Khai hóa và khai thác là hai bản sắc của chế độ thuộc địa Pháp tại Việt Nam,
đặc biệt tại Nam Kỳ là xứ trực trị. Tuy khai hóa và khai thác là hai ư niệm mà
tác động có khác nhau, nhưng mục tiêu của thực dân Pháp chỉ là một, khai hóa văn
minh để khai thác kinh tế.
Vào giữa thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công kỹ nghệ ở Pháp đă bắt đầu phát triển
cần t́m thuộc địa để khai thác nguyên liệu và xuất cảng hàng hóa. Năm 1820, Pháp
chỉ có 65 máy hơi nước, năm 1870, Pháp có 27 000. Năm 1830, số vốn trong các cơ
sở kỹ nghệ thương mại là 30 tỷ quan, hai mươi năm sau tăng lên 45 tỷ. Trước t́nh
thế mới, hoàng đế nước Pháp không c̣n nắm quyền bá chủ như khi xưa mà từ đây
phải bị chi phối bởi hai thế lực mới là giới tài phiệt và giới quân phiệt muốn
bành trướng lănh thỗ để làm giàu và làm lănh chúa.
Năm 1852, Louis-Napoléon Bonaparte lên cầm quyền mở đẩu cho Đệ nhị Đế chế với đế
hiệu Napoléon III là nhờ sự ủng hộ của Thiên chúa giáo với khẩu hiệu : « Nước
Pháp là con gái đầu ḷng của Giáo Hội» và hoàng hậu Eugénie de Montijo, gốc
người Tây ban Nha, là một tín đồ Thiên chúa giáo thuần thành, chủ trương bành
trướng thế lực của giáo hội trên thế giới, kể cả châu Mỹ (Philippe Héduy,
p.130).
Chánh sách cấm đạo và giết đạo Thiên Chúa của vua Tự Đức, nhất là sau khi giám
mục Fray José Maria Diaz Sanjurjo, người cùng tỉnh Grenade với hoàng hậu bị chém
đầu ở Nam Định (tháng 7, 1857) đă khơi dậy thêm mối kinh hoàng và thù hận của
hoàng hậu, đ̣i hoàng đế phải trả thù cho các thánh tử đạo.
Cùng lúc đó (tháng 5, 1857), giám mục Pellerin cũng từ VN về gặp Napoléon và van
nài hoàng đế hăy « nắm lấy trách nhiệm giải quyết vấn đề Kitô giáo tại VN, ông
thống kê tên bao nhiêu giáo sĩ bị xử tử trong 25 năm qua, và cầu xin
Hoàng đế sớm chấm dứt cái chuỗi cầu kinh tang tóc ấy…» (Nguyễn Xuân Thọ, tr. 28)
Không phải chỉ có giới Thiên chúa giáo làm áp lực mà giới quân nhân và tư bản
cũng muốn đánh chiếm VN. Tháng 4 năm 1857, Napoléon III thành lập Ủy ban nghiên
cứu về Nam Kỳ (Commission de la Cochinchine) do hầu tước Brenier đứng đầu, duyệt
xét lại những quyền lợi lịch sử tại Nam Kỳ theo ḥa ước Versailles đă kư kết năm
1787 giữa Louis XVI và Nguyễn Ánh (kư bởi giám mục Adran với sự hiện diện của
hoàng tử Cảnh), nhưng chưa thi hành được. Phe quân nhân (đô đốc Fourichon) và tư
bản (Fleury) cho rằng « Nam kỳ trù phú có 5 sản phẩm quan trọng là bông vải, tơ
lụa, đường, lúa, gỗ và một thị trường tiêu thụ lớn, đường sông đi lại dễ dàng »,
nên sau 7 phiên họp, Ủy Ban đề nghị Napoléon đánh chiếm ba thành phố Huế, Kẻ Chợ
(tức Hà Nội) và Saigon.
(Devillers, p.30; Nguyễn Xuân Thọ, tr. 28)
Sau khi chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ là Biên Ḥa, Gia Định, Định Tường và hợp
thức hóa chế độ thuộc địa tại phân nửa đất Nam Kỳ theo Ḥa Uớc Nhâm Tuất
(5-6-1862), Pháp đă đặt ngay những nền tảng của hai chánh sách khai hóa và khai
thác. Ḥa ước Giáp Tuất (15-3-1874) xác nhận chủ quyền của Pháp trên 3 tỉnh miền
Tây là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Nam Kỳ hoàn toàn trở thành thuộc địa của
Pháp.
Khai hóa và khai thác là hai chủ trương chi phối toàn thể chánh sách thực dân
của Pháp tại Nam Kỳ. Chúng tôi sẽ nhận định trước tiên hai sắc thái quan trọng
của chánh sách khai hóa về phương diện vật chất và văn hóa trước khi đề cập đến
chánh sách khai thác kinh tế dưới h́nh thức sưu cao thuế nặng và các đồn điền
cao su. Dĩ nhiên, trong khuôn khổ của một bài viết, chúng tôi xét qua một cách
tổng quan.
Phần 1. Khai hóa
Khai hóa bắt nguồn từ ư niệm về sự ưu việt nhân chũng, tính thượng phong của dân
chủ Tây phương và chủ nghĩa năng động của khoa học kỹ nghệ. Nói khác đi, mục
tiêu của khai hóa là đem ánh sáng văn minh Tây Phương rọi sáng các nền văn minh
bị xem là thấp kém.
Từ xưa, các nền văn minh cổ đại như Ai Cập, Babylone, Ấn Độ, Trung Hoa đă xuất
hiện trước các nền văn minh Hi Lạp - La Mă khi mà hầu hết Âu châu c̣n bị bao phủ
bởi những rừng rậm, dân cư c̣n thưa thớt và đa số c̣n sống trong t́nh trạng bộ
tộc. Nhưng bắt đầu từ thế kỷ XV, khi những nền văn minh cổ xưa nầy bắt đầu suy
yếu th́ cuộc cách mạng kỹ nghệ và tư tưởng ở Tây Phương đă trỗi dậy làm thay đổi
thế lực giữa các nước.
Tuy lịch sử tiến hóa của nhân loại là lịch sử của các nền văn minh, nhưng phải
chờ đến năm 1756 các triết gia nước Pháp mới khai sáng ư niệm về văn minh để đối
nghịch với ư niệm man di, lạc hậu (barbarie). Theo các nhà tư tưởng nầy, một xă
hội văn minh khác biệt với một xă hội sơ khai (société primitive) ở chỗ xă hội
văn minh có những định chế (institutions), phát triển các đô thị và người dân có
một tŕnh độ giáo dục tương đối cao. (Huntington, p. 37). Cuộc đại cách mạng
Pháp năm 1789 sau đó đề cao rơ hơn quan niệm nầy với những lư tưởng như tự do,
b́nh đẳng và bác ái.
Với chiêu bài khai hóa, đưa những lư tưởng cao đẹp nầy rọi sáng các quốc gia lạc
hậu, Pháp đă bành trướng chế độ thực dân ở Phi Châu và Đông Dương.
1.1. Tiền đề của chánh sách khai hóa : Nam Kỳ lạc hậu
Khi Pháp vừa đặt chân đến Nam Kỳ, dưới mắt họ, Nam Kỳ là một xứ lạc hậu cần được
khai hóa văn minh. Sau đây là vài nhận xét điển h́nh của một số tác giả vào thời
điểm đó.
1.1.1- Léopold Augustin Charles Pallu de la Barrière, một quân nhân trong đạo
quân viễn chinh đánh chiếm thành Gia Định năm 1859, trong quyển hồi kư của ông
tựa là Histoire de l’expédition de Cochinchine en 1861 (xuất bản bởi Librairie
Hachette năm 1864) đă mô tả người Nam Kỳ lạc hậu mà chúng tôi phỏng dịch và
trích dẫn một số đoạn như sau :
«Y phục của người đàn ông Nam Kỳ là áo dài cài nút ở bên hông, cái quần giống
như quần của người Trung hoa, chân mang dép da đỏ. Đó là lối ăn mặc của người
giàu có, quyền thế, c̣n hầu hết dân dả như nông dân và người chài lưới th́ ở
trần, chỉ mặc có một cái chăn (nguyên văn : can-chian) là một miếng vải rộng
buộc bằng một sợi dây lưng. Trẻ con th́ hoàn toàn trần truồng hay chỉ có tấm vải
nhỏ h́nh trái tim, che bộ phận sinh dục, đầu cạo trọc chỉ chừa vài chỏm tóc. Y
phục của phụ nữ th́ cũng đại khái như đàn ông…Có nhiều phụ nữ Nam Kỳ cũng rất
đẹp, mặt tṛn, hai mắt như nhung và xếch rộng ra, da màu lợt, dáng dấp mong manh
như trẻ thơ, nhưng đặc biệt người phụ nữ Nam Kỳ ham mê nữ trang c̣n hơn cả phụ
nữ Tây phương…
Nếu phải nhận định tính khí của một dân tộc qua nơi ăn chốn ở th́ phải nói rằng
người Annam dồn hết nổ lực vào nơi họ ở sau khi chết. Mồ mă của họ thật là rắc
rối…nhưng nhà họ ở lại rất thấp, dơ bẩn và buồn thảm. Mái nhà nghiêng xuống thật
thấp do đó bên trong tối om ngay cả giữa ban ngày, nhưng cũng nhờ thế mà trong
nhà rất mát mặc dù ngoài trời nóng bức…
Người Nam Kỳ chỉ biết ngồi bên cạnh chiếc bàn gỗ thô sơ kê sát ngưỡng cửa, miệng
đỏ ḷm v́ ăn trầu. Họ ngồi trong dáng điệu trầm ngâm khiến chúng ta liên tưởng
đến các giống thú nhơi cỏ (herbivore)…
Người Nam Kỳ rất ôn ḥa, dễ sai bảo mặc dù sức phản kháng của họ cũng rất mạnh.
Họ dễ cong lưng vâng lời nhưng cũng đầy khả năng vươn thẳng dậy, họ suy tư, rụt
rè nhưng khá vui vẻ…
Họ ham vui chơi, khi làm có tiền là xài hết không cần kiệm như người Tàu. Họ
không thích và không có khả năng về thương mại, do đó ruộng đất ph́ nhiêu của họ
và việc buôn bán th́ để mặc cho người ngoại quốc đến khai thác.
