Nhân bàn về văn hóa hậu Cộng sản, điểm sách cùng bạn đọc:
Văn hóa, Lễ tục và Cách mạng ở Việt Nam 
(Culture, Ritual and Revolution in Vietnam Tác giả Shaun Kingsley Malarney)
Bùi Tiến Rũng
và
Lâm Văn Bé

Lời nói đầu.

Người Việt hải ngoại đă xa quê hương được hơn một phần ba thế kỷ. Hơn thế nữa, người di cư từ Bắc vào Nam năm 1954 th́ đă xa nơi chôn nhau cắt rốn từ hơn nửa thế kỷ. Dù là phần ba hay nửa thế kỷ, đó cũng là một khoảng thời gian quá dài, đă vậy thời kỳ này lại đầy dẫy những đổi thay, hay đúng hơn là đổi đời, có một không hai trong lịch sử Việt Nam. Đổi đời về đủ mọi chiều hướng, bề mặt cũng như bề sâu.

Ngày nay khi về thăm quê hương, ngườiViệt chúng ta thường có chuẩn bị trước về tâm lư để trực diện với những đổi thay, để có thể chấp nhận và coi đó là chuyện tất nhiên phải có. Tuy vậy, không ít người trong chúng ta khi tiếp xúc với một số bằng hữu hay quyến thuộc ở trong nước, kể cả những người thân thiết nhất, vẫn thấy ở nơi họ có những khía cạnh là lạ và khó hiểu. Người về thăm chú em ruột thấy “chú ấy bây giờ khác lắm “, người về thăm quê gặp bà con cḥm xóm vốn thân thiết lâu đời nay sao thấy họ “có thái độ khác trước” làm cho ta phân vân khó hiểu. Trong căn bản, vẫn có t́nh họ hàng, có t́nh làng xóm, đồng thời “có một cái ǵ khác lạ”.

Nếu ta t́m hiểu những thay đổi về văn hóa đại chúng, hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả tục lệ, nghi lễ, tôn giáo, tín ngưỡng, đạo đức.… đă diễn ra tại Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua, ta có thể nh́n thấy bối cảnh và hiểu thêm về cội rễ của những thay đổi nơi con người. Những hoàn cảnh nào đă làm cho con người Việt Nam thay đổi về mặt này mà không đổi về mặt khác, phần nào là phần đă thay đổi ngay trong bản chất con người, và phần nào chỉ là kết quả của sự thích ứng với chế độ để mà sống ? Con người ta, sau khi đă chịu thích ứng trong thời gian dài, th́ liệu c̣n có thể biết phản ứng, để c̣n chút hy vọng phục hồi và t́m lại được cái căn tính văn hóa của ḿnh chăng ? Dưới một chế độ hà khắc như vậy, phản ứng bằng cách nào ? Từ những yếu tố đó, ta có thể tiên đoán văn hóa hậu Cộng sản sẽ đi về đâu ?

Tác giả Shaun Kingsley Malarney là một giáo sư nhân chủng học của Viện Đại học Công giáo Quốc tế Tokyo, ông quen thuộc với xă hội Việt Nam và gần gụi với đất nước này. Ông đă dành nhiều năm đi xâu vào đời sống làng xă miền Bắc Việt Nam để quan sát và phân tích những chuyển hóa trong nếp sống gia đ́nh, xă hội, tâm linh, và trong văn hóa đại chúng cũng như lễ tục của người dân, với cái nh́n khách quan của một nhà nghiên cứu xă hội học. Những phân tích ấy giúp ta hiểu thêm về những điều thay đổi, cũng như những điều không thay đổi, nơi con người Việt Nam, qua hơn nửa thế kỷ đổi đời. Công tŕnh nghiên cứu này là đề tài của cuốn sách được University of Hawaii Press xuất bản cuối năm 2002, với tựa đề là “Culture, Ritual and Revolution in Vietnam”, tạm dich là “Văn Hóa, Lễ Tục và Cách Mạng ở Việt Nam”. V́ là tài liệu khảo cứu có tính cách chuyên ngành, sách này không được phổ biến rộng và cũng không dễ kiếm. Nhiều độc giả quan tâm đến vấn đề mà không dễ t́m được sách. Do đó thiển nghĩ, cố gắng tóm lược nội dung tài liệu này để độc giả có dịp đánh giá là việc làm có thể đem lại lợi ích, trong phạm vi một đề tài của Truyền Thông kỳ này, đó là đề tài “Văn hóa Việt Nam hậu Cộng sản”.

