. Về
Hà Nội sau khi ḥa b́nh tái lập năm 1954, tuy được cử làm đoàn trưởng Đoàn kịch
Tổng cục chính trị trong quân đội, Hoàng Cầm vẫn tiếp tục đ̣i hỏi tự do cho giới
văn nghệ. Ông cùng với Trần Dần quyết tranh đấu cho việc cởi trói văn nghệ,
nhưng thất bại nên ông xin ra khỏi quân đội và từ nhiệm.(16)
Trần Dần (1926-1997): Trần Dần sinh năm 1924 tại Nam Định, theo kháng chiến
chống Pháp, vào bộ đội rồi vào đảng LĐ. Ông phụ trách tuyên truyền, điều khiển
đoàn văn công. Năm 1951, ông đổi qua viết báo Cứu Quốc và giảng dạy về văn nghệ
nhân dân và chính sách lănh đạo văn nghệ của đảng trong các lớp đào tạo văn
công.
Ông bị cấp trên phê b́nh giảng sai đường lối. Ông lại ra tiền tuyến, tham gia
chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Cảm xúc trước sự hy sinh lớn lao của những
đồng đội trong trận Điện Biên Phủ, Trần Dần sáng tác quyển kư sự Người người lớp
lớp. Nhờ sách nầy, sau khi ḥa b́nh được tái lập năm 1954, Trần Dần được cử sang
CHNDTH để viết lời dẫn truyện bằng tiếng Việt cho phim “Chiến thắng Điện Biên
Phủ”, do cộng sản Việt Nam diễn lại, cán bộ CHNDTH thu h́nh, và mang về CHNDTH
thu âm. (HVC, sđd. 98-99).
Trong chuyến công tác nầy, một viên cán bộ chính trị được đảng LĐ gởi theo kèm
Trần Dần. Đáng lẽ chỉ làm công việc cố vấn cho đúng đường lối đảng, y chỉnh lại
bài viết của Trần Dần từng lời, từng chữ, đôi khi c̣n đọc cho Trần Dần viết.
Trần Dần đưa vấn đề lên cấp trên xin giải quyết, nhưng lănh đạo trả lời rằng cán
bộ chính trị có quyền quyết định mọi việc. Điều nầy khiến Trần Dần rất bất măn,
và xin ngưng viết thuyết minh cho phim.
Trước khi trở về Việt Nam, Trần Dần đọc được lá thư của nhà văn Trung Quốc là Hồ
Phong gởi Uỷ ban Trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) vào tháng
7-1954.(17) Hồ Phong phản đối “năm nhát dao” mà đảng găm vào năo trạng những nhà
văn cách mạng. Đó là: “Ư hệ cộng sản cưỡng bách, cảm hứng chỉ rút ra từ đời sống
công nhân và nông dân, giáo dục lại và cải tạo ư hệ, h́nh thức do đảng áp đặt,
và đề tài do đảng quy định.”(18) Từ đó, Trần Dần luôn luôn bị ám ảnh bởi vấn đề
tương quan giữa nghệ thuật và chính trị, nên khi trở về Việt Nam, Trần Dần tích
cực vận động đ̣i hỏi nền tự do văn nghệ ở đất Bắc thời bấy giờ.
Chính do những vận động và hỗ trợ của các nhân vật trên đây, từ Nguyễn Hữu Đang,
Trần Thiếu Bảo, đến Thụy An Lưu Thị Yến, và nhất là Trần Dần trong giới văn nghệ
sĩ, đă đưa đến sự bùng nổ của vụ án Nhân Văn - Giai Phẩm.
II.- CUỘC ĐỐI KHÁNG
1. NHỮNG BIẾN CỐ DẪN ĐƯỜNG
Vụ Hồ Phong ở CHNDTH được Ngô Điền, thông tín viên báo chí Bắc Việt tại Bắc Kinh,
tường thuật trên báo Nhân Dân, Hà Nội, ngày 3-7-1954 (GB, sđd. tr. 133). Trần
Dần không bao giờ quên những ǵ ông đọc được trong lá thư của Hồ Phong. Lúc đầu,
ông cùng một số văn hữu trong quân đội như Hoàng Cầm, Tử Phác, Đỗ Nhuận, Trúc
Lâm, Hoàng Tích Linh, sau đó vào cuối năm 1954, nhiều nhà văn khác cùng tham gia,
soạn thảo một “bản đề nghị chính sách văn hóa”. Bản đề nghị nầy được đưa lên các
cấp lănh đạo vào đầu nằm 1955.
Bản đề nghị xoay quanh ba điểm: Thứ nhất, trả văn học nghệ thuật cho văn nghệ sĩ.
Thứ hai, thành lập một tổ chức văn học nghệ thuật trong quân đội; tổ chức nầy
liên hệ trực tiếp với Hội Văn Nghệ trung ương, không cần phải thông qua bộ phận
thông tin tuyên truyền của Tổng cục chính trị. Thứ ba, loại bỏ những quy định
quân sự hiện hành trong tổ chức văn học nghệ thuật quân đội. (GB, sđd.32, 88).
Những ư kiến đề nghị của các văn nghệ sĩ trên đây cho thấy, lúc đó họ vẫn chấp
nhận sự lănh đạo của đảng LĐ, nhưng lại yêu cầu đảng thay đổi cách quản lư văn
nghệ trong quân đội, đừng can thiệp vào công cuộc sáng tác của nhà văn. Những ư
kiến nầy đă được nhiều viên chức cao cấp trong đảng và quân đội chia sẻ, đặc
biệt có đại tá Lê Liêm, chính uỷ mặt trận Điện Biên Phủ, cùng các tướng Trần Độ,
Lê Quang Đạo. Tuy nhiên, một nhân vật quan trọng trong quân đội lúc đó, tướng
Nguyễn Chí Thanh, uỷ viên bộ chính trị đảng LĐ từ 1951, chủ nhiệm Tổng cục chính
trị, phản đối kịch liệt và loại bỏ ngay bản đề nghị nầy (GB, sđd.254-255).
Bản đề nghị sửa đổi cách lănh đạo văn nghệ c̣n đang được dư luận bàn tán, th́
xảy ra việc thơ Tố Hữu bị đả kích. Tố Hữu (1920-2002), người Thừa Thiên, tên
thật là Nguyễn Kim Thành, gia nhập đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1938. Ông là một
trong những người cầm đầu cuộc cướp chính quyền tại Huế năm 1945, và được bầu
làm uỷ viên Trung ương đảng năm 1951. Từ lúc đó, ông làm trưởng ban Tuyên giáo [tuyên
truyền và giáo dục] trung ương, nắm trong tay vận mạng nền văn hóa, văn nghệ của
Bắc Việt. Thơ ông nặng tính truyên truyền, hết ḿnh ca ngợi các nước cộng sản và
các lănh tụ cộng sản như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh.
Ngày 4-3-1955, tại Hà Nội diễn ra cuộc họp các văn nghệ sĩ để phê b́nh tập thơ
Việt Bắc của Tố Hữu, ấn hành vào cuối năm 1954 với số lượng lớn lao là 20.000
bản.(19) Trong khi các văn thi sĩ nhà nước đua nhau ca tụng Tố Hữu th́ Trần Dần,
Hoàng Cầm, Hoàng Yến, Lê Đạt (tên thật là Đào Công Đạt) lại đưa ra những điểm
yếu kém của thơ Tố Hữu. Trần Dần nhận xét rằng thơ Tố Hữu “nhỏ bé nhạt nhẽo
trước cuộc sống vĩ đại, và mắc một sai lầm nghiêm trọng là sùng bái cá nhân,
thần thánh hóa lănh tụ”.(20) Lời b́nh phẩm nầy chẳng những chê bai Tố Hữu mà c̣n
đụng chạm đến những lănh tụ cộng sản trên thế giới mà Tố Hữu đă t́nh nguyện
thương gấp mười lần so với tổng cộng các thành viên trong gia đ́nh ông
ta.(“Thương cha, thương mẹ, thương chồng,/Thương ḿnh thương một, thương ông
thương mười”, thơ Tố Hữu, “Đời đời nhớ ông”).
Theo Hoàng Cầm viết trên báo Văn Nghệ, Hà Nội, số 67, thơ Tố Hữu “giống như một
vại nước to, đầy tràn, pha loăng một màu sữa. Loăng quá, tôi thèm một cốc dù nhỏ
thôi nhưng chan chứa những chất nuôi sống một tâm hồn.”(NHQ, sđd.146). C̣n Lê
Đạt, trên báo Văn Nghệ số 68 th́ cho rằng: “Thơ Tố Hữu đứng về một phương diện
nào mà nói là thơ có ích. Tố Hữu có nhiều cố gắng phục vụ công tác chính trị...Thơ
Tố Hữu là những bài học chính sách tốt. Nhưng những bài học chính sách tốt chưa
phải là đă hiện thực, đă công nông. Vấn đề nội dung, tôi nhắc lại, căn bản là
cái điệu tâm hồn của tác giả.”(NHQ, sđd.146)
Điều nầy chẳng những làm cho Tố Hữu , mà cả các cán bộ lănh đạo văn nghệ giận dữ,
đến nỗi có người đă thốt ra câu nói quái gở: “Địch nó không mong ǵ hơn chúng ta
chê thơ Tố Hữu”.(21)
Trong lúc đó, Trần Dần lại đang lấn cấn vụ cưới vợ. Trần Dần yêu và muốn kết hôn
với cô K., một người theo Thiên Chúa giáo, con của một gia đ́nh giàu có ở Hà Nội
đă di cư vào Nam. Cô K. sống nhờ vào tiền cho thuê nhà do cha mẹ để lại, nên bị
xếp vào thành phần bóc lột. Đảng LĐ không chấp thuận cuộc hôn nhân nầy. Trần Dần
khuyên người yêu giao nhà cửa của cha mẹ cho “Ban quản lư tài sản của những
người vắng mặt”, chịu sống cực khổ để có thể cùng nhau lập gia đ́nh. Dầu vậy,
đảng cũng không cho phép. Trần Dần cứ mặc nhiên đến phố Sinh Từ, nơi có nhà cô
K., sống chung với người yêu. Cộng sản liền thuyên chuyển ông lên Việt Bắc. Viện
cớ đau yếu, Trần Dần xin nghỉ việc, bỏ về Hà Nội và nạp đơn xin ra khỏi đảng
cũng như ra khỏi quân đội vào giữa tháng 5-1955 (GB, sđd.126).
Đảng LĐ quyết định khai trừ Trần Dần, nhưng quân đội giữ ông lại, v́ sợ rằng khi
trở về đời sống dân sự, ông sẽ gây nhiều tai tiếng nguy hại hơn. Trần Dần bị bắt
giam trong ba tháng (lần thứ nhất), từ tháng 7 đến tháng 9-1955 th́ được thả ra
với bản án kỳ lạ “cấm sáng tác” (NMC, sđd. tr. 18). Trong thời gian bị giam lần
thứ nhất, ông sáng tác bài thơ dài trên 300 câu nhan đề “Nhất định thắng”, và
ông đă giao bài thơ nầy cho Lê Đạt khi ra khỏi tù. (Bài thơ nầy là đề tài để
cộng sản tố khổ Trần Dần).
Để chỉnh đốn tư tưởng Trần Dần, người ta gởi ông về nông thôn quan sát cuộc
CCRĐ. Trần Dần lợi dụng cơ hội nầy, về thăm người yêu và liên lạc với các văn
thi hữu như Lê Đạt, Hoàng Cầm, sửa soạn và hối thúc ra mắt Giai Phẩm 1956 (GB,
sđd.128, 132).
Một sự kiện gây xôn xao dư luận văn nghệ, có tính châm biếm cán bộ văn hóa nhà
nước, liên quan đến nhà văn lăo thành Phan Khôi (1887-1960). Đầu năm 1956, người
ta giao cho Phan Khôi dịch một quyển sách từ tiếng Pháp qua tiếng Việt. Trong
sách có chữ “pomme de terre”. Phan Khôi dịch chữ đó là “khoai nhạc ngựa”. Khi
phê b́nh sách nầy, báo Cứu Quốc, cơ quan tuyên truyền của đảng LĐ, chê Phan Khôi
già nua, lẩm cẩm và dịch sai. Tác giả bài phê b́nh viết rằng chữ “pomme de
terre” phải dịch là “khoai tây”, sao lại dịch thành “khoai nhạc ngựa”?
Phan Khôi trả lời đại ư như sau: Ai cũng biết “pomme de terre” là “khoai tây”,
nhưng lâu nay cán bộ phụ trách cấm ông dùng chữ “tây” và chữ “Tàu”. Ví dụ khi
ông dùng chữ “đường tây” th́ bị sửa lại là “đường kính”; khi ông viết “chè Tàu”
th́ bị sửa thành “chè Trung Quốc”, “thịt kho Tàu” th́ đổi thành “thịt kho Trung
Quốc”. Do đó, để chiều ư lănh đạo, lần nầy, chữ “pomme de terre”, ông không dịch
là “khoai tây”, mà dịch là “khoai nhạc ngựa”, v́ tiếng Trung Quốc gọi là “mă
linh thự”.(22) Lối viết thật là thâm thúy mà không thể bắt bẻ được.
Những sự kiện nầy là những triệu chứng đầu tiên về một cuộc phản kháng lớn hơn
sẽ diễn ra ngay sau đó, với sự xuất hiện của Giai Phẩm 1956 hay Giai Phẩm mùa
Xuân.
2.- GIAI PHẨM XUẤT HIỆN
GIAI PHẨM 1956: Nhân dịp Tết nguyên đán năm bính thân (1956), vào đầu tháng
2-1956, tại Hà Nội xuất hiện đặc san Giai Phẩm 1956 do nhà xuất bản Minh Đức của
Trần Thiếu Bảo ấn hành.(23) (Giai phẩm nầy về sau được gọi là Giai Phẩm Mùa
Xuân, v́ cũng trong năm 1956 xuất hiện thêm các Giai Phẩm Mùa Thu tập 1, Giai
Phẩm Mùa Thu tập 2, Giai Phẩm Mùa Thu tập 3, và Giai Phẩm Mùa Đông.)
Đây là một tập họp sáng tác của các văn nghệ sĩ không chấp nhận sự “lănh đạo văn
nghệ”, thuộc thành phần đối kháng với nhà cầm quyền cộng sản. Giai phẩm nầy được
đánh dấu bằng ba bài quan trọng là “Cái chổi quét rác rưởi” của Phùng Quán, “Ông
b́nh vôi” (thơ) của Lê Đạt, và “Nhất định thắng” (thơ) của Trần Dần.
Phùng Quán (1932-1995), nguyên quán Thừa Thiên, cháu gọi Tố Hữu bằng cậu, gia
nhập quân đội Việt Minh ở Thừa Thiên, sau năm 1954 tập kết ra Hà Nội. Trong bài
“Cái chổi quét rác rưởi”, Phùng Quán cho rằng dưới chế độ ông đang sống, có quá
nhiều rác rưởi làm dơ bẩn xă hội, và ông t́nh nguyện dùng văn chương quét sạch
những rác rưởi đó.(24)
Lê Đạt đă mượn h́nh tượng “Ông b́nh vôi” để chống tệ nạn tôn sùng cá nhân, là
căn bệnh trầm kha của chế độ cộng sản:
“Những kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y như một cái b́nh vôi
Càng sống càng tồi
Càng sống càng bé lại. “(24)
Đặc biệt bài thơ dài trên 300 câu của Trần Dần, chịu ảnh hưởng của bút pháp
Maiakovski,(25) mô tả cảm nghĩ và cuộc sống của hai người yêu nhau ở phố Sinh
Từ, Hà Nội trong giai đoạn giao thời, dân chúng bỏ miền Bắc di cư vào Nam. Theo
lời Hoàng Cầm trong bài “Con người Trần Dần” đăng trên Nhân Văn số 1, xuất bản
tại Hà Nội ngày 20-9-1956, th́ Trần Dần giao bài thơ nầy cho Lê Đạt trước khi đi
quan sát đoàn CCRĐ. Hoàng Cầm đă đem đăng vào Giai Phẩm Mùa Xuân. Trong bài thơ
nầy có những câu được lặp lại nhiều lần như một điệp khúc:
“Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ.” (HVC, sđd.103)
Những câu sau đây của bài “Nhất định thắng” đă bị quy chụp là ám chỉ lănh tụ:
“...Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc
Tôi bỗng nghe những tiếng th́ thầm
Tiếng người nói xen tiếng đời ầm ả.
- Chúng phá hiệp thương!
- Liệu có hiệp thương?
- Liệu có tuyển cử?
- Liệu tổng hay chẳng tổng?
- Liệu đúng kỳ hay chậm vài năm?
Những câu hỏi đi giữa đời lỏng chỏng.
Ôi! Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người Người vẫn thường kinh hoảng trước tương
lai...” (HVC, sđd.108)Chữ “Người” viết hoa dưới chế độ cộng sản Hà Nội chỉ dùng
để chỉ Hồ Chí Minh hay các lănh tụ cộng sản như Lenin, Stalin hay Mao Trạch
Đông. Trong bài thơ nầy, Trần Dần lại dùng chữ “Người” viết hoa. Đảng LĐ quy
chụp rằng Trần Dần muốn ám chỉ lănh tụ của họ. Dựa vào điều nầy, nhà cầm quyền
Hà Nội ra lệnh tịch thâu Giai Phẩm 1956, và ngày mồng 2 Tết Bính Thân
(13-2-1956), khi Trần Dần từ phố Sinh Từ trở về đơn vị quân đội, ông bị bắt giam
lần thứ hai. Lần nầy ông cũng phải ngồi tù ba tháng. (GB, sđd.134).
3.- PHẢN ỨNG CỦA “LĂNH ĐẠO”
Trong khi Trần Dần ở trong tù, các nhà văn của chính quyền trong Hội Văn nghệ
(sau nầy là Hội Nhà văn) đă phê b́nh đả kích đặc san Giai Phẩm 1956. Đặc biệt,
tại trụ sở hội Văn nghệ Hà Nội, người ta tổ chức một buổi phê b́nh thơ Trần Dần,
có khoảng 150 người tham dự, từ 7 giờ tối đến 1 giờ sáng, nhưng thực tế để kết
tội Trần Dần. Hoài Thanh viết bài tham luận “Vạch trần tính cách phản động trong
bài thơ “Nhất định thắng” của Trần Dần”, đăng trên báo Văn Nghệ số 110, ra ngày
17-3-1956, ghép Trần Dần vào tội phản động.(26) Ở đây cần chú ư thủ đoạn của
cộng sản: họ không đả kích tập thể các văn thi sĩ trong nhóm Giai Phẩm, mà tách
ra đả kích riêng từng người, bắt đầu là Trần Dần để cô lập thi sĩ nầy.
