Nhân bàn về văn hóa hậu Tây thuộc, điểm sách cùng bạn đọc:
“Lịch Sử Hà Nội” « Histoire de Hanoi » de Philippe Papin
Bùi Tiến Rũng

Một bài điểm sách khác cũng trong số báo này, nằm trong đề tài “Văn hóa Việt Nam hậu Cộng sản”, đă đề cập đến một tài liệu nghiên cứu về những chuyển hóa trong văn hóa đại chúng nơi làng xă ở Bắc Việt. Một sách lược cố hữu của Cộng sản, vốn đă cai trị miền Bắc từ hơn nửa thế kỷ nay, là lấy nông thôn bao vây thành thị, họ áp đặt những thay đổi về phong hóa và đạo đức ngay từ gốc rễ là làng xă. Do đó một phần đáng kể của những thay đổi về văn hóa hậu Cộng sản tất nhiên phát xuất từ đó.

Bài này nằm trong đề tài “Văn hóa Việt Nam hậu Tây thuộc” và sẽ cùng bạn đọc điểm qua một tài liệu nghiên cứu về văn hóa tại thủ đô Hà Nội. Hiển nhiên là dưới thời Pháp thuộc, khi người Pháp muốn áp đặt những thay đổi hay muốn gây ảnh hưởng, họ phải đi qua giới trí thức nơi thành thị, và sử dụng những môi trường giáo dục, báo chí, văn chương, kiến trúc, nghệ thuật.

Dưới thời Pháp thuộc, hai miền Nam Bắc có qui chế chính trị khác nhau, và người Pháp trong thâm tâm có thể cũng muốn « chia để trị», cho nên văn hóa giữa hai miền không khỏi có những nét cá biệt. Muốn nh́n rơ tổng thể ta cần coi qua những biến chuyển về văn hóa ở cả hai miền. Do đó trong phần điểm sách cùng bạn đọc, hai tác phẩm đă được đề ra, là cuốn Histoire de Hanoi của Philippe Papin và cuốn Saigon 1925-1945 của Philippe Franchini. Bài này điểm cuốn sách của Papin. Việc điểm tác phẩm của Franchini, cộng thêm một số tác phẩm khác có cùng một mẫu số chung, là đề tài của một bài khác cũng trong số Truyền Thông này.

Papin là một học giả người Pháp hội viên của Ecole francaise d’Extrême Orient, thông thạo tiếng Việt và chữ Hán. Để độc giả có một khái niệm về tác giả này, tưởng nên nói thêm ông đă từng đọc qua những tài liệu như Tùng Giá Hoàn Kinh Sư của Trần Quang Khải, hay là An Nam Chí Lược của Lê Tắc. Ông đă “trụ tŕ” 6 năm liền tại Văn khố Trung ương phố Tràng Thi Hà Nội để khai thác những kho tàng lịch sử.

Cuốn Histoire de Hanoi của Philippe Papin bao gồm những biến chuyển về lịch sử, xă hội lẫn văn hóa của Hà Nội bắt đầu từ thời xa xưa.Tất nhiên giữa lịch sử và văn hóa luôn luôn có tương giao, nhưng để chú ư vào đề tài văn hóa hậu Tây thuộc, việc điểm sách này sẽ bắt đầu từ phần thứ nh́, nghĩa là từ Chương 12 về sau, v́ các chương này có liên hệ chặt chẽ với chủ đề. Ta đặt trọng tâm vào các chuyển hóa về văn hóa, nhưng cũng sẽ đề cập tới những biến chuyển ở các lănh vực khác khi chúng có ảnh hưởng tới văn hóa.

Bài điểm sách này và bài điểm tác phẩm của Philippe Franchini do hai người viết trong sự cộng tác ngơ hầu cống hiến độc giả một bức tranh đầy đủ hơn. Nội dung cũng sẽ đươc bổ túc thêm với những cảm nhận của người điểm sách, với hy vọng sẽ tạo thêm phần sống động. Ở lớp tuổi của họ, vào thời đó người điểm sách đă có khả năng nhận xét riêng, cái nhăn quan của thời thanh thiếu niên đó sẽ đóng góp vào cái nhăn quan chung, và v́ thế mong rằng nó cũng sẽ tiếp tay gợi mối suy tư nơi lớp tuổi trẻ ngày nay.

Philippe Papin: Histoire de Hanoi

Do nhà sách Fayard xuất bản năm 2001 tại Paris, sách dày 400 trang, gồm 17 chương và 10 phụ bản. Như đă nói ở trên, các chương 12 về sau có liên quan đến văn học và văn hóa Việt Nam thời Pháp thuộc và hậu Pháp thuộc. Mời bạn đọc điểm những chương đó.


Chương 12: La capitale de l’Indochine (Thủ phủ của Đông Pháp)

Về mặt pháp lư Hà Nội bị nhượng cho Pháp cùng với Hải Pḥng và Đà Nẵng, do đạo dụ ngày 1 tháng 10 năm 1888 của vua Đồng Khánh, tuy nhiên về phía Pháp không hề có sự phê chuẩn chính thức, nên thật ra sự chuyển nhượng ấy thiếu cơ sở pháp lư. Song sau đó Pháp vẫn cứ hành xử quyền chủ nhân và c̣n lấn thêm vào những vùng phụ cận mà họ gọi là nhượng địa (concessions). Sức mạnh vốn có hiệu lực hơn là pháp lư. Thậm chí năm 1942 Toàn quyền Decoux c̣n kư nghị định xát nhập luôn một vùng lớn ở phía Nam vào Hà Nội và đặt tên nó là Đại lư Hoàn Long (Délégation spéciale).. Tuy vậy trong một thời gian dài nhà cầm quyền Pháp vẫn dành việc cai trị dân bản xứ ở Hà Nội cho các quan do triều đ́nh Việt Nam bổ nhiệm.

Thành phố do một đốc lư người Pháp đứng đầu, chức vụ đốc lư lúc đầu do chánh sứ Bắc Kỳ chỉ định, ít lâu sau th́ toàn quyền Đông Pháp dành luôn quyền này. Hội đồng thành phố có 16 nghị viên, gồm 12 Pháp, 2 Việt và 2 Tàu, sau đó thành phần này đổi lại là 10 Pháp, 4 Việt, nhưng các nghị viên Việt không có quyền ǵ ngoài việc đưa tay ủng hộ các nghị viên Pháp. Sau nhiều lủng củng giữa ṭa đốc lư Pháp và các quan Việt Nam, Pháp băi bỏ các chức vụ quan Việt tại Hà Nội và thay bằng chức vụ Hiệp lư, vị này có nhiệm vụ phối hợp các hoạt động hành chánh giữa phía Việt Nam và ṭa đốc lư. Rút cuộc chức Hiệp lư cũng bị băi bỏ, và một phần công việc trị dân hàng ngày, nhất là về mặt giấy tờ, được giao cho các trưởng phố. T́nh trạng này tồn tại cho đến năm 1945.