Đất Nam Kỳ miền Tây ph́ nhiêu, người dân có nhiều phương tiện để trở nên sở hữu
chủ đất, dân làng cho nhau mượn trâu để làm việc, triều đ́nh Huế cho vay tiền và
ưu đăi nghề nông, do đó người Nam Kỳ có đời sống dễ dàng và không ai nghĩ đến
việc di cư đi làm ăn nơi khác. Họ yêu mến đất đai của họ, đạo giáo và luật pháp
cấm việc vượt biên, nên người ta không gặp một người Annam nào trên đất Tàu, Phi
luật Tân, đảo Java hay Ấn Độ. Chính đó là những lư do trên khiến người dân Nam
Kỳ không chịu đi làm cu li…Nhưng h́nh như mối ràng buộc của họ với đất đai chỉ
là một mặt, bởi lẽ sau khi gặt hái xong, người nông dân trở thành người chèo ghe
trên sông rạch, di chuyển khắp nơi trên đất Nam Kỳ. Trong một số trường hợp, v́
sợ bắt làm nô lệ hay áp lực chính trị, họ có thể kéo nhau cả làng để ra đi, để
lại một cảnh hoang tàn cho kẻ địch. Cách giải quyết như thế rất phù hợp với tính
khí của người Nam Kỳ và không giống với bất cứ một dân tộc nào khác ở Á Châu.
Ở đất Nam Kỳ, con người trong đám đông không để lộ một cá tính nào cả, không ai
tỏ ra hơn kẻ khác, không có sự ganh đua, có lẽ sự tôn thờ hoàng triều san bằng
mọi con người. Người Nam Kỳ chiến đấu mạnh khi họ tin rằng họ có thể thắng,
nhưng khi họ biết rằng họ thua th́ họ chạy tán loạn như đàn chim vỡ tổ hay chui
vào bụi rậm như con cọp, đối với họ không có ǵ nhục nhă. Cũng chính như vậy mà
họ đă dùng lao chống lại súng đạn của quân ta trên đồng ruộng ở MỹTho. Ngoài cái
can đảm của người Annam mà những người lănh đạo can trường đă truyển dạy cho họ,
ta c̣n biết được trong ấy có niềm tin dị đoan to lớn. Khi một đồng đội bị giết,
họ liền mổ thây móc lấy trái tim c̣n thoi thóp mà chia nhau ăn ngấu nghiến rồi
họ tiến lên bởi họ cho là họ có gan (nguyên văn : ils ont du gan). Truyền thống
ăn gan khiến ta lầm tưởng đây là một dân tộc vô nhân đạo, nhưng ta có thể ngược
lại khẳng định rằng người Nam Kỳ rất sợ cảnh máu rơi. Ở Âu Châu, giết người
thường đi đôi với cướp bóc, trái lại bọn cướp ở Nam Kỳ chỉ lột sạch nạn
nhân nhưng không giết, trước năm 1859, chưa chắc đă có đến ba vụ giết người
trong một năm.
Người Nam Kỳ chấp nhận những khổ h́nh vào phút cuối với một thái độ trầm tĩnh
đáng nể, không một cử chỉ nào, một lời nói nào cho thấy sự sợ hăi hay hèn nhát.
Người đàn bà Nam Kỳ được tự do hơn bất cứ nơi nào khác ở Á Châu. Người ta kể
rằng ảnh hưởng của họ rất lớn ở làng xă. Nều có một người nông dân bị tù tội oan
ức, người vợ sẵn sàng bồng con đến cổng quan mà khiếu nại, không ai cản được ư
chí của bà ta. Ngoài đồng ruộng, trên sông nước, họ hát tay đôi với đàn ông, với
giọng điệu kỳ diệu và tế nhị…
Người Nam Kỳ có thói ham mê cờ bạc cao độ. Những phu khuân vác do công binh ta
mướn ở các công trường xây cất khi vừa lănh lương được vài đồng tiền kẽm th́ tụ
lại đánh bạc, chơi chẳn lẻ. Tṛ chơi thật mau kết thúc, chỉ một thoáng là tất cả
thua sạch, chỉ có một người thắng. Họ lại mượn lương của ngày hôm sau và tiếp
tục cuộc chơi. Những người chuyên chở hàng hóa ở vùng sông MỹTho, khi ra đi trên
những chiếc ghe đầy ắp hàng hóa, khi trở về th́ thua hết v́ cờ bạc chỉ c̣n cái
chăn trên người. Những người Nam Kỳ ta thấy lúc nào cũng hối hả đem những ǵ họ
vừa kiếm ra được để cờ bạc và h́nh như họ không tha thiết ǵ đến việc ǵn giữ
của cải để làm giàu và không ái ngại sống trong cảnh nghèo khó…» (Pallu,
chapitre IX)
1.1.2- Henri Aurillac, một bác sĩ giải phẩu trong hải quân Pháp, đă mô tả cảnh
vật và người Nam Kỳ như người Mọi, người Miên trong quyển hồi kư Cochinchine,
Annamites, Moïs, Cambodgiens (xuất bản bởi Éditeur Challamel Aîné, năm 1870) như
sau :
«Người Nam Kỳ là giống dân da vàng, đặc biệt có da màu đồng, lưỡng quyền nhô
lên, mắt hí, mủi tẹt và môi dầy. Cả hai giới nam và nữ có cách ăn mặc không khác
nhau lắm, đó là búi tóc và quần áo dơ bẩn che phủ một thân h́nh cũng nhớp nhúa,
nhưng họ lại thích phủ trên lớp quấn áo dơ bẩn ấy những tấm lụa bóng láng mà họ
rất tự hào…Thói quen ăn trầu khiến màu răng và nước trầu trông họ c̣n gớm ghiếc
hơn và thói quen nầy tạo cho họ lắm bịnh về miệng và răng…
Dáng vóc nhỏ bé, càng nhỏ bé hơn với người phụ nữ, một người đă 20 tuổi mà trông
như một thiếu niên 15. Sự kiện nầy được giải thích phải chăng bọn trẻ con Nam Kỳ
hoàn toàn ăn không ngồi rồi, không cử động, không nhảy múa. Thú vui duy nhất của
chúng là cờ bạc.
Người Nam Kỳ, tuy thông minh, nhưng lười biếng và ngạo mạn…
Nói chung, họ vui tính và vâng lời. Tuy b́nh thường họ không sùng đạo, không tha
thiết với chuyện chính trị, nhưng khi bị khích động, họ bừng dậy và phấn đấu một
cách mănh liệt…
Tuy họ sinh sống bằng nghề nông, nhưng họ bị khai thác bởi người Tàu trước khi
chúng ta đến hợp lực khai thác. Tuy người già trên 50 tuổi rất ít, nhưng tôi vẫn
thấy có người sống lâu hơn. Người phụ nữ thường chết sớm hơn đàn ông v́ họ phải
chịu những cực khổ của sinh đẻ và phụ với chồng những công việc đồng áng và
những công việc nặng nhọc giống như của người đàn ông…
Thức ăn của họ chỉ là gạo, nước uống là nước sông, kinh rạch và rượu, đó là lư
do khiến cơ thể họ không phát triển và hay ốm đau. Khi chúng ta du nhập bánh ḿ,
họ vẫn ăn ngấu nghiến, nhưng họ vẫn trở về với thức ăn cổ truyền của họ là cơm
và nước mắm. Họ lại là giống dân thích ăn đường và chất ngọt…
Nếu người Nam Kỳ ăn uống không đầy đủ, chỗ ở của họ c̣n thô sơ hơn. Người nghèo
có thể ngủ bất cứ ở đâu, trên chiếc chiếu hay trên mănh ván ở giữa trời, do đó
họ mặc cùng một thứ quần áo ngày đêm, và cũng v́ vậy mà họ dơ bẩn, bị nhiều bịnh
về da…
Hút thuốc lá liên miên là thói quen của người Nam Kỳ, cả đàn ông, đàn bà và trẻ
con. Say rượu là chuyện thường t́nh. Nhiều người hút á phiện do người Tàu mang
đến…
Tuy họ không thích đàn, nhưng họ thích hát và diễn kịch. Nhạc khí của người Việt
rất ít, chỉ là chiếc trống ḥa theo tiếng hát làm chát chúa tai nếu không kể
thêm cây đàn violon Tàu 2 dây và cái ống sáo. Những nhạc sĩ của chúng ta đă đến
tŕnh diễn cho họ xem 10 năm rồi mà họ vẫn không bắt chước được một câu hát. Tôi
nghĩ có lẽ v́ họ thiếu cơ hội để khai thác năng khiếu nên chúng ta phải giúp họ
phát triển đời sống và nghệ thuật…
Tôi sẽ thiếu sót khi chấm dứt nếu không kể đến những lối trừng phạt của người
Nam Kỳ như roi, gậy, treo cổ, chém đầu thực là khủng khiếp. Tôi không thể nào
miêu tả hết các cực h́nh nầy nhưng có điều là họ thích được treo cổ hơn bởi lẽ
họ tin rằng khi chết mà cái đầu ĺa khỏi cái xác th́ linh hồn họ sẽ sống trong
địa ngục…» (Aurillac. Chapitre Annamite, p. 35-54)
1.1.3- Trong một quyển hồi kư khác của nhà thiên nhiên học (naturaliste),
Albert Morice (1848-1877) viết năm 1872 với tựa là Voyage en Cochinchine đă mô
tả dân Nam Kỳ với một giọng điệu c̣n miệt thị hơn, xem dân Nam Kỳ như một sắc
dân lạc hậu, rừng rú. Chúng tôi xin trích dẫn vài đoạn :
«… Những thú vui nho nhỏ của một nhà thiên nhiên học như tôi không làm cản trở
tôi nghiên cứu một đề tài khác quan trọng hơn mặc dù ghê tởm hơn (répugnant), đó
là nghiên cứu về người Nam Kỳ (nguyên văn là : Annamites, chúng tôi hiểu là qua
hồi kư, có đôi chỗ tác giả muốn tổng quát hóa là người Việt Nam qua những quan
sát trên người Nam Kỳ).
Cái cảm giác đầu tiên của một người ngoại quốc khi nh́n thấy dân tộc nầy là một
sự ghê tởm tột độ. Cái gương mặt phẳng phiu, chẳng có chút nào phản ứng, cái mủi
lẹp và cặp môi vảnh lên, đỏ choét và đen x́ v́ ăn trầu, chẳng giống ǵ hết cái
quan niệm thẩm mỹ của chúng ta.