Tiếp tay với Hoài Thanh để mạt sát Trần Dần và các văn sĩ trong Giai Phẩm, c̣n
có những tên tuổi như Hoàng Trung Thông, Nguyễn Đ́nh Thi. Nhà thơ Hoàng Cầm kể
lại: “... Người ta cho rằng bè phái độc quyền trong giới văn nghệ sĩ bị công
kích (bắt đầu từ cuộc phê b́nh tập thơ Việt Bắc) đă t́m cách giả thù. Trần Dần,
Tử Phác đều bị tống giam. Cái nút thứ hai khốc liệt hơn của tấn thảm kịch Trần
Dần...Từ những ngày Tết mưa lă chă, cái bè phái độc quyền trong văn nghệ bắt đầu
họp đứng họp ngồi để t́m cách đối phó với cái Giai Phẩm. Một không khí ngạt thở
đè nặng lên những anh em có bài trong tập sách đó. Rồi đến một đêm, bài thơ
“Nhất định thắng” bị đem ra luận tội...Thôi thế là đêm luận tội nầy đă đóng một
cái án tử h́nh xuống một bài thơ, xuống một con người, đồng thời là sự đe dọa
nặng nề chung cho anh em văn nghệ sĩ đang muốn t́m những lối sáng tác khác với
cái bè phái kia...”(27)
Ở trong tù, Trần Dần rất uất ức, dùng dao cạo râu cứa cổ tự tử, nhưng bị các cán
bộ cộng sản cản trở không cho chết, v́ sợ tiếng vang. Sau nầy ông mang một vết
sẹo dài ở cổ.
III.- NHỮNG BIẾN CỐ VĂN HỌC
1.- GIẢI THƯỞNG VĂN CHƯƠNG
Trong khi đó, tại Hà Nội, sau Giai Phẩm Mùa Xuân, và sau việc Trần Dần bị cầm tù,
một sự kiện văn học nổi bật khác xảy ra gây xôn xao dư luận, là việc công bố kết
quả các giải thưởng văn học năm 1954-1955 trên báo Văn Nghệ Hà Nội, số 112 ra
ngày 15-3-1956, và báo Nhân Dân số ra ngày 17-3-1956. Kết quả các giải đó như
sau:
Thơ: giải nhất: Tố Hữu (tập Việt Bắc); giải nh́: Trần Hữu Thung (tập Đồng tháng
tám và Dặn con), Xuân Diệu (tập Ngôi sao), Tú Mỡ (tập Nụ cười chính nghĩa); giải
ba: Hồ Khải Đạt (tập Thơ chiến sĩ ).
Tiểu thuyết: giải nhất: Nguyễn Ngọc (Đất nước đứng lên), Tô Hoài (Truyện Tây bắc);
giải nh́: Nguyễn Huy Tưởng (Truyện anh Lục), Nguyễn Văn Bổng (Con trâu), giải ba:
Phùng Quán (Vượt Côn Đảo), Trần Kim Trắc (Cái Lu); giải khuyến khích: Hoàng
Trung Nho (Đồng quê hoa nở), Bùi Hiển (Gặp gỡ), Đoàn Giỏi (Cá bống mú). (GB sđd.
tt. 233-234.)
Kết quả giải thưởng gây nhiều tranh căi sôi nổi v́ đa số các nhà thơ, nhà văn
trúng giải đều là người thân cận của đảng LĐ, trong đó dư luận bàn tán nhiều về
các tác phẩm của Tố Hữu, Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng. Tập thơ Việt Bắc của Tố
Hữu đă từng bị Trần Dần, Hoàng Cầm, Hoàng Yến, Lê Đạt phê b́nh một năm về trước;
tập Ngôi sao của Xuân Diệu đă bị ba bài liên tiếp trên báo Trăm Hoa ở Hà Nội của
Nguyễn Bính công kích, mà vẫn được giải thưởng. (Phan Khôi, “Phê b́nh lănh đạo
văn nghệ”, HVC sđd. đăng lại, tr. 69.)
Đặc biệt hơn nữa, các tác giả Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng và Hoài Thanh vừa có
tác phẩm dự giải, vừa được sung vào ban chấm giải, và sau đó lại vừa trúng giải.
(Nhà văn Phan Khôi nêu ra đầy đủ những bê bối của các giải thưởng nầy trong bài
“Phê b́nh lănh đạo văn nghệ” đăng trong Giai phẩm Mùa Thu tập 1, xuất bản ngày
29-8-1956.)
Ba sự kiện, Giai Phẩm Mùa Xuân, việc bắt giam Trần Dần và giải thưởng văn học,
tạo nên những làn sóng bàn luận âm ỷ liên tục trên các báo và trong các giới văn
nghệ sĩ. Ngày 5-5-1956, Trần Dần ra khỏi tù. Lúc đó cũng là thời gian đảng LĐ
sửa soạn tổ chức đại hội Văn học nghệ thuật toàn quốc lần thứ hai, nhắm đưa các
văn nghệ sĩ đi theo đúng quỹ đạo của đảng. Hội Văn nghệ liền cho thành lập ban
Trù bị đại hội ngày 16-5-1955. Thành phần ban Trù bị không được bầu từ dưới lên
mà do từ trung ương chỉ định xuống (GB, sđd. 238-239).
2. TRĂM HOA ĐUA NỞ Ở TRUNG HOA
Có một điều ít ai chú ư là sau vụ Giai Phẩm Mùa Xuân ở Bắc Việt ba tháng, mới
xảy ra biến cố “Trăm hoa đua nở, trăm nhà tranh tiếng” ở CHNDTH. Nguyên sau Đại
hội 20 của đảng CSLX, quan điểm chính trị mới của đảng CSLX chẳng những được
truyền sang Bắc Việt mà cả CHNDTH. Đảng Cộng sản Trung Hoa (CSTH) cầm quyền trên
toàn thể Hoa lục từ cuối năm 1949. Họ ổn định t́nh h́nh nội bộ khá lâu, và nhất
là họ đă tiêu diệt các thành phần trí thức, văn nghệ sĩ đối kháng sau vụ Hồ
Phong vào tháng 7-1954. Do đó, khi Liên Xô tuyên bố chính sách mới, th́ CHNDTH
liền hưởng ứng chính sách nầy theo cách của họ.
Lục Định Nhất (Lu Dingyi), cục trưởng cục Tuyên huấn đảng CSTH, triệu tập cuộc
họp ngày 25-5-1956 tại Bắc Kinh, gồm những nhà trí thức, nghiên cứu, văn nghệ
sĩ, nhân sĩ, đại diện hội đoàn. Trong cuộc họp nầy, Lục Định Nhất đọc bài diễn
văn nhan đề: “Bách hoa tề khai, bách gia tranh minh” [Trăm hoa đua nở, trăm nhà
tranh tiếng]. Họ Lục cho biết chủ tịch Mao Trạch Đông trích hai câu nầy từ cổ
văn, và giao cho ông giải thích với hội nghị. Họ Lục tŕnh bày:
“... Nếu không có nhiều môn phái, nhiều chủ trương th́ văn nghệ không thể trở
nên phong phú được... Hai ngh́n năm trước, trong thời Xuân Thu và Chiến Quốc,
Trung Quốc có nhiều học phái khác nhau... Hồi đó, các học phái đều tự ư phát
triển, không phục ṭng một hệ thống tư tưởng nào cả, nhưng ngày nay, chính quyền
của nhân dân đă thành lập và vững mạnh th́ sự tranh đua của bách gia ngày nay
phải nằm trong khuôn khổ của một chương tŕnh chung... Cần phải đề cao sự tự do
tranh luận và bênh vực ư kiến trong mọi ngành học thuật nhưng đồng thời cũng
không nên lẫn lộn những cuộc tranh luận xây dựng trong nội bộ Đảng với những
cuộc tranh đấu để tiêu diệt những phần tử phản động... Có hai lối phê b́nh: Phê
b́nh kẻ thù và phê b́nh những đồng chí phạm sai lầm. Phê b́nh kẻ thù là đập cho
nó một trùy vỡ sọ chết tươi, c̣n phê b́nh một đồng chí phạm sai lầm là lấy khoan
hồng đưa dần họ về với chính nghĩa...”(HVC, sđd. tt. 7-8).
Ngày hôm sau, 26-5-1956, Mao Trạch Đông chính thức công bố phát động chiến dịch
“trăm hoa đua nở”. (HVC sđd. tr. 26) Như thế, CHNDTH mở ra chiến dịch “Trăm hoa
đua nở, trăm nhà đua tiếng”, nhưng để sẵn quả “trùy” [chùy] trước mặt mọi người,
cảnh cáo những ai đi sai “khuôn khổ của một chương tŕnh chung” sẽ bị “vỡ sọ
chết tươi”, nghĩa là vừa mở vừa hù dọa.
Bài phát biểu của Lục Định Nhất đăng trên Nhân Dân Nhật Báo ở Bắc Kinh ngày
13-6, tức th́ được sinh viên Hà Nội, do giáo sư Trần Đức Thảo bảo trợ, đă dịch
đăng lên bích báo nhà trường. Trong khi đó, bản tin điện về bài của Lục Định
Nhất do Lê Phú Hào, đặc phái viên báo Nhân Dân (Hà Nội) tại Bắc Kinh, gởi về vào
tháng 7, nhưng măi đến ngày 5-8, Nhân Dân (Hà Nội) mới đưa lên mặt báo. Bài viết
đă làm xôn xao các giới cầm quyền và dư luận Hà Nội. Chính một biên tập viên báo
Nhân Dân (Hà Nội) đă nói với Lê Phú Hào vài tuần sau đó, khi ông về Hà Nội công
tác: “Bản tin của anh có hiệu quả của một trái bom”.(GB, sđd.239-242)
Ngày 15-9, đảng CSTH họp Đại hội lần thứ 8, đại hội đầu tiên kể từ 1945, khẳng
định lập trường “sống chung ḥa b́nh” mà Liên Xô đă đưa ra trong Đại hội 20 của
đảng CSLX (CĐ, I-C, sđd.103). Sau đó, đến ngày 30-9, báo Nhân Dân (Hà Nội) mới
chịu đăng toàn văn bài phát biểu của Lục Định Nhất. Ở đây xin mở ngoặc thêm một
chi tiết: sau khi nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm đứng ra đ̣i hỏi cởi trói văn nghệ ở
Bắc Việt vào năm 1956, th́ năm sau, 1957, bên Trung Hoa cũng xảy ra sự phản
kháng của nhóm văn thi sĩ do bà Đinh Linh [Ding Ling] dẫn đầu. Bà Đinh Linh cũng
đă bị nhà cầm quyền Bắc Kinh bắt giam. Như vậy phong trào đ̣i hỏi tự do báo chí
ở Bắc Việt đi trước phong trào ở CHNDTH).(28)
3.- CUỘC HỌC TẬP 18 NGÀY
Để nắm chắc t́nh h́nh trước khi vào Đại hội Văn học Nghệ thuật toàn quốc kỳ 2,
ban Tuyên huấn Trung ương đảng LĐ do Tố Hữu đứng đầu, tổ chức lớp “Bồi dưỡng về
lư luận văn nghệ” từ ngày 1 đến ngày 18-8-1956, thường được gọi là “Cuộc học tập
18 ngày”, với khoảng 300 trí thức, văn nghệ sĩ tham dự. Có thể nói cuộc học tập
nầy bao gồm hầu hết những tinh hoa trí tuệ Bắc Việt, trừ những nhà nghiên cứu
khoa học chuyên môn.
Có lẽ kết quả không được như ư theo nhà cầm quyền. Báo chí chỉ tường thuật rất
sơ lược cuộc học tập nầy, không phải v́ nội dung thiếu hấp dẫn, nhưng v́ quá
nhiều “thắc mắc” được đưa ra mà không có câu trả lời. Những ngày đầu khá buồn tẻ
v́ những diễn văn khai mạc có tính cách công thức, và những người tham dự có vẻ
thụ động. Càng về sau, cuộc học tập càng sôi nổi khi những vấn đề thực tiễn đời
sống được nêu ra thảo luận, như cuộc CCRĐ, việc kiểm soát dân số, hoạt động các
cửa hàng quốc doanh… Những thắc mắc cụ thể được nêu lên xoay quanh mối tương
quan giữa chính trị và tự do sáng tác; vấn đề lănh đạo văn nghệ; những sai lầm
trong việc b́nh chọn giải văn học vừa qua, và cả nội dung của Giai Phẩm Mùa
Xuân. Cuộc học tập nầy không đưa ra một thông báo chính thức nào (GB,
sđd.238-242). Lư do thật dễ hiểu v́:
“... Đợt học tập của giới văn nghệ tháng Tám vừa qua đă là một cuộc tranh đấu
sôi nổi của trên 300 người công tác văn nghệ. Phát triển sự việc như thế nào,
chỉ trích bè phái như thế nào, xây dựng Trung ương đảng như thế nào, Nguyễn Đ́nh
Thi tổng kết quanh co như thế nào, Nguyễn Hữu Đang tham luận mạnh bạo như thế
nào, Tố Hữu nhận lỗi qua loa như thế nào, anh chị em đă nghĩ những ǵ ... báo
Nhân Dân biết rơ. Thế rồi bè phái lănh đạo văn nghệ vẫn cứ ngoan cố làm thinh...
tuyệt nhiên không giải quyết một nguyện vọng nào của anh chị em...”(HCV, sđd.
tr. 26.)
IV.- GIAI PHẨM RỒI NHÂN VĂN
1.- GIAI PHẨM MÙA THU
Đảng LĐ tưởng rằng đợt học tập 18 ngày có thể uốn nắn tư tưởng của các giới trí
thức và văn nghệ sĩ, không ngờ lại tạo hiệu ứng ngược lại, bất lợi cho chính
sách của đảng. Hiệu ứng bất lợi rơ nét nhất là sự xuất hiện của Giai Phẩm Mùa
Thu ngày 29-8, nghĩa là cùng tháng với đợt học tập 18 ngày. Về sau Giai Phẩm Mùa
Thu được gọi là Giai Phẩm Mùa Thu tập 1 v́ giai phẩm nầy được hoan nghênh quá,
nên các nhà chủ trương cho ra thêm Giai Phẩm Mùa Thu tập 2 và Giai Phẩm Mùa Thu
tập 3.
Cái đinh của Giai Phẩm Mùa Thu tập 1 là bài viết của nhà văn lăo thành Phan Khôi,
tựa đề là “Phê b́nh lănh đạo văn nghệ”, dài 14 trang (sách) , cở chữ nhỏ. Trong
bài nầy, phần dẫn nhập, Phan Khôi viết rằng trong thời gian chiến tranh, các văn
thi sĩ chỉ nghĩ đến kháng chiến, nên sẵn sàng hy sinh, chín bỏ làm mười, không
ai thắc mắc ǵ cả, nhưng sau năm 1954, trở về Hà Nội, “lănh đạo văn nghệ thành
ra vấn đề, quần chúng văn nghệ thắc mắc với lănh đạo”. Phan Khôi đưa ra ba vấn
đề chính để phê b́nh: đó là tự do của văn nghệ sĩ, vụ Giai Phẩm Mùa Xuân, và
Giải thưởng văn học 1954-1955.
Theo Phan Khôi, lúc đó tại Bắc Việt văn nghệ sĩ bị kềm kẹp một cách nghiệt ngă,
khiến một ngày nào đó, “nhược bằng bắt mọi người phải viết theo lối của ḿnh,
th́ rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết.”
Phan Khôi chỉ c̣n biết than với Nguyễn Đ́nh Chiểu: “Cụ Đồ Chiểu ơi! Cụ Đồ Chiểu
ơi! Ở thời cụ, cụ đă kêu: Ở đây nào phải trường thi,/ Ra đề hạn vận một khi buộc
ràng! Thế mà ngày nay, bảy tám mươi năm sau cụ, người ta c̣n ra đề dàn bài, lại
hạn chữ cho tôi nữa đó cụ ơi! Tôi c̣n làm ăn ǵ được nữa cụ ơi! Tôi đâu c̣n là
tôi đâu được nữa cụ ơi!”
Từ lănh đạo như thế nên đưa đến phản ứng qua Giai Phẩm Mùa Xuân. Rồi lại xảy ra
những vụ chụp mũ phản động mà theo Phan Khôi “thật là cái tội phản động ở xứ nầy
sao mà ghép một cách dễ dàng quá.” Cũng v́ lănh đạo như thế mới đưa đến kết quả
giải văn học 1954-1955, mà “ở Hà Nội, dư luận bàn tán xôn xao, nhiều người không
phục, cho rằng có mấy tác phẩm trong đó không xứng đáng được giải.” Chẳng những
nêu danh những tác phẩm không xứng đáng, Phan Khôi c̣n đưa ra lối làm việc theo
mệnh lệnh của Hội đồng chấm giải, lấy đa số hội viên trong hội đồng để chèn ép
“thiểu số tuyệt đối” là chính Phan Khôi. Điều khôi hài nhất được ông nêu ra là
có tác giả vừa được sung vào ban chấm giải, vừa có tác phẩm dự giải, và sau đó
lại vừa trúng giải.
Khi phê b́nh lănh đạo văn nghệ, Phan Khôi đă phê b́nh luôn sự lănh đạo của đảng
LĐ, bởi v́ tổ chức thực sự lănh đạo nền văn nghệ Bắc Việt là chi bộ đảng LĐ
trong Hội nhà văn trực thuộc hệ thống đảng, và ông cũng phê b́nh luôn chế độ ông
ta đang sống. Phan Khôi viết: “Dưới chế độ tư sản, sự đối lập là thường: nhân
dân đối lập với chính phủ, công nhân đối lập với chủ xưởng, học sinh đối lập với
nhà trường. Nhưng ở dưới chế độ của chúng ta, về mọi phương diện, yêu cầu phải
không đi đến đối lập, hễ c̣n đối lập là cái hiện tượng không tốt, cái triệu
chứng không tốt.” (HVC sđd. tt. 59-72.)
Bài báo của Phan Khôi đă làm xôn xao dư luận Hà Nội. Báo Thời Mới (báo tư nhân
do Hiền Nhân chủ trương) đă gọi bài viết của Phan Khôi là một “quả bom tạ” thả
ngay tại thủ đô Hà Nội. “Có người lại thốt lên rằng chín mười năm nay mới được
nghe tiếng nói sang sảng của cụ Phan Khôi.” (HVC, sđd. 26).
Ngoài bài “Phê b́nh lănh đạo văn nghệ” của Phan Khôi, Giai Phẩm Mùa Thu tập 1
c̣n có các bài “Ông b́nh vôi” cũng của Phan Khôi, kể chuyện những chiếc b́nh vôi
ở quê ông và khai triển thêm ư tưởng bài thơ của Lê Đạt trong Giai Phẩm Mùa Xuân;
bài “Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lănh đạo văn nghệ” của Trương Tửu, đả kích
những hiện tượng tôn sùng các “quan văn nghệ”; bài “Bức thư gởi một người bạn cũ”
của Trần Lê Văn, diễn tả h́nh ảnh của một cán bộ cộng sản được mệnh danh là “Ông
Khẩu Hiệu”.