Về mặt tư pháp, dân Hà Nội khác với dân các tỉnh nhỏ ở chỗ họ chịu sự chi phối của pháp luật và ṭa án Pháp. Lần lần người dân nhất là giới trí thức, tương kế tựu kế biết tự vệ trước nhà cầm quyền bằng cách dùng ngay pháp luật và ṭa án Pháp.

Trong những năm đầu của thế kỷ 20, người Pháp tận lực thiết kế thành phố thủ phủ của Đông Pháp cho thật vĩ đại, vừa để thỏa ḷng tự ái của mẫu quốc, vừa để tạo ấn tượng áp đảo đối với dân bản xứ. V́ thế họ có khuynh hướng làm quá lố so với khuôn khổ của Hà Nội thời đó. Họ áp dụng mô h́nh kiến trúc đồ sộ của Haussmann: dinh toàn quyền, nhà hát lớn, khu đấu xảo, kho bạc, ṭa đốc lư, bưu điện, thánh đường. Một thí dụ điển h́nh là những bực thang nhà hát lớn làm toàn bằng đá hoa cương xuống đến tầng dưới mặt đất. Người Pháp muốn khắc ghi thời thuộc địa vàng son lên tượng đồng bia đá. Những kiến trúc ấy sẽ c̣n tồn tại lâu và trở thành dấu ấn văn hóa của một thời kỳ trong lịch sử.

Trong giai đoạn sau th́ ngoài việc tạo ấn tượng áp đảo, người Pháp thấy cũng cần mua chuộc con tim của dân bị trị nhất là giới trí thức. Từ đó nảy sinh loại kiến trúc tổng hợp Âu Á, t́m hài ḥa giữa gỗ và đá, giữa mái cong và cột cao. Trong đường hướng đó từ năm 1927 người ta xây cất Đại Học Hà Nội, Viễn Đông Bác Cổ, Trường Mỹ Thuật.

Từ đó, lần lần Hà Nội chia thành khu “Ta” và khu “Tây”, nhưng hiển hiện hơn nữa là khu giàu và khu nghèo. Nhà cầm quyền đặt ra luật lệ buộc khu Tây phải xây cất nhà “Tây” nghĩa là kiểu villa, và khu Ta th́ cho phép xây nhà xát vách theo kiểu nhà phố. C̣n nhà lá th́ từ từ bị đẩy lui. Sự phân chia này làm cho khu Tây trở thành những vùng cấm địa.

Chương 13: La société aux multiples visages (Xă hội muôn mặt).

Năm 1900 Hà Nội có 8 vạn cư dân, năm 1940 lên đến 16 vạn, cộng thêm 5 vạn dân ngoại ô. Như vậy mức tăng trưởng mỗi năm là 2 đến 3 phần trăm. Những thập niên đầu thế kỷ là thời kỳ xă hội sôi sục đợi chờ, căm hờn, nổi loạn. Kẻ nghèo người giàu xa nhau như trời với vực. Tây, Tàu, Việt sống như ba thế giới. Một số ít người theo Tây có cơ hội lột xác nhanh chóng bằng ngả chạy chọt và bịp bợm, nhân vật Xuân Tóc Đỏ của Vũ Trọng Phụng là một thí dụ điển h́nh.

Về mặt cai trị, chế độ trưởng phố rất tiện lợi cho nhà cầm quyền. Trưởng phố vừa lo việc hành chánh thường ngày vừa lo nhiều việc khác như chỉ điểm người dân trốn thuế, mộ lính cho Pháp trong Thế Chiến thứ nhất, thu thuế của dân nộp cho kho bạc, lấy biên lai về phát lại cho dân…..Nhưng rồi lần lần người trí thức và người khá giả có thói quen giao thiệp thẳng với ṭa đốc lư, nhất là về các việc hộ tịch, do đó vai tṛ của trưởng phố lu mờ dần. Hiện tượng này càng tô đậm sự phân chia Hà Nội làm ba loại, nhà Tây, nhà phố, và nhà lá.


Chương 14 : Voix et chemins de la contestation ( Những tiếng nói và ngả đường chống đối ).

Nội dung chương này rất súc tích về các dữ kiện liên quan đến các lănh vực văn hóa thời đó nhất là giáo dục, báo chí và văn học.

Sau Thế Chiến thứ nhất, giới khoa bảng ra làm quan bị hạ tầng công tác và từ nay họ tùy thuộc công sứ Pháp (résident de France) là viên chức Pháp đứng đầu mỗi tỉnh. Thực quyền cai trị nằm trong tay viên công sứ và các phụ tá người Pháp, cùng một số nhỏ công chức người Việt thuộc một cơ chế gọi là « ngạch Tây ».

Nói chung, các vị khoa bảng là người có kiến thức và tâm huyết, nên họ muốn dùng kiến thức đóng góp vào việc khôi phục, bắt đầu là chống đối quyền hành đương thời. Thời thế lúc đó hội đủ các yếu tố để thôi thúc họ: mới ngày nào thành Hà Nội thất thủ, rồi chế độ thực dân được áp đặt thô bạo, rồi Nam triều bị quản chế mạnh tay, rồi các cuộc nổi dậy đều thất bại, tất cả đă chứng tỏ nền quốc học khoa bảng không c̣n thực dụng, và việc canh tân là cần thiết. Trong khi đó bên ngoài th́ nước Tàu bị chia cắt từng mảnh, xuống dốc nhục nhă (1898), và ngược lại, Nhật đại thắng Nga trong trận hải chiến lẫy lừng ở eo biển Đối Mă (1905). Uy tín của nước Nhật canh tân và Minh Trị Thiên Hoàng lên cao, nước Nhật trở thành mẫu mực và ước mơ của toàn thể châu Á. Người ta chợt nhận thấy người da vàng không hẳn phải luôn luôn thua kém người da trắng nếu biết canh tân kịp thời.

Trong bối cảnh đó, chỉ trong vài thập niên nhiều biến chuyển đă xảy ra trong lănh vực văn hóa.