Ngoài việc điểm sách, bài này cũng được bổ túc thêm với những thắc mắc và suy tư của người viết, trong niềm kỳ vọng rằng nó sẽ phần nào thêm sống động và phong phú.

Điểm sách.

Tài liệu dài 247 trang, gồm 9 chương, nói về văn hóa, lễ tục ở Việt Nam từ trước 1945 đến nay, và phân tích những thay đổi dưới áp lực thô bạo của chính quyền, cùng với những thích ứng, dung ḥa, hay phản ứng của người dân. Xă Thịnh Liệt và làng Giáp Nhị được dùng làm điạ bàn quan sát, với lư do vùng này gần Hà Nội, “gần mặt trời”, và được chính quyền chiếu cố đặc biệt để làm gương cho các vùng khác. Nhưng các sự việc có thể coi như điển h́nh cho mọi làng xă miền Bắc.

Độc giả có dịp nh́n từ bên trong để biết Thịnh Liệt, qua nửa thế kỷ sống dưới Nhà nước cộng sản, đă sắp xếp lại xă hội và sắp xếp lại cơ sở như thế nào, đă định nghĩa lại văn hóa và đạo đức và từ đó cải đổi văn hóa đại chúng như quan hôn tang tế, tập tục, tôn giáo, dị đoan, đă hành xử thế nào đối với những áp lực từ phía Nhà nước, như việc thờ ông Hồ Chí Minh và thờ những người tử trận gọi là liệt sĩ. Độc giả cũng thấy sau này từ 1985, các tập tục cũ đă một phần trở lại theo tiến tŕnh như thế nào. Từ đó, ta hiểu thêm t́nh trạng xă hội và tâm lư của người dân diễn tiến trong hơn 50 năm qua.

Sách gồm hai phần. Phần I nói về tiến tŕnh của cuộc cách mạng cộng sản đi vào Thịnh Liệt. Phần II nói về hậu quả của cách mạng.

Phần I, Chương Introduction (Nhập đề).

Chương này tŕnh bày một phần lư thuyết và giải thích những tính từ chuyên môn về nhân chủng học. Tác giả nhấn mạnh rằng văn hóa có tính năng động và thay đổi với thời gian, nhưng ở đây, điều đáng lưu ư là nó thay đổi do sức ép của Nhà nước. Lễ tục là quan trọng, nên đă được tác giả lựa làm tiêu điểm cho công tŕnh nghiên cứu. Lễ tục là nhịp cầu giữa xưa và nay, nó nối liền kẻ sống, người chết, thần thánh, và Nhà nước. Sau đó tác giả tŕnh bày bối cảnh Thịnh Liệt, từ nhiều thế kỷ trước với các cụ tổ Bùi Vịnh, Bùi Xương Trạch, Bùi Huy Bích, cho đến ngày nay với những hội làng, lễ tế đ́nh, đền thờ, miếu mạo, nhà thờ họ.

Ngày nay Thịnh Liệt được coi là một xă (commune), Giáp Nhị là một làng (village). Làng tuy nhỏ hơn nhưng quan trọng hơn xă. Làng có ngôi đ́nh, có lễ tục, có hội làng, mà xă không có. Để độc giả có khái niệm về địa bàn nghiên cứu, tác giả ghi rơ Thịnh Liệt ngày nay gồm 2500 hộ với 9000 dân, trong đó làng Giáp Nhất có 1000 dân với 15 mẫu ruộng, đa số dân là công tư chức. Làng Giáp Nhị có 6000 dân với 111 mẫu, đa số là công thương, giàu và có ảnh hưởng, và là nơi tạo ra mẫu mực về văn hóa cho toàn xă theo. Làng Giáp Tứ có 2000 dân với 75 mẫu, đa số làm nghề nông. Cũng giống như tại nhiều nơi khác ở Bắc Việt, trong xă Thịnh Liệt, ḍng họ (lineage), nhà thờ họ (lineage hall) và trưởng họ (lineage head) là những thành tố xă hội được coi là quan trọng.

Phần I, Chương 1, The Land Reform (Cải cách ruộng đất).