Đó là một giống dân thấp bé, chúng ta cao sức vóc hơn họ rất nhiều, hoặc v́ bẩm
sinh của họ, hoặc v́ họ thiếu vệ sinh. Về bản tánh, có thể so sánh với bọn nô lệ,
dốt nát, lười biếng, sợ sệt…Một cách tổng quát, dân tộc nầy vô cảm với nghệ
thuật, âm nhạc của họ th́ buồn chán không hợp chút nào với chúng ta và chắc chắn
họ chẳng hiểu ǵ âm nhạc của chúng ta, họ không biết khoa điêu khắc, thơ phú th́
nghèo nàn và không biết nhảy múa. Kiến thức văn chương chỉ gom tụ lại vài chữ
nho, c̣n khoa học th́ tốt hơn đừng nói đến. Cách ăn uống của họ không vệ sinh,
họ uống nước dơ bẩn ở hồ ao, cùng lắm là lọc với chút phèn, thức ăn th́ chỉ có
cá ít nhiều tươi, nước mắm, dưa leo và một vài trái cây lặt vặt…Quần áo của họ
th́ chỉ rời cơ thể họ khi rách nát, họ mặc không đủ ấm nên những buổi sáng tháng
12, tháng giêng họ rung lập cập, do đó trẻ con chết nhiều v́ sưng phổi và sưng
ruột. Nhà cửa của họ th́ hoặc là các cḥi lá, hoặc cất theo lối nhà sàn trên bùn
đất, nhưng nói chung bẩn thỉu…Cách đi của họ rất lạ kỳ, đàn ông lẫn đàn bà đều
đi chàng hăng và cách họ ngồi chồm hổm trông thật mệt nhọc đối với chúng ta…
Người Annam chỉ có hai thứ tuổi : hoặc là trẻ con, hoặc là người già, tuổi trẻ
của họ kéo rất dài nhưng tuổi già của họ thật ngắn. Người già làm dáng với chiếc
áo dài và khăn đóng, đi đứng ra vẻ bệ vệ với cây dù và chiếc quạt, miệng luôn
ngậm điếu thuốc xệ ở môi dưới và họ chỉ nhả ra khi họ khạc xuống đất hay thay
thuốc xỉa. Họ tiếp tục uống rượu nhiều hơn khi trẻ…
Nếu người đàn ông Nam Kỳ không mấy đẹp, c̣n người đàn bà Nam Kỳ th́ sao ? Trừ
một thiểu số vợ của các nhà tai mắt th́ duyên dáng với nước da trắng trẻo, c̣n
đa số phụ nữ Nam Kỳ xấu xí, da mặt sần sùi, môi vảnh lên và đỏ v́ nước trầu.
Người phụ nữ Việt Nam có tướng đi rất xấu, hai tay đánh đàng xa và thân ḿnh
quay trái quay phải luôn. Tính họ lông bông, rất thich cờ bạc và đôi khi ăn cắp…
Một số người Annam được chánh phủ ta tuyển vào quân đội được gọi là lính tập (nguyên
văn : linhtaps). Họ mặc quân phục như lính của ta, và do sĩ quan ta điều khiển.
Thật là khôi hài khi trông thấy mấy anh lính tập nhỏ bé nầy vừa hănh diện vừa
khó khăn trong bộ quân phục, nhất là đôi giày là một thứ cực h́nh cho họ và họ
tháo bỏ đôi giày ngay khi có thể được. Họ có nhiều tự ái nên không muốn cho
người Tây Phương rầy họ, nhưng nói chung họ là những người lính ngoan ngoản,
nhưng điều khó khăn nhất là bắt họ phải cắt bộ tóc um tùm của họ.
Một loại lính Việt thứ hai là mả tà (Matas) là lính phục vụ cho các quan hành
chánh của chúng ta. Họ mặc quần coton trắng, đi chân không, áo xanh có viền
vàng, nịt một sợi dây nịt to bản trong đó họ đựng thuốc hút và trầu, đầu đội một
cái nón nhỏ che búi tóc. Họ được trang bị súng mousquetons, đứng gác trước các
công sở, và một số tín cẩn được cho làm cai, đội, và thơ lại (les tholaï). Những
hạ sĩ quan nầy nịnh chủ đến độ cởi giày cho chủ…» (Morice. Chapitre 3,4)
Với những nhận định về tŕnh độ lạc hậu, rừng rú của người Nam Kỳ/Việt Nam qua
những mô tả như trên, thực dân Pháp đă áp dụng chánh sách khai hóa trên dải đất
mà họ hoàn toàn làm chủ từ năm 1859 đến 1945. Chúng tôi thiết nghĩ, mặc dù là
một thứ chiêu bài, và với tinh thần trịch thượng lẫn chủ tâm trục lợi, thực dân
Pháp cũng thành khẩn trong việc «giáo hóa» dân Việt Nam mà họ xem là thiếu văn
minh như Jules Ferry đă tuyên bố năm 1885 là nhiệm vụ của các dân tộc ưu việt là
giúp đỡ các dân tộc nhược tiểu thoát ra khỏi t́nh trạng lạc hậu : « le devoir
des races supérieures est d’aider les races inférieures à sortir de leur
barbarie » (Devillers, tr. 476)
2-Khai hóa vật chất : thiết lập hạ tầng cơ sở
Khi vừa chiếm được Saigon, Pháp đă nổ lực biến Saigon thành thủ phủ của Nam Kỳ,
bằng cách xây dựng hạ tầng cơ sở, xây cất công thự, công viên như các thành phố
Tây Phương với ư định biến Saigon không phải chỉ là trung tâm của một thuộc địa
khai thác kinh tế mà c̣n là thuộc địa di dân. Để biểu tỏ điều nầy, ngay từ năm
1865, đô đốc De La Grandière, người khai sáng chế độ thuộc địa Nam Kỳ đă đem cả
gia đ́nh sang định cư ở Saigon và ông đă phải trả giá cho hành động gương mẫu
nầy là vợ ông chết 3 năm sau đó v́ mắc bịnh và ông cũng phải từ chức v́ sức khỏe
do phong thổ khí hậu của VN.
Ư định phát triển Saigon đă được phát biểu trong phiên họp ngày 18-9-1879 của
Hội Đồng Thành phố Saigon như sau : « Saigon đóng một vai tṛ quan trọng không
phải chỉ về phương diện nếp sống của dân chúng mà c̣n trên b́nh diện cả thuộc
địa và tổ quốc. Saigon là thủ đô của quốc gia v́ ở đây có chính quyền trung ương,
các cơ quan chỉ huy hải lục quân, tập trung các cơ sở cung cấp dịch vụ, có ṭa
án, không những ṭa án cho Nam Kỳ mà cho cả Cao Miên, Ai Lao. Saigon là hải cảng
duy nhất mà mọi loại tàu chiến và tàu buôn đều có thể ra vào, sẽ là nơi tập
trung tất cả những chuyển vận hàng hóa và ngoại thương» (Nguyễn Văn Trung)
Trước khi người Pháp đến, địa h́nh Saigon gồm một khu đất cao ở phía Bắc chạy
dài từ lũy thành Saigon đến Mă Ngụy (Ngả Sáu bây giờ) là nơi cư ngụ của giới phú
hộ, c̣n dân chúng sống chen chúc ở vùng đất thấp dọc theo các con kinh và rạch
Bến Nghé ở phía Nam.
Pháp cho đào đất ở vùng địa thế cao đem lấp các vùng đầm lầy, đất trũng và chỉ
trong hai năm, địa thế Saigon đă thay đổi hẳn, các đường đất hẹp gồ ghề ở phía
Bắc được thay thế bằng các con đường bằng phẳng và khu đất thấp gần sông, sau
khi được tháo nước và lấp đất đă trở thành những con đường rộng, thẳng tấp (đường
Charner / Nguyễn Huệ; đường Bonard /Lê Lợi, Boulevard de la Somme / Hàm Nghi).
Chỉ trong 3 thập niên, Pháp đă hoàn thành các dinh thự, công thự, thiết lập khu
vực cư trú và cai trị cho người Pháp ở Thành phố Trắng (Cité blanche) mà con
đường Catinat và khách sạn Continental là trục chính. Số công thự và nhà cửa cho
người Pháp gia tăng lũy tiến : 40 nhà năm 1862, 108 nhà năm 1864, 200 nhà năm
1865 và 427 nhà năm 1866. (Devillers, tr. 212).
Trong công cuộc thiết lập hạ tầng cơ sở, kiến trúc, Pháp đă du nhập kỹ thuật
thiết kế đô thị và nghệ thuật Tây Phương, kể cả việc nhập cảng vật liệu và đưa
các nhà trang trí từ Pháp sang giúp. Một vài thí dụ.
Dinh Toàn Quyền (dinh Norodom, dinh Độc Lập) xây cất trong 5 năm, hoàn thành năm
1873, có mặt tiền dài 80m, mái mansard theo kiểu tân baroque; Nhà Hát Tây (trụ
sở Quốc Hội thời VNCH), dinh Xă Tây (Ṭa Đô Chính) theo phong cách Đệ tam Cộng
Ḥa Pháp, giống như Ṭa Thị chính Paris; dinh Thống Đốc Nam Kỳ (dinh Gia Long)
xây xong năm 1864 phỏng theo kiến trúc của Bảo Tàng Viện hội họa Munich; Ṭa Án,
Bưu Điện, theo kiểu Phục Hưng; nhà thờ Đức Bà (khánh thành năm 1880, với kinh
phí 2,5 triệu quan, chuyên chở vật liệu từ Pháp sang), nhà thờ Tân Định theo
kiểu romanesque với ṿng cung trên cửa sổ; nhà thờ Huyện Sĩ, nhà thờ Cha Tam
theo kiểu Gothique với các cửa có dạng cung găy.
Ngoài các dinh thự, công thự tân kỳ, kiên cố, và nhà cửa đường phố được xây cất
theo kế hoạch, người Pháp đă khai hóa đô thị Saigon với việc trồng cây xanh ven
theo vĩa hè.
Kể từ năm 1873, các đường phố Saigon được làm thêm vĩa hè cho người đi bộ và cây
xanh được trồng dọc theo lề đường. Tại khu Thành phố Trắng, dọc theo các đường
Bonard, Charner, Catinat phần lớn là cây me, cây sao, tổng cộng 22 500 cây các
loại trên đường và các công viên khu nầy (Franchini. 1992. p.35) được trồng cách
nhau 5m. Trên các con đường khác, ngoài cây me c̣n có cây bàng, cây phượng. Sau
vài chục năm, cây cối ven đường mọc um tùm, ẩm thấp nên có đề nghị phải chặt bớt
và gây ra sự tranh luận. Trong biên bản một phiên họp tháng 6 năm 1912, một hội
viên của Hội Đồng thành phố Saigon đă phát biểu :
«…Tôi không biết các ông có thấy những tấm h́nh chụp từ nóc nhà thờ Đức Bà hay
không, cảnh đập vào mắt là một khu rừng thực thụ v́ người ta chỉ thấy toàn là
cây cối. Thành phố Saigon đang sống trong một khu rừng, vừa ẩm ướt, vừa không có
ánh mặt trời rọi xuống đường sá. Có thể nói là một số con đường không bao giờ
khô ráo trong suốt tám tháng liền trong năm, người ta ngửi thấy một thứ không
khí của rừng già, vốn chắc chắn sẽ làm sinh sôi đủ mọi thứ mầm mống dịch bịnh
truyền nhiểm. Điều nầy hiển nhiên là trái ngược hoàn toàn với vệ sinh …»
Kết quả là Hội Đồng đồng ư cho chặt bớt, và khoảng cách trồng cây từ đó là 10 m,
chớ không phải là 5 m như trước.