Về giáo dục :

Tháng 3 năm 1907, Lương Văn Can, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,Tăng Bạt Hổ lập Đông Kinh Nghĩa Thục ở số 4 phố Hàng Đào, với mục tiêu giáo dục dân thành thị, kêu gọi từ bỏ lối học từ chương cũ kỹ, cổ vơ sự mở cửa, canh tân, du học, cùng với việc học và dùng chữ quốc ngữ.

Đọc đến đây ta nhớ lại rằng thật ra chữ quốc ngữ thời đó được Pháp khuyến khích là với dụng ư truyền đạt Thiên chúa giáo, và quan trọng hơn nữa đối với họ, là để giảm ảnh hưởng của văn hóa Tàu. Nhưng tương kế tựu kế, chúng ta đă biết dùng lợi khí ấy, v́ chữ quốc ngữ dễ học, và dễ dùng làm phương tiện phát triển tinh thần dân tộc: «Nước Nam ta sau này hay dở thế nào là nhờ ở chữ quốc ngữ».

Đông Kinh Nghĩa Thục đă thành công nhanh chóng. Mỗi buổi chiều hàng trăm người gồm nhiều phụ nữ đến học lớp quốc ngữ và nghe diễn giảng về mọi đề tài, từ Tinh Thần Luật Pháp (De l’Esprit des Lois) của Montesquieu đến Khế Ước Xă Hội (Du Contrat Social) của Jean-Jacques Rousseau.

Người viết chợt nhớ lại thời đó v́ ảnh hưởng chữ Hán c̣n rất nặng, và cũng v́ muốn Việt hóa lối đọc cho dễ bề truyền bá, nên ngay cả tên của nhiều văn hào Tây phương cũng được đọc theo chữ Hán phát âm theo tiếng Việt, từ đó ta có những tên lạ tai như Lư Thoa hay Mạnh Đức Tư Cưu.

Đông Kinh Nghĩa Thục công khai dùng nước Nhật làm khuôn mẫu để dạy về các khái niệm chính trị cơ bản như chính thể hiến định, chính phủ, quốc hội, trường học, quân đội, cảnh sát, tư pháp, hoặc những khái niệm về kinh tế như vốn, lời, kế toán, lương bổng, ngân hàng, kinh doanh, những khái niệm chuyên ngành như tín chỉ, thương tín, ngân phiếu, hợp doanh, quyền tư hữu, quyền chuyển nhượng gia tài, quyền tự do kinh doanh. Và trong đầu người dân, một hệ luận tất yếu của sự học hỏi này là nếu ta muốn được hưởng những quyền cao quí đó th́ phải biết yêu nhà yêu nước. V́ vậy it ai ngạc nhiên khi trường bị Pháp đóng cửa cuối năm 1907. Tuy chỉ tồn tại có 10 tháng, Đông Kinh Nghĩa Thục đă cấy được trong giới trí thức những tư tưởng canh tân xứ sở, học hỏi nước ngoài, và việc dùng chữ quốc ngữ. Ba bốn thập niên sau, người ta thấy những vũ khí đó tỏ ra vô cùng lợi hại.

Người Pháp tuy đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục nhưng đă được cảnh báo về nhu cầu học hỏi và canh tân, nên sau đó họ mở mang những cơ sở giáo dục cấp trung học gọi là hệ thống Pháp-Việt như trường Bưởi, và cơ sở giáo dục Pháp như trường Albert Sarraut, và cả đại học nữa, tuy ban đầu chỉ là vài trường cao đẳng. Các trường cao đẳng ở Hà Nội năm 1907 về các ngành y, luật, công chánh và khoa học tổng cộng chỉ có dưới 200 sinh viên. Năm 1917 mở thêm dược, thương mại và canh nông. Măi đến năm 1930 tổng số sinh viên cũng chỉ lên tới 500.

Đọc tới đây người viết chợt sống lại những ngày thơ ấu và những buổi tựu trường ở mẫu giáo hay sơ học. Trong những năm 1925-1930, để hỗ trợ cho việc cổ vơ học chữ quốc ngữ, một số người có tâm huyết bỏ công sức viết sách giáo khoa, nội dung dản dị mà có giá trị sư phạm rất cao, c̣n lưu lại cho đến ngày nay. Quốc văn giáo khoa thư lớp đồng ấu, lớp dự bị, lớp sơ đẳng của Đỗ Thận và TrầnTrọng Kim không những chỉ dạy tập đọc quốc ngữ mà c̣n lồng vào đó những bài học luân lư và triết lư dễ hiểu, qua những câu cách ngôn hay câu kết luận đơn dản của một bài tập đọc lư thú.

Để nhắc nhở anh em trong nhà phải thương yêu nhau, tác giả dùng câu chuyện ba anh em v́ xích mích không muốn sống chung nữa, định tâm sáng hôm sau chặt cây cổ thụ do cha mẹ để lại và chia làm ba, cây đang tốt bỗng héo đi mà chết, họ « bèn ôm nhau mà khóc ». Để khuyên người ta không nên báo thù, một chuyện khác kết thúc «rồi ném ḥn đá xuống ao». Để nhắc nhở người đời thận trọng lời nói, một bài khác kết luận « Thế mới hay lời nói có khi c̣n giết hại hơn là đồ binh khí». Mỗi bài tập đọc là một bài học luân lư hay là một túi khôn.


Trước đó cũng đă xuất hiện những sách giáo khoa đầu tiên, bắc cầu từ sách xưa như Tam tự kinh sang thời đại quốc ngữ. Em nhỏ sáu tuổi bắt đầu học sách Lên Sáu với những câu ba chữ, dản dị mà đầy ư nghĩa. Bài số 1 nói về ư nghĩa của chữ quốc ngữ….

«Sách quốc ngữ, chữ nước ta, con cái nhà, đều phải học,
«Miệng th́ đọc, tai th́ nghe, đừng ngủ nhè, chớ láu táu,
«Em lên sáu, đương vỡ ḷng, học cho thông, thầy khỏi mắng».
….đến bài số 2 nói về địa vị con người trong trời đất….
«Trong trời đất, nhất là người, ở trên đời, hơn giống vật,
«Em bé thật, chưa biết ǵ, c̣n ngu si, phải dạy bảo,
«Cho biết đạo, mới nên thân, sau lớn dần, ngày chóng khá».
….và bài số 3 nói về ḷng biết ơn cha mẹ …..
«Ai đẻ ta, cha cùng mẹ, bồng lại bế, thương mà yêu,
«Ơn nhường bao, em phải ngẫm, áo mặc ấm, mẹ may cho,
«Cơm ăn no, cha kiếm hộ, cha mẹ đó, là hai thân».
Em nhỏ tám tuổi th́ học sách Lên Tám với những câu năm chữ, phức tạp hơn và bao hàm nhiều ư nghĩa hơn
.