Chương này tŕnh bày vụ “cải cách ruộng đất” từ 1955. Các địa chủ bị xếp loại và bị đối xử theo sự xếp loại. Chương này cũng nói đến một số nhân vật của Thịnh Liệt, trong đó có người tham gia chống Pháp và hy sinh từ trước thời Việt Minh, và có người tuy thời Pháp thuộc đă ở trong giới quan trường nhưng sau được xếp vào thành phần “địa chủ kháng chiến”, và c̣n được cử làm dân biểu quốc hội.

Nói về những vụ xử án tàn ác trong chiến dịch “cải cách ruộng đất” từ 1955, dân làng nhiều khi không tin vào những lời cáo buộc của cán bộ về những điều gọi là “tội ác” của địa chủ mà họ cho là cáo buộc quá đáng. Đọc chương này ta biết thêm về những chuyện xảy ra trong nửa thế kỷ ở thôn quê miền bắc như vụ quân Pháp đánh vào làng xă quanh Hà Nội dịp Tết năm 1946, vụ “tiêu thổ kháng chiến” trong những năm kế, vụ đốt đ́nh chùa, phá tượng Thần, tượng Phật, cho đến những năm sau này, khi làng xă bắt đầu chập chững trở lại với ít nhiều lễ tục cũ. Các nhà thờ họ thường ít bị đập phá hơn là đ́nh, miếu. Làng có một số lớn dân làm vàng mă, nay bị nhà nước buộc phải bỏ nghề cũ và ép làm ruộng, v́ vậy các nông dân miễn cưỡng này không mấy thành công.

Sau khi nói về sự sắp xếp lại xă hội, chương này nói đến sự sắp xếp lại không gian, nghĩa là cơ sở, như đền, miếu, điện, văn chỉ, và cả công điền công thổ, và ruộng hương hỏa của các ḍng họ. Tác giả có đầy đủ dữ kiện chi tiết về loại ruộng này, như ḍng họ nào có bao nhiêu mẫu ruộng hương hỏa.


Phần I, Chương 2, Redefining Culture and Morality (Định lại văn hóa và đạo đức).

Chương này nói về việc làm lại văn hóa và đạo đức, với danh hiệu của Nhà nước là “cách mạng văn hóa”. Sau khi làm lại ruộng đất và cơ sở, nay đến việc làm lại văn hóa và đạo đức. Một phần chương này đối với đa số độc giả Việt Nam chúng ta thấy quen tai phần nào, v́ ta vốn đă nghe nhiều về văn hóa dưới thời cộng sản rồi, với những từ ngữ kêu to nhưng trống rỗng đến nhàm chán như “đạo đức cách mạng”, “con người xă hội chủ nghĩa”, “văn hóa mới”, “lời Bác dạy” v.v.…. Tác giả kết luận là dân Thịnh Liệt đă khước từ hay ít ra là thờ ơ với nhiều khoản của công cuộc làm lại văn hóa và đạo đức do Nhà nước áp đặt. Tuy nhiên đến nay sau bao nhiêu dồn ép, một số quan điểm của Nhà nước vẫn tạo thành một thực tế dù không ai ưa nhưng khó xóa bỏ trong xă hội Thịnh Liệt.

Sau Phần I, nay đến Phần II của cuốn sách nói về hệ quả của cách mạng, phần này gồm Chương 3 đến 7, và sau cùng là Chương kết.

Phần II, Chương 3, Defining Causality (Định lại nhân quả).

Chương này nêu lên một vấn đề về triết lư của cuộc sống. Ở đời này, mọi sự may rủi, sống chết, cội nguồn của nó do đâu mà ra ? Dân Thịnh Liêt lạc lơng trước một câu hỏi căn bản của đời người. Có thần linh hay là không có ? Nói chung, đàn ông vẫn lễ gia tiên, lễ phật, lễ đ́nh. Đàn bà cũng vậy và cũng lễ thêm các cửa đài cửa điện, miễu thờ, dù những hành động này bị Nhà nước coi là mê tín dị đoan và bất hợp pháp. Đối với người Việt Nam, ngày Tết muôn đời vẫn là ngày lễ thiêng liêng nhất. Nhà nước tận dụng cái Tết thiêng liêng vào mục đích riêng của họ, khẩu hiệu “Tết Thắng Lợi” là một thí dụ điển h́nh. Nhưng đó chính là con dao hai lưỡi, v́ có Tết th́ ắt có thờ cúng, có tín ngưỡng, có xum họp gia đ́nh, là những thứ mà Nhà nước không muốn khuyến khích.