2.- NHÂN VĂN
Hai mươi ngày sau Giai phẩm Mùa Thu tập 1, tờ Nhân Văn số 1 được phát hành ngày
20-9-1956, do chính Phan Khôi giữ chức chủ nhiệm kiêm chủ bút, Trần Duy (tên
thật là Trần Quang Tăng) làm thư kư.(GB sđd. tr. 23) Trong phần mở đầu, báo nầy
tuyên bố: “Báo Nhân Văn đứng dưới sự lănh đạo của đảng Lao Động Việt Nam, theo
chủ nghĩa Mác-Lênin với tinh thần thực tiễn, để xúc tiến công cuộc củng cố miền
Bắc, thống nhất nước nhà, để đi đến thực hiện xă hội chủ nghĩa, theo như ư muốn
của Đảng cũng như của nhân dân cả nước.” (29)
Nhân Văn số 1 được dư luận chú ư ngay v́ một số bài nổi bật như: “Chúng tôi
phỏng vấn về vấn đề Mở rộng tự do dân chủ” với phần trả lời của luật sư Nguyễn
Mạnh Tường, giáo sư đại học, theo đó ông cho rằng “sự thực hiện dân chủ trong
hai năm vừa qua c̣n thiếu sót nhiều”; bài “Chống bè phái trong văn nghệ” của
Trần Công, tŕnh bày nạn độc đoán của nhóm lănh đạo văn nghệ; bài thơ “Nhân câu
chuyện mấy người tự tử” của Lê Đạt, và đặc biệt nhất là bài “Con người Trần Dần”
của Hoàng Cầm. Trong bài báo nầy, qua câu chuyện về việc Trần Dần hai lần bị
bắt, Hoàng Cầm lên án việc thiếu tự do sáng tác và tự do tư tưởng dưới chế độ Hà
Nội. (Những bài trong Nhân Văn số 1, 20-9-1956, trên đây đă được điện báo Thông
Điệp Xanh đưa lên Internet.)
Báo Nhân Văn vừa ra mắt liền được độc giả hoan hô, chuyền tay nhau đọc, và bàn
tán sôi nổi, đồng thời cũng được các giới cầm quyền nghiên cứu tỷ mỷ và bị giới
nầy lên án gắt gao. Đầu tiên, ngày 25-9-1956, báo Nhân Dân đăng bài của Nguyễn
Chương, phó trưởng ban Tuyên huấn trung ương đảng. Nguyễn Chương cho rằng báo
Nhân Văn là tay sai của “địch”, v́ công kích địch th́ ít mà công kích “ta” th́
nhiều (HVC, sđd.28). Theo Nguyễn Chương, báo Nhân Văn đă “muốn nhân việc phê
b́nh lănh đạo văn nghệ hẹp ḥi, mệnh lệnh mà làm cho người ta tưởng rằng toàn bộ
sự lănh đạo của đảng Lao Động Việt Nam và toàn bộ chế độ chính trị ở miền Bắc là
độc đoán, độc tài, chà đạp con người, không có nhân văn” (NMC, sđd.23-24).
Tiếp tục trả lời cuộc phỏng vấn về vấn đề mở rộng tự do và dân chủ, trên Nhân
Văn số 2 ra ngày 5-10-1956, học giả Đào Duy Anh cho rằng: “ Trong quá tŕnh xây
dựng chế độ, chúng ta gặp trong chính nội bộ của chúng ta, những cái hạn chế và
ngăn cảng tự do. Tên tuổi của những kẻ thù nội bộ của tự do ấy, người ta đều
biết cả: tức là tệ quan liêu, mệnh lệnh, độc đoán, bè phái ...những bệnh giáo
điều chủ nghĩa, công thức chủ nghĩa, sùng bái cá nhân c̣n ngự trị trong công tác
lănh đạo văn nghệ và học thuật...” (30)
Đáp lại đả kích của Nguyễn Chương, cũng trên báo Nhân Văn số 2, ba tác giả Hoàng
Cầm, Hữu Loan, và Trần Duy viết bài “Chúng tôi cực lực phản đối luận điệu vu cáo
chính trị”, trả lời từng lư luận một. Sau mỗi đoạn bẻ găy lư luận của Nguyễn
Chương, các tác giả nầy diễu cợt bằng một điệp khúc: “Bạn cố t́nh đến thế, chúng
tôi c̣n biết làm sao?” (HVC, sđd. 28). Nguyễn Chương giải thích vớt vát bằng một
bài báo khác cũng đăng trên Nhân Dân th́ bị Chu Ngọc trả lời qua bài báo nhan đề
“Quần chúng đă chán ghét lối chận họng đó rồi” trên Nhân Văn số 3 ra ngày
20-10-1956. Nhân Văn số 3 c̣n đăng bài “Nỗ lực phát triển tự do dân chủ” của
giáo sư thạc sĩ Trần Đức Thảo. Ông Trần Đức Thảo nhấn mạnh rằng: “Trong nhiệm vụ
thực hiện phương châm của Đại hội 20 của đảng Cộng Sản Liên Xô, đặng hưởng ứng
lời kêu gọi của đảng Lao Động Việt Nam, hưởng ứng phong trào phát triển tự do
dân chủ trong những nước dân chủ nhân dân anh em, người trí thức Việt Nam có
phần trách nhiệm quan trọng. Người trí thức hoạt động văn hóa, cần tự do
như khí trời để thở. Có tự do mới đẩy mạnh được sáng tác văn nghệ, nghiên cứu
khoa học, cải tiến kỹ thuật. Phát triển tự do là nhu cầu thiết thân đồng thời là
nhiệm vụ số 1 của người trí thức cũng như của toàn dân...”(HVC, sđd.292)
Trong khi đó, báo Nhân Dân ngày 16 và 17-10-1956 đăng bài “Chủ nghĩa nhân văn
của chúng ta” của giáo sư thạc sĩ Hoàng Xuân Nhị. Ông Hoàng Xuân Nhị vận dụng lư
thuyết Mác - Lê để chứng minh rằng văn nghệ phải có đảng tính và văn nghệ sĩ
phải triệt để phục ṭng sự lănh đạo của đảng. Báo Nhân Văn số 4 ngày 5-11-1956
phản bác lại bằng bài “Chủ nghĩa nhân văn của ông Hoàng Xuân Nhị” của Bùi Quang
Đoài. Ông Bùi Quang Đoài vào lúc đó là sinh viên trường Đại học Hà Nội. Tuy trẻ
tuổi, lối lư luận của ông Bùi Quang Đoài rất sắc bén. Sau khi chứng minh những
sai lầm của giáo sư thạc sĩ Hoàng Xuân Nhị, Bùi Quang Đoài viết: “Xuất phát từ
lệch lạc đó, Hoàng Xuân Nhị cho rằng nhờ có Đảng mới có tự do tư tưởng. Như ư
kiến tôi vừa tŕnh bày, tôi hỏi lại ông Nhị là có Đảng rồi mới có quần chúng hay
có quần chúng rồi mới có Đảng. Như thế th́ rơ ràng không phải có Đảng người nghệ
sĩ mới có tự do tư tưởng mà ngay cả những thế kỷ trước, cũng như thời kỳ cách
mạng, mặc dầu thực dân đàn áp khủng bố, Vũ Trọng Phụng vẫn kiên quyết tự do tư
tưởng, tố cáo “cái xă hội đểu” buộc tội giới cầm quyền lúc bấy giờ. Lúc ấy họ có
là đảng viên đâu...Như thế th́ tự do tư tưởng không phải là một vấn đề Đảng ban
ơn cho quần chúng như ông Nhị đă lầm tưởng...”
Bùi Quang Đoài kết luận bài viết của ḿnh như sau: “Trong một bài báo ngắn, tôi
đă cố gắng tŕnh bày vài sai lầm hoặc vài thiếu sót của ông Nhị về mặt kiến
thức. Tôi xin đề nghị với ông Nhị một điều mà ông Nhị đă từng đề nghị với anh em
Nhân Văn và Giai Phẩm: Cố gắng nghiên cứu, suy nghĩ, để giữ cho bản chất trung
thực của người trí thức.”(HVC, sđd.139-140) (31)
Cũng trên Nhân Văn số 4, truyện ngắn “Con ngựa già của chúa Trịnh” của Phùng
Cung, một văn sĩ trẻ, kể chuyện cuộc đời của một con ngựa chiến được mệnh danh
là “Bạch Long Thiên Lư Mă”. Lúc ở với mă phu là lăo Nông, th́ nó chạy như bay,
không con ngựa nào địch lại, nhưng khi về phủ chúa Trịnh, chỉ ăn, tắm, trang
điểm lộng lẫy, và kéo xe cho chúa, nên không c̣n lạnh lẹ như trước, và cuối cùng
thất bại trong một cuộc đua sau đó. Phùng Cung muốn dùng h́nh ảnh của con ngựa
nầy để ngụ ư đả kích những văn nghệ sĩ tài hoa trước kia như Xuân Diệu, Huy Cận,
Hoài Thanh, đă cam tâm làm tay sai cho chế độ cộng sản, nên tài năng bị thui
chột và mai một dần. (HVC, sđd.149-154).
Ngoài những mục khôi hài biếm họa chỉ trích cán bộ đă xuất hiện ngay từ số đầu,
Nhân Văn số 5 ra ngày 20-11-1956 được ghi dấu bằng bài viết “Thi sĩ máy” của
Châm Văn Biếm mà sau nầy người ta mới biết Châm Văn Biếm là Như Mai hay Hoàng
Như Mai. Theo tác giả Châm Văn Biếm, chế độ cộng sản chỉ cần những người làm
theo công thức như máy sản xuất, kể cả thơ ca, chứ không quư trọng t́nh cảm cũng
như sáng tạo cá nhân con người. (HVC, sđd.274-282)
Khi báo Nhân Văn mới xuất hiện, đảng LĐ đang mở ra phong trào sửa sai sau Cải
cách ruộng đất, nên cũng có phần mềm mỏng và nới lỏng. Do đó, nhân những bài mào
đầu của Nhân Văn, nhiều báo ở Hà Nội đă hưởng ứng sôi nổi, tuy ngắn ngủi nhưng
khá hào hứng. Lúc đó, ở Hà Nội truyền khẩu một câu đồng dao:
“Trần Dần, Lê Đạt, Phan Khôi,
Các chú đi trước, th́ rồi cháu theo.” (NVT, sđd.187)
Tờ báo trước tiên theo chân Nhân Văn là Đất Mới, tiếng nói của anh em sinh viên
Hà Nội, ra mắt tháng 10-1956. Xuất bản được một số th́ Đất Mới bị đ́nh bản.
Người chủ trương Đất Mới là Bùi Quang Đoài. Trên Đất Mới số 1, Bùi Quang Đoài
đăng truyện ngắn “Lịch sử một chuyện t́nh”, kể lại một câu chuyện thật ở Hà Nội
lúc bấy giờ, theo đó một cán bộ giáo dục cộng sản đă lợi dụng chức vụ chiếm đoạt
t́nh yêu của nữ sinh. (HVC, sđd. 125-135).
Những tạp chí khác trước kia b́nh thường, nay cũng bắt đầu đăng những bài báo
công kích những tệ nạn của nhà nước cộng sản và đảng Lao Động như báo Trăm Hoa
của Nguyễn Bính, báo Thời Mới của Hiền Nhân.
Giai Phẩm Mùa Thu tập 2 ra vào tháng 10-1956, có các bài nổi bật là “Những người
khổng lồ” của Trần Duy, bài thơ “Những ngày báo hiệu mùa xuân” của Văn Cao, và
bài thơ “Chống tham ô lăng phí” của Phùng Quán. Bài của Phùng Quán được truyền
bá rộng răi nhờ những lời thơ thẳng thắn:
“Tôi muốn đúc thơ thành đạn
Bắn vào tim những kẻ làm càn
Những con người tiêu máu của dân
Như tiêu giấy bạc giả!...
Những tên quan liêu Đảng đă phê b́nh trên báo
Và bao nhiêu tên chưa ai biết, ai hay
Lớn, bé, nhỏ, to, cao, thấp, béo, gầy
Khắp mặt đất như bầy ruồi nhặng
Ở đâu cũng có! ...”
(HVC, sđd.119)
Giai Phẩm Mùa Thu tập 3 ra đời tháng 11-1956 đánh dấu bằng vở kịch nổi tiếng của
Chu Ngọc: “Chúng ta gắng nuôi con”. Giai Phẩm Mùa Đông tháng 12-1956 đăng bài
tham luận về vấn đề tự do của giáo sư Trần Đức Thảo nhan đề “Nội dung xă hội và
h́nh thức tự do”. Giáo sư Trần Đức Thảo đă kết luận bài viết của ḿnh như sau:
“Trong bản tham luận đọc trước Đại hội 8 của đảng Cộng Sản Trung Quốc, đồng chí
Đặng Tiểu B́nh, hiện giờ là Tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Quốc đă nói: “Đảng
không có quyền vượt lên trên quần chúng nhân dân, tức là đảng không có quyền ban
ơn, cưỡng bách, mệnh lệnh đối với quần chúng nhân dân, đảng không có quyền xưng
vương xưng bá trên đầu nhân dân”.” (HVC, sđd.291)
Cũng trong Giai Phẩm Mùa Đông, với bài “Văn nghệ và chính trị”, nhà nghiên cứu
Trương Tửu, tuy thừa nhận “Đảng lănh đạo văn nghệ là một tất yếu lịch sử”, nhưng
lại đ̣i hỏi đảng “phải trả quyền điều khiển chuyên môn cho những nhà chuyên
môn”. Trương Tửu viết: “Lănh đạo tốt là tuyệt đối không ngăn cản văn nghệ sĩ
phát hiện sự thật một cách hoàn toàn tự do...Họ [văn nghệ sĩ] hoàn toàn độc lập
tác chiến, độc lập sáng tạo...họ chỉ tuân theo kỷ luật và chỉ thị của trái tim
họ, của khối óc họ, của hiện thực xă hội mà họ phản ánh tùy theo tŕnh độ nhận
thức cá nhân của họ...Văn nghệ sĩ chân chính xưa nay đều chống lại chính trị của
giai cấp cầm quyền...Văn nghệ sĩ yêu Đảng nhưng họ yêu sự thực hơn Đảng...Vận
mạng của văn nghệ sĩ dài hơn vận mạng của Đảng, dài hơn vận mạng của chế độ.”
(NHQ, sđd.155)
Phong trào công kích phê b́nh nhà cầm quyền lan rộng sang cả những tờ báo của
đảng như tờ Cứu Quốc do Mặt trận Tổ quốc chủ trương, tờ Nhân Dân và cả tờ Học
Tập,ø cơ quan nghiên cứu lư luận của đảng, cũng nêu lên những trường hợp tham ô
lạm quyền của đảng viên. Các tờ báo đảng th́ đổ lỗi cho cá nhân các cán bộ đảng
viên thoái hóa. C̣n các báo khác th́ cho rằng đây là sai lầm của lănh đạo và
chính sách của đảng (HVC, sđd.27).
V.- ĐÀN ÁP CỦA NHÀ CẦM QUYỀN
1.- GÂY CẢN TRỞ
Lo ngại ảnh hưởng của Nhân Văn, ngoài việc viết bài đả kích ngay từ đầu, nhà cầm
quyền Hà Nội đă dùng nhiều phương cách gây trở ngại, nhắm chận đứng sự xuất hiện
của Nhân Văn. Cần chú ư là trong thời gian nầy, đảng LĐ mới tiếp thu chính quyền
ở Bắc Việt và đang chuẩn bị chiến tranh chống miền Nam, nên c̣n e ngại dư luận
quốc nội cũng như quốc tế. Cộng sản lo dân chúng trong nước bất măn, bỏ trốn vào
Nam, và ngại các cơ quan quốc tế vẫn c̣n hoạt động nhiều ở miền Bắc.
Lúc đầu cộng sản khủng bố ngầm bằng cách ra lệnh cho cơ quan Mậu dịch không bán
giấy in báo Nhân Văn. Biện pháp nầy không đạt kết quả v́ nhóm chủ trương Nhân
Văn lo mua giấy chợ đen. Hà Nội liền kiếm cách khủng bố những những người phát
hành hay những sạp báo nào có bán báo Nhân Văn. Trần Duy, tổng thư kư toà báo,
đă đưa ra bài “Thành thật đấu tranh cho tự do dân chủ” trên Nhân Văn số 4 ngày
5-11-1956, tố cáo nhà cầm quyền và đảng LĐ đă dùng những biện pháp ngầm để phá
hoại và bóp chết báo Nhân Văn. Trần Duy viết: “...Những hành động phá hoại ấy
tuy riêng lẻ, không có một chủ trương nào dứt khoát, nhưng nó thành hệ thống,
liên lạc, chứng tỏ rằng nó có chịu một sự chỉ huy...Anh em công nhân nhà in X.T.
cũng thắc mắc không biết tờ Nhân Văn phản động ở chỗ nào và tại sao phản động mà
chính phủ không cấm nó, lại phải để cho những kẻ đội lốt công đoàn vận động phá
hoại nó?...Họ đổ cho Nhân Văn đă gây khó dễ cho Đảng trong việc thống nhất Bắc-Nam,
Nhân Văn làm chậm hiệp thương, Nhân Văn có tội với miền Nam...” (HVC sđd., tt.
233-234)
Những phương pháp ngấm ngầm không hiệu quả, nhà cầm quyền Hà Nội quay qua vu
khống những người viết báo chống đối là tay sai của địch, gián điệp của đế quốc.
Báo Nhân Dân chạy tin rằng chính phủ Ngô Đ́nh Diệm triển lăm báo Nhân Văn ở
đường Courtina [nv], Sài G̣n. Sự thật vào tháng 6-1956, bộ Thông tin chính phủ
miền Nam tổ chức một cuộc triển lăm các tài liệu chứng tỏ cộng sản không tôn
trọng hiệp định Genève tại pḥng Thông tin Sài G̣n ở đường Catinat (đường Tự
Do), trong đó có triển lăm những tờ báo bắt được của những cán bộ cộng sản nằm
vùng như Nhân Dân, Cứu Quốc. Lúc đó báo Nhân Văn chưa ra đời. (HVC, sđd. 30).
2.- LÀN GIÓ CHƯỚNG
Theo quy luật của tạo hóa, hoa nở để rồi tàn, nhưng tàn xong th́ hoa nở lại.