Về báo chí :

Nhiều báo chí Việt được phép xuất bản nhưng bị kiểm soát chặt chẽ. Báo thường có hai chủ nhiệm, như Đông Dương Tạp Chí có Nguyễn Văn Vĩnh và Schneider, Nam Phong có Phạm Quỳnh và chánh sở liêm phóng Marty. Báo Nam Phong tuy dĩ nhiên là phải quảng cáo cho chế độ, nhưng cũng đóng góp rất nhiều vào văn hóa bằng những bài phổ biến văn chương, thơ mới, lịch sử, khảo cứu về ngôn ngữ, thêm vào là bản dịch các tác phẩm nổi tiếng nước ngoài, và b́nh luận về tôn giáo, phong tục, đôi khi dùng sự châm biếm để đả phá lề thói dở, khuyến khích phong tục hay.

Về điểm này, người viết nhớ lại những nụ cười vui khi coi hí họa vẽ Lư Toét x́ xụp lễ giao thừa vào ngày Tết và khấn khứa « lạy Trời lạy Phật cho vợ chồng con cái nhà con được phát tài buôn may bán đắt sống lâu giàu bền c̣n trong dân trong làng th́ mặc kệ bu chúng nó».

Nhân vật Lư Toét tồn tại khá lâu trong báo chí Hà Nội, và trở thành một cái mốc đánh dấu sự tương phản giữa văn hóa thành thị và văn hóa thôn quê nhất là vào những năm 1930. Điển h́nh cho văn hóa thành thị đang phát triển là cái áo dài tân thời, địa vị người đàn bà trong xă hội và sự tự do chọn lựa người hôn phối.

Trong lănh vực này, báo chí đă đóng góp nhiều vào cái gạch nối giữa tây học và giới tân tiến thời đó trong xă hội Việt Nam. Từ đó đến khoảng năm 1939 th́ một số đáng kể báo quốc ngữ rất hoạt động và đa dạng : Hà Thành Ngọ Báo, Ngày Nay, Đời Nay, Chính Trị Tuần Báo, Trung Bắc, Đông Pháp, Nước Nam.

Về văn học:

Vào đầu thế kỷ, chữ quốc ngữ đă làm đ̣n bẩy cho những bước tiến dài của văn học Việt Nam, và Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là một trong những người đi tiên phong trong văn chương quốc ngữ. Năm 1925 Hoàng Ngọc Phách viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên bằng quốc ngữ. Tuy nội dung chưa được coi là đặc sắc, Tố Tâm là khởi điểm cho tiểu thuyết tiếng Việt ở miền Bắc, thoát ly khỏi ảnh hưởng chữ Tàu và có cốt truyện dựa trên đời sống b́nh thường.

Từ những năm đầu của thập niên 1930 nhóm Tự Lực Văn Đoàn sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị. Họ xa dần từ ngữ và cú pháp Tàu, dùng lối hành văn sáng và dản dị, có ảnh hưởng của văn chương Pháp. Thế Lữ hăng say xây dựng nhóm thơ mới, phát huy trong đường hướng ngược chiều với đặc tính khuôn thước, nghiêm chỉnh, mẫu mực của trường phái Parnasse của cuối thế kỷ 19.

Với đà phát triển của văn học và báo chí quốc ngữ, chữ Hán trở nên bớt quan trọng, những tṛ chơi dựa trên chữ Hán nhường chỗ cho các tṛ chơi dựa trên chữ quốc ngữ như lối nói ngược xuôi; nghệ thuật thư họa (calligraphie) chữ nho được thay bằng thư họa chữ Việt, bằng âm nhạc và hội họa, là phản ảnh tâm tư của chính tác giả, từ đó « cái tôi đáng ghét» chính thức đi vào văn chương. Rồi chủ nghĩa cá nhân dẫn đến việc phê b́nh các tập tục cũ, trêu chọc các nét « quê» của những nhân vật điển h́nh như Lư Toét với cái ô đen, Xă Xệ với cái bụng phệ. Người nổi tiếng trong lănh vực châm biếm là Tú Mỡ.

Trong bối cảnh đó, người khoa bảng chuyển hóa dần thành người trí thức mới, tuy không ở trong chính quyền nhưng dấn thân vào xă hội. Người viết chợt sống lại những năm cuối thập niên 1930 đầu 1940, người trí thức ở mọi tuổi, mọi nghề, ngày th́ lo việc ḿnh, tối đi dạy lớp truyền bá quốc ngữ, nhiều khi không có điện phải thắp nến để dạy học.

Những biến chuyển sôi xục trong xă hội sau đó đưa đẩy những người trí thức mới đến chỗ lựa chọn một bên, và từ đó họ trở thành trí thức cấp tiến hay đấu tranh

T́nh h́nh báo chí, văn chương, giáo dục trong xă hội sôi động :

Năm 1927 Nguyễn Thái Học lập Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cuộc nổi dậy ở Yên Bái và đánh bom ở Hà Nội dẫn đến vụ án của Pháp xử tử 80 người và giam cầm 594 người. Thời cơ đă chín mùi cho cộng sản. Cộng sản thật ra đă manh nha từ đầu thế kỷ 20 nhưng thực lực của họ chỉ đáng kể từ năm 1930. Vào tháng 10 năm 1930 đảng Cộng sản được thành lập vội vàng, và liền sau đó là những cuộc nổi dậy của nông dân đưa đến sự đàn áp tàn bạo của Pháp giết hại hàng ngàn nạn nhân.

Nơi thành thị, cộng sản chỉ mới có ít thành viên, nhưng ngày càng lôi cuốn thêm thanh niên bắt đầu chán phong trào canh tân và chủ nghĩa Tam Dân đă cũ ṃn của Quốc Dân Đảng Trung Hoa. Chủ nghĩa cộng sản lôi cuốn một phần giới trí thức cũng v́ họ nghĩ rằng cộng sản nh́n lịch sử một cách tích cực và chủ trương phát triển kinh tế cùng kỹ nghệ hóa để đưa đến xă hội tiến bộ, và như vậy th́ rút cuộc nó cũng sẽ hiệp lực với phong trào văn học mới mà chính giới trí thức đă khai nguyên những năm trước đó.

