Từ năm 1995, chúng tôi đă viết một số nghiên cứu về thời b́nh-minh của
văn-học chữ quốc ngữ cũng là thời kỳ tiếp xúc ban đầu của văn-học Việt-Nam với
văn-học Pháp; bài này chúng tôi trở lại để truy t́m tư trào hiện đại và
ảnh-hưởng của văn-học Âu-tây ở hai tác-giả tiền phong Nguyễn Trọng Quản và Hồ
Biểu-Chánh trong viễn tượng phân tích và phê phán. Việc tiếp xúc văn hóa Tây
phương qua thể-loại, kỹ thuật và bút pháp, nếu có th́ chúng đă ảnh-hưởng như thế
nào trong đường hướng và kỹ thuật sáng tác của hai ông; cũng như định vị trí của
tác-phẩm các ông trong tranh luận về chủ nghĩa văn-hóa thực-dân, hậu thực-dân và
hậu ngoại-thuộc.
1- Bối cảnh ra đời của thể-loại tiểu-thuyết
Để hiểu bối cảnh ra đời của thể loại tiểu-thuyết chữ quốc ngữ với tác-phẩm đầu
tiên hết thảy, truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản, chúng ta phải
ngược đường lịch-sử lùi đến Trương Vĩnh Kư, thầy của ông. Thật vậy, sau chuyến
Âu-du 1863-1864 với tư cách thông ngôn chính thức cho sứ bộ Phan Thanh Giản sang
Pháp điều đ́nh xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông, Trương Vĩnh Kư sau những tiếp
xúc với văn minh Âu-châu có thể đă cho ông những kỳ vọng về khả năng canh tân và
phát triển phong hóa và văn minh Việt-Nam bằng cách tiếp nhận văn hóa và kỹ
thuật phương Tây, cùng lúc làm sống lại các thành tố văn hóa cố hữu của
Đông-phương. Năm 1880, Trương Vĩnh Kư cũng từng nhắn gửi đoàn sinh viên trong đó
có Diệp Văn Cương và Nguyễn Trọng Quản do Trương Minh Kư hướng dẫn sang Alger (Bắc
Phi) du học; ông đă tiễn dặn họ: «Hăy đi đi và hăy trở về, như những con chim,
biết tha những cọng cỏ khô làm tổ hạnh phúc cho dân tộc ḿnh». Trương Vĩnh Kư đă
là thí dụ cụ thể và sống động của sự gặp gỡ đớn đau giữa hai thế giới mới-cũ,
đông-tây, bắc-thuộc và thực-dân!
Khi viết Thầy Lazarô Phiền, trong lời tặng bằng tiếng Pháp gởi Diệp Văn Cương và
các bạn Việt-Nam cùng học ở trường Trung học Alger, Nguyễn Trọng Quản đă nhắc
lại «kỷ niệm những buổi tối êm đẹp vào dịp hè đi dạo trong vườn Merenge dưới ánh
trăng mập mờ, miệng ngậm điếu thuốc bị cấm hút, mơ ước cho xứ Nam Kỳ yêu quư của
chúng ta một tương lai xán lạn tiến bộ và văn minh, và cuốn sách nhỏ này là một
đóng góp thực hiện mơ ước thuở xưa» (... nous allions rêvant tout haut pour
notre chère Cochinchine, un avenir brillant de lumière, de progrès et de
civilisation …) (1). Nguyễn Trọng Quản ngoài cuốn Thầy Lazarô Phiền đă làm báo,
viết sách giáo khoa, dạy học; quận công Diệp Văn Cương viết báo và chủ bút tờ
Phan Yên Báo 1868 một thời gian ngắn, Trương Minh Kư làm báo, dịch và viết sách
(Tuồng Joseph 1887, thơ La Fontaine 1884,... ), v.v. Như vậy đă rơ, Trương Vĩnh
Kư và các môn sinh đă thực sự tin tưởng ở quá tŕnh tiếp thụ văn hóa Âu-tây sẽ
giúp Việt-Nam thời bấy giờ đạt được văn minh tiến bộ và từ đó, thủ đắc độc lập,
một ḷng tin xuất phát từ quan sát thực tế và ḷng yêu nước không thể nghi ngờ
dù ở những thập niên cuối của thế kỷ XX, ư hướng và hành xử của họ đă bị xuyên
tạc và kết án vu vơ!
Riêng Nguyễn Trọng Quản đă đi đến thái độ tiếp thu kỹ thuật Tây phương và ở đây
là