Đàng nầy, trăm hoa báo chí vừa đua nở ở Bắc Việt th́ lại tàn lụi vĩnh viễn, v́
một làn gió chướng từ nước ngoài mới thổi đến. Nguyên sau Đại hội 20 đảng CSLX,
Nikita Khrushchev nói là đưa ra chính sách mềm dẻo, nhưng chính phủ ông chẳng
mềm dẻo tư nào đối với phong trào công nhân của các nước cộng sản láng giềng.
Ngày 28-6-1956, 50,000 công nhân thành phố kỹ nghệ Poznan (Ba Lan : Poland), ở
phía tây thủ đô Warsaw, nổi lên đ̣i tự do và cơm áo. Đảng Cộng sản Ba Lan đàn
áp, 53 người chết và khoảng 200 bị thương. Các đơn vị Liên Xô sẵn sàng tiến vào
Ba Lan, nhưng lănh tụ Wladyslaw Gomulka đă khéo léo thuyết phục Khrushchev không
can thiệp vào nội t́nh Ba Lan.
Tại Hung Gia Lợi (Hungary), một nước cộng sản Đông Âu khác, Imre Nagy lên làm
thủ tướng ngày 4-7-1953, đưa ra nhiều cải cách, giải tán các trại tập trung,
khoan hồng tù nhân. Nagy bị các lănh tụ thân Liên Xô thay thế năm 1955. Ngày
23-10-1956, sinh viên và dân chúng nổi lên biểu t́nh, đ̣i hỏi dân chủ, đ̣i chấm
dứt ảnh hưởng của Liên Xô và yêu cầu đưa Nagy trở lại chính quyền. Để mỵ dân,
đảng Cộng Sản đưa Nagy trở lại ghế thủ tướng ngay ngày hôm sau, 24-10. Nagy xin
thương thuyết với Liên Xô. Quân đội Liên Xô rút ra khỏi thủ đô Budapest ngày
27-10, nhưng ba ngày sau, 30-10, quân Liên Xô bất ngờ tiến vào Budapest trở lại,
lật đổ Nagy, lập János Kádár lên thay. Imre Nagy và vị tướng tổng chỉ huy quân
nổi dậy bị bắt và bị giết năm 1958.
Như thế, tuy tuyên bố chính sách mềm dẻo, nhưng Khrushchev vẫn xua xâm lăng Hung
Gia Lợi, dẹp tan những đ̣i hỏi chân chính của nhân dân nước nầy. Nói cách khác,
chính sách của Liên Xô chỉ mới hé mở chứ chưa thay đổi trên thực tế. Điều nầy là
những tín hiệu khuyến khích giới lănh đạo đảng LĐ Bắc Việt trở lại chính sách
cũ. Nhà cầm quyền Hà Nội nhân cơ hội đàn anh Liên Xô cứng rắn trở lại, liền ra
tay đàn áp thẳng thừng những phản kháng ở trong nước.
3.- THẲNG TAY ĐÀN ÁP
Để chuẩn bị dư luận, báo Nhân Dân ngày 10-12-1956 vừa cho đăng bài “Chống vu
khống xuyên tạc” của Xuân Trường, đả kích Nhân Văn, vừa loan báo 500 đại biểu
công nhân các nhà in tư nhân phản đối báo Nhân Văn và gởi kiến nghị thư cho Uỷ
ban Hành chánh Hà Nội đ̣i có phản ứng. Ngày 11-12, báo Nhân Dân đăng thêm bài
“Giữ vững nguyên tắc dân chủ” của Quang Đạm tố cáo Nhân Văn đă lợi dụng dân chủ
để gây rối. Ngày 12-12, Nhân Dân đăng thư bạn đọc chỉ trích Nhân Văn số 4 (ra
ngày 5-11-1956) đă lợi dụng hai chữ quần chúng, và đă tỏ ra “vô kỷ luật, vô tổ
chức”. Ngày 13-12, Nhân Dân đưa tin 52 hội đoàn, đơn vị xí nghiệp đă viết kiến
nghị chống Nhân Văn với 6.704 chữ kư. Ngày 14-12, Nhân Dân cho biết có hơn 1,000
người Hà Nội viết thư phản đối báo Nhân Văn, yêu cầu Phủ Thủ tướng, Ban Thường
trực Quốc hội, bộ Tư pháp, bộ Nội vụ có thái độ đối với Nhân Văn. Những tấn công
dồn dập trên báo Nhân Dân là dấu hiệu cho thấy đang có một mưu toan của nhà cầm
quyền nhằm dứt điểm Nhân Văn. Mưu toan đó là những cuộc bàn thảo trong các cuộc
họp tại thành uỷ Hà Nội (tức Uỷ ban đảng LĐ thành phố) để kiếm cách đối phó với
Nhân Văn.
Cuộc họp thứ nhất tại thành uỷ Hà Nội vào khoảng giữa tháng 10-1956, sau hai số
Nhân Văn. Tại cuộc họp nầy Tố Hữu, đại diện Trung ương đảng, phát biểu: “Các anh
[chỉ thành uỷ Hà Nội] mất cảnh giác chính trị trước một trào lưu tư sản đang
chống đối chế độ...Các anh chưa nhận thức t́nh h́nh hiện nay...Các anh không
thấy Hungarie t́nh h́nh bắt đầu như thế nào à? Nó bắt đầu từ Câu lạc bộ
Pétofi...” (32) Trong cuộc họp vào khoảng giữa tháng 12, Tố Hữu nói rằng “tờ
Nhân Văn số 6 kích động nhân dân biểu t́nh nhân dịp quốc hội sắp họp”, dù lúc đó
Nhân Văn số 6 mới lên khuôn chứ chưa được in. Ông Vũ Định, phụ trách công đoàn
(tức liên đoàn lao động) Hà Nội, liền được thành uỷ cử đến gặp công nhân nhà in
Xuân Thu yêu cầu ngừng in báo Nhân Văn. (NMC, sđd. 69).
Ngày 15-12-1956, ba sự kiện xem ra có vẻ độc lập sau đây diễn ra trong cùng một
ngày:
* Hồ Chí Minh ban hành sắc lệnh bắt buộc báo chí phải phục vụ nền chuyên chính
vô sản, không được chống chế độ, chống chính phủ, không được xúi giục nhân dân
và bộ đội làm loạn... và sẽ phạt tù từ 5 năm đến chung thân khổ sai, tịch thu
tài sản nếu ai phạm vào những điều cấm.
* Báo Nhân Dân đăng lời tuyên bố của 235 văn nghệ sĩ Nam Bộ tập kết ra Bắc lên
án Nhân Văn là phương tiện cho địch gây chia rẽ Bắc Nam, và đăng lời ngỏ của 180
nhà báo Hà Nội lên án Nhân Văn “nói sai sự thật, xuyên tạc nhiều vấn đề với dụng
ư bôi xấu chế độ ta.”
* Bác sĩ Trần Duy Hưng, chủ tịch Uỷ ban hành chánh (tương đương với thị trưởng)
thành phố Hà Nội ra quyết định đ́nh bản vĩnh viễn báo Nhân Văn. Lúc đó, Nhân Văn
số 6 vừa mới được lên khuôn ở nhà in Xuân Thu, th́ bị chết yểu (ngày
15-12-1956), không được ra mắt độc giả, chấm dứt luôn đời sống ngắn ngủi của báo
Nhân Văn. (HVC sđd. tr. 31.)
Ba động tác nhịp nhàng cùng một lần, không trước không sau, và không phải là
không có đạo diễn, chứng tỏ quyết tâm của nhà cầm quyền cộng sản cương quyết vùi
dập báo Nhân Văn, bông hoa hương sắc nhất trong cảnh trăm hoa đua nở trên đất
Bắc năm 1956, để rồi sau đó vùi dập luôn các bông hoa khác, v́ sau báo Nhân Văn,
các báo khác như Trăm Hoa của Nguyễn Bính, Thời Mới của Hiền Nhân, Đất Mới của
sinh viên Hà Nội, Giai Phẩm cũng lần lượt bị dẹp luôn.
VI.- TIẾP TỤC KHỦNG BỐ
1.- BÁO CHẾT CHƯA HẾT CHUYỆN
Báo Nhân Văn chính thức bị đóng cửa ngày 15-12-1956, nhưng vấn đề Nhân Văn vẫn
c̣n dây dưa lâu ngày. Trước hết là các báo của đảng LĐ vẫn tiếp tục chiến dịch
đả kích Nhân Văn.
Ngày 16-12, báo Nhân Dân loan báo rằng 180 nhà báo Hà Nội, 25 nhà văn trong đó
có Tô Hoài, Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Bính, Nguyên Hồng,
Thanh Tịnh, Đặng Thai Mai, cùng các văn nghệ sĩ liên khu 5 như Nam Trân, Phan
Thao (con của chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Nhân Văn là Phan Khôi) lên tiếng phản
đối Nhân Văn. Ba hôm sau (19-12), báo Nhân Dân cho biết đến lượt các văn nghệ sĩ
quân đội đả kích Nhân Văn. Ngày 23-12, cũng theo báo Nhân Dân, sinh viên học
sinh Hà Nội phản đối tạp chí Đất Mới. Ngày 30-12-1956, Nhân Dân kết toán rằng
chỉ trong ba ngày, từ 28-12 đến 30-12, đă có 1,415 độc giả viết bài phê phán báo
Nhân Văn.
Sau khi đả kích Nhân Văn, Giai Phẩm, hội Văn nghệ Hà Nội, trong tinh thần tự sửa
sai, ra thông báo ngày 20-12-1956, nhận khuyết điểm về việc phát giải thưởng văn
học trước đây (CĐ, sđd.109). Tiếp đó, hội Văn nghệ được thay thế bằng hội Liên
hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam trong đại hội Văn học Nghệ thuật toàn quốc kỳ 2
tổ chức vào đầu năm 1957 (NHQ, sđd.142). Dưới hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật,
các hội chuyên ngành được thành lập như hội Nhà văn, hội Mỹ thuật, hội Nhạc sĩ
sáng tác. Để bù vào chỗ trống do Nhân Văn và Giai Phẩm để lại, nhà cầm quyền
cộng sản liền ra lệnh cho hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật xuất bản tuần báo Văn,
do Nguyễn Công Hoan làm chủ bút, Nguyễn Tuân làm phó và Nguyên Hồng giữ chức
tổng thư kư. Báo Văn theo đúng chủ trương đi dây giữa Liên Xô và CHNDTH, nghĩa
là một nửa để dịch tiểu thuyết Liên Xô, c̣n một nửa kia để viết về văn học
CHNDTH (HVC, sđd.32).
Số Văn đầu tiên ra mắt độc giả là ngày 10-5-1957, ít hấp dẫn người đọc, v́ không
được sự cộng tác của những tác giả thời danh. Bài vở quá kém khiến Văn bị báo
Học Tập, cơ quan nghiên cứu và lư luận của đảng LĐ, chỉ trích vào số đầu tháng
8-1957. Thế Toàn, tác giả bài báo chỉ trích, đă viết: “Qua 10 số đầu của tuần
báo Văn, chúng tôi nhận thấy nội dung tờ báo c̣n quá nghèo nàn. Tờ báo hầu như
xa rời thực tế, xa rời cuộc sống, tách rời những nhiệm vụ trung tâm của Cách
mạng...”(HVC, sđd.32)
Nhà văn Nguyên Hồng, tổng thư kư ṭa báo, đă trả lời và phê b́nh rằng Thế Toàn
quan liêu và trịch thượng, trên báo Văn số 15 ra ngày 16-8-1957. Có lẽ để đáp
lại thiết thực hơn cho yêu cầu của tờ báo đảng (Học Tập), báo Văn bắt đầu cho
đăng những bài phản ảnh thực tế xă hội, tâm tư của những nhà văn chân chính.
Trên Văn số 21 ra ngày 27-9, xuất hiện bài “Lời mẹ dặn” của Phùng Quán (cháu gọi
Tố Hữu bằng cậu ruột) với những lời thơ làm cho thanh danh của ông trở thành bất
tử:
“Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngă
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.”
(HVC sđd.121)
Hoàng Cầm, một kiện tướng của Nhân Văn, lần nầy đưa đăng vở kịch thơ “Tiếng hát
Trương Chi” trên Văn số 24 ngày 18-10-1956. Vở kịch thơ nầy dùng câu chuyện
tiếng hát của chàng lái đ̣ Trương Chi đă làm say mê Mỵ Nương, nhưng v́ quan niệm
phân biệt giàu nghèo của người cha Mỵ Nương, nên hai bên không kết hôn được. Qua
lời thơ của Hoàng Cầm, “Tiếng hát” tượng trưng cho tiếng gọi của tự do:
“Nào người quả phụ trắng khăn tang
Nào đứa em mồ côi khát sữa
Nào ai sống nhục chết oan
Nào ai tan ĺa đôi lứa
Nghe tiếng hát nầy...”
Cha của Mỵ Nương (tượng trưng cho đảng) t́m cách ngăn cản:
“Khóa kín cả lầu, lấp cả sông
Để không c̣n tiếng hát!...”
Tiếng hát kêu gọi tự do vượt các trở ngại đến tai mọi người:
“Tiếng hát đẩy được vào
V́ đó là tiếng gọi của trời cao
Của đất rộng...”
Mỵ Nương, tượng trưng cho văn nghệ sĩ cùng dân chúng, kiếm tất cả các cách để đi
t́m tiếng hát, tượng trưng cho tự do:
“Ta mở được, ta vượt qua tường đá
Ta chạy ra sông!
Đi bốn phương trời
T́m tiếng hát...ta đi cùng thiên hạ...”
(HVC, sđd. tt. 238-244)
Bức tranh nhiều h́nh “Một phương pháp xây dựng văn nghệ” của Trần Duy, nguyên
tổng thư kư báo Nhân Văn, xuất hiện trên Văn số 30 ngày 29-11-1957 thật là ư
nghĩa. Bức tranh nầy gồm sáu h́nh nhỏ. H́nh thứ nhất tả người họa sĩ đang vẽ hoa
th́ một cán bộ xuất hiện hỏi “Hoa nầy do đâu mà ra?”. Họa sĩ vẽ thêm cái chậu,
một cán bộ khác đặt vấn đề”Hoa để cho ai? Phục vụ cái ǵ?”(h́nh 2). Họa sĩ thêm
một công nhân ngắm hoa, một đại diện của nhà cầm quyền lên lớp:”Công nông binh
là một lực lượng không thể tách rời được.”(h́nh 3) Họa sĩ lại thêm cho đủ công
nông binh, nhưng có kẻ chỉ dạy:”Không nên cô lập công nông binh, phải có sự hỗ
trợ của quần chúng.”(h́nh 4). Đành phải thêm, vẫn chưa đạt: “!!!Và phải diễn tả
đấu tranh thắng lợi!!!”(h́nh 5). Khi diễn tả đấu tranh thắng lợi, họa sĩ nh́n
lại bức tranh, th́ “Ồ!!!”(h́nh 6), bức tranh không c̣n là bức tranh nữa.
Rồi đến lượt báo Văn bị đóng cửa sau khi đăng câu chuyện “Ông Năm Chuột” của
Phan Khôi trên số 36 ra ngày 10-1-1958. Trong bài nầy, Phan Khôi kể lại chuyện
một người nghèo khổ trong làng ông ở Quảng Nam, được dân chúng gọi là Năm Chuột,
chuyên nghề thợ rèn, thợ bạc. Tuy bề ngoài nghèo khổ, nhưng ông Năm Chuột giỏi
chữ Nho và khá ranh mănh, biết đánh giá từng người và thấy rơ những mặt trái của
các quan viên trong làng. Phan Khôi muốn ngụ ư giai cấp thống trị thời nào cũng
chẳng mấy tốt đẹp, và dầu khéo che đậy cách mấy vẫn không qua mặt được dân
chúng.
2.- CUỘC ĐẤU TỐ CÁC VĂN NGHỆ SĨ
Bốn ngày trước khi báo Văn số chót (số 36) được ấn hành, Bộ chính trị Trung ương
đảng LĐ ra nghị quyết ngày 6-1-1958 về việc chấn chỉnh công tác văn nghệ do
Trường Chinh kư, nội dung có đoạn viết:
“Khuynh hướng phá hoại của nhóm Nhân Văn bị đánh lui; những người tham gia nhóm
đó bị số đông văn nghệ sĩ phản đối. Tuy vậy cuộc đấu tranh chống khuynh hướng
Nhân Văn mới ở bước đầu; những hoạt động nguy hại và bộ mặt thực về chính trị
của những phần tử xấu trong nhóm Nhân Văn chưa bị bóc trần trong giới văn nghệ...
Số đông văn nghệ sĩ tập trung ở Hà Nội, mấy năm nay đă xa rời thực tế lao động
và sinh hoạt của quần chúng công nông binh, lại rất ít học tập chính trị không
hiểu rơ t́nh h́nh và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, chưa được giáo dục
về tư tưởng xă hội chủ nghĩa.
Do đó, lập trường chính trị rất mơ hồ, ư chí phấn đấu cách mạng giảm sút nghiêm
trọng, trạng thái giao động hoang mang c̣n nặng, ngay cả trong hàng ngũ đảng
viên; ranh giới giữa địch và ta có lúc bị lu mờ, t́nh trạng mất cảnh giác là phổ
biến. Đồng thời tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, tự măn, tự kiêu ngạo, hiếu danh,
tham tiền, tư tưởng an nhàn hưởng lạc ngày càng nẩy nở. Tư tưởng tự do chủ nghĩa,
vô tổ chức, vô kỷ luật, chia bè nhóm cũng đang trên đà phát triển... Cần có kế
hoạch khuyến khích giúp đỡ các văn nghệ sĩ đi xuống các cơ sở sản xuất, đi vào
công nông binh, và nếu có thể th́ tham gia lao động để thâm nhập thực tế và gần
gũi quần chúng hơn. Mặt khác, cần có kế hoạch tổ chức cho văn nghệ sĩ học tập
một cách thường xuyên những vấn đề thời sự và chính sách trong giai đoạn mới của
cách mạng, tiến tới tổ chức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, cải tạo tư tưởng có hệ
thống...”(NHQ, sđd.163).
Nghị quyết nầy báo hiệu một màn thanh trừng mới: Văn nghệ sĩ phải thấm nhuần
đường lối xă hội chủ nghĩa (tức chỉnh huấn), phải xâm nhập thực tế (nghĩa là
cưỡng bức lao động), và phải học tập chính sách cách mạng mới của đảng LĐ.