Đảng Cộng sản tuyển mộ trong giới giáo chức. Địa bàn là trường Thăng Long ở phố Phùng Hưng, mở năm 1934, đến năm 1936 lên đến 1800 học sinh. Hiệu trưởng Hoàng Minh Giám tập hợp nhiều giáo sư trong có Vơ Nguyên Giáp, Đặng Thái Mai (bố vợ Giáp), Vũ Đ́nh Ḥe (luật gia), Phạm Huy Thông (sử gia). Trường bị chiền xa Pháp phá sập vào tháng 12 năm 1946, được xây lại năm 1951, và là trường được Hồ Chí Minh thăm trước tiên sau khi cộng sản tiếp thu Hà Nội.

Vào giai đoạn này vai tṛ của báo chí lại c̣n đậm nét hơn nữa. Báo xuất bản không giấy phép nhiều hơn báo có phép. Giới viết báo họp thành một thế giới kín đáo nhưng linh động và chống đối sôi xục. Người viết báo đổi tên luôn, và báo được người ta truyền tay nhau đọc lén nên số độc giả nhiều gấp bội số ấn bản. Tuần báo Vịt Đực, dựa theo báo Vịt Buộc (Le Canard Enchainé) cua Pháp, ra đời năm 1938 với 4500 ấn bản, sang năm sau tăng gấp đôi. Vịt Đực chỉ trích chế độ rất mạnh dạn, chỉ trích luôn cả vua Bảo Đại. Điều dễ đoán trước là chưa đầy một năm th́ báo bị đóng cửa.

Khi Thế Chiến thứ hai bùng nổ, Hà Nội bỗng nhiên trở nên im lặng. Và ngược lại, khi nước Pháp có thống chế Pétain, Đông Pháp có toàn quyền Decoux, th́ cái loa tuyên truyền được mở lớn. Jeanne d’Arc được ví với bà Trưng, và trên các bích chương Pétain đứng bên Khổng Phu Tử.

Đến đây người viết nhớ lại một thời niên thiếu đầy nhiễu nhương với những giọng hát ở trường tiểu học «Maréchal, nous voilà, devant toi, le sauveur de la patrie», và những bài học thuộc ḷng «Message du Maréchal Pétain aux petits écoliers» với bản dịch tiếng Việt «Lời thống chế Pétain khuyên nhủ các con học sinh».

Rồi bánh xe lịch sử tiếp tục quay. Nhật chiếm Đông Pháp, giam lỏng các chức quyền thuộc địa, và nắm hết các nguồn tiếp liệu. Rồi đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945. Rồi chính phủ của thủ tướng Trần Trọng Kim ra đời, rồi có thị trưởng Việt đầu tiên là Trần Văn Lai. Nhóm người Việt có tâm huyết nay trở thành nạn nhân của những sự toa rập phức tạp và đen tối giữa Decoux và người Nhật lúc đó đang khoa trương cái bánh vẽ bịp bợm gọi là chính sách Đại Đông Á. Nhóm người Việt đó tuy có tâm huyết nhưng v́ thế mà mất uy tín.

Giống như năm 1930, một lần nữa sân khấu có lợi cho đảng Cộng sản, lúc này núp dưới chiêu bài Mặt Trận Việt Minh. Nhật và Pháp đua nhau ra tay vơ vét của cải. Nhật bắt nông dân bỏ trồng lúa, ngô, để trồng đay, bông. Dân Bắc Việt chết đói hàng triệu. Việt Minh xúi dục dân nổi lên cướp kho gạo, và hành động đó trở thành lợi khí tuyên truyền vô song đối với tập thể nông dân sắp chết đói.

Sau hai trái bom nguyên tử, vua Nhật đầu hàng ngày 14 tháng 8 năm 1945. Ngày 19 tháng 8, bộ đội Việt Minh tiến chiếm các công sở, nhà máy, trục lộ, mà không gặp một sức đối kháng nào. Vua Bảo Đại thoái vị 5 ngày sau đó, và ngày 2 tháng 9, giữa một rừng cờ đỏ, Hồ Chí Minh long trọng đọc bản tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa.

Chương 15 : La ville captive ( Thành phố tù hăm ).

Ngày 19 tháng 8 năm 1945 đă tới vào lúc Pháp c̣n bị bó tay và Nhật th́ đă đầu hàng. V́ thế «Cách Mạng Tháng Tám» đă diễn tiến dễ dàng ngoài sức tưởng tượng. Hà Nội chẳng xảy ra biến cố ǵ đáng kể ngoài việc nước sông Hồng dâng lên gây lũ lụt 10 ngày sau đó.

Nhưng hy vọng có một sự chuyển tiếp êm xuôi đă tiêu tan khi tướng Pháp Leclerc đổ bộ ở Saigon, trong khi 200 000 quân Tàu hăy c̣n có mặt ở miền Bắc. Phần Liên sô th́ c̣n vướng mắc nhiều khó khăn ở Đông Âu. Hồ Chí Minh phải giữ thái độ mềm dẻo, và kư ḥa ước ngày 9 tháng 3 năm 1946, chấp nhận một nền tự trị rất mơ hồ.

Người viết hồi tưởng đến những ngày đầu 1946 máy bay Pháp thả truyền đơn như mưa với hàng chữ « Việt Nam tự do tự trị trong khuôn khổ Liên bang Pháp quốc». Ít ngày sau, muốn cho dễ thuyết phục hơn, họ đổi lại là Liên bang Đông Dương. Vào thời điểm đó truyền đơn thả từ máy bay là điều lạ đối với dân chúng nên dễ gây ấn tượng..

Quân đội Pháp đến thay chân để quân Tàu rút đi. Người dân Pháp ở tại chỗ th́ hoang mang, phía Việt Nam th́ tới nay đă tiến được nhiều bước nên không muốn lùi, do đó nh́ều xích mích xảy ra. Việt Minh lợi dụng thời cơ hỗn mang để thanh toán các đảng phái khác tuy cũng đấu tranh cứu nước nhưng đối lập với họ, nhất là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Điển h́nh là vụ giết người ở đường Hồ Xuân Hương, tên cũ là rue Bonifacy, gần hồ Thuyền Cuông, tên cũ là hồ Halais. Gíá gạo tăng vọt, t́nh h́nh căng thẳng thêm. Các nỗ lực điều đ́nh đều bế tắc, hội nghị Fontainebleau tháng 7 năm 1946 thất bại. Trong Nam, cao ủy D’Argenlieu đẩy mạnh việc lập chính phủ bù nh́n Cộng Ḥa Nam Kỳ, trắng trợn vi phạm các thỏa hiệp với phía Việt Nam.