Phần II, Chương 4, Funerary Ritual (Tang lễ) và Chương 5, Marriage (Cưới hỏi).

Hai chương này nói về tang tế và hôn nhân. Nội dung của hai chương này, cũng như một phần Chương 6, có phần quen biết đối với độc giả Việt Nam, v́ ta đă sẵn biết nhiều chi tiết về tập quán Việt Nam, ví dụ cách trang trí bàn thờ, cũng như ta đă nghe quá nhiều những giọng điệu của Nhà nước cộng sản trong việc tang tế, như “tổ quốc ghi công”, “bà mẹ anh hùng”…. Nhưng đây có thể là những chi tiết lạ tai đối với độc giả nước ngoài.

Phần II, Chương 6, Commemorating War Dead ( Thờ liệt sĩ).

Chương này nói về việc thờ liệt sĩ ở Thịnh Liệt. Nhà nước có thái độ lúng túng giữa việc thờ liệt sĩ và chủ nghĩa vô thần. Liệt sĩ có linh hồn không ? Gia đ́nh của liệt sĩ chủ trương là có. Như vậy là có sự tương phản nghiêm trọng giữa hai chủ thuyết về nguyên lư con người, thuyết của dân gian và thuyết của Nhà nước.

Các gia đ́nh cho rằng nếu chỉ có đài kỷ niệm “tổ quốc ghi công” không thôi, th́ không đủ, v́ linh hồn của thân nhân họ sẽ lang thang khổ sở và trở thành hồn ma đói khát. Gia đ́nh cần thờ cúng để linh hồn đó được siêu thoát và che chở cho những người c̣n sống. Niềm tin này mạnh lắm và sau năm 1975, các gia đ́nh có thân nhân chết trong chiến tranh cố gắng vô Nam dùng thầy pháp để ḍ t́m xác của thân nhân, và có nhiều trường hợp được đề cao là đă thành công ngoạn mục.

Phần II, Chương 7, Is Ho Chi Minh our Guardian Spirit ? ( Hồ Chí Minh là thần hoàng lảng ?).

Chương này cho ta nhiều chi tiết về đời sống xă hội và tâm linh ngày nay ở Thịnh Liệt, nói chung là ở làng xă Việt Nam.

Sau vụ cải cách ruộng đất năm 1955, đ́nh Giáp Nhị c̣n y nguyên tuy bên trong bị dọn dẹp, c̣n đ́nh Giáp Tứ th́ bị phá hết. Cả hai đều bị hợp tác xă dùng làm sân phơi thóc. Năm 1980 có đứa trẻ hư đă đi tiểu tiện lên nóc đ́nh Giáp Tứ và sau đó bị tắc đường tiểu gần chết. Dân làng vội dọn dẹp hợp tác xă và xây lại cả hai đ́nh Giáp Nhị và Giáp Tứ. Từ 1990, làng trở lại tổ chức hội hè đ́nh đám tựa như thời trước.

Tác giả nhận xét là trong làng xă đàn bà giữ vai tṛ lớn về lễ bái như đi chùa, hộ niệm, cúng đền miếu…, ngoài ra, tuy không trực tiếp tham gia ủy ban này nọ, họ có thể thuyết phục con cái theo ư của họ, có lẽ v́ thế mà điện thờ nhà họ Bùi ở Xóm Năm làng Giáp Nhị đă tránh được sự đập phá trong những năm trước.

Xưa sao nay vậy, Giáp Nhị luôn luôn giữ vai tṛ lănh đạo trong toàn xă về văn hoá và chính trị. Khi Giáp Nhị có tế đ́nh, đại diện các làng kia phải sang tế, nhưng Giáp Nhị không cần đáp lễ. Điều này cho thấy một vài “nề nếp” cũ vần c̣n được duy tŕ.