(300 năm TP Saigon, chương 3).
Song song với việc đô thị hóa thành phố Saigon, chánh quyền thuộc địa cũng đô
thị hóa các tỉnh, thiết lập các cơ sở cần thiết cho bộ máy hành chánh. Đa số kế
hoạch kiến trúc gần như giống nhau tại 21 tỉnh : dinh tham biện (tỉnh trưởng) là
ṭa nhà to nhất trong tỉnh nằm trên con đường lớn nhất thường quay mặt ra bờ
sông, chung quanh là Ṭa Bố (Ṭa Hành Chánh), Ṭa Án, Khám Lớn, Đồn Binh, Kho
Bạc, Trường Học, Nhà Thương.
Khai hóa là để khai thác kinh tế và muốn khai thác kinh tế, Pháp cần thiết lập
nhanh chóng hệ thống chuyển vận hàng hóa đường thủy và đường bộ.
Về đường thủy, các kinh rạch được vét sâu hơn, đất sông đem lên đấp làm bờ.
Thương cảng Saigon hoạt động ngay từ năm 1860.
Để dễ dàng cho tàu bè ra vào sông Saigon, hải đăng Cap St-Jacques cao 8m xây
trên một vùng đất cao 139m, có tầm nh́n 28 dậm khánh thành năm 1862. Năm 1864,
công binh xưởng Ba-Xon được mở trên bờ thương cảng để sửa chửa tàu bè và đóng
các tàu loại nhỏ.
Về đường bộ, các đường phố trong nội thành Saigon được phát triển theo một kế
họach rơ ràng : đường chính rộng 40m, đường cấp 2 rộng 20m, có vĩa hè rộng 2m và
mỗi bên có một hàng cây; đường cấp 1 có vĩa hè 4m và mỗi bên có hai hàng cây.
Các bến sông cũng có các con đường chính rộng 40m. Các đường quốc lộ nối liền
Saigon với các tỉnh và giữa các tỉnh, các cầu sắt và béton cốt sắt, và các đường
xe lửa cũng được cấp tốc thiết lập như đường xe lửa Saigon-MỹTho dài 70km
(1881-1885), đường Saigon-Nha Trang dài 409 km (1906-1913). Ngày 2-10-1936,
đường Xuyên Việt Saigon-Hanoi dài 1730 km được khánh thành.
Từ 1900 đến 1935, Pháp đă sử dụng 145 triệu quan để lập đường xe lửa và 45 triệu
quan để mở mang đường sá (Nguyễn Thế Anh, tr. 179).
Để khai thác tiềm năng nông nghiệp và chuyên chở nông sản, Pháp cũng sớm lo phát
triển hệ thống đường thủy nối liền Saigon đi miền Tây.
Chỉ trong 10 năm (1880-1890), Pháp đă cho đào được 2 triệu m3 đất kinh rạch, gia
tăng thêm 170 000 mẫu đất canh tác (trung b́nh cứ đào 12 m3 đất th́ được một mẫu
ruộng canh tác). Ngoài những con kinh nhỏ được nới rộng, vét sâu hơn để nối liền
với các rạch và sông lớn, phải kể đến những con kinh lớn nhỏ mới đào, tạo thành
hệ thống chuyển vận huyết mạch trong đời sống xă hội và kinh tế cho các tỉnh
vùng Tiền Giang-Hậu Giang.
- Kinh Xà No : là công tŕnh thủy lợi sớm nhất và lớn nhất ở Nam Kỳ với kinh phí
3,6 triệu quan thực hiện hơn 2 năm (1901-1903) gia tăng thêm 30 000 mẫu đất canh
tác ở vùng Cần Thơ. Lễ khánh thành do Toàn quyền Đông Dương chủ tọa có đoàn ca
vũ nhạc từ Saigon xuống.
- Kinh Rạch Giá-Hà Tiên dài hơn 80km chạy dọc theo bờ biển nồi liền với các kinh
phụ như kinh Tri Tôn (31km), kinh Ba Thê (40km), kinh Tam Ngàn để rút nước úng
thủy và gia tăng diện tích khai thác đến 200 000 mẫu.
- Hệ thống kinh giữa sông Tiền và sông Hậu được đào trong ṿng 7 năm (1904-1911)
như kinh Lấp Ṿ, Mân Thít, kinh Cổ Chiên, kinh Ba Xuyên- Thạnh Lợi.
- Hệ thống kinh vùng MỹTho, Tân An, Đồng Tháp Mười tổng cộng dài 80km được thực
hiện trong những điều kiện cực kỳ khó khăn trong vùng hoang vu, phải tiếp liệu
lương thực, nước uống cho phu đào kinh.
Tuy người dân quê nhọc nhằn cực khổ trong công cuộc đào kinh khẩn hoang, nhưng
kết quả đă khiến miền Tây có thêm đất cày, phát triển kinh tế.
Một người nghiên cứu Cộng Sản, vốn thâm thù thực dân, cũng đă công nhận :
«Tính đến năm 1936, Pháp đă đào được 1360 km kinh chính, 2500 km kinh phụ với
kinh phí lên đến 58 triệu đồng. Công bằng mà nói, với hệ thống kinh đào được
thực hiện trong khoảng 80 năm ở Nam Kỳ, người Pháp đă làm thay đổi hẳn diện mạo
nông nghiệp ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Diện tích đất canh tác được mở rộng không
ngừng, đồng nghĩa với sản lượng lúa mỗi ngày một tăng, h́nh thành nên thị trường
hàng hóa nông nghiệp. Giao thông vận tải cũng phát huy hiệu quả qua hệ thống
đường thủy. Đó là những tiền đề quan trọng giúp cho việc phát triển sản xuất đời
sống và bảo đảm an ninh lương thực của cả nước ở một vựa lúa lớn nhất nước »
(Nguyễn Thanh Lợi.)
Trong ṿng nửa thế kỷ (1880-1937), diện tích trống lúa tăng lên 420% (1880 : 522
000 mẫu; 1937 : 2, 2 M mẫu), số lúa xuất cảng tăng lên 545% (1880 : 284.000 tấn;
1937 : 1,5M tấn), số dân tăng 260% (1880 :1,7M dân, 1937 : 4,5 M) (Nguyễn Thế
Anh, tr. 181).
Nói tóm lại, nếu chánh sách của chế độ thực dân Pháp là khai thác kinh tế và bóc
lột dân Việt Nam, đặc biệt sắt máu ở Nam Kỳ, trong gần một thế kỷ cai trị, nếu
phải kể cái di sản của Pháp đáng được ghi nhớ, chính là công tŕnh khai hóa kỹ
thuật, thiết lập các hạ tầng cơ sở, các công tŕnh thủy vận, và các công tŕnh
kiến trúc mà hơn nửa thế kỷ sau khi người Pháp ra đi, các công tŕnh nầy vẫn c̣n
hữu dụng.
1. 3 Chánh sách đồng hóa
Song song với công cuộc khai hóa vật chất, thực dân Pháp cũng gấp rút khai hóa
tinh thần người Việt để khiến họ quên đi gốc nguồn, đào tạo lớp người thừa hành
và nhân công cần thiết cho guồng máy hành chánh và khai thác kinh tế. Trong giai
đoạn 20 năm đầu, thời kỳ Soái phủ với các đô đốc cai trị (1859-1879), Pháp đă áp
dụng lúc ban đầu chế độ liên hiệp để lấy ḷng giới sĩ phu và dân chúng, nhưng
Pháp đă gặp phải sự chống đối mănh liệt, nhiều cuộc nổi dậy vơ trang, dân chúng
hoặc không tuân theo mệnh lệnh, hoặc lánh xa khiến người Pháp phải thay đổi
chính sách trực trị cứng rắn từ năm 1880, bắt đầu từ thời Le Myre de Vilers,
viên thống đốc dân sự đầu tiên của Nam Kỳ.
1. 3.1- Mở trường Pháp Việt
Ngay sau khi chiếm xong Gia Định, năm 1861, Pháp đă mở trường thông ngôn Collège
annamite - français d’Adran để dạy cho người Việt học tiếng Pháp và người Pháp
học tiếng Việt. Kỳ thi Hương năm 1861 bị băi bỏ, kỳ thi năm 1864 được tổ chức
tại huyện Vĩnh Định, tỉnh An Giang (Cần Thơ bây giờ) là kỳ thi chót. Cùng năm
1861, tại Saigon, tờ Công báo của đoàn Viễn chinh Pháp (Bulletin officiel de
l’Expédition de l’Indochine) viết bằng tiếng Pháp ra đời, tiếp theo là tờ Gia
Định báo, tờ báo đầu tiên viết bằng tiếng quốc ngữ xuất bản năm 1865.
Sau ḥa ước Giáp Tuất (1874), chữ nho lần lượt bị băi bỏ ở trường học. Năm 1878,
thống đốc Nam Kỳ Louis Lafont ban hành nghị định theo đó kể từ đầu năm 1882, tất
cả các công văn và giao dịch với chánh quyền đều phải viết bằng mẫu tự La-Tinh,
có nghĩa là chữ Pháp và chữ quốc ngữ trở thành ngôn ngữ chính thức của Nam Kỳ.
Để chuẩn bị cho việc áp dụng chánh sách nầy, ngày 17-3-1879, Pháp thành lập Sở
Giáo dục công cộng tại Saigon (Service de l’instruction publique) và đưa ra
chương tŕnh giáo dục Pháp -Việt ở bậc tiểu học gồm 6 năm theo đó 3 năm đầu học
chữ nho, quốc ngữ và Pháp và 3 năm sau chỉ học chữ quốc ngữ và chữ Pháp.
Thực ra, Pháp c̣n giữ lại chữ quốc ngữ trong chương tŕnh học chỉ là giai đoạn
tạm thời tiến đến việc Pháp hóa toàn diện bởi lẽ chữ quốc ngữ cũng sử dụng mẫu
tự La Tinh. Tuy nhiên, việc mở rộng dạy chữ quốc ngữ trong các trường học ở Nam
Kỳ đă gặp trở ngại v́ chánh quyền Pháp không đủ tiền để mở các trường học ở các
làng xă (phần lớn mỗi tỉnh lỵ chỉ có một trường tiểu học và trường trung học đầu
tiên ở Nam Kỳ là Collège de Mỹtho thành lập năm 1879).