Người viết nhớ lại những ngày đó đường phố và báo chí Hà Nội tràn ngập những biểu ngữ « Cương quyết dành độc lập, ủng hộ cuộc kháng chiến của đồng bào Nam Bộ », và thị trưởng Trần Văn Lai ra lệnh đập phá tượng đồng Paul Bert. Sách báo đầy sự hăng say, với những bài thơ châm biếm :

« Long Thành đứng sững tượng Bôn Be,
“ Cái mặt ta coi đă chán phè ….»

Cuộc xung đột lớn đang tiến tới gần mà không có ǵ ngăn cản được. Tháng 11 năm đó hải quân Pháp bắn phá Hải Pḥng. Ngày 19 tháng 12, Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến, và Việt Minh rút khỏi Hà Nội lên núi rừng Việt Bắc. Các diễn tiến sau đó xảy ra nhanh chóng. Sau khi kiểm soát được Hoa lục, Trung cộng tận lực giúp đỡ Việt Minh. Pháp chịu những thất bại nặng nề ở Cao Bằng, Lạng Sơn. Thành phố Hà nội từ trước tới nay chỉ có tên tuổi khiêm nhường trên quốc tế bỗng được thế giới ở cả hai bên bức màn sắt để ư tới.

Từ 1946 đến 1954, người Hà Nội sống trong cảnh dằng xé, từ trong gia đ́nh ra ngoài xă hội. Chính thị trưởng Trần Văn Lai có con theo Việt Minh. Hà Nội đầy dẫy những người của Việt Minh gài vào để điều động các tổ nội thành. T́nh đoàn kết gia đ́nh là động cơ giữ những dây liên lạc bí mật giữa Hà Nội và vùng kháng chiến. Không nhiều th́ ít ai cũng cảm thấy ḿnh có dính líu với cả hai bên. Khi lệnh động viên được ban hành gọi thanh niên nhập ngũ th́ t́nh trạng này càng suy thoái thêm.

Người viết nghĩ rằng lẽ ra đến đây, là Chương 15 của cuốn sách, th́ phần hậu Tây thuộc có thể ngừng lại, v́ ở thời điểm này phần hậu Tây thuộc bắt đầu xen vào phần hậu Cộng sản. Nhưng mời bạn đọc xem tiếp để nhớ lại sự liên tục của lịch sử cùng mối tương giao giữa lịch sử và những chuyển biến về văn hóa trong giai đoạn này.

Chương 16 : La mise au pas de la ville ( Thành phố bị ghép vào kỷ luật ).

Từ khi Việt Minh vào tiếp thu Hà Nội, sự xích mích thường xảy ra giữa những người đến giải phóng và những người được giải phóng. Về phía những người gốc Hà Nội, họ rơ ràng bị mất thế đứng, trong quốc hội người gốc Hà Tĩnh đông gấp hai người gốc Hà Nội. Từ 1955 chính sách hộ khẩu và kiểm soát mọi di chuyển được áp dụng triệt để. Hà Nội không c̣n giữ đươc cái nếp sống đi đi về về náo nhiệt như xưa. Đây là một sự chuyển hướng mạnh về nếp sống xă hội .

Tháng 5 năm 1956, phong trào bách hoa tranh khai khởi động ở bên Tàu. Cộng sản Tàu khuyến khích văn nghệ sĩ lên tiếng chống đối xả hơi để cho họ lộ mặt và dễ bị trừng trị. Cuối năm đó, phong trào trăm hoa đua nở lan sang Việt Nam, có điều khác là lúc đầu nó tự phát chứ không phải do Nhà nước mồi cho văn nghệ sĩ chống đối để dễ trừng trị. Hơn nữa nó tự phát ngay từ hàng ngũ bộ đội, sau những vụ nổi loạn ở Poznan và Budapest. Sau báo Giai Phẩm Mùa Xuân của các văn nghệ sĩ quân đội, là số đầu của báo Nhân Văn, và từ đó vết dầu loang dần. Nhiều báo vừa mới xuất bản là dân đă đổ xô đi mua, và ngay cả những báo chính thức cũng đổi giọng. Sự ngạc nhiên đă biến thành sợ hăi khi hiện tượng này lan luôn tới báo Nhân Dân của Đảng.

Những người chống đối gồm nhiều tên tuổi của Hà Nội như Phan Khôi, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Văn Cao, Trần Duy, Hoàng Cầm. Riêng Nguyễn Mạnh Tường mạnh dạn khẳng định rằng dưới chế độ cộng sản không có công lư, không có sự xét xử, không có nguyên tắc căn bản theo đó bị can được coi là vô tội cho đến khi nào có án.

Lúc đầu Nhà nước cộng sản lúng túng và do dự. Nhưng sau đó, việc cộng sản Tàu hành xử mạnh tay trong vụ bách hoa tranh khai, việc Hungary bị Liên Sô đàn áp, cùng với thái độ cứng dắn của đảng Cộng Sản Liên Sô vào cuối năm 1957, đă cáo chung cuộc nổi dậy của văn nghệ sĩ Việt Nam. Để báo trước việc xuống tay, tháng 9 năm 1957 Hồ Chí Minh đă nói rơ về nhu cầu « cần nhổ cỏ xấu». Báo Nhân Văn bị đóng cửa, và đến tháng 1 năm 1960 th́, như người ta đoán trước được, màn kết thúc đă xảy ra. Một vụ án lớn được tổ chức để kết tội những hoạt động gọi là phản động và gián điệp, và 5 bị cáo lănh án tù nặng. Từ 1958 về sau vụ này được cộng sản nại ra như một lư do để buộc nhiều trí thức về nông thôn học làm ruộng, làm lao động, và dạy chữ cho dân làng. Một số trí thức thích ứng được và chấp nhận v́ đă có cơ hội tham gia vào việc giáo dục quần chúng đồng thời học được nghề nông. Nhưng đa số th́ rất khổ sở v́ bị hành hạ, ăn uống đói khát, đời sống không có riêng tư, bị theo dơi, bị kiểm thảo, thường là bị chỉ trích với luận điệu « dân tỉnh thành chỉ biết khinh khi dân nhà quê c̣n chính họ không làm được ǵ cho tổ quốc». Từ đây Hà Nội được ghép vào kỷ luật sắt, cán bộ được nông thôn hóa, và dân tỉnh thành được đẩy bớt về nông thôn, thực thi chính sách nông thôn hóa thành thị.