Chương 7 này cũng mô tả phong tục lễ hội của Giáp Nhị xưa và nay, như lễ thay áo cho thần hoàng làng, lễ này nay đă được lập lại, và lễ rước nước từ làng Pháp Vân về Giáp Nhị, lễ này nay đă bỏ v́ quá nhiêu khê. Sau lễ đ́nh, dân làng cũng họp nhau ăn uống như xưa, có điều khác là nay họ đổi danh xưng, gọi đó là “cơm đoàn kết” để sơn phết cho nó có tí màu cách mạng. Người ta nhận thấy mấy cá nhân trước đây hăng say đập phá đ́nh chùa, nay đổi lại, biết ngượng và thường lánh mặt trong các buổi hội họp.

Vào cuối thập niên 1980, sau khi đ́nh Giáp Tứ được trùng tu, người ta đặt tượng ông Hồ ngay nơi bàn thờ giữa. Đàn ông chấp nhận, nhưng đàn bà không vui. Sau một năm điều đ́nh co kéo, người ta nghĩ ra một giải pháp dung ḥa là làm tủ hương án có cửa, và treo ảnh ông Hồ bên trong hương án. Khi muốn lễ th́ mở cửa ra, không muốn th́ đóng lại, thật là tiện lợi. Tuy vậy ông Hồ vẫn thành một thứ thần hoàng của Giáp Tứ, song song với một vị thày lang từ xưa là thần hoàng nhưng nay v́ bị “cạnh tranh” nên được coi là đă bớt linh thiêng.

Măi đến năm 1996, t́nh cờ có một làng ở tỉnh Vĩnh Phúc v́ quá sốt sắng đă thờ Hồ Chi Minh làm “Vua Hùng thứ 19”, buộc ḷng Nhà nước phải cấm cản việc làm lố bịch đó, và cũng từ đó cấm luôn việc thờ ông Hồ ở đ́nh làng Giáp Tứ.

Như vậy, từ 1958, Nhà nước cho phép tế lễ nhưng phải xin phép trước, và từ 1990 tế đ́nh đă trở lại khắp nơi, Nhà nước chỉ cố gắng kiềm chế bằng cách thêm vô những chi tiết gọi là để biểu lộ ḷng yêu nước. Thậm chí năm 1996 c̣n có sách xuất bản ở Hà Nội cổ vơ việc thờ thần hoàng để tạo yếu tố đoàn kết nhân dân. Riêng tại Giáp Nhị, từ 1996 tế đ́nh là việc hợp pháp, và c̣n có người nói đă nh́n thấy chính chủ tịch ủy ban nhân dân xă đi dẫn đầu đoàn lễ rước.

Phần II, Chương kết, Conclusion: Morality and Meaning in a Changing World (Đạo đức và ư nghĩa trong một thế giới đổi thay),

Tác giả Malarney kết luận có hai vấn đề được nêu ra là : (1) đạo đức, và (2) chỗ đứng của con người, trong trời đất và trước thần linh. Mỗi đề tài đều có hai định nghĩa khác nhau, định nghĩa trước cách mạng và định nghĩa sau cách mạng. Thịnh Liệt có hai lớp người, lớp theo cách mạng và lớp thờ ơ với cách mạng. V́ thế, đời sống văn hóa ở đây sẽ c̣n phức tạp và c̣n có nhiều đề tài dị nghị.

Thật vậy, nhiều cán bộ tuy làm theo lệnh Nhà nước nhưng cảm thấy khổ tâm v́ thấy làm vậy là trái với lương tâm của ḿnh. Có những điều dân Thịnh Liệt chấp nhận như việc cưới xin dản dị, hay là việc không ép buộc con cái trong sự chọn vợ t́m chồng, ngược lại, có những điều người dân dị nghị, như việc phải mời cán bộ tham dự việc hiếu hỉ của gia đ́nh ḿnh. Người dân tự hỏi không biết ḿnh phải lựa chọn thế nào giữa hai con đường, làm đảng viên tốt hay làm người con hiếu thảo. Đa số bị kẹt ở giữa, và không chỉ riêng người dân, ngay cả cán bộ cũng bị kẹt luôn. Do đó họ dạy dân một đàng, và họ làm một nẻo: cưới con nhà dân th́ phải tiết kiệm, cưới con cán bộ th́ làm linh đ́nh. Để có thể dễ thở qua cái thế kẹt đó, cán bộ có thái độ “mặc kệ ” nghĩa là nhắm mắt làm ngơ cho dân mổ lợn giết gà, rồi chính họ cũng làm như thế hoặc làm to hơn thế.