Năm 1907, trong một phiên họp của Hội đồng quản hạt, một nghị viên người Việt đă
phát biểu : « Ba phần tư làng ở Nam Kỳ không có một học tṛ nào khi tốt nghiệp
trường làng mà biết đọc chữ quốc ngữ và biết làm bốn phép tính. Chữ nho th́ đă
bị băi bỏ từ lâu, thầy đồ th́ đă bỏ nghề dạy học v́ cha mẹ không muốn gởi con
đến học phải trả tiền. Nhưng điều đáng tiếc là các trường dạy chữ quốc ngữ th́
rất thiếu ở các làng nên trẻ con Annam không được dạy dỗ ǵ cả, do đó trẻ con
trở nên ngu dốt và mất dạy. Càng trầm trọng hơn, ngay cho những đứa trẻ đi học
chữ quốc ngữ cũng rất mất dạy v́ chúng chỉ được học chữ nghĩa mà không học được
đạo lư bởi lẽ những kiến thức về đạo lư chỉ có trong sách chữ nho là những thứ
mà người Pháp muốn xóa bỏ v́ nó không phù hợp với văn hóa Pháp…(G. Taboulet,
p.584 ).
Ngoài vấn đề ngân sách, việc phát triển các trường Pháp-Việt c̣n gặp một trở
ngại tâm lư là những người nhà giàu sợ cho con đi học rồi bị Pháp đem về bổn
quốc nên không cho con đi học hay t́m con nhà nghèo thay thế.
Nam Kỳ Địa Phận số ngày 22-7-1909 có đăng một mẫu tin như sau : «Tao dốt cũng
đành v́ hồi đó Tây chưa qua chưa có lớp nhà trường như bây giờ. Qua tới đời mầy,
lúc đó Lang Sa đă lấy Nam Kỳ rồi, đây có lớp nhà trường, lại ép ai có con phải
cho đi học, cơm áo nhà nước ban cấp, sách vở bút mực khỏi mua, khỏi tốn mà hồi
đó tao sợ cho mầy đi học, họ bắt đem về Tây mất ṇi cho nên tao để cho mày chịu
dốt, cái đó th́ lỗi tại tao. Nay bây giờ mầy có một con trai tuổi cũng trương
rồi, vậy phải cho nó đi học đặng nó biết một hai chữ, có cái tờ cái khế, có nó
coi khỏi mượn ai. » (Nguyễn Văn Trung)
Ngoài ra, để đào tạo các cán bộ trung thành cho nền hành chánh thuộc địa, Pháp
cũng đă cấp học bổng cho các học sinh ưu tú tốt nghiệp trường Chasseloup Laubat
sang Pháp hay Alger du học, nhưng nhiều người cũng không hưởng ứng. Trong số
những người trở về có con của Tổng Đốc Phương tốt nghiệp trường St- Cyr năm 1890
và Bùi Quang Chiêu đậu kỹ sư nông học ở Alger năm 1897.
Trong những điều kiện như vậy, chính sách đồng hóa ngôn ngữ và văn hóa của Pháp
đă không thành công, mà hậu quả các trường học ở Nam Kỳ không phát triển.
Ngay tại Saigon, số học sinh trung học và tiểu học (kể cả học sinh Pháp và Tàu)
vào năm 1883 chưa đến 3000 như ở : Collège Chasseloup-Laubat (Trường «Bổn Quốc»:
293), Collège d’Adran (151), École municipale (Trường «Sở Cọp», gần Sở Thú :
98)Institution Taberd (58),École de B́nh Ḥa (143), École de Chơlớn (135 học
sinh Việt), École chinoise de Cholon(212 học sinh Tàu), các trường tiểu học ở
vùng phụ cận (1828 nam sinh, 126 nữ sinh) (Địa dư chí TPHCM, tập 2, tr.708).
Năm 1904, trên toàn cỏi Nam Kỳ chỉ có 17 000 học sinh trường công và 9 500 học
sinh trường đạo Thiên chúa. (Devillers, p.466).
1. 3.2 - Khai hóa xă hội
Chỉ không đầy nửa thế kỷ, với sự tiếp cận văn hóa Pháp, diện mạo Saigon và các
thành phố Nam Kỳ đă biến hóa thành một xă hội Tây Phương.
a) Giai cấp mới
Sự du nhập kỹ thuật và nhu cầu theo lối sống Tây Phương đă sớm phát triển những
ngành nghề cũ và mới, tạo nên một giai cấp tư sản công nghệ gồm càc chủ hăng
xưởng như nhà máy làm gạch, cưa cây, làm đường, xay lúa, nhà in… hay các công ty
buôn bán lớn nhỏ. Khi thế giới chiến tranh thứ nhất bùng nổ, v́ người Pháp bận
lo chiến tranh, giới tư sản nầy có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn, tạo nên một
giai cấp tư bản Việt Nam, có một nếp sống thị dân như người Pháp. Họ gởi con du
học và những người trở về mang theo kiến thức và tư tưởng tự do Tây Phương.
Nhiều nhà cách mạng chính trị hay canh tân quốc gia xuất phát từ giới nầy.
Cuộc khai khẩn đất hoang ở miền Tây và sự hợp tác giữa thực dân và điền chủ đă
h́nh thành một giai cấp mới ở nông thôn là giới đại điền chủ. Những giao dịch
thương mại và giao tế xă hội với người Pháp, người Hoa và người Ấn đă đưa ánh
sáng «văn minh» Tây phương về nông thôn.
Mặt khác, sự bần cùng hóa của nông dân với sự bốc lột của giới điền chủ và nạn
cường hào ác bá cùng với sự phát triển công kỹ nghệ ở thành phố đă thành h́nh
sau thế chiến I một giai cấp công nhân trong đó sự tham gia của phụ nữ trong các
sinh hoạt kinh tế và xă hội ở thành phố đă góp phần trong việc b́nh đẳng hóa nam
nữ.
Ngoài ra, những chương tŕnh canh tân của các nhà tây học yêu nước cấp tiến, như
Gilbert Trần Chánh Chiếu chẳng hạn cũng góp phần trong việc thay đổi một số
phong tục thí dụ như cách ăn mặc gọn gàng, cắt tóc ngắn theo người Tây phương,
giảm bớt những nghi lễ rườm rà trong quan hôn tang chế, bải bỏ dị đoan mê tín,
chống cờ bạc, hút nha phiến, để làm cho đời sống thích nghi hơn với môi trường
sống mới với cái tốt và cái xấu của văn minh Tây Phương.
b) Giới đầu gà đít vịt (tête de poulet, cul de canard)
Philippe Franchini, con của Mathieu Franchini, chủ nhà hàng Continental, và một
người mẹ Việt,con gái của đốc phủ Lê Văn Mầu là lănh chúa của Cù Lao Năm Thôn ở
Mỹtho là điển h́nh cho giới đầu gà đít vịt. Hơn ai hết trong số người Pháp ở
Việt Nam, ông là người biết tường tận ngọn rau cọng cỏ của quê mẹ ông và trong
hơn 10 tác phẩm viết về lịch sử VN, đặc biệt trong Continental Saigon và Saigon
1925-1945, ông đă viết vế quê mẹ ông với tấm ḷng và suy nghĩ. Qua hai tác phẩm
nầy, ông đă mô tả thân phận cô đơn và sự dằng co của một đứa con lai giữa hai
văn hóa Pháp - Việt, của cha ông bị đồng hương dèm xiểm và ganh tị v́ lấy phụ nữ
Việt (les encongayés, les niaque nghĩa là nhà quê), hạnh phúc và bất hạnh của
người Việt lấy Tây (Me Tây : nguyên văn), của gia đ́nh ông ngoại của ông, một
mặt bốc lột, bắt nạt dân quê, một mặt nịnh bợ thực dân để có danh có lợi nhưng
trong ḷng vẫn khinh dễ và chống đối thực dân. Lúc trẻ thơ, từ Saigon ông về
nghỉ hè ở cù lao Năm Thôn, sống hồn nhiên với các trẻ VN cùng lứa tuổi nghèo
nàn, thất học, ông đă cảm thông cho cái thân phận của người Việt trong chế độ
thực dân. Ông viết :
«Sans savoir encore que les Vietnamiens appelaient les métis «dau ga dit vit»,
tête de poulet, cul de canard, je ressentis très tôt l’inégalité des conditions
et l’isolement dans lequel me plongeait cette belle maison propre et ordonnée,
alors que dehors tant d’enfants de mon âge vivaient dans la liberté de la
poussière et de la boue» (Franchini, 1995. p. 21).
Bởi lẽ khách sạn của ông (ông thay cha ông quản lư khách sạn sau khi cha ông về
Pháp, cho đến năm 1975) là nơi gặp mặt của dân «Thành phố Trắng», ông thấy rơ
hết bề mặt và bề trái của chế độ thực dân, những sa đọa, những mưu chước tranh
chấp và nhất là sự phân chia giai cấp giữa người Pháp với nhau. « Một ông chủ
hăng không ở cùng một khu phố với một hạ sĩ quan hay một công chức ngạch thấp
…Sự phân chia giai cấp không phải chỉ do tiền của và ngạch trật, mà c̣n trầm
trọng hơn khi sự có mặt càng lúc càng nhiều của các bà vợ từ Âu châu sang !! Năm
1930 tại Saigon có 12 000 người Âu trong khi hồi đầu thế kỷ chỉ có 4000.
(Franchini, 1992, p.43).
Tuy cái cộng đồng nầy chỉ chiếm 1% dân số, nhưng Saigon sống dưới sự thống trị
và ảnh hưởng của «Thành phố Trắng».
Sự ngăn cách giữa người Việt và người Pháp th́ càng rơ rệt hơn. Trong Thành phố
Trắng chỉ có hai giới được lui tới, đó là giới làm tạp dịch mà họ gọi là bồi,
bếp, tài xế, và một thiểu số nhà giàu, nhà quyền thế người Việt. Nếu giới bồi
bếp gần gũi với« monsieur patron et ba dam patronne» (nguyên văn) để làm các
công việc tạp dịch, một số ít nhà giàu người Việt hoàn toàn ly cách với người
Pháp dù ở chung trong khu phố. Họ biết thân phận họ, không bao giờ dám bước chân
đến Continental, dù vợ của chủ nhân là một người Việt, và Cercle sportif , dù
không có bảng ngăn cấm, họ vẫn biết là câu lạc bộ chỉ dành cho các quan cai trị
người da trắng.
Với người phụ nữ VN, chuyên đi vào thành phố da trắng là cấm kỵ. Nếu trên đường
Catinat, thỉnh thoảng bắt gặp một người đàn ông Việt Nam vận âu phục chỉnh tề,
hay một anh, một chị Chà Và với chemise và sarong, th́ chuyện một người phụ nữ
VN đi một ḿnh trên đường Catinat là chuyện thật khó coi, không chấp nhận được.
(Franchini, 1992, p. 49-51)
Tinh thần phân chia giai cấp xă hội mà người Pháp mang đến VN từ năm 1859 tiếp
diễn trong suốt thời gian cai trị cho đến lúc họ ra đi năm 1954 là cái di sản
độc hại đă hằn sâu thêm tinh thần phân chia giai cấp văn hóa của người Việt thừa
hưởng của người Tàu.