Sau vụ tàu Maddox năm 1964, Mỹ oanh tạc Hà Nội từ tháng 2 năm 1965, và đưa quân ồ ạt vào Nam Việt Nam. Quân số Mỹ từ 200 000 năm 1965 hai năm sau lên đến 480 000. Mỹ oanh tạc Bắc Việt trong ba năm liền. Bệnh viện Bạch Mai bị phá, cầu Long Biên bị xập sau do Tàu giúp làm lại. Để tránh bom, dân chúng đào hố cá nhân khắp nơi và sơ tán về vùng quê. Năm 1966 Nhà nước cho diễn hành nhiều phi công Mỹ bị bắn hạ đi dọc theo đường phố để cho dân chúng bêu diễu phỉ nhổ chửi bới, điều này làm cho dư luận Mỹ và thế giới công phẫn phản đối cộng sản Việt Nam và ngả về lập trường của tổng thống Johnson.

Sau vụ cộng sản tổng công kích tết Mậu Thân và phong trào chống chiến tranh tại Mỹ nổi dậy mạnh mẽ, tổng thống Johnson ra lệnh tạm ngưng oanh tạc phía bắc Vĩ tuyến 17.

Trong thời gian này, nhiều chuyển hóa xă hội xảy ra trong đó có ba điểm đáng lưu ư. Sự thua kém của giới tiểu tư sản thành thị so với nông dân được nhấn mạnh cho thêm đậm nét. Sự phân tán các gia đ́nh trở thành thông lệ, một nửa gia đ́nh v́ phận sự phải ở lại thành phố, phần kia sơ tán, và chỉ liên lạc được với nhau bằng thư tín một cách rất khó khăn. Chính phủ kiểm soát người dân và kiểm soát kinh tế chặt chẽ, và đây lại là một dịp để các cán bộ nguyên gốc nhà quê được lên chân, việc này trở thành đề tài cho bao chuyện châm biếm chua chát trong dân gian.

Thành phố trở nên trống trơn, và bom đạn tàn phá những hoạt động kinh tế nhỏ nhoi c̣n lại. Nhà nước đẩy mạnh việc áp đặt kinh tế chỉ huy, mậu dịch quốc doanh, và chính sách tem phiếu. Những tư doanh nhỏ cũng phải lặn hết kể cả những gánh hàng rong. Phố xá hoang vắng. Vài cửa tiệm được mở th́ chỉ dám mở lúc mờ sáng và chiều tối.

Dĩ nhiên rất ít người c̣n nghĩ đến hoạt động văn hóa trong lúc này. Ước muốn duy nhất của dân Hà Nội là đi dạo quanh bờ hồ hay vườn hoa để giải trí, để t́m yên tịnh và không bị theo dơi. Họ t́m giờ phút xả hơi, để đùa dỡn, kể lại chuyện cũ, gợi lại phim ảnh sách báo xưa, phong tục cũ. Họ cần giải tỏa bớt sự căng thẳng của không khí khắc khổ bao quanh: nào bộ đội, công an, đồng phục khắp nơi, nào khẩu hiệu đao to búa lớn nhắc đi nhắc lại, thường xuyên động viên tinh thần cảnh giác, gây mệt mỏi dến tận cùng.

Ai nhắc tới thời văn hóa vàng son xưa kia, dù là vô t́nh hay cố ư, đều bị khiển trách và trù ểm. Nguyễn Công Hoan bị bạc đăi và chết trong nghèo đói. Nhưng trong thâm tâm, ai cũng nhớ và thèm cái thời vàng son xưa cũ, nhớ cả thời 1946-1954 kháng chiến chống Pháp gian khổ, và nhớ cả Hà Nội của thời 1955-1960, v́ dù sao đó cũng là thời gian xây dựng miền Bắc, dễ tạo sự hăng say và lôi cuốn. C̣n nay, mục tiêu mới là đánh chiếm miền Nam, đ̣i hỏi hy sinh và gian khổ hơn nhiều, và người ta thấy khó có thể duy tŕ được sự hăng say của những thời kỳ trước.

Để t́m lối thoát, họ họp nhau trong những quán cà phê lậu, điển h́nh là quán Thủy Hử trên đường đi Văn Miếu, để uống rượu lậu, gặp gỡ các văn nghệ sĩ, họa sĩ, bàn chuyện đời xưa nay và bàn chuyện nghệ thuật. Rượu vẫn là đồ cấm kỵ v́ « uống rượu là uống máu đồng bào». Chính trong bối cảnh đó đă phát sinh ra những lời châm biếm để xả hơi, như XHCN là xếp hàng cả ngày, hay « không có ǵ quí hơn độc lập tự do», khẩu hiệu chín chữ nay chỉ thấy ba « không có ǵ» v́ mới làm được một phần ba cuộc cách mạng. Trong giới họa sĩ th́ nổi nhất là Bùi Xuân Phái, tương đương với Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài trong giới văn sĩ.

Bùi Xuân Phái là một trường hợp đáng lưu ư. Ông đă đi theo Việt Minh vào vùng kháng chiến, nhưng trở lại Hà Nội năm 1952 v́ bị lao phổi. Sau 1954 ông từ chối không di cư vào Nam, ở lại và tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, đặc biệt là vẽ hí họa cho báo Nhân Văn. Ông bị kiểm thảo gay gắt và mất việc làm, sống đói khổ, và sau đó kiếm ăn bằng họa lập thể, vẽ cảnh phố phường khô khan, vắng vẻ, nghèo đói tối tăm. Người ta gọi những họa cảnh đó là « phố phái».

Sau 1968, người Mỹ xúc tiến chương trinh Viêt Nam hoá chiến tranh. Năm sau, Hồ Chí Minh qua đời, và những người thừa kế c̣n tỏ ra thủ cựu và giáo điều hơn trước. Trong Nam th́ chiến dịch Phượng Hoàng bắt đầu. Cả hai bên đều t́m cách thủ lợi tối đa trước khi ḥa đàm Paris mở màn. Mùa hè năm 1972, cộng sản đánh mạnh ở miền Trung, gây nên Mùa Hè Đỏ Lửa.

Vào mùa lễ Giáng Sinh năm 1972 Mỹ dội bom miền Bắc. Bùi Xuân Phái sống chui rúc tối tăm mà vẫn họa được những bức tranh đen trắng mô tả chính cuộc đời hốc hác của ông qua những tác phẩm tự họa, và cũng để mô tả những chết chóc thê thảm quanh ông. Về phần giới văn sĩ, Bảo Ninh mô tả cảnh B52 tàn phá Hà Nội với lời văn hiện thực và sống động, qua những tiếng nổ sét đánh, những vùng trời đặc bụi mịt mù, hơi bom quật vào mặt thọc vào phổi, xé rách tai, “rồi im lặng”.