Trước tiên, Tiểu ban Văn nghệ trung ương của đảng tiến hành kiểm tra toàn bộ các
tổ chức văn hóa, hội Nhà văn, hội Âm nhạc, hội Mỹ thuật, ngành sân khấu, ngành
điện ảnh, các trường đại học, nhất là các khoa văn và sử. Tiểu ban Văn nghệ phối
hợp chặt chẽ với Vụ Bảo vệ Văn hóa của ngành Công an, phân loại các thành phần
văn nghệ sĩ trí thức như sau: (a) đối tượng (để đấu tranh, tức là loại bị xếp
vào hạng phản động, phá hoại), (b) “những người có vấn đề” (bị coi là sai lầm
nhưng chưa hẳn ngoan cố), (c) “những người lưng chừng” (chưa tích cực đấu tranh),
(d) “chỗ dựa” (lập trường theo đảng vững). (HVC, sđd.29)
Tiểu ban Văn nghệ trung ương tổ chức hai đợt học tập: đợt đầu vào tháng 2-1958
gồm 172 người tham dự, và đợt thứ hai vào tháng 3-1958 với 304 người tham dự.
Mục đích cuộc học tập nầy để nghiên cứu nghị quyết về việc chấn chỉnh công tác
văn nghệ của Bộ chính trị và hai nghị quyết của hội nghị các đảng Cộng Sản tại
Moscow vào cuối năm 1957.(33) Có bốn người không chịu tham dự các cuộc học tập
nầy. Đó là Phan Khôi, Thụy An Lưu Thị Yến, Nguyễn Hữu Đang, và Trương Tửu. Công
an liền bắt Thụy An và Nguyễn Hữu Đang giam ngục thất Hỏa Ḷ, Hà Nội. Phan Khôi
quá già, uy tín lại lớn, nhất là đối với những người miền Nam tập kết ra Bắc,
nên cộng sản không bắt, nhưng cô lập ông ta. C̣n Trương Tửu th́ bị cất chức giáo
sư Đại học Văn khoa, gia đ́nh bị bao vây kinh tế, vợ bị rút giấy phép buôn bán.
(HVC, sđd. 36)
Mở đầu cuộc học tập, ban tổ chức cho biết yêu cầu quan trọng nhất của Trung ương
đảng là phải làm trong sạch đội ngũ đảng viên trong giới văn nghệ sĩ và trí thức;
các văn nghệ sĩ phải chọn một thế đứng dứt khoát, hoặc về “phe ta” hoặc theo
“phe địch”, chứ không thể lưng chừng. Học xong nghị quyết của đảng, mỗi học viên
phải tự làm “kiểm thảo”, thành thật khai báo những sai lầm của ḿnh để mọi người
phê phán và góp ư sửa đổi.
Thực chất việc kiểm thảo nầy là một cuộc chỉnh huấn và đấu tố các văn nghệ sĩ,
trí thức thuộc nhóm đối tượng và nhóm những người có vấn đề. Chẳng những chỉ bị
“tố giác, hỏi cung tập thể”, các văn nghệ sĩ và trí thức thuộc hai nhóm nầy c̣n
bị công an “làm việc” riêng một cách tích cực nữa.
Ngoài ra, để sửa soạn dư luận cho một cuộc đàn áp rộng lớn đang được chuẩn bị,
những văn nghệ sĩ và trí thức trên bị các báo của đảng LĐ đả kích thường xuyên
trong nhiều tháng. Nhà văn Nguyễn Minh Cần, lúc đó là Phó chủ tịch Uỷ ban Hành
chánh (tương đương phó thị trưởng) thành phố Hà Nội, Trưởng ban Tuyên huấn Thành
uỷ, kiêm Chủ nhiệm báo Thủ Đô, cho biết: “Các bài “đánh” anh em Nhân Văn Giai
Phẩm đều do ban tuyên huấn trung ương đặt người viết, kể cả các bài đăng ở các
báo địa phương như Hà Nội, Hải Pḥng…Đảng làm việc nầy chặt chẽ lắm! Có kế hoạch
chuẩn bị từ trước của Trung ương là bài nào đăng ở báo nào, ai viết, viết ǵ…Các
thành uỷ, các địa phương không phải bàn căi, cứ thế mà làm.”(NMC, sđd.72).
Từ tháng 3-1958, các số Nhân Dân ngày 2-3, 12-3, 14-4 liên tục đăng nhiều bài tố
cáo Trần Dần, Hoàng Cầm, Trần Duy, Tử Phác. Sau đợt học tập thứ hai, những bài
tự kiểm thảo nhận tội của Trần Dần, Trần Đức Thảo, Lê Đạt, Hoàng Cầm và Văn Cao
được đưa lên báo Nhân Dân.
Báo Văn Nghệ, số 11, xuất bản đầu tháng 4-1958, đăng bài của Hoài Thanh kể tội
Trương Tửu: “Cách mạng tháng Tám thành công ngày 19-8-1945. Ba tuần sau, vào
ngày 10-9-1945, Trương Tửu xuất bản quyển Tương lai văn nghệ Việt Nam. Trong
quyển sách cũng như trong lời tựa, hoàn toàn không có lấy một lời nói đến Cách
mạng tháng Tám. Vẫn một lối huênh hoang và bịp bợm cũ, nó làm như chỉ có nó mới
là triệt để cách mạng. Một mặt nó bóp méo, bịa đặt để vu khống... Một mặt khác
nó xuyên tạc lời nói của các lănh tụ. Nó trích dẫn Mác đả kích chính quyền phản
động cũ để gián tiếp đả kích chính quyền ta.” (NMC, sđd. 32).
Trên Nhân Dân ngày 12-4-1958, Thế Lữ tố khổ Phan Khôi, chủ nhiệm kiêm chủ bút
Nhân Văn: “Phan Khôi phản cách mạng, ngấm ngầm chống đảng lănh đạo cách mạng từ
trong kháng chiến, đó là việc hiện giờ ta thấy rơ hiển nhiên. Phan Khôi vẫn khoe
là được Hồ chủ tịch tặng một chiếc áo lụa, và kể cho tôi nghe một chuyến gặp Hồ
chủ tịch. Chuyện được áo, tôi không thấy ông ta tỏ ra một ư nào gọi là cảm kích.
Phan Khôi không cảm thấy được rằng một cử chỉ đơn giản đó của Người biểu trưng
cho một t́nh bao dung nhân ái rộng lớn dồi dào của đạo đức cách mạng.”(NMC, sđd.
33).
Báo Thủ Đô, xuất bản tại Hà Nội, số ngày 23-4-1958, đăng bài của tác giả Xuân
Dung tố cáo bà Thụy An:”… Có người (hiện đương ở Hà Nội), lại trông thấy Thụy An
ngồi chung xe với tên tướng giặc Cô-nhi [Cogny], ấy là chưa kể có tin nó vào Sài
G̣n rồi trở ra Hà Nội, một tháng trước khi tiếp quản...Giải phóng thủ đô, nhiều
người lạ lùng v́ sự có mặt của con nầy. Riêng cái việc xuống Hải Pḥng khi ta
chưa tiếp quản, rồi lại về Hà Nội một cách đàng hoàng cũng đủ cho ta suy
nghĩ...” (NMC, sđd.30).
Trên báo Nhân Dân ngày 1-5-1958, trong bài “Vạch mặt bọn Nhân Văn Giai Phẩm”,
Nguyễn Đ́nh Thi đă tố cáo: “Rọi sáng cái ổ Nhân Văn Giai Phẩm ấy, chúng ta thấy
hiện lên những tên tác động tinh thần, mật thám, những bọn lái buôn văn nghệ,
những tên phản cách mạng già đời, tất cả bọn chúng ngoặc với một số người văn
nghệ từ chỗ sa đọa đi tới phản động về chính trị... Trong đời sống, những phần
tử Nhân Văn Giai Phẩm đă trở lại là những “cậu ấm con quan”, “công tử nhà giàu”,
có cả những chủ nợ lăi, chủ nhà thổ lậu, hoặc những kẻ sống nửa lưu manh, không
có đất đứng trong xă hội...” (NMC, sđd.30).
Báo Văn Nghệ số 12 ra đầu tháng 5-1958, Bùi Huy Phồn trở lại “đánh” Trương Tửu
thêm một lần nữa: “Có người thấy Trương Tửu theo đuổi được chín mười năm [kháng
chiến] cũng là một điều kỳ lạ. Tôi th́ tôi muốn đặt ngược lại vấn đề: Trương Tửu
theo kháng chiến có phải thực tâm tán thành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
của chúng ta, hay v́ “mục đích” ǵ khác nữa?... Trong khi giảng dạy ở trường đại
học, hoặc nói chuyện với những sinh viên thân cận, Trương Tửu đưa ra một mớ lư
luận sặc mùi tơ-rố-kít nếu không là gián điệp: nào là “giai cấp công nhân sắp
hết vai tṛ sản xuất, quân đội sắp hết vai tṛ chiến đấu trong thời đại nguyên
tử nầy”. Để làm ǵ, nếu không nhằm làm tê liệt ư chí đấu tranh và sản xuất của
các tầng lớp cơ bản trong nhân dân ta...” (NMC, sđd.32).
Cũng trong giới giáo sư đại học, giáo sư Phạm Huy Thông đă phê phán giáo sư Trần
Đức Thảo một cách cay độc trên Nhân Dân số ngày 4-5-1958: “Trở nên môn đệ của
Giăng Pôn Xác [Jean Paul Sartre], Thảo đă tham gia những hoạt động văn hóa và
chính trị phản động của nhóm “Thời Nay” [Les Temps Modernes] do Xác chỉ huy, nêu
cao thuyết “sinh tồn” [Existentialisme], một thuyết phản động về triết học và
chính trị, chủ yếu nhằm chống lại phong trào cộng sản ở các nước phương Tây...
Thảo vu khống đảng Cộng Sản Pháp có đầu óc đế quốc thực dân, phỉ báng chính sách
ngoại giao của ta mà Thảo cho là đầu hàng, phản bội. Nói về Hiệp ước sơ bộ
6-3-1946, Thảo đă phụ họa với bè lũ tơ-rốt-kít, chống lại chính phủ ta và đă
thốt lên những lời thóa mạ thô bỉ, rất hỗn xược với các lănh tụ của ta.” (NMC,
sđd.32).
Trên Văn Nghệ số 12, Nguyễn Hữu Đang bị một người viết kư tên là Hồng Vân tố
cáo: “Hắn là con một tên chánh tổng ở Thái B́nh. Chính gia đ́nh địa chủ cường
hào nầy đă rèn luyện cho hắn cái đầu óc thích “ăn trên ngồi tróc”, thích địa vị
với nhiều thủ đoạn nham hiểm và tàn nhẫn...Trong chiến tranh thế giới thứ hai,
đế quốc lồng lộn khủng bố, toàn bộ Đảng ta rút vào bí mật. Không những cán bộ,
đảng viên, mà cả những đoàn viên thanh niên dân chủ cũng bị lùng bắt. C̣n Nguyễn
Hữu Đang vẫn hoạt động công khai trong phong trào truyền bá quốc ngữ...” (NMC,
sđd. 31).
Sau hai lớp học tập vào tháng 2 và 3-1958 và sau khi các báo đảng liên tiếp đăng
bài đả kích, “vạch mặt” các văn nghệ sĩ và trí thức “phản động” trong nhóm Nhân
Văn và Giai Phẩm, ban chấp hành hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam nhóm
họp tại Hà Nội ngày 4-6-1958 để tổng kết và ra nghị quyết lên án gắt gao nhóm
văn nghệ sĩ và trí thức nầy. Trong “Báo cáo tổng kết cuộc đấu tranh chống nhóm
phá hoại Nhân Văn Giai Phẩm”, đọc tại cuộc họp, có những đoạn Tố Hữu viết:
“...Cuộc đấu tranh từ năm tháng nay chống nhóm phá hoạt “Nhân Văn Giai Phẩm”
trên mặt trận văn nghệ, một cuộc đấu tranh quyết liệt, có tính cách quần chúng
và toàn quốc, chưa từng thấy mấy chục năm nay...Dưới sự lănh đạo kiên quyết và
sáng suốt của Đảng ta, cuộc giao phong tư tưởng vừa qua đă giành được thắng lợi
lớn...Lật bộ áo “Nhân Văn Giai Phẩm” thối tha, người ta đă thấy ra cả một ổ phản
động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh, trốt-kít, địa chủ tư sản phản
động, quần tụ trong những tổ quỷ với những gái điếm, bàn đèn, sách “chống cộn
”, phim ảnh khiêu dâm...”(NMC, sđd.34).
Thế rồi, Tố Hữu gọi các văn nghệ sĩ là: “bọn trốt-kít Trương Tửu, Trần Đức
Thảo... Bọn Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, hai tên phản Đảng... Bọn Trần Dần, Tử Phác,
những tên phản Đảng, những đứa con hư của Hà Nội cũ... Tên mật thám Trần Duy...
Bọn Phan Khôi, mật thám cũ của thực dân Pháp... Bọn gián điệp Thụy An ...” Và Tố
Hữu khép họ vào các tội danh: “...ra mặt phản cách mạng, đánh thẳng vào chế độ
của sự lănh đạo của Đảng...âm mưu gây biến động...Lũng đoạn hội Nhà văn và các
cơ quan nghệ thuật, xây dựng “pháo đài” chống cách mạng ở trường đại học...Kích
thích chủ nghĩa cá nhân tư sản, bôi nhọ chủ nghĩa cộng sản...Khiêu khích nhân
dân chống lại chế độ và Đảng lănh đạo...chống lại nền chuyên chính vô sản, chống
lại toàn bộ cách mạng xă hội chủ nghĩa...gieo rắc chủ nghĩa dân tộc tư sản,
chống lại chủ nghĩa quốc tế vô sản...Ra sức chửi rủa cái mà chúng gọi là chủ
nghĩa Xtalin, vu khống Đảng ta là “giáo điều”, “nô lệ” và vu khống các nước xă
hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô, Trung Quốc...” (NMC, sđd.35).
Riêng nhóm Nhân Văn và Giai Phẩm, Tố Hữu lên án là “phản động”, “phản cách mạng”
v́ nhóm nầy dám: “ Phản đối văn nghệ phục vụ chính trị, đ̣i “tự do độc lập” của
văn nghệ, rêu rao “sứ mạng chống đối” của văn nghệ, phản đối văn nghệ phục vụ
công nông binh, nêu lên con đường trừu tượng...đả kích văn nghệ kháng chiến của
ta...phủ nhận hoàn toàn phương pháp hiện thực xă hội chủ nghĩa, coi đó là một
sản phẩm của “thời kỳ Xta-lin”... Đ̣i trả văn nghệ cho văn nghệ sĩ thực ra là
đ̣i đưa quyền lănh đạo văn nghệ vào tay bọn phản cách mạng...” (NMC, sđd.35).
Ngày hôm sau, 5-6-1958, cũng ngay tại Hà Nội, 800 văn nghệ sĩ họp để bàn thảo
một nghị quyết gọi là “Nghị quyết của 800 văn nghệ sĩ”, phụ họa với nghị quyết
của ban chấp hành hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam (theo Thụy Khuê, bài
đd.). Các hội chuyên ngành trong Liên hiệp Văn học Nghệ thuật đă họp và ra nghị
quyết áp đặt kỷ luật đối với nhóm văn nghệ sĩ và trí thức “phản động”, theo đó:
Hội Nhà văn khai trừ Phan Khôi, Trương Tửu, Thụy An, Trần Dần, Lê Đạt, và loại
Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh ra khỏi ban chấp hành. Hội Mỹ thuật khai trừ Trần
Duy, và loại Sỹ Ngọc, Nguyễn Sáng ra khỏi ban chấp hành. Hội Nhạc sĩ sáng tác
khai trừ Tử Phác, Đặng Đ́nh Hưng [thân sinh nhạc sĩ Đặng Thái Sơn], và loại Văn
Cao, Nguyễn Văn Tư ra khỏi ban chấp hành...(NMC, sđd.36).
Tuy đă phê b́nh, kiểm điểm, đấu tố, nhưng vào tháng 7-1958, trong bài “Những tư
tưởng nghệ thuật của Văn Cao” trên Văn Nghệ số 14, thi sĩ Xuân Diệu vẫn c̣n đả
kích Văn Cao là “con người phản phúc hai mặt, giả dối như con mèo, là một tên
phù thủy toan dùng âm binh để chọi nhau với Đảng.” (HVC, sđd.220)
Sau khi kiểm thảo, tự làm tờ thú tội, các văn nghệ sĩ bị cưỡng bức đưa đi lao
động học tập. Những người bị “tội” nặng th́ đi xa, lên các vùng núi non nước
độc, những người bị “tội” nhẹ th́ đi gần hơn ở các vùng trung du hay vùng đồng
chua nước mặn duyên hải. Tạp chí Văn Nghệ, số 14, tháng 7-1958, trong bài “Nắm
chắc lấy vũ khí chiến đấu của chúng ta” cho thấy lư do v́ sao cần lao động học
tập: “Mọi người đều thấy là cần thiết và rất hoan nghênh một việc quan trọng mà
ban chấp hành hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật đă đề ra là tất cả các văn nghệ
sĩ đều phải cố gắng, tích cực đi vào thực tế đời sống công nông binh “tham gia
lao động”. Tất nhiên nhóm phá hoại Nhân Văn - Giai Phẩm cũng đi với chúng ta,
nhưng việc làm của họ có ư nghĩa hoàn toàn khác [để thử thách, theo dơi].” (HVC,
sđd. 37).
Toàn bộ hồ sơ của vụ Nhân Dân và Giai Phẩm được ban Tuyên huấn đảng Lao Động gom
lại trong quyển sách nhan đề là Bọn Nhân Văn - Giai Phẩm trước ṭa án dư luận do
Nxb. Sự Thật, phát hành tại Hà Nội năm 1959. Trong tiểu mục “Cái ổ chuột “Nhân
Văn - Giai Phẩm” bị vạch trần trước ánh sáng của dư luận”, sách nầy đă lên danh
sách những người đă tham gia Nhân Văn và Giai Phẩm như sau: “Qua sự phát hiện
của hai cuộc hội nghị nói trên [tức hai cuộc học tập vào tháng 2 và 3-1958],
chúng ta được biết nhóm phá hoại “Nhân Văn - Giai Phẩm” bao gồm những tên đầu
sỏ, những “cây bút” đă viết “hoặc nhiều hoặc ít” cho Nhân Văn - Giai Phẩm như:
Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Phan Khôi,
Trần Duy, Trần Dần, Lê Đạt, Tử Phác, Đặng Đ́nh Hưng, Hoàng Cầm, Sĩ Ngọc, Chu
Ngọc, Văn Cao, Nguyễn Văn Tư, Phùng Quán, Hoàng Tích Linh, Trần Công, Trần
Thịnh, Phan Vũ, Hoàng Huế, Huy Phương, Vĩnh Mai, Như Mai tức Châm Văn Biếm, Hữu
Thung, Nguyễn Khắc Dực, Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Yến, Thanh B́nh, Yến Lan, Nguyễn
Thành Long, Trần Lê Văn, và Lê Đại Thanh ... Nhưng đó không phải là tất cả (c̣n
những tên chưa ra mặt).” (Sách Bọn Nhân Văn - Giai Phẩm...tt. 309-310). Về sau,
có thêm Hữu Loan và một vài người nữa (NMC, sđd. 36)
Tuy thế, mọi sự vẫn chưa hết. Nhà nước cộng sản c̣n đưa một số người mà họ cho
rằng đầu sỏ nhất ra ṭa. Đó là Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo (chủ nhà
sách Minh Đức), Phan Tài, và Lê Nguyên Chi.