Tới nay, có ba việc được coi như đă giải quyết, là: (1) bỏ cán bộ đảng ra khỏi vai chính trong các lễ tục, (2) trở lại lễ tục trước cách mạng, (3) trở lại lề lối ăn uống linh đ́nh.

Ngày nay dân Thịnh Liệt hành xử theo ba tiêu chuẩn mới là: (1) đóng góp vào việc trùng tu đ́nh chùa để làm công đức, người nghèo cũng góp một chút, (2) sài tiền đúng mức được coi là một vinh dự, và (3) sống theo câu châm ngôn “phú quí sinh lễ nghĩa” để khỏi bị làng xóm coi thường.

Họ đă giải quyết được ba vấn đề: (1) thờ cúng tổ tiên cho đúng mức, (2) ở với làng xóm cho đẹp đẽ, (3) sài tiền của ḿnh cho xôm tụ. Khi nào dân Thịnh Liệt gặp trường hợp do dự nước đôi, họ cố gắng dung ḥa, dựa theo hướng đi mà họ coi là hợp với đạo đức.

Nhưng ngoài ra, làm sao giải thích được sự việc dân chúng vẫn say mê lên đồng, gọi hồn, bùa phép, đốt vàng mă? Cán bộ vất vả lắm cũng không thể thuyết phục được người dân rằng thật ra chẳng hề có cái ǵ gọi là thần thánh cả.

Tác giả Malarney nghĩ rằng đó chính là v́ người dân cảm thấy có nhu cầu phải t́m cách tự giải thích với ḿnh về cái thế giới hỗn loạn ở bên ngoài. Thế giới này đầy những bất ngờ chẳng thể lư giải bằng khoa học. Tại sao những người đập phá đ́nh làng Giáp Nhất đều chết sớm và chết thảm ? Tại sao đứa trẻ tiểu tiện lên nóc đ́nh Giáp Tứ không chữa được bệnh tắc đường tiểu ? Dân làng cũng nói nhiều đến vụ một chị bán thịt trước đ́nh Giáp Nhị đă bị chết yểu, và họ tin rằng việc đó chẳng thể là chuyện t́nh cờ.

Một đại tá hồi hưu xây miếu thờ ngay trong nhà. Một cán bộ cải cách ruộng đất quay về nghề làm vàng mă. Bí thư xă ủy xă Thịnh Liệt bị trục xuất khỏi đảng v́ đă hành nghề đồng cốt. Một đảng viên, cựu chiến sĩ Điện Biên Phủ, bỏ nhiều tiền xây cất điện thờ hoành tráng. Một đảng viên kỳ cựu khác, lúc lâm chung xin nhà sư làm phép lễ. Tất cả chỉ v́ họ không có lời giải đáp cho những câu hỏi căn bản của đời người.

Người dân Thịnh Liệt cố gắng sắp xếp bao nhiêu sự việc hỗn loạn cho có thứ tự, sao cho có thể hiểu được. Từ sự hỗn loạn họ cố tạo một trật tự, và t́m cách gán cho trật tự ấy một ư nghĩa để từ đó tiên đoán tương lai cuộc đời, dựa trên một vài lập luận đă có từ lâu như ở hiền gặp lành hay là ác giả ác báo. Họ sẽ c̣n tiếp tục đi t́m chỗ đứng cho ḿnh trong một thế giới có cơi trần và có cơi âm, qua sự đối thoại dằng co giữa những giọng điệu của Nhà nước và những tư duy mà họ đă ấp ủ từ nhiều đời.


Thay lời kết, vài suy tư của người điểm sách.

Malarney đă phân tích tiến tŕnh chuyển hóa của văn hóa trong xă hội nông thôn Việt Nam qua nửa thế kỷ dưới chế độ cộng sản. Ông đă chọn nghĩa rộng của văn hóa đại chúng, với các thành tố của nếp sống tinh thần và tâm linh, bao gồm tập tục, lễ nghi, đạo đức, đời sống tôn giáo, đời sống gia đ́nh và làng xóm, điều mà ta cũng có thể gọi chung là phong hóa.