Sự kỳ thị văn hóa chỉ là tiền đề cùa kỳ thị chũng tộc. Trong thời kỳ thuộc địa,
xă hội Nam Kỳ có 3 hạng người : người Pháp, giới trung lưu người Việt và giới
công nông.
Trong số người Pháp, sự phân cấp rơ ràng dựa vào cấp bậc và tài sản. Thế hệ con
lai Pháp bị xem rẻ rúng. Philippe Franchini đă mô tả sự tủi nhục của ông khi ông
bà ngoại ông từ Mỹtho lên Saigon đến trường đón ông trong chiếc xe Peugeot lộng
lẫy có phủ rèm. Ngày hôm sau, các bạn hỏi ông :
- Qui c’était la vieille Annamite qui t’embrassait hier ? (Bà già Việt Nam nào
hôm qua ôm hun mầy)
- C’était ma grand-mère (Bà ngoại tao)
- Ta grand-mère est Annamite? Mais alors, tu n’es pas Français (Bà ngoại mầy
người Việt Nam? Như vậy mầy không phải là người Pháp)
- Si, je suis Français. Mon père est Français
(Tao là người Pháp, cha tao là người Pháp)
-Non, tu n’es pas Français. Tu es un métis! (Không mầy không phải người Pháp,
mầy là người lai)
Ils se mirent à rire. Je rougis…Désormais, je craignais que mes grands-parents
ne viennent m’y chercher, je n’osais plus m’affirmer à moi-même que j’étais
Français. (Chúng nó cười rộ lên. Tôi đỏ mặt. Từ nay, tôi sợ ông bà ngoại tôi đến
trường đón tôi, tôi không dám tự nhận với chính tôi, tôi là người Pháp)
(Franchini, 1992p. 75)
Trong số người trung lưu Việt Nam phải kể giới trí thức như bác sĩ, luật sư,
giáo sư, một số công chức ngạch trật cao cho chánh quyền.
Một số rất ít người vừa có học, vừa giàu được xem như giới thượng lưu Việt Nam,
thỏa hiệp với chánh quyền thuộc địa trong chánh sách cai trị, trong đó phải kể
thêm giới đại điền chủ. Vào năm 1939, tại Việt Nam có 6 800 đại điền chủ, trong
đó Nam Kỳ chiếm 6 300 người. (Nguyễn Thế Anh, tr. 250)
Về điểm nầy, tưởng cũng nên bàn về chánh sách chia để trị. GS Nguyễn Văn Trung,
nguyên khoa trưởng Đại Học Văn Khoa Saigon, trong thiên nghiên cứu Lục Châu Học
(chưa xuất bản, trên internet namkyluctinh.org) đâ có ư kiến là ông không t́m
thấy một văn kiện nào về chánh sách chia để trị của người Pháp mà các sách sử VN
hay viện dẫn. Ông cho là sự phân chia Nam Trung Bắc chỉ v́ yếu tố địa lư chính
trị và văn hoá. Theo ông th́ :
«V́ sự khác biệt giữa các miền về khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, đất đai…đưa
đến việc coi Nam Kỳ là thuộc địa và Bắc, Trung là bảo hộ đă được nói đến nhiều,
chúng tôi không cần nói thêm, nhưng về mặt văn hóa ít được nói đến, chúng tôi
xin trích dẫn một vài nhận định của người Pháp về văn hóa, về con người ở hai
miền Nam Bắc biện minh cho chính sách thuộc địa và bảo hộ. Ở miền Bắc, vùng đất
cũ, làng xă khá chặt chẽ, con người đă gắn chặt với nền văn minh đó nên rất khó
thay đổi được nền văn minh này bằng nền văn minh Pháp. Không thay đổi được th́
phải tôn trọng nó và lợi dụng sự tôn trọng đó về mặt chánh trị. Đó là ư nghĩa
của chánh sách bảo hộ. Trái lại, miền Nam là vùng đất mới, những người lưu dân
đến cư ngụ không c̣n giữ được những truyền thống xưa cũ một cách chặt chẽ, họ
lại là người tứ chiếng (Việt trà trộn với Miên-Tàu), do đó có thể tác động vào
những cấu trúc văn hóa lỏng lẻo nầy để thay thế chúng bằng văn hóa Pháp. Đó là
cơ sở của chánh sách đồng hóa và thuộc địa được áp dụng ở Nam Kỳ». (Nguyễn V
n Trung, Chương 9).
Nếu theo luận cứ của GS Trung, hiện tượng chia rẻ mà người Pháp đă áp dụng ở VN,
đặc biệt ở Nam Kỳ không phải là một sản phẩm chính trị, mà là một đặc tính của
dân tộc Pháp đă du nhập vào Việt Nam. Cứ nh́n sự phân chia giai cấp của người
Pháp trên chính nước Pháp ngày nay th́ rơ.
c)Thú vui, giải trí mới
- Về nghệ thuật : sự tiếp xúc với văn hóa Pháp đă phát hiện và phát triển một số
nhu cầu mới về thú vui, giải trí. Ngành hát bội được cải biến thành cải lương
dựa theo nhu cầu thẫm mỹ, cách tŕnh diễn, trang trí sân khấu mà các ban ca nhạc
kịch của Pháp hàng năm đến tŕnh diễn 6 tháng vào mùa hè tại nhà Hát Tây. Sinh
hoạt ca kịch dần dần đến nông thôn với các tuồng tích xây dựng theo nội dung mới
là một xúc tác mạnh mẽ trong sự biến đổi suy tư và tâm lư của dân quê.
- Những tṛ chơi thể thao mới được du nhập, ngoài tác động về sức khỏe và giải
trí c̣n là một phương tiện để ru ngủ người dân xa lánh những phong trào chống
đối người Pháp.
Phần 2. Khai thác
Như tất cả các chánh sách thực dân, Pháp chiếm Việt Nam là để khai thác tài
nguyên đem về bản xứ.
2. 1. Sưu cao thuế nặng
Ngày 10-01-1863, chánh phủ ra nghị định là ngoài chi phí về quân sự, Soái phủ
Nam Kỳ phải tự túc về mọi chi phí cai trị. Một hệ thống thuế khóa mới được tổ
chức để thực thi quyết định nầy.
2. 1.1 - Mở mang thương cảng Saigon
Không phải chờ đợi có nghị định, ngay từ 1860, Compagnie des Messageries
impériales đă kư kết với các tàu buôn trên đường chuyển vận từ kinh Suez đến
Hong Kong được cập bến hải cảng Saigon. Cũng trong năm nầy, thương cảng đă tiếp
nhận 246 tàu, trong đó có 111 tàu từ Âu châu mang đến nửa triệu quan thuốc phiện
và một triệu quan hàng hóa các loại và chở đi 53 593 tấn gạo trị giá hơn 5 triệu
quan và 1 triệu quan hàng hóa khác. Cuộc hải tŕnh Marseille - Saigon trước kia
mất 13 tuần qua Cap Bonne-Espérance nay chỉ c̣n 32 ngày khi đi qua kinh Suez,
gia tăng thêm số tàu bè từ các nơi đến Saigon.
Thương cảng Saigon là một mối lợi lớn cho nước Pháp. Năm 1920, số tàu buôn xuất
nhập là 1500 tàu, tăng lên 1800 tàu năm 1930 và 2000 tàu năm 1939. Saigon đứng
hàng thứ 7 trong số các thương cảng của đế quốc Pháp. (Nguyễn Thế Anh, tr.181)
2.1.2- Tịch thu nhà đất và bán đấu giá
Khi thành lập thành phố Saigon, nhà và đất bị truất hữu theo nghị định ngày
20-02-1872. Đất được chia ra từng lô trên họa đồ, nhà cửa, đất đai bị truất hữu
và được bán lại. Nếu người chủ không đủ tiền mua lại hay không kịp thời khiếu
nại v́ giặc giả phải xiêu tán, nhà và đất bị mất. Để phóng đường và xẻ kinh hay
cất công thự, thân nhân phải hốt cốt mồ mă trong ṿng 15 ngày. (Sau năm 1975,
Cộng Sản c̣n tinh vi hoá hơn chính sách cướp nhà cướp đất của nhân dân)
2.1.3 - Bán và cho công thổ
Gọi là công thổ, những đất hoang hay đất có chủ theo bằng khoán thiết lập từ đời
Tự Đức mà không khai khẩn hay không khai báo với nhà nước sau khi đăng trong
công báo 3 tháng th́ trở nên vô thừa nhận thuộc về chánh phủ.
Nhà nước bán với giá 10 quan một mẫu (năm 1865) hay phát không cho người có
công. Thực dân Pháp đă ngang nhiên cướp đất của dân. Sau đây là một trường hợp
điển h́nh trong muôn một.
Cù lao Năm Thôn là vùng trù phú ở MỹTho trên đó đă có dân cư sinh hoạt tại 5 xă
(5 thôn). Chiến tranh khiến dân chúng bỏ chạy, Pháp đem cấp 300 mẫu cho
Taillefer biến thành một giang sơn riêng của y. Dân làng trở về phải làm tá
điền, bị bốc lột bởi công ty Taillefer nên họ chống đối, lại bỏ đi và không trả
nợ, Taillefer khánh tận bán đất lại cho Tổng đốc Trần Bá Lộc, sau để lại cho gia
đ́nh đốc phủ Lê Văn Mầu là ông ngoại của Philippe Franchini.
2.1.4- Thuế điền và thuế thân
Dưới thời Tự Đức, thuế điền được đánh bằng hộc lúa (60kg) cho mỗi mẫu ruộng hạng
nhất. Người Pháp nay bắt đóng bằng tiền. Một hộc lúa trị giá trước đây độ 4
quan, nay phải tăng lên 5,5 quan cộng với 0,3 quan tiền công thu thuế. Thực ra,
Pháp bắt làng thu thuế rồi đem nộp cho chánh phủ thay v́ như trước đây, các điền
quan đi thu thuế từng người dân. Đó là một phương thức vừa tiết kiệm được nhân
viên, vừa bắt chẹt các làng phải đóng một số thuế quy định, do đó xảy ra nạn
cường hào ác bá ở thôn quê và người dân phải đóng thuế theo ư muốn của làng xă.
Về thuế thân, mỗi người dân phải đóng từ 1,20 đến 1,50 quan mỗi năm, gia tăng
dần nếu cộng cả tiền sưu (thuế để thay những ngày không đi làm sưu dịch) có thể
lên đến 12 quan. Tổng số thuế thu được năm 1864 là 6 291 000 quan và tăng lên 14
triệu quan năm 1874.
Măc dù so với số thuế khi xưa dân đóng cho triều đ́nh tương đương với 3 triệu,
nay tăng lên đến 14 triệu, vậy mà thống đốc Luro vẫn cho là chưa đủ để thỏa măn
nhu cầu mới vể hành chánh, « rất bác học cho một dân tộc nghèo».(Devillers, tr.