3.- TRƯỚC T̉A ÁN NHÂN DÂN
Dưới chế độ cộng sản, chỉ có một cơ quan được mang danh “nhà nước”, đó là “Ngân
hàng nhà nước”, chuyên phát hành tiền bạc, c̣n bất cứ cơ quan nào cũng được gọi
là “nhân dân”, như “Quân đội nhân dân”, “Công an nhân dân”, “Ṭa án nhân dân”...
Nói thế để thấy rằng ṭa án nhân dân ở đây cũng là một cơ quan pháp luật của nhà
nước, trong hệ thống tư pháp nhà cầm quyền.
Nhà cầm quyền cộng sản quyết định đem ra xét xử vào tháng 1-1960 các nhân vật
chủ chốt vận động và bảo trợ phong trào văn học đối kháng Giai Phẩm và Nhân Văn
trước Ṭa án nhân dân Hà Nội. Có một vấn đề tế nhị họ muốn tránh né: không thể
xét xử những người nầy trong “vụ án văn chương”, có thể gây phản ứng bất lợi ở
trong cũng như ngoài nước, nên họ phải t́m một lư do khác để ngụy trang. Chỉ thị
của đảng LĐ ra lệnh phải xét xử nhanh, gọn, hạn chế đến mức tối thiểu, tránh gây
xôn xao dư luận. (NMC, sđd.37) Muốn thế phải quy chụp các nạn nhân vào một tội
danh hoàn toàn không dính líu ǵ đến chuyện văn chương tư tưởng. Ngay từ khi bắt
đầu đả kích Nhân Văn và Giai Phẩm năm 1956, các báo của cộng sản đều gán cho
nhóm nầy tội “mật thám, gián điệp”. Lư do nầy có tính cách bí mật quốc pḥng,
chủ quyền quốc gia, không dính líu ǵ đến chuyện văn chương tư tưởng, nên không
một ai, kể cả người nước ngoài, có thể viện cớ ǵ để kêu ca can thiệp. Như thế,
lư do nầy rất thích hợp để cộng sản kết tội bà Thụy An và các ông
Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo.
Lúc đó, ngày nào đài truyền thanh thành phố Hà Nội và các báo nhà nước ngày nào
cũng ra rả rằng một vụ án gián điệp quan trọng đang được xét xử công khai trước
Ṭa án nhân dân. Vụ án được trực tiếp truyền thanh trên Đài phát thanh và trên
các loa đặt khắp thành phố Hà Nội để dân chúng theo dơi. Tuy công khai, nhưng ai
có giấy mời mới được tham dự. Giấy mời do Sở công an Hà Nội phân phối. Khách
nước ngoài không được có mặt. Đặc biệt hơn các ṭa án đấu tố Cải cách ruộng đất
trước đây, lần nầy ṭa mở ra với đầy đủ bộ phận, có công tố, bồi thẩm đoàn, luật
sư bào chữa, h́nh thức rất đầy đủ, nhưng ai cũng biết ngay cả luật sư bào chữa
cũng là người của nhà cầm quyền.
Theo bản cáo trạng, bà Thụy An Lưu Thị Yến đă quen biết và giao thiệp với
Maurice Durand, một nhà nghiên cứu người Pháp, nhân viên trường Viễn Đông Bác Cổ
trước năm 1954.(34) Cũng theo cáo trạng, Maurice Durand là điệp viên cho thực
dân Pháp. Làm điệp viên cho thực dân Pháp cũng có nghĩa là làm việc cho đế quốc
Mỹ. Bà Thụy An liên lạc với Maurice Durand làm ǵ nếu không phải là tiếp tay làm
gián điệp cho Durand?
Tác giả Nguyễn Minh Cần, chứng kiến tại chỗ phiên ṭa, kể lại rằng luật sư bào
chữa cho Thụy An là một thanh niên do Thành đoàn Thanh niên Lao Động thành phố
Hà Nội cử ra. (Đoàn Thanh niên LĐ là đoàn thể của đảng LĐ, để huấn luyện, tuyển
chọn và giới thiệu thanh niên vào đảng.) Tuy phát biểu cho có h́nh thức, nhưng
anh thanh niên nầy nói hơi nhiều cho thân chủ. Khi đó, Hoàng Quốc Việt (Hạ Bá
Cang), Viện trưởng viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, đến theo dơi phiên ṭa, đă
rất bực tức hỏi Trần Danh Tuyên, bí thư Thành uỷ Hà Nội: “Thằng nầy có phải là
đảng viên không đấy? Nó mà nói thế th́ làm sao tiện cho án quyết?”(NMC, sđd. tr.
75).
Theo công an cộng sản, Thụy An cộng tác với Nguyễn Hữu Đang và Trần Thiếu Bảo
cùng xuất bản các báo Giai Phẩm và Nhân Văn, vậy là hai người nầy đă tiếp tay
với Thụy An, làm gián điệp, ra báo đánh phá cách mạng. Hai người khác không
thuộc văn giới cộng tác với ba người nầy về vấn đề tài chánh và in ấn là Phan
Tài và Lê Nguyên Chi cũng bị xem là nằm trong dây chuyền gián điệp. Thế là cả
năm bị kết tội gián điệp. Dầu không có bằng chứng ǵ cụ thể, ṭa án nhân dân Hà
Nội ngày 21-1-1960, đă kêu án cả năm người tổng cộng là 50 năm tù giam, chia ra
như sau: Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, mỗi người 15 năm; Trần Thiếu Bảo, 10 năm;
Phan Tài và Lê Nguyên Chi, mỗi người 5 năm.
Những biện pháp kỷ luật công khai trên đây, từ những vụ đấu tố trong các hội văn
học nghệ thuật, đến bản án ngày 21-1-1960 chỉ là mặt nổi của một tảng băng
thạch. Mặt ch́m chiếm tới chín phần mười tảng băng. Vấn đề Nhân Văn và Giai Phẩm
cũng thế, mặt ch́m rộng lớn hơn rất nhiều, nhưng ít ai hay biết v́ không được
công bố lên báo chí. Trong một thời gian dài, nhiều văn nghệ sĩ (như Trần Dần,
Phùng Quán, Bùi Quang Đoài...) và trí thức (như Nguyễn Mạnh Tường, Trương
Tửu...) bị khủng bố, hăm dọa, điều tra xét hỏi, sa thải, đuổi học, thuyên
chuyển, cô lập, chỉ định cư trú, hoặc bị bắt giam lâu năm không có án... Phần
nhiều đă bị đày đọa điêu đứng cho đến những ngày cuối đời.
VII.- TẠI SAO LẠI CÓ BẢN ÁN
Ngang đây, có hai câu hỏi được đặt ra về phiên ṭa ngày 21-1-1960: Thứ nhất, tại
sao chỉ xét xử và kêu án năm người trong vụ Nhân Văn và Giai Phẩm? Thứ hai, vụ
Nhân Văn và Giai Phẩm bị dẹp vào cuối năm 1956, các văn nghệ sĩ và trí thức bị
tập trung học tập và đấu tố từ năm 1958, nay tại sao lại đưa ra ṭa xét xử công
khai và cho loan báo rộng răi trên đài truyền thanh và trên báo chí?
1.- TẠI SAO CHỈ KÊU ÁN NĂM NGƯỜI?
Để trả lời câu hỏi nầy, tốt nhất là t́m hiểu thêm về các nhân vật bị kêu án.
Thụy An Lưu Thị Yến và Nguyễn Hữu Đang là hai người không chịu tham dự hai khóa
học tập vào đầu năm 1958. Không tham dự học tập đường lối chính sách của đảng,
dưới chế độ cộng sản có nghĩa là chống đối. Tội chống đối cần phải trừng trị, v́
nếu không th́ cộng sản không thể điều khiển được các văn nghệ sĩ khác.
Trong số những người trên đây, trong lư lịch của Thụy An, có một điểm mà ngành
công an cộng sản dùng để khai thác và dựng nên vụ án: bà đă từng sống ở Hà Nội
trước năm 1954, giao dịch với người Pháp, quen thân với Maurice Durand. Đây là
điểm dễ nhất để ngụy tạo lư do “gián điệp”, và đưa Thụy An ra ṭa. Bà được dùng
làm đầu mối để khép tội các người kia, nên bà đứng đầu danh sách bị kết án. Đối
với cộng sản, Thụy An càng đáng nghi ngờ hơn khi bà viết báo mà không dùng tên
thật. Bà chỉ dùng bút hiệu một cách bí mật, ít người biết đến.
Trong sách Bọn Nhân Văn - Giai Phẩm trước ṭa án dư luận do Nxb. Sự Thật, phát
hành tại Hà Nội năm 1959, có đề cập đến hai bài viết của bà là “Bích Xu Va” và
“Trường hợp ṭng quân của thiếu uư Lâm”.(Thụy Khê, bài đd.) Thụy An là người vận
động tích cực anh em văn nghệ sĩ biểu lộ thái độ phản kháng, và có nhiều ảnh
hưởng tác động tới họ, đến nỗi nhà thơ Lê Đạt cho rằng cứ mỗi lần gặp Thụy An là
ông cảm thấy “ḿnh tài giỏi thêm và chán nản thêm, ḷng tin tưởng [đối với chế
độ] của tôi mất dần khi Thụy An nói đến những con người không đất đứng và tôi
cũng tự hỏi đất đứng của ḿnh ở đâu?” (Thụy Khê, bài đd.)
Đàng sau những chứng lư và tiết lộ trên đây, cộng sản cố t́nh triệt hạ Thụy An
thật ra c̣n v́ những lư do sâu xa hơn. Trong sách Nhà văn hiện đại, khi kết luận
chương viết về Thụy An, Vũ Ngọc Phan nhận xét rằng: “Hàn Mặc Tử đă đem vào thi
ca Việt Nam ḷng tin tưởng ở đạo Da Tô với giọng say sưa đầm ấm. Thụy An cũng
xây dựng cho tiểu thuyết của bà có những nhân vật tin cậy ở Đấng Cứu Thế, ở Đức
Mẹ Đồng Trinh và sẵn ḷng nhịn nhục hy sinh...”(Vũ Ngọc Phan, sđd. tr. 1118.)
Ngoài đời, Thụy An liên lạc với một người bạn khá nổi tiếng là Đỗ Đ́nh Đạo.
Nhiều người cho rằng Đỗ Đ́nh Đạo không phải chỉ là người bạn b́nh thường đối với
Thụy An, mà c̣n là một người t́nh (?) của Thụy An. Đỗ Đ́nh Đạo là người theo
Thiên Chúa giáo, cha bị Việt Minh giết. Ông là một lănh tụ của Việt Nam Quốc Dân
Đảng, đă từng cộng tác hoạt động với Đại Việt Quốc Dân Đảng của Trương Tử
Anh,(35) chống cộng tích cực, và ủng hộ cựu hoàng Bảo Đại. Năm 1952, thủ tướng
chính phủ dưới quyền của Quốc trưởng Bảo Đại là Nguyễn Văn Tâm, giao cho Đỗ Đ́nh
Đạo điều khiển Đoàn Quân thứ Lưu động (Groupe Administratif Mobile en
Opérations, viết tắt GAMO) ở Bắc Việt. Theo tác giả Chính Đạo, trong Việt Nam
niên biểu nhân vật chí, năm 1954 Đỗ Đ́nh Đạo “bị chết tại nhà nữ văn sĩ Thụy An.
Có tin bị đầu độc.”(Chính Đạo, Việt Nam niên biểu nhân vật chí, Houston: Văn
Hóa, 1997, tr. 105.)
Lúc đó, nhà chức trách chính quyền Quốc gia ở Hà Nội nghi ngờ Thụy An theo lệnh
của VM, ám sát Đỗ Đ́nh Đạo, đă bắt giam bà. Sau hiệp định Genève ngày 20-7-1954,
khi đất nước bị chia hai, bà được chính quyền Quốc Gia chuyển vào Nam. Đến hải
cảng Hải Pḥng, bà bỏ trốn và ở lại Hà Nội.(36)
Phải chăng v́ Thụy An là một người theo đạo Ky-Tô , đă từng viết sách truyền bá
đức tin của ḿnh, lại đào thoát được khi đang bị dẫn độ về Nam, khiến cộng sản
nghi ngờ rằng việc nầy chỉ là cảnh dàn dựng để bà ở lại đất Bắc, nên Thụy An bị
quy chụp tội làm gián điệp? Bắt giam Thụy An, CS c̣n nhắm đe dọa cả những người
theo Ky-Tô giáo lúc đó c̣n ở lại Hà Nội.
Nguyễn Hữu Đang th́ đặc biệt hơn. Ông từng là Trưởng ban tổ chức ngày lễ
2-9-1945 tại Hà Nội (ngày Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập), thứ trưởng
một bộ trong chính phủ Việt Minh, và đảng viên đảng LĐ từ 1947 đến 1951. Sau năm
1954, ông từ chối không nhận chức bộ trưởng nào cũng như không trở lui sinh hoạt
đảng.
Trong đợt học tập 18 ngày (từ 1 đến 18-8-1956), Nguyễn Hữu Đang, đại diện tổ 2
đọc bài tham luận rất sắc sảo gồm ba điểm chính: đường lối lănh đạo văn nghệ của
Trung ương đảng hẹp ḥi, Trung ương đảng chưa có chính sách hẳn hoi về văn nghệ,
và tổ chức không hợp lư, không trong sạch, có tính bè phái. Trong lúc đọc bài
nầy, Nguyễn Hữu Đang được 17 lần hoan hô bằng những tràng vỗ tay dài.( Nhân Văn
số 1, HàNội, 20-9-1956, bđd.)
Theo lời thi sĩ Hữu Loan trong cuộc phỏng vấn của báo Thông Luận vào đầu thập
niên 90, được Nguyễn Văn Trấn đăng lại trong Viết cho Mẹ và Quốc Hội, đă xuất
bản ở trong nước, và tái bản ở hải ngoại, khi có người hỏi v́ sao không nhận
chức bộ trưởng và trở lại sinh hoạt đảng vào năm 1954, Nguyễn Hữu Đang trả lời
rằng “Nội bộ thiếu dân chủ trầm trọng, ḿnh bây giờ một ḿnh một đảng.” (NVT,
sđd. tr. 278)
Quan trọng hơn, cũng theo lời Hữu Loan: “Bài báo bị cho là phản động, phản đảng,
phản dân nhất của Nhân Văn là bài “Vấn đề pháp trị” do Nguyễn Hữu Đang viết.
Trong bài, ư nói sở dĩ chỗ nào cũng có áp bức chà đạp lên con người là v́ chưa
có pháp luật rơ ràng. Ṭa án là một thứ ṭa án tha hồ tùy tiện c̣n hơn “Tôn giáo
pháp đ́nh” của Giáo hội Trung cổ. Muốn bắt ai th́ bắt, muốn xử ai th́ xử, bịa ra
luật nặng nhẹ tha hồ để xử...Bài báo kêu gọi cần phải pháp quyền th́ người dân
mới b́nh đẳng trước pháp luật...” (NVT, sđd. 274)
Bài báo mà Hữu Loan nói đến trên đây có nhan đề là “Cần phải chính quy hơn nữa”,
đăng trên Nhân Văn số 4 ra ngày 5-11-1956. Mở đầu bài báo, Nguyễn Hữu Đang đề
cập đến một ư trong bản báo cáo của Khrushchev tại Đại hội thứ 20 đảng CSLX, đó
là nhắc nhở các cấp đảng, chính phủ, và công đoàn phải tôn trọng pháp luật và tố
cáo, vạch mặt bất cứ ai phạm pháp.
Dựa vào lời của Khrushchev, Nguyễn Hữu Đang đặt câu hỏi tại sao sau 38 năm (từ
cuối 1917 đến 1956) kiến thiết xă hội chủ nghĩa, với hai lần đặt hiến pháp và
nhiều lần sửa đổi luật pháp, mà Liên Xô vẫn phải đặt lại vấn đề pháp trị? Từ đó
Nguyễn Hữu Đang kết tội Stalin, Beria và phe nhóm đă vi phạm trầm trọng chế độ
pháp trị, coi thường pháp luật. Nguyễn Hữu Đang cho rằng điều nầy cũng diễn ra ở
Bắc Việt. Ông viết: “Trong Cải cách ruộng đất, những việc bắt người, giam người,
tra hỏi (dùng nhục h́nh dă man), xử tù, xử bắn, tịch thu tài sản, hết sức bừa
băi, bậy bạ, cũng như việc bao vây đến làm chết đói những thiếu nhi vô tội trong
các gia đ́nh địa chủ (hoặc chính nông dân mà bị quy sai thành phần), không phải
chỉ hoàn toàn do sự lănh đạo kém cỏi mà c̣n do thiếu chế độ pháp trị hẳn ḥi...
Do pháp trị thiếu sót mà cải cách ruộng đất hỏng to đến thế. Do pháp trị thiếu
sót mà quân đội chưa có chế độ binh dịch hợp lư, công an hỏi giấy giá thú đôi vợ
chồng ngồi ngắm trăng bên bờ hồ, hộ khẩu ŕnh bên cửa sổ khiến
người mất ăn mất ngủ, cán bộ thuế tự tiện vào khám nhà người kinh doanh, ở khu
phố có chuyện đuổi nhà lung tung hoặc ép buộc người ở rộng phải nhường lại một
phần nhà cho cán bộ hay cơ quan ở. Do pháp trị thiếu sót mà nhiều cơ quan bóc
xem thư của nhân viên và một ngành quan trọng nọ đ̣i thông qua những bài báo nói
đến ḿnh làm như một bộ phận của nhà nước lại có quyền phục hồi chế độ kiểm
duyệt mà chính nhà nước đă băi bỏ. Do pháp trị thiếu sót, người ta đă làm những
việc vu cáo và đe dọa chính trị trắng trợn, ngăn cản việc mua đọc báo Nhân Văn,
hành hung báo Trăm Hoa...” (Nhân Văn số 4, Hà Nội, 5-11-1956. Tài liệu Internet)
Nguyễn Hữu Đang kết luận bài báo bằng những đề nghị: “1) Thi hành Hiến pháp
(hoặc hiến pháp năm 1946 sửa đổi cho thích hợp với hoàn cảnh ngày nay, hoặc Hiến
pháp mới sẽ đặt ra). Trên cơ sở Hiến pháp, Quốc hội sẽ sẽ biểu quyết những đạo
luật thay các sắc lệnh và những văn kiện khác. 2) Quốc hội họp đều, sáu tháng
một kỳ. Không có lư ǵ trong hoàn cảnh ḥa b́nh mà công việc của Quốc hội vẫn
khoán trắng cho một ban thường trực gần như không hoạt động ǵ. 3) Chấn chỉnh
ngành tư pháp, chủ yếu là tăng quyền hành thực sự của bộ Tư pháp.”(Nhân Văn số
4, Hà Nội, 5-11-1956. Tài liệu Internet:
http://members.aol.com/canhen/nhvan13.htm)
Vấn đề pháp trị, nền tảng căn bản của tổ chức xă hội, là phần nhạy cảm, dễ bị dị
ứng nhất của chế độ độc tài cộng sản, v́ có pháp trị th́ làm sao có thể độc tài?