Trong những hoàn cảnh thông thường, v́ văn hóa là kết tinh của những sự vun đắp lâu đời nên nó có quán tính, ngoài ra c̣n có tính năng động, nó thay đổi theo một tiến tŕnh uyển chuyển, tiệm tiến và có lớp lang, theo bước của những tiến bộ trong đời sống, như đô thị hóa, kỹ nghệ hóa, hoàn cầu hóa, tin học hóa. Tại Việt Nam, cái tiến tŕnh ấy đă bị xô đẩy ra khỏi quĩ đạo tự nhiên của nó, bởi sức ép của Nhà nước qua nhiều yếu tố phũ phàng như giai cấp đấu tranh, “cải cách ruộng đất”, đấu tố, con tố cha vợ tố chồng, những vụ đào mồ cuốc mả, đập phá nhà thờ, đền chùa, miếu mạo. Những hành động tàn bạo, phi nhân và gian dối ấy đă thành công phần nào trong việc bẻ cong quĩ đạo của văn hóa.

Malarney nhận xét rằng những xáo trộn do Nhà nước áp đặt không thể nào không để lại dấu tích. Nhưng sức hút của đại chúng, từ chị nội trợ trẻ đến người cán binh già, vẫn có tiềm lực riêng, nên quĩ đạo văn hóa phần nào lại được kéo trở về hướng tự nhiên của nó. Nói cách khác, văn hóa có tiềm năng tự t́m lại căn tính của ḿnh.

Bạn đọc, nhất là giới trẻ và người sống xa xứ từ lâu và ít có dịp về thăm quê hương, chắc nhiều lúc tự hỏi miền Bắc như vậy c̣n miền Nam th́ sao. Nhận xét đầu tiên hẳn là sau một phần ba thế kỷ dưới chế độ cộng sản người dân miền Nam vẫn không hề tỏ ḷng khuất phục mà c̣n chế diễu quan chức và chế độ bằng những giọng điệu châm biếm và khinh thị. Từ lănh vực văn hóa giáo dục đầy dẫy những nạn học giả bằng thật, mua quan bán tước, qua lănh vực xă hội và đạo đức, tràn ngập tệ trạng từ tham nhũng xâu rộng đến xuất cảnh cô dâu, người dân không bỏ qua cơ hội nào để bày tỏ thái độ của ḿnh đối với chính quyền và ngay cả đối với các thần tượng của chế độ.

Người Việt Nam nặng ḷng với tương lai của văn hóa dân tộc khi đọc Malarney không khỏi tự hỏi những biến chuyển vừa qua và vẫn đang tiếp diễn có phải là lư do đáng mừng hay đáng buồn. Mừng v́ dù sao cũng chưa đến nỗi để cho Nhà nước “đào tận gốc trốc tận rễ ” cái mà họ gọi là văn hóa phong kiến. Buồn v́ quĩ đạo đă bị xô đẩy thô bạo đến nỗi để lại nhiều hằn vết. Ly nước nửa đầy hay nửa vơi ? Người viết những ḍng này thiển nghĩ đáng buồn v́ giai đoạn nhiễu nhương của lịch sử đă quá dài mà vẫn chưa chấm dứt để cho sự lệch lạc của quĩ đạo văn hóa được nhanh chóng hàn gắn, nhưng cũng có lư do để lạc quan, v́ một chế độ hiển nhiên lỗi thời và phản tiến bộ th́ tất nhiên sớm muộn ǵ cũng sẽ tan ră, và khi đó người dân Việt Nam sẽ mau chóng thu dọn những dấu tích tàn dư của một thời kỳ đen tối. Từ Nam chí Bắc, sức mạnh tiềm ẩn vẫn phát hiện, làn sóng ngầm đó sẽ là yếu tố quyết định trong văn hóa hậu Cộng sản.

Người phương Tây có câu :” Muốn biết ta sẽ đi về đâu cần biết ta đi từ đâu tới”. Lịch sử đă chứng minh người Việt Nam biết duy tŕ và phát huy nền văn hiến của ḿnh và luôn luôn vươn lên để sống c̣n. Nếu đă có lúc họ phải thích ứng để “sống”, th́ cũng có lúc họ biết phản ứng để “c̣n”, để nhận diện được chính ḿnh mỗi khi soi bóng trong tấm gương văn hóa, và để thế hệ trẻ sau này nhận diện được chính họ qua những vang bóng một thời của thế hệ cha ông.