215)
Ngoài ra, Pháp c̣n đặt ra các loại thuế khác như thuế muối, thuế rượu, thuế nha
phiến, gọi chung là thuế công quản là một món lợi khổng lồ. Các loại thuế này
tăng dần mỗi năm.
Năm 1911, tổng số thuế Pháp thu về là 4,8M đồng; năm 1920 : 6,2M, 1930 :10M (
Nguyễn Thế Anh, tr. 158).
Sơn Nam, một nhà văn và nghiên cứu về Nam Bộ đă mô tả về đời sống cơ cực của
người nông dân miền Nam vào đầu thế kỷ như sau :
«Hai gánh nặng cho người dân là thuế thân và xâu (sưu). Lúc ban đầu, thuế thân
được quy định đồng đều là 1 đồng một năm và một số tiền gọi là bách phân phụ
trội cho ngân sách tùy theo năm để cho ngân sách được quân b́nh chi tiêu. Ngoài
ra, mỗi người phải chịu 5 ngày làm xâu, có thể chuộc bằng tiền (nếu không đi
làm) lại c̣n phụ thâu về thủy lợi, về rừng, tổng cộng chung tất cả vào đầu thế
kỷ mỗi người khoảng 5 đồng. Giá lúa lúc ấy là vài cắc một giạ, một đứa chăn trâu
suốt năm chỉ lănh được 10 đồng. Tuy nhiên, thuế thân và tiền xâu có nơi lại quá
cao thí dụ làng Vĩnh Ḥa Hưng ở Rạch Giá lên đến 8 đồng 3 xu năm 1914. Do đó,
nhiều tá điền không có tiền để đóng và khi bị làng khám xét bọn trốn xâu lậu
thuế, họ chạy ra đồng hay vào rừng mà trốn. Nếu bị bắt v́ trốn thuế thân th́ bị
phạt 5 ngày tù và 15 quan phạt vạ. Khi măn tù th́ phải đóng thuế, nếu không tiền
th́ đi làm cu li để lấy tiền mà trả nợ. Gặp năm mất mùa, người tá điền không
đóng đủ địa tô (lúa ruộng) và thuế thân th́ đành phải bỏ làng trốn sang làm ăn ở
xứ khác, đổi tên họ, làm ruộng lưu động và tiếp tục cuộc sống trốn tránh. Ngoài
thuế thân, việc làm xâu là một cực h́nh của người dân, khi đào kinh, làm đường
nhiều tuần mà phải đem theo ky, vật dụng làm việc và thức ăn, nhà nước không cấp
phát ǵ cả. Đó cũng là những dịp để dân làng bỏ trốn…» (Sơn Nam. Chương 2.)
Về địa tô tức lúa ruộng mà tá điền đóng cho điền chủ th́ tùy theo sự thỏa thuận
giữa đôi bên. Thông thường, điền chủ thâu 80% số lúa gặt hái được. Trung b́nh
đất tốt được 1 600kg lúa mỗi mẫu, đất xấu khoảng 1000kg. Với nhu cầu cho mỗi
người để ăn là 200kg, không kể để làm rượu, chăn nuôi, th́ tá điền chỉ c̣n đủ
lúa để mua sắm ăn chơi trong mấy ngày Tết rồi ra giêng th́ bắt đầu vay nợ mới và
cuộc đời cứ thế xoay vần.
2.2 Khai thác cao su
Ngoài sưu cao thuế nặng, cao su là một tài nguyên quan trọng trong công cuộc
khai thác kinh tế của Pháp từ đầu thế kỷ tại Nam Kỳ.
Cao su nguyên gốc ở Ba Tây (Brésil), đầu tiên được Jean-Louis Pierre, một nhà
thực vật học người Pháp đem trồng thử ở Vườn Bách Thảo Saigon năm 1877, nhưng
không thành công. Sau đó, năm 1897, toàn quyền Paul Doumer cho trồng tại vườn
thực nghiệm Ông Yệm ở Bến Cát (Thủ Dầu Một), nhưng phải chờ đến cuộc thử nghiệm
thành công của Yersin rồi người Pháp mới chính thức khai thác tại Nam Kỳ từ năm
1904.
Cao su thích hợp với vùng đất basalte ở miền Đông Nam Kỳ, v́ lẽ Pháp có đem ra
miền Bắc trồng ở vài nơi nhưng năng suất rất kém v́ đất đai và khí hậu không
thích hợp.
Việc khai thác cao su ở Nam Kỳ là một mối lợi lớn cho tư bản Pháp để thỏa măn
nhu cầu cao su trên thế giới. Năm 1918, Pháp sở hữu một diện tích đất 185 000
mẫu ở Nam Kỳ trong đó có 7000 mẫu dùng trồng cao su. Trong ¼ thế kỷ, số diện
tích canh tác tăng gấp đôi và sản lượng tăng lên gấp 20 lần
1920 : 70 000 mẫu đồn điền; 3 000 tấn cao su
1930 : 80 000 mẫu ; 8 000 tấn
1940 : 97 300 mẫu ; 58 000 tấn
1945 : 138 400 mẫu ; 77 400 tần.
Đồn điền cao su ở miển Đông Nam Kỳ tập trung trong tay 5 đại công ty của Pháp
như :
- Công ty Đồn Điền Đất Đỏ (Plantation des Terres Rouges gọi tắt là SPTR) là công
ty hỗn hợp Pháp-Bỉ, lớn nhất ở VN tập trung ở vùng Quản Lợi, Xa Trạch, Xa Cam,
Biên Ḥa, Bà Rịa lan qua cả Cao Miên có đến 420 000 nhân viên (1914 đến 1945),
có vốn khổng lồ, trang bị cả pḥng thí nghiệm riêng.
- Công ty cao su Đông Dương (Société indochinoise des plantations d’hévéas, gọi
tắt là SIPH) ở vùng Lộc Ninh, Hớn Quản thu dụng 350 000 nhân công ở khắp nơi
được mộ về (1914-1945). Công ty rất mạnh nhờ vốn của Ngân Hàng Đông Dương, Công
ty Đông Dương Thương Mại và Tài Chánh (SICAF) và nhờ kỹ thuật khai thác khéo léo.
Công ty có 10 000 mẫu và sản xuất mỗi năm 10 000 tấn.
- Công ty các đồn điền Michelin ( Société des plantations et pneumatiques
Michelin au Viet Nam) đặt trụ sở ở Thủ Dầu Một sản xuất cao su và có nhà máy làm
vỏ xe đạp, vỏ xe hơi tại chỗ. Vào năm 1945, Michelin chiếm 7% diện tích đồn điền
và 11% sản lượng cao su trên toàn cỏi Đông Dương. Michelin là công ty nổi tiếng
hà khắc với nhân công, là nơi xuất phát nhiều cuộc tranh đấu, đ́nh công chống
chủ nhân.
- Công ty Viễn Đông (Société des caoutchoucs d’Extrême-Orient (CEXO), trụ sở đặt
tại Paris khai thác vùng Lộc Ninh, Bù Đốp thu dụng hơn 200 000 nhân công
(1925-1954)
- Công ty cao su Đồng Nai ((Le Caoutchouc Dona, viết tắt là LCD) trụ sở cũng ở
Paris, hoạt động ở vùng Trăng Bom, Cây Gáo, Túc Trưng.
Ngoài các đại công ty do Pháp làm chủ c̣n có độ 60 đồn điền cao su nhỏ, diện
tích trên dưới 100 mẫu của người Việt là những công kỹ nghệ gia như Trương Văn
Bền hay các công chức trung cấp thân Pháp như quan ṭa Đỗ Hữu Trí, Đốc phủ Đoàn
Hữu Trung...Các đốn điền nầy không phát triển và không cạnh tranh được với đồn
điền của Pháp v́ thiếu vốn (trung b́nh phải 7 năm cao su mới bắt đầu cho
mủ),thiếu thế lực bởi lẽ các khu rừng cao su thường là băi chiến trường trong
cuộc chiến tranh Pháp-Việt và các đồn điền nhỏ của chủ nhân Việt Nam thường bị
tàn phá, dội bom trước tiên.
Từ khi khai thác cao su ở Nam Kỳ, số xuất cảng cao su ở Nam Kỳ đă chiếm một tỷ
lệ quan trọng trong tổng số hàng xuất cảng ở Đông Dương : năm 1936 chiếm 14,3%,
năm 1937 : 18%, năm 1939 : 27,4%. Trong ṿng 10 năm (1928-1939) trị giá cao su
xuất cảng đă tăng lên gấp 7 lần, từ 11 triệu quan năm 1928 lên đến 96 triệu năm
1939.
Chánh sách bóc lột và đàn áp nhân công tàn nhẩn hiện rơ trong việc khai thác đồn
điền cao su. Năm 1939, 19 công ty cao su Đông Dương lời được 309 triệu quan,
trong khi số lương trả cho nhân công chỉ 40 triệu (Huỳnh Lứa, tr. 81). Bị bóc
lột và đói khổ, nhân công bỏ trốn đồn điền quay trở vế quê, (chỉ trong năm 1926
có đến 4484 phu bỏ trốn) do đó nhu cầu mộ phu ở khắp nơi Trung Nam Bắc là vấn đế
cấp thiết.
Bởi lẽ được trả từ 10 đến 20 đồng cho mỗi phu mộ được, chánh sách cưỡng ép, bắt
bớ tạo thêm căm hờn, bạo động mà điển h́nh là vụ ám sát tên mộ phu tàn ác René
Bazin năm 1929 đă khiến hơn 200 đảng viên Quốc Dân Đảng bị bắt giam và 76 người
bị cầm tù.
Des Rousseaux trong một báo cáo mật gởi cho Toàn Quyền Đông Dương đă viết :
« Người nông dân chỉ chấp nhận rời khỏi làng đi làm việc nơi khác là khi nào họ
bị đói. Do đó phải đi đến kết luận lạ lùng cho phương thuốc thiếu nhân công [ở
đồn điền] là phải bần cùng hóa nông thôn, rút bỏ các khoản trợ cấp, hạ giá nông
sản...» (Huỳnh Lứa, tr. 23).
Nếu chánh sách sưu cao thuế nặng ở đồng ruộng miền Tây đă tạo thành một nồi
thuốc súng th́ chánh sách bóc lột sức lao động, đàn áp các cuộc chống đối của
phu đồn điền ở miền Đông là ngọn lửa căm thù khơi ng̣i các cuộc nổi dậy. Đồn
điền cao su là ḷ đào tạo các nhà cách mạng yêu nước chống thực dân, nhưng bằng
mưu chước xảo quyệt, đảng Cộng Sản đă lợi dụng ḷng yêu nước của người dân để
sau khi chiến thắng, áp đặt một chế độ thực dân mới trong đó nhiều phu đồn điền
xưa đă trở nên những người lănh đạo trong chánh quyền Cộng Sản.