Chương 17: La ville aujourd’hui (Thành phố ngày nay).

Những nhận xét của Philippe Papin tuy thuộc thời điểm 2001 nhưng tới nay vẫn c̣n giá trị, cùng với vài chuyển hóa dĩ nhiên đă phải có theo thời gian từ đó đến nay. Trong phạm vi của đề tài văn hóa hậu Tây thuộc và hậu Cộng sản, nói về thực trạng đời sống văn hóa xă hội ngày nay tại Hà Nội hẳn là một việc thích ứng.

Papin nhận xét rằng cho đến năm 1990 đường phố Hà Nội không có đèn lưu thông và cũng gần như không có bảng chỉ đường. Nhưng mười năm sau th́ có nhiều thay đổi: bớt đồng phục, bớt nón cối, thêm mũ kết kiểu Mỹ, và thêm váy ngắn. Phong tục cũng đổi, điển h́nh là số người có vợ nhỏ và có điện thoại cầm tay. Người ta không c̣n thấy những giấy phép di chuyển, hay là tem phiếu để mua hàng mậu dịch. Số cư dân Hà Nội từ 700 000 năm 1975, lên 1.5 triệu năm 2000, và 2.6 triệu nếu kể cả ngoại ô.

Hà Nội bừng sống lại một lần thứ hai trong khoảng năm 1990 với đủ sắc thái của Hà Nội thời xa xưa kể cả những hàng rong và những quán cơm bụi. Dân quê lên Hà Nội hầu hết sống tạm không có việc làm và cũng chẳng có giấy tờ tùy thân. Họ mắc vào ṿng luẩn quẩn, v́ chỉ có thể có giấy tờ khi có việc làm, mà họ lên tỉnh chính là để t́m việc. Mật độ dân số của Hà Nội năm 2000 là 2500 người mỗi km vuông, ở những khu buôn bán th́ lên trên 40000 người mỗi km vuông. Kiến trúc đô thị ngày càng vươn cao, năm 2000 dă có 40 ṭa nhà từ 9 đến 11 tầng, và 30 ṭa có trên 12 tầng.

Giới khá giả, như thương gia lớn, cán bộ cao, đại diện công ty nước ngoài, thường xây nhà to ở phía đông Hồ Tây để ở và cho ngoại quốc thuê. Các quan chức giúp đỡ các tài phiệt trong việc xây cất và khai thác, và ngược lại, tài phiệt dùng tiền để bảo đảm sự ổn cố cho khu vực nhà giàu.

Một điểm khác nữa, dù ở khu nào th́ người dân chỉ làm chủ ngôi nhà mà thôi, c̣n Nhà nước mới là chủ đất. Do đó, luôn luôn có sự bao che hay là toa rập giữa chủ nhà và công chức, cán bộ, công an, hay ủy ban nhân dân. Đó là mầm mống của tham nhũng ở mọi cấp. Tại nhiều khu, vào thời 1954-55, phần th́ Nhà nước tịch thu nhà của người di cư vào Nam, phần th́ một số người tự nguyện hiến dâng nhà cho Nhà nước để được yên thân. Nhà nước lấy những nhà ấy cấp cho cán bộ, sĩ quan, theo nguyên tắc th́ nói là chỉ để sử dụng chứ không có chủ quyền, nhưng rồi họ tự ư tu sửa, xây cất thêm, rồi sang nhượng cho nhau y như tài sản riêng của ḿnh vậy.

Hà Nội dĩ nhiên có những vấn đề của mọi đô thị lớn, đứng hàng đầu là ô nhiễm, như nước cống và nước nhà máy đổ xuống Hồ Tây. Nhưng Hà Nội vẫn c̣n những lợi điểm như không quá rộng lớn, có khoảng trống, có tầm mắt thoáng ít vướng rừng bê tông. Và nhất là Hà Nội đa dạng : Hà Nội thời thuộc địa, khu đền đài văn hóa, khu của các « ông lớn», khu buôn bán, khu thường dân. Những khu này không chỉ ở kề nhau mà c̣n gài lồng vào nhau. Ngoài ra vẫn c̣n có những mặt hồ thơ mộng để soi bóng.

Vài cảm nghĩ, thay lời kết

Người điểm sách nghĩ rằng đời sống văn hóa xă hội của Hà Nội là phản ảnh – ít ra là đối với miền Bắc – của nền văn hóa đa dạng đang uyển chuyển biến hóa. Văn hóa Việt Nam vừa duy tŕ căn tính của nó, vừa liên tục đón nhận hay là chịu đựng ảnh hưởng của Bắc thuộc, rồi ảnh hưởng của Tây thuộc, và nay là ảnh hưởng của thời đại Cộng sản.

Dù là đón nhận hay chịu đựng, mỗi thời lệ thuộc đều để vương lại một sắc thái riêng. Không có ranh giới khúc triết giữa ảnh hưởng này và ảnh hưởng kia mà chỉ có một tiến tŕnh chuyển hóa liên tục, làm cho những luồng ảnh hưởng ấy xen kẽ vào nhau, khi th́ ḥa điệu và thăng hoa, khi th́ va chạm và vẩn đục. Lịch sử đi qua và để lại dấu ấn không tránh được của mỗi thời đại.

Nhưng chính lịch sử cũng sẽ làm cái công việc tế nhị là gạn đục khơi trong. Sau cùng c̣n lại là một sự kết tinh của những trang sử vui cũng như buồn, để tô điểm thêm cho căn tính văn hóa của ta bằng cách phát huy những cánh hoa đẹp và tương hợp, và loại trừ những hạt sạn xấu và tương khắc, theo phương thức tự nhiên đào thải. Lịch sử có thăng có trầm, đường đi lúc quanh lúc thẳng. Nhưng ở mọi nẻo đường, ngoài Bắc cũng như trong Nam, chốn thôn xă cũng như nơi thành thị, ngày nào mà nhân tính, nhân t́nh của con người Việt Nam c̣n phân định được đúng và sai, hay và dở, đẹp và xấu, phải và quấy, th́ trong bối cảnh đường dài của tương lai, bên cạnh những hằng số bất biến của văn hóa Việt Nam, tính đa nguyên của nó có thể tạo thêm phong phú, và văn hóa luôn luôn có chiều hướng đi lên. Thiển nghĩ chúng ta cũng như thế hệ con em chúng ta có lư do để lạc quan và tin tưởng.