Chỉ một bài báo ngắn, khoảng trên 1,500 chữ, mà Nguyễn Hữu Đang đă đụng chạm đến
quá nhiều vấn đề cốt lơi cấm kỵ đối với đảng LĐ: chỉ trích Stalin, đả kích CCRĐ
và quy lỗi sai lầm do chế độ thiếu pháp trị (trong khi nhà nước cộng sản cho là
CCRĐ thành công và chỉ có một số ít sai lầm do cá nhân yếu kém thiếu sót), chê
bai chế độ quân dịch không hợp lư (điều nầy làm cho nhà cầm quyền Hà Nội rất
lúng túng, v́ họ đang cần tuyển quân vô thời hạn để đưa vào tấn công miền Nam),
đả kích nền hành chánh (công an, thuế vụ, nhà đất) tùy tiện, và đề nghị nêu cao
tinh thần trọng pháp, chấn chỉnh pháp luật.
Vấn đề pháp trị đă được luật sư Nguyễn Mạnh Tường đặt ra trong bài phát biểu
nhan đề là “Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất xây dựng quan điểm lănh
đạo”, tại Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội ngày 30-10-1956. Sau khi vạch ra
những sai lầm trong CCRĐ, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đề nghị đường hướng sửa
chữa: “1) Một chế độ pháp trị chân chính. 2) Một chế độ thực sự dân chủ. 3) Một
chế độ tự do ngôn luận, xuất bản báo chí.” (HVC, sđd. tt. 293-315.) Chính v́ đ̣i
hỏi pháp trị mà luật sư Nguyễn Mạnh Tường bị cộng sản Hà Nội trù dập và sau đó
bị cô lập, hành hạ đến cuối đời mà ông tự gọi là người bị “rút phép thông công”
(l’ excommunié). Lúc đó cộng sản mới về Hà Nội, đang ổn định t́nh thế, cần lấy
ḷng trí thức và nhất là các nước ngoài nên cộng sản không giết ông Nguyễn Mạnh
Tường v́ uy tín văn hóa ông quá lớn, nhất là tại Pháp, nơi ông đỗ hai bằng tiến
sĩ (văn chương và luật khoa) trong cùng năm 1932, lúc ông mới 23 tuổi.
Bài báo do Nguyễn Hữu Đang đưa ra (5-11-1956) sau Nguyễn Mạnh Tường thuyết tŕnh
không đầy một tuần lễ (30-10-1956). Bài nói chuyện của luật sư Tường chỉ phổ
biến giới hạn trong cử tọa của buổi nói chuyện hôm đó, chứ không đăng báo ở Hà
Nội, nhưng không biết v́ sao qua được Rangoon (Miến Điện), rồi sang Paris.(HVC
sđd. tr. 294.) Ngược lại, bài báo của ông Nguyễn Hữu Đang, tuy không khúc chiết
như bài của luật sư Nguyễn Mạnh Tường, nhưng lại xuất hiện công khai và phổ biến
rộng răi ở Hà Nội và Bắc Việt. Dĩ nhiên là đảng LĐ không thể nào dung thứ quan
điểm của Nguyễn Mạnh Tường cũng như của Nguyễn Hữu Đang.
Riêng một bài báo ngắn của Nguyễn Hữu Đang cũng đủ đưa ông đi tù, nhưng đảng LĐ
chưa đụng đến ông ngay, v́ ông là người có công với cuộc kháng chiến, lại có uy
tín ở Hà Nội. Trong bản tự kiểm điểm sau vụ Nhân Văn - Giai Phẩm, Trần Dần đă
viết về Nguyễn Hữu Đang như sau: “Nếu không có Đang, không ai có thể tập họp anh
em được, sẽ không có những tham luận đề nghị gặp trung ương, cũng không có tờ
Nhân Văn.”(Thụy Khê, bđd.). Chẳng những Trần Dần đánh giá cao Nguyễn Hữu Đang,
mà đảng LĐ cũng đánh giá cao ông nầy, nh́n thấy nơi ông là một nhân vật có khả
năng lănh đạo đám đông, nên rất lo ngại. Với chủ trương độc tài, độc tôn, độc
đảng, họ không muốn ai cạnh tranh quyền lănh đạo của họ. Đến lúc Nguyễn Hữu Đang
không chịu dự khóa học tập vào đầu năm 1958, cộng sản mới dựa vào lư do đó, bắt
ông giam ngục thất Hỏa Ḷ, Hà Nội.
Do những lẽ trên, sẽ không lấy làm lạ khi đảng LĐ quyết tâm triệt hạ Nguyễn Hữu
Đang. Nhân v́ Thụy An không chịu đi học tập như Nguyễn Hữu Đang, đảng LĐ ghép
chung hai người trong vụ án gián điệp để bắt giam và đày đọa. Ngoài ra c̣n có
thêm một nhân vật khác nữa, bạn của Nguyễn Hữu Đang, cũng là nạn nhân trong vụ
nầy; đó là Trần Thiếu Bảo, chủ nhà in Minh Đức.
Trần Thiếu Bảo là một tư nhân kinh doanh thành công, vượt xa những công ty quốc
doanh, và có thể trở thành một nhà xuất bản cũng như nhà in lớn nhất Hà Nội lúc
bấy giờ. Nhà kinh doanh nầy lại là một nhà bảo trợ văn hóa th́ càng nguy hiểm
hơn nữa. Do đó, ông không thể tồn tại dưới chế độ cộng sản, v́ nếu để ông tiếp
tục hoạt động, chẳng những ông sẽ cho xuất hiện những tác phẩm phản kháng như
Giai Phẩm hoặc Nhân Văn, mà ông sẽ trở thành một nhà tư sản ngoài quốc doanh và
nhất là một lănh tụ văn hóa lớn. Tất cả đó là nguyên nhân đưa đến việc trước sau
ǵ ông cũng bị loại trừ. Khác với Thụy An và Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo
không phải là nhà văn, nên đương nhiên ông không tham dự hai khóa học tập tháng
2 và tháng 3-1958. Do đó đảng LĐ chưa có lư do bắt ông. Bày ra vụ án gián điệp
Nhân Văn - Giai Phẩm, đảng LĐ nhân cơ hội nầy, cột chung Trần Thiếu Bảo vào nhóm
Thụy An để kết tội và tịch biên tài sản của ông. (37)
Đối với cộng sản, những văn nghệ sĩ và trí thức có thể làm thơ, viết văn hay
tham luận sắc bén chống chế độ, nhưng dễ đối phó, v́ chỉ cần dẹp diễn đàn là bài
họ không thể xuất hiện. Họ có khả năng viết văn, nhưng không có khả năng lănh
đạo, tập họp quần chúng nên không nguy hiểm. Ngược lại, những người có tư cách
lănh đạo, có thể nói cho người khác nghe theo ḿnh, có thể tập họp quần chúng,
có thể tổ chức thành những đoàn thể cạnh tranh với đảng Lao Động, là những người
nguy hiểm cần phải thanh toán ngay. Nguyễn Hữu Đang và Trần Thiếu Bảo nằm trong
trường hợp nầy. C̣n hai ông Phan Tài và Lê Nguyên Chi tuy không thuộc văn giới,
không nổi bật như các ông Nguyễn Hữu Đang và Trần Thiếu Bảo, nhưng lại là những
người tiếp tay đắc lực, nên cũng bị kết tội để cảnh cáo để làm guơng cho người
khác.
2.- TẠI SAO ĐẾN NĂM 1960 MỚI XÉT XỬ?
Nhân Văn - Giai Phẩm bị đ́nh bản cuối năm 1956, các trí thức và văn nghệ sĩ phải
tập trung học tập và bị đấu tố vào năm 1958, nhưng tại sao măi gần hai năm sau (đầu
1960) mới đưa ra ṭa xét xử công khai và kết án nhóm Nguyễn Hữu Đang nặng nề như
vậy? Câu trả lời được nhiều người đưa ra có lẽ là thủ tục hành chánh và pháp lư
đ̣i hỏi một thời gian sửa soạn. Thật ra, dưới chế độ độc tài cộng sản, nếu cần
xét xử một vấn đề ǵ khẩn cấp, th́ họ đưa ra ngay, chứ chẳng cần phải trải qua
thủ tục điều tra đầy đủ như dưới chế độ dân chủ tự do. Ở đây, có hai điểm cần
lưu ư:
Thứ nhất, đảng LĐ không muốn xem đây là một vụ án văn chương, sẽ bị dư luận dị
nghị, nhất là dư luận giới văn nghệ sĩ thế giới. Muốn thế, cần phải chậm đi một
thời gian sau vụ đ́nh bản các báo đối kháng năm 1956, những ồn ào sau vụ học tập,
đấu tố và đưa các văn nghệ sĩ, trí thức đi lao động vào nửa đầu năm 1958, nghĩa
là để cho vụ Nhân Văn - Giai Phẩm ch́m đi một thời gian.
Thứ hai, thời gian nầy tuy cần phải vừa đủ để những dư luận không c̣n xào xáo
chuyện văn chương nữa, để mọi người xem phiên ṭa chỉ là một vấn đề thuần tuư an
ninh nội bộ, nhưng cũng cần phải vừa phù hợp với những diễn biến chính trị dồn
dập của t́nh h́nh Việt Nam từ 1958 trở đi, khiến cộng sản quyết định tổ chức
phiên ṭa vào đầu năm 1960.
Hiệp định Genève hay hiệp định đ́nh chỉ chiến sự ở Việt Nam kư kết ngày
20-7-1954 tại Genève, tạm thời chia hai nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17: Việt Nam
Dân Chủ Cộng Ḥa ở phía Bắc và Quốc Gia Việt Nam ở phía Nam. Hiệp định nầy không
đề cập đến tương lai chính trị Việt Nam. Giải pháp chính trị nằm ở điều 7 của
bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội Nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại ḥa b́nh ở
Đông Dương” ngày 21-7-1954, theo đó một “cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng
7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân
trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đă nói trong Hiệp định đ́nh chỉ chiến sự.
Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có
những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó.”(38) Cần lưu ư là không một nước
nào kư vào bản tuyên bố nầy, nên bản tuyên bố không có giá trị pháp lư để cưỡng
hành.
Đại diện chính phủ Quốc Gia Việt Nam không kư vào hiệp định đ́nh chiến
(20-7-1954), cũng không kư vào bản tuyên bố cuối cùng (21-7-1954) và đưa ra
tuyên ngôn riêng ngày 21-7-1954 phản đối hiệp định. Tuy nhiên, chính phủ Quốc
Gia Việt Nam vẫn thi hành việc chia hai nước Việt Nam theo thỏa thuận quốc tế.
Dựa vào điều 7 của bản tuyên bố ngày 21-7-1954, thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng
Ḥa là Phạm Văn Đồng gởi thư ngày 19-7-1955, cho thủ tướng Quốc Gia Việt Nam là
Ngô Đ́nh Diệm, yêu cầu mở hội nghị hiệp thương bắt đầu từ ngày 20-7-1955. Ngày
10-8-1955, Ngô Đ́nh Diệm đă bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng, dựa vào lư do rằng
chính phủ miền Nam không kư vào Hiệp định Genève và nhất là v́ không có bằng
chứng nào cho thấy Bắc Việt đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi Quốc tế
Cộng sản. Tuy chính phủ miền Nam nhiều lần từ chối, Phạm Văn Đồng vẫn nhắc lại
đề nghị nầy hằng năm vào các ngày 11-5-1956, 18-7-1957, và 7-3-1958 để tuyên
truyền với quốc tế. Lần cuối, Ngô Đ́nh Diệm, lúc đó là tổng thống Việt Nam Cộng
Ḥa, bác bỏ đề nghị trên vào ngày 26-4-1958.
Vào cuối năm 1958, Lê Duẫn được bí mật gởi vào miền Nam. Khi trở ra Bắc vào cuối
năm nầy, Lê Duẫn viết bản báo cáo đề nghị đánh chiếm miền Nam bằng vơ lực. Chính
bản báo cáo nầy là nền tảng của quyết định quan trọng của hội nghị Trung ương
đảng LĐ lần thứ 15 tại Hà Nội.
Tại hội nghị nầy, ngày 13-5-1959, ban chấp hành Trung ương đảng LĐ đưa ra nghị
quyết thống nhất đất nước (tức đánh chiếm miền Nam bằng vơ lực) và đưa miền Bắc
tiến lên xă hội chủ nghĩa. (Nghị quyết đăng trên Nhân Dân ngày 14-5-1959). Dĩ
nhiên các văn nghệ sĩ cũng như toàn thể đảng viên cán bộ và dân chúng Bắc Việt
đều phải học tập nghị quyết nầy. Đó là điều đă được nhấn mạnh trong nghị quyết
chấn chỉnh công tác văn nghệ ngày 6-1-1958 do Trường Chinh kư.
Chiến thuật chiến tranh thông dụng của cộng sản là du kích chiến. Muốn sử dụng
du kích chiến, theo kinh nghiệm của đảng CSTH, cần phải có một hậu phương lớn để
yểm trợ, tiếp tế khi tấn công, đồng thời để rút lui, dưỡng quân khi cần. Sau khi
đảng CSTH chiếm được toàn thể Hoa lục năm 1949, CHNDTH đă từng là hậu phương lớn
của Việt Minh từ năm 1950 đến 1954. Nay Bắc Việt trở thành hậu phương lớn cho du
kích quân Việt cộng ở miền Nam. Điều quan trọng nhất là hậu phương phải vững
mạnh, ổn định, và kết thành một khối chắc chắn, để không bị t́nh trạng lộn xộn,
trống đánh xuôi kèn thổi ngược như nước Pháp trong thời chiến tranh 1946-1954.
(Sau nầy Hoa Kỳ lâm phải t́nh trạng xáo trộn nầy thời chiến tranh 1954-1975.)
Để đạt được sự ổn định vững vàng ở hậu phương Bắc Việt, đảng LĐ liền ra tay dẹp
yên hết mọi chống đối, trở ngại. Vụ CCRĐ với khoảng 170,000 người bị giết đă làm
cho nông thôn run sợ. Nhà nước cộng sản cần phải ổn định thành thị vừa về kinh
tế, vừa về chính trị.
Về chính trị, từ năm 1954, nhà nước cộng sản Bắc Việt chỉ gặp cuộc phản kháng
của những nông dân không vũ khí ở Quỳnh Lưu (Nghệ An) tháng 11-1956 sau vụ CCRĐ,
và đă dẹp yên ngay bằng sư đoàn 325. (Bernard Fall, Le Viet Minh, Paris: Max
Leclerc et Compagnie, 1960, tr. 289.) Sau đó lại xảy ra vụ “Nhân Văn - Giai
Phẩm” ở Hà Nội năm 1956. Giới văn nghệ sĩ bị đàn áp dễ dàng, không cho ra sách
báo th́ hết cách viết; và phân tán mỏng, gởi đi học tập lao động ở nông thôn th́
hết gặp gỡ thảo luận, bàn tán. Tuy nhiên, vấn đề vẫn c̣n âm ỷ, v́ nói như Phan
Khôi:
“Làm sao cũng chẳng làm sao
Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi.
Làm chi cũng chẳng làm chi
Dẫu có làm ǵ cũng chẳng làm sao.”
(HVC, sđd. 58)
Dầu không c̣n điều kiện để sáng tác, nhưng trí óc của người văn nghệ sĩ hay trí
thức vẫn là một lănh vực riêng tư mà đảng không thể nào kiểm soát được. Do đó,
phải có một hành động thật cương quyết cứng rắn và mănh liệt phủ đầu, mới có thể
làm cho giới trí thức và cầm bút khiếp đảm tê liệt, từ đó im hơi lặng tiếng
luôn. Đ̣n phủ đầu nầy phải nhắm ngay vào những tay cứng cổ, khó bảo mà lại có
khả năng tập họp quần chúng và không chịu học tập chỉnh huấn, như Thụy An,
Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo. Đ̣n phủ đầu đó chính là kết luận của phiên ṭa
gọi là xét xử những tội phạm gián điệp ngày 21-1-1960 mà tác giả Georges
Boudarel, một đảng viên cộng sản có hai đảng tịch Pháp và Việt Nam, đă cho rằng
Nguyễn Hữu Đang đă bị buộc tội gián điệp một cách khó hiểu.(GB, sđd. tr. 256.)
Thật ra, chẳng có ǵ khó hiểu nếu chúng ta đặt vụ án nầy trong toàn bộ tŕnh tự
diễn tiến của thời cuộc những năm từ 1956 trở đi, nhất là việc sửa soạn công
cuộc xâm lăng miền Nam của đảng LĐVN. Sau vụ án ngày 26-1-1960, Đại hội 3 đảng
LĐ tại Hà Nội từ 5 đến 10-9-1960 xác quyết lại một lần nữa hai mục tiêu lớn là
tiến lên xă hội chủ nghĩa ở miền Bắc và giải phóng miền Nam bằng vũ lực. Để thực
hiện hai mục tiêu nầy, nội bộ đảng LĐ được cải tổ. Bỏ chức tổng bí thư, Hồ Chí
Minh lên làm chủ tịch đảng, c̣n Lê Duẫn giữ chức bí thư thứ nhất, tức người cựu
bí thư Trung ương cục miền Nam, kẻ đă thảo ra chương tŕnh đánh chiếm miền Nam,
nay chính thức lên địa vị thứ nh́ sau Hồ Chí Minh, nhưng quyền hành không kém ǵ
họ Hồ. Điều nầy khiến Lê Duẫn dễ điều động chiến trường miền Nam.
Điểm chót của việc chuẩn bị, trước khi bước qua giai đoạn tấn công miền Nam là
việc thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam ngày 12-12-1960 tại
Hà Nội, và Mặt trận nầy chính thức ra mắt vào ngày 20-12-1960 tại chiến khu
Dương Minh Châu ở Tây Ninh.