Kết luận
Từ con số 4 triệu quan, chi phí theo ước tính của đô đốc Fourichon năm 1857 để
đánh chiếm Nam Kỳ cho đến 700 triệu quan vàng, chi phí thật sự mà Pháp đă phải
trả để chiếm được Việt Nam, Pháp đă tận t́nh khai thác và bóc lột kinh tế VN và
thu về chính quốc hàng trăm, hàng ngàn lần số chiến phí mà Pháp đă bỏ ra. Sau
gần một thế kỷ cai trị (1860-1954), máu và mồ hôi nước mắt của dân quân VN đă đổ
ra trên các đồng lúa, trên các đồn điền, trên các sông rạch để phục vụ cho chế
độ thuộc địa và sau đó để đánh đuổi thực dân giải phóng quê hương.
Không ai có thể vô lương tri và mù quáng binh vực cho chế độ thực dân, nhưng nếu
dùng 600 trang sách để chỉ tuôn ra toàn những lời nguyền rủa, nhào nặn ra những
danh từ thô lỗ nhất, ngôn từ tượng thanh, tượng h́nh nhất về hận thù, khích động
nợ máu, xuyên tạc sự kiện lịch sử th́ chỉ có « sử gia » loại như Trần Văn Giàu,
chủ tịch của nhiều hội sử học của Việt Nam Cộng Sản mới làm được.
«Chống xâm lăng : lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1898» của Trần Văn Giàu là điển
h́nh cho kho sử liệu được viết lại với những sự kiện man trá, lư luận thiên vị
Cộng Sản trắng trợn, cổ súy hận thù.
Chúng ta hăy đọc lời nói đầu của tác giả :
«Cơ sở lư luận và phương pháp của công tŕnh
nghiên cứu mà hôm nay chúng tôi xin tŕnh bày cho bạn đọc là những tác phẩm kinh
điển của chủ nghĩa Mác-Lê :
-Tuyên ngôn của đảng Cộng Sản (Mác và Angghen)
- Tư bản luận (Mác)
- Đế quốc chủ nghĩa, thời kỳ cuối cùng của tư bản chủ nghĩa (Lê-nin)
- Vấn đề dân tộc (Stalin)
- Bàn về cách mạng Trung quốc (Mao Trạch Đông)
- Bàn về cách mạng VN của Trường Chinh.....»
(Trần Văn Giàu, tr.10)
Và sau đây là một đoạn văn tiêu biểu trong 600 trang sử của tác giả đă có 60
công tŕnh nghiên cứu thuộc các lĩnh vực lịch sử, tư tưởng.
« Trường nầy [trường thông ngôn] do cha Croc và cha Thu phụ trách. Rồi chính bọn
du côn vô loài, vô học, bập bẹ ba chữ Tây nầy sẽ đẻ ra những tên quan to như phủ
Ca, huyện Sĩ....tàn nhẩn khét tiếng. Nếu đọc tờ báo Le Courrier de Saigon lúc
đó, ta sẽ thấy vô số thông ngôn hăm hại đồng bào, cướp của, giật ruộng, ăn hối
lộ, tàn sát, nhân dân bất b́nh, cho đến nỗi có khá nhiều lần, ngay bọn Pháp (đă
chia phần sư tử với đám thông ngôn kia) cũng phải đưa ít đứa vào tù hay đi Côn
Lôn để che miệng thế gian...
Bọn tay sai của địch đều là những tên côn đồ, vô loại, chữ nghĩa chẳng có ǵ....
...Bọn thực dân lập thêm sáu trường dạy tiếng Pháp do hạ sĩ và lính săng đá làm
hiệu trưởng và giáo sư » (Trần Văn Giàu, tr. 242-43).
Ông Trần Văn Giàu chắc «vô tư» không biết những lănh tụ, đồng chí của ông cũng
hành động c̣n tàn tệ hơn «bọn» thực dân (ông Giàu không biết chữ nào khác ngoài
chữ nầy) như đốt sách, cướp đất, cướp nhà (tất cả các công thự, nhà cửa của
«bọn» nầy, các ông từ ngoài Bắc và trong rừng vào tịch thu để vừa ở, vừa nuôi
heo, nay th́ sang nhượng lại cho tư bản đỏ), các người cán bộ ngu dốt c̣n hơn
lính săng đá của Pháp mà ông miệt thị được các ông bổ nhiệm làm viện trưởng, thủ
trưởng... Những tên thực dân nón cối trắng, giày trắng mà ông chửi là quân cướp
nước th́ chẳng khác ǵ những người nón cối vàng dép râu, những Bonard, Charner
th́ chẳng khác chi những Lê Duẩn, Lê Đức Anh, Lê Chí Thọ... Nếu người Pháp khi
xưa khác máu tanh ḷng mà các ông nguyền rủa với tất cả kho tàng ngôn ngữ của
các ông th́ hôm nay cùng là một nhà một gốc mà các ông c̣n cư xử tệ bạc hơn, căm
thù hơn, th́ có ngôn ngữ nào để mô tả các ông? Khi xưa, Gabriel Aubaret c̣n biết
quư trọng văn hóa Việt Nam, đem dịch Lục Vân Tiên, Gia Định Thành Thông
Chí ra tiếng Pháp, Luro nghiên cứu tổ chức chánh trị và xă hội VN (Le pays
d’Annam: étude sur l’organisation politique et sociale des Annamites -
Paris:1878, 252p.) th́ hôm nay, t́m đâu ra trong hàng ngũ lănh đạo và văn công
các ông một người (chỉ một người thôi) biết trân quư di sản văn hóa Việt Nam
không marxiste. Việc đốt sách và cầm tù các nhà văn miền Nam VNCH c̣n tàn tệ hơn
chánh sách đồng hóa của « bọn thực dân khát máu» mà trong lịch sử chỉ có Tần
Thủy Hoàng, Pol Pot và các ông mới dám làm mà thôi.
Đọc «Chống xâm lăng» và các tài liệu sử học của các đỉnh cao trí tuệ các ông,
người đọc không tránh được nỗi thất vọng và niềm bi phẩn khi thấy lịch sử Việt
Nam đă bị các ông viết lại, bóp méo sự kiện lịch sử với văn phong thù hận, ngôn
từ hạ cấp đối với người không cùng chiến tuyến với các ông, nhưng lại ngông
nghênh huyễn hơặc với đảng và lănh tụ.
Nói về hậu quả xấu và tốt của chế độ thực dân Pháp th́ quá nhiều, nhưng cái hậu
quả bi đát nhất của chế độ thực dân đă để lại là cuộc chiến tranh giành độc lập
của dân Việt Nam đă bị đảng Cộng Sản Việt Nam phản bội để áp đặt một chánh sách
khai hóa và khai thác mới, tuy phương thức có khác, nhưng bản chất cũng nghiệt
ngă như thời thuộc địa.
Philippe Devillers, một sử gia am tường Việt Nam đă đặt một câu hỏi làm cái tựa
cho thiên nghiên cứu sử học của ông : Français et Annamites: partenaires ou
ennemis? (Người Pháp và người Việt, bạn hay thù ?).
Qua hơn 500 trang giấy, phần lớn rút từ các tài liệu quư trong văn khố, ông
không có câu trả lời dứt khoát.
Đối với người Việt có chút suy tư và tinh thần công chính, không nhất thiết thân
Pháp hay thân Cộng, thái độ có lẽ cũng như Philippe Devillers, tuy mức độ có
khác .
Ai trong chúng ta không chứng kiến cảnh đàn áp, bóc lột của thực dân để không
mang mối hận thù. Tuy nhiên, khi nh́n lại tất cả các cựu thuộc địa của Pháp sau
khi giành được độc lập, miền Nam (VNCH) đă t́m ngay được tiềm lực và sinh lực
xây dựng một quốc gia. Cái sinh lực ấy, một phần là do tâm thức và ư thức của
người Việt đă được un đúc và trưởng thành trong thời gian bị trị, nhưng phần
khác, cũng do ư muốn khai hóa của người Pháp. Đồng ư rằng những công thự, những
hạ tầng cơ sở là do sự đóng góp mồ hôi và xương máu của người Việt , nhưng nếu
không nhờ ư chí, trí lực và vật lực của thực dân, Saigon không thể là Ḥn Ngọc
Viễn Đông và nửa triệu mẫu đất hoang vu miền Tây vẫn c̣n tiếp tục úng thủy.
Chỉ cần đan kể, nhà thờ Đức Bà, đẹp và lớn nhất ở Đông Nam Á lúc bấy giờ hoàn
toàn do vật liệu chở từ Pháp sang và hệ thống 5000km kinh đào lớn nhỏ ở miền Tây
sẽ không phát triển như hiện nay nếu không có sự tiếp tay của các chuyên viên và
máy móc của Hảng Xáng Đông Dương.
Thực dân Pháp đă khai thác bóc lột Phi Châu trong thời thuộc địa mà để lại rất
ít cơ cấu cho dân Phi Châu tự lực nên nửa thế kỷ sau khi thực dân ra đi, Phi
Châu vẫn c̣n đói, chậm tiến về kinh tế. Với Việt Nam, thực dân Pháp có khai
thác, bóc lột nhưng lại có đầu tư và người Việt Nam vẫn thụ hưởng được ít hay
nhiều (tùy lănh vực, tùy cảm nhận) những đầu tư nầy.
Về văn hóa, nếu chánh sách đồng hóa đă đào tạo một lớp công chức thừa hành người
Việt để làm công cụ cho nền hành chánh thuộc địa, và nếu những cải tổ giáo dục
nhằm hướng dẩn người Việt Nam theo kịp văn hóa và nếp sống Tây Phương đă không
đạt được ư muốn trọn vẹn, những toan tính nầy cũng đă đem lại cho nhiều thế hệ
tiếp nối biết gạn lọc cái hay cái đẹp của văn hóa Tây phương để có thể bắt tay
ngay vào việc xây dựng quốc gia khi độc lập. Những cán bộ cao cấp và trung cấp
làm nền tảng cho chế độ VNCH là những người đă trưởng thành trong cái nôi văn
hóa Tây Phương mà thực dân Pháp đă góp phần truyền bá trực tiếp hay gián tiếp.
Chính cái di sản văn hóa nầy đă hài ḥa với văn hóa cổ truyền Đại Việt để trong
đó 20 triệu dân quân miền Nam trong 20 năm đă xây dựng một quốc gia dân chủ, tuy
không hoàn thiện, nhưng đủ đảm bảo cho người dân những quyền tự do để rồi năm
1975, bằng bạo lực và lừa dối, Cộng Sản đă từ miền Bắc và rừng rú tràn vào cưỡng
chiếm quốc gia nầy, khai hóa văn hóa và khai thác kinh tế quốc
gia nầy theo chủ thuyết Cộng Sản .