Trước đây, cuộc kháng chiến chống Pháp dầu sao lúc đầu vẫn mang ư nghĩa chống
ngoại xâm giành độc lập, nên các nhà văn, nhà thơ, giới trí thức đều tự chế,
nhịn nhục và cố gắng đoàn kết để đưa cuộc chiến đấu đến thành công. Ngày nay,
khi bắt đầu phát động tấn công miền Nam, đảng LĐ cũng muốn tái lập t́nh trạng ổn
định như thế, nhưng mục đích chiến tranh lần nầy thiếu chính nghĩa, chỉ nhắm xâm
lăng miền Nam, nên họ lo ngại các trí thức và văn nghệ sĩ sẽ lên tiếng phản đối
dưới nhiều h́nh thức khác nhau khó lường trước được. Điều nầy sẽ bất lợi cho
công cuộc xâm lăng miền Nam. Do đó, đảng LĐ quyết dẹp yên mặt trận văn hóa, tạo
một không khí hoàn toàn yên tĩnh ở Bắc Việt, khỏi có ai than phiền về việc đưa
quân vào Nam, chẳng có ai thắc mắc về lư do chiến đấu, về cuộc sống quân ngũ, về
“nỗi buồn chiến tranh”, về những đau khổ mất mát ly tan của những gia đ́nh có
người ra đi mà không biết ngày trở lại, cũng không biết sống chết phương trời
nào ở ngoài chiến trường.
Đúng như đảng LĐ dự tính, đ̣n phủ đầu trên đây rất có hiệu quả. Nhà văn Nguyễn
Minh Châu đă tự thổ lộ sau năm 1975: “Văn chương ǵ mà muốn viết một câu trung
th́ phải viết một câu nịnh? hèn, hèn chứ? Nhà văn nước ḿnh trong tâm can ai mà
chẳng thấy ḿnh hèn? Cái sợ nó làm cho ḿnh hèn.” (39) Nguyễn Minh Châu c̣n mô
tả tâm sự của Nguyễn Tuân, một tác giả nổi tiếng phóng khoáng một thời: “Một nhà
văn đàn anh [Nguyễn Tuân] nâng chén rượu lên giữa đám đàn em: “Tao c̣n sống đến
bây giờ là c̣n biết sợ!”. Nói rồi ngửa mặt lên trời cười rung giường, nước mắt
tuôn lả chả, giọt đổ xuống đất, giọt đổ vào ḷng”.(40) Hơn ba mươi năm sau vụ
Nhân Văn - Giai Phẩm, Bửu Tiến, một nhà văn thân tín của đảng LĐ đả kích Nhân
Văn - Giai Phẩm thời năm 1958, đọc tham luận tại Đại hội Nhà văn họp tại hội
trường Ba Đ́nh, Hà Nội từ 23 đến 31-10-1989, trong đó có câu: “Xin lỗi anh em
Nhân Văn Giai Phẩm và, trừu tượng hơn, xin tạ tội với Tự do Dân chủ, giấc mơ
ngàn đời của nhân loại và của bản thân.” (41)
Những ḍng tâm sự cay đắng nầy càng làm nổi bật lư do v́ sao đảng LĐ cần phải
tiêu diệt những người can đảm như Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo.
Chẳng những thế, việc kết án nhóm nầy c̣n làm cạn kiệt luôn chút niềm tin c̣n
sót lại nơi một số văn nghệ sĩ vào chế độ cộng sản. Họ hết kêu ca, than văn, đ̣i
hỏi cởi trói văn nghệ, mà phải chấp nhận thực tại trước mắt của họ, im hơi lặng
tiếng, cúi đầu vâng phục chế độ, nếu họ muốn sinh tồn.
3.- CHỦ TRƯƠNG VĂN NGHỆ KINH ĐIỂN CỦA CỘNG SẢN
Thế là trong thời gian chiến tranh ở miền Nam từ 1960 trở đi, t́nh h́nh văn học
nghệ thuật và báo chí Bắc Việt hoàn toàn trong lành, yên tĩnh. Các tác phẩm phát
hành sau năm 1960 rất hiền lành, ngoan ngoăn. “Hầu hết những tác phẩm xuất hiện
trong giai đoạn nầy đều tập trung trong ba chủ đề chính: thương nhớ miền Nam, ca
ngợi sự ưu việt của chế độ xă hội chủ nghĩa ở miền Bắc, và tỏ ḷng biết ơn vô
tận của ḿnh trước công ơn tái sinh của cách mạng.” (NHQ, sđd.166)
Ba chủ đề nầy đều nhắm phục vụ cho kế hoạch xâm lăng miền Nam. Cộng sản đă đặc
biệt khai thác nỗi nhớ quê hương của những người tập kết, lên án cũng như vu
khống chế độ miền Nam, nhắm gây căm thù và đốc thúc dân chúng miền Bắc hăng hái
tham gia công cuộc giải phóng miền Nam khỏi sự “kềm kẹp của Mỹ Ngụy”, thống nhất
đất nước bằng vũ lực. Năm 1960, báo Thống Nhất, Hà Nội mở hai cuộc thi viết về
đề tài miền Nam. Những tác phẩm trúng giải được in trong hai quyển sách nhan đề
Con đường phía trước và Má Năm Cần Thơ. (NHQ, sđd. 168).
Nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội c̣n thay thế nền văn chương phản kháng của Nhân
Văn - Giai Phẩm bằng nền văn chương chiến đấu, phục vụ chiến trường như câu hai
câu thơ: “Nay ở trong thơ nên có thép, / Nhà thơ cũng phải biết xung phong.”(42)
Cần chú ư rằng hai câu thơ nầy nằm trong một bài tứ tuyệt vào cuối sách Ngục
trung nhật kư được phát hành năm 1960. Thời điểm xuất hiện bài thơ (1960) và
cách sắp đặt bài thơ cuối sách Ngục trung nhật kư cũng là một dụng ư của cộng
sản, như là một tuyên ngôn cho loại thơ chiến đấu. Tất cả những ǵ không ích lợi
cho cuộc chiến tranh xâm lăng miền Nam đều bị dẹp bỏ, không được in ấn. Tố Hữu
đă phụ họa theo: “Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ,/ Hơn ngh́n trang giấy luận văn
chương.” Kết quả của nền văn chương thực dụng nầy rất khả quan, đến nỗi Xuân
Quỳnh đă viết: “Em đang tập làm thơ có ích”.(Tuyển tập Trăm hoa..., tr. 53.)
Tất cả những điều nầy gây ảo giác cho người bên ngoài Bắc Việt tưởng rằng do sự
thành công của chính sách đảng LĐ mà mọi người dân Bắc Việt đoàn kết với nhau,
một ḷng đứng sau lưng nhà nước Hà Nội trong công cuộc tấn công miền Nam, “chống
Mỹ cứu nước”. Chính tác giả Nguyễn Minh Cần đă than rằng: “Chế độ miền Nam, tất
nhiên là làm rầm rộ lên nhân vụ án nầy để tuyên truyền mặt trái của chế độ miền
Bắc. Nhưng sau nầy, khi hỏi chuyện anh em miền Nam th́ được biết là họ không
tin, họ tưởng là sự việc bị bịa đặt ra, chứ làm ǵ đảng có thể đối xử với trí
thức miền Bắc tàn tệ đến mức như thế.”(NMC, sđd.76-77)
Nhiệm vụ mới của giới văn nghệ sĩ được Trường Chinh, uỷ viên Bộ chính trị đảng
LĐ, Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (từ ngày 7-7-1960), quy định trong bài
“Tăng cường tính đảng, đi sâu vào cuộc sống mới để phục vụ nhân dân, phục vụ
cách mạng tốt hơn nữa” đọc trước Đại hội Văn nghệ Bắc Việt năm 1962:
“ Văn nghệ sĩ phải thừa nhận rằng văn nghệ phục vụ chính trị, phục vụ đường lối
chính sách của đảng. Văn nghệ sĩ phải trung thành với lư tưởng cộng sản và đấu
tranh không mệt mỏi cho chủ nghĩa xă hội. Văn nghệ sĩ bằng hoạt động văn nghệ và
hoạt động xă hội của ḿnh cần luôn luôn phấn đấu để tăng cường sự lănh đạo của
đảng, củng cố ḷng tin của quần chúng đối với đảng, bảo vệ sự trong sáng của chủ
nghĩa Mác-Lênin...” (Tuyển tập Trăm hoa..., tr. 24.)
T́nh h́nh văn nghệ Bắc Việt lúc đó hoàn toàn khác hẳn với miền Nam tự do. Trong
lúc phải chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản miền Bắc, văn nghệ sĩ miền Nam
được tự do sáng tác theo t́nh tự của con người, nên bên cạnh những tác phẩm
chiến đấu, lại xuất hiện nhiều bài b́nh luận chính trị chống đối chính quyền,
nhiều văn thơ và nhất là ca nhạc thở than uỷ mỵ. Từ sự uỷ mỵ nầy, nhiều tác phẩm
phản chiến xuất hiện, làm xói ṃn và sa sút rất nhiều tinh thần chiến đấu của
chiến sĩ ngoài tiền tuyến. Dĩ nhiên Việt Cộng không bỏ qua cơ hội lợi dụng quyền
tự do sáng tác để gây nhiễu xạ h́nh ảnh, làm rối loạn và băng hoại xă hội miền
Nam. Tuy nhiên, chính sự tự do sáng tác tạo nên một khác biệt lớn lao giữa chế
độ miền Nam theo chủ nghĩa dân tộc với chế độ miền Bắc theo lư thuyết cộng sản
ngoại lai.
KẾT LUẬN
Ngay từ đầu, báo Nhân Văn khẳng định lập trường theo đảng LĐ, chứ không phải mở
phong trào văn học hay chính trị ǵ mới. Những bài báo Nhân Văn - Giai Phẩm nhắm
xây dựng lại xă hội miền Bắc bằng cách phê phán nền hành chánh quan liêu, t́nh
trạng xă hội tệ hại sau vụ Cải cách ruộng đất, và nhất là phản đối những trói
buộc gắt gao đối với anh em văn nghệ sĩ và trí thức trong thời b́nh. Họ đ̣i hỏi
thực thi dân chủ, tôn trọng luật pháp và tự do sáng tác trong khuôn khổ chế độ
cộng sản. Những phản kháng nầy ôn ḥa, chỉ giới hạn trong phạm vi báo chí, văn
chương, và chỉ nhắm vào những vấn đề có tính cách quản lư xă hội và văn hóa, chứ
không liên quan đến chủ trương hay ư thức hệ chính trị. Đôi khi những bài viết
khá gay gắt nhưng hoàn toàn không manh nha một hành động bạo loạn nào.
Có thể giới văn nghệ sĩ và trí thức lúc đó vẫn c̣n giữ ḷng tin với những người
vừa mới lănh đạo họ trên con đường kháng chiến chống Pháp, và ḷng tin vào lư
thuyết cộng sản hứa hẹn một xă hội không có bất công, không có cảnh người bóc
lột người, nên mới lên tiếng để sửa đổi và xây dựng xă hội mới. Dầu sao, họ đă
tỏ ra hết sức can đảm khi dấn thân phản kháng và đ̣i hỏi cởi trói văn nghệ. Biết
rằng đàn áp tù đày đang chờ đón họ, nhưng họ vẫn cương quyết cùng nhau tiến lên.
Một điểm đáng quư là dù đăø bị đày đọa một thời gian dài, đến tận cùng nỗi thống
khổ của kiếp nhân sinh, nhiều người vẫn giữ khí tiết, ḷng can đảm, và óc sáng
tạo cho đến cuối đời. Họ đă sống đúng như Phùng Quán đă viết:
“ Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngă
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.”
(HVC sđd.121)
Những phản kháng của nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm thách đố tính lănh đạo độc tài
độc tôn của guồng máy cai trị của đảng LĐ, đă đụng phải vách tường nhân sự quan
liêu, tham quyền cố vị. Sau thời gian đầu t́m hiểu t́nh h́nh, đảng nầy đă vũ
lộng quyền uy, triệt tiêu ngay tức khắc mọi phản kháng từ mọi phía. Để giữ sự ổn
cố chính trị tuyệt đối ở Bắc Việt nhắm tiến hành chiến tranh xâm lăng miền Nam,
đảng LĐ đă ngụy tạo vụ án gián điệp, xét xử những người can đảm đến độ liều lĩnh
là Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo. Đảng nầy quyết gây khiếp đảm đối
với giới trí thức và văn nghệ sĩ, như họ đă từng làm khiếp đảm giới nông dân
bằng Cuộc cải cách ruộng đất.
Đảng LĐ đă thẳng tay hy sinh cả một thế hệ văn nghệ sĩ và trí thức tài hoa cho
mục tiêu chính trị của đảng trong đường lối bành trướng của Quốc tế Cộng sản và
cho tham vọng cá nhân của một số nhà lănh đạo. Những người phản kháng bị đàn áp,
tù đày, nghi ngờ, theo dơi và chấm dứt sáng tác đă đành; những người theo làm
tay sai cho đảng cũng không thể sáng tác được ǵ ngoài những văn thơ cổ động
theo công thức đă định sẵn. “Tác phẩm của họ (ngày nay) chỉ là chỉ thị, kế hoạch,
công văn, thông cáo...” (lời của thi sĩ Hoàng Huế, đă dẫn).
Những thi sĩ một thời nổi tiếng tài hoa như Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, những
văn sĩ đă từng nổi danh trước đây như Nguyễn Tuân, Nguyễn Đ́nh Thi, đều được coi
như tên tuổi đă chết khi họ c̣n sống. Ngày nay, nếu có nhắc đến Xuân Diệu, người
ta chỉ nhớ những bài thơ trữ t́nh của ông trước năm 1945, chứ không ai nói đến
những bài ông viết sau năm 1945, dù măi đến năm 1985 ông mới từ trần. Cũng thế,
với Nguyễn Tuân, người ta ca tụng Vang bóng một thời (xuất bản năm 1940), hay
Chiếc lư đồng mắt cua (xuất bản năm 1941) chứ không ai biết sau năm 1945, ông đă
viết những ǵ, dù ông từ trần năm 1987.
Theo nhạc sĩ Văn Cao, một trong những “nạn nhân” trong vụ Nhân Văn - Giai Phẩm,
tác giả chính của cuộc đấu tố Nhân Văn - Giai Phẩm là Trường Chinh. Sau đây là
lời Văn Cao: “Tố Hữu lănh đạo cuộc đánh từ đầu chí cuối. Người ta tưởng vụ Nhân
Văn - Giai Phẩm nổ ra là bởi Nhân Văn đăng mấy bài phê b́nh thơ Tố Hữu, Tố Hữu
tức, Tố Hữu đánh. Nhầm hết. Longue Marche [chữ Pháp: Trường Chinh] mới là kẻ
sáng tác ra Nhân Văn - Giai Phẩm. Để chạy tội Cải cách ruộng đất. Để tạo ra cái
hố rác mà trút mọi tội lỗi của lúy [lui (chữ Pháp): nó] vào đấy. Chính Longue
Marche chứ không ai khác. Đừng tước bản quyền của lúy, tội nghiệp!”.(43)
Dầu Trường Chinh, hay Tố Hữu, hay một người nào khác, đều phải thi hành đường
lối chính sách do đảng LĐ đề ra. Không thể nói Hồ Chí Minh, hay Vơ Nguyên Giáp,
Phạm Văn Đồng, Lê Duẫn, Lê Đức Thọ không biết ǵ về Cuộc cải cách ruộng đất hay
Nhân Văn - Giai Phẩm. Tất cả đều biết, đều nắm rơ vấn đề, và đều cùng nhau đẩy
cổ xe cộng sản do một người nào đó, đại diện tập đoàn lănh đạo, cầm lái theo
từng giai đoạn, tiến đến cùng đích của tập thể độc tài đảng trị.
Cuối cùng, Vụ án Nhân Văn - Giai Phẩm cho thấy không thể có tự do văn hóa, tự do
báo chí hay tự do tư tưởng dưới chế độ cộng sản. Ông Nguyễn Văn Trấn, một nhân
vật cộng sản cao cấp ở miền Nam, đă từng làm Vụ trưởng Khoa giáo Trung ương do
Tố Hữu làm bí thư, có kể câu chuyện rằng khi một nhà báo hỏi: “Như vậy là cách
mạng đă cấm tự do ngôn luận? Ông Trường Chinh sửng sốt: Anh nói sao? Các anh
được tha hồ tự do chửi đế quốc đó thôi.”(NVT, sđd. 275).
Dưới chế độ cộng sản, cũng không thể có chuyện góp ư, hay phê b́nh xây dựng theo
chiều hướng nhân văn, dân chủ, dù vẫn nằm trong khuôn khổ cộng sản. Đảng LĐ (cải
danh thành đảng Cộng Sản vào cuối năm 1976) đ̣i hỏi phải tuân thủ tuyệt đối uy
quyền độc tôn và chính sách độc tài của đảng, nếu không muốn bị thẳng tay triệt
hạ, đúng như Hồ Chí Minh đă nói: “... Tất cả những ai không theo đường lối của
tôi đều sẽ bị bẻ găy...”(44) Từ đó mới nẩy sinh ra vụ án “Nhân Văn - Giai Phẩm”
trên đây, “Vụ án chống đảng” trong thập niên 60, và các vấn đề khác nữa như vụ
Trần Độ, vụ Hà Sĩ Phu sau này.
Nói cho cùng, bản chất của chế độ cộng sản là độc tài toàn trị, dối trá mỵ dân.
Bản chất của văn nghệ sĩ chân chính là thích tự do và yêu chân lư. Chế độ cộng
sản và văn nghệ sĩ chân chính là hai đối cực tương khắc và không bao giờ có thể
tương sinh, đồng hành. Các văn nghệ sĩ chân chính cảm nhận sự thống khổ của quần
chúng, nói lên tiếng nói đau thương của quần chúng, là tiếng nói đối kháng với
chế độ độc tài cộng sản. Ngược lại, đảng CS luôn luôn t́m cách triệt tiêu văn
nghệ sĩ chân chính, để chận đứng ngay từ đầu mọi mầm mống chống đối, nhằm áp đặt
quyền lực tuyệt đối của đảng CS. Trong cuộc đối đầu nầy, bao giờ bạo quyền cộng
sản cũng thắng thế, nhờ súng ống và nhà tù, nhưng về lâu về dài, văn nghệ sĩ
chân chính là những chứng nhân trước lịch sử, tố cáo đầy đủ và rơ ràng tính độc
tài phi nhân của chế độ. Lịch sử luôn luôn đứng về phía chân lư. Nhân văn và
Giai phẩm ở Hà Nội năm 1956 là một trường hợp điển h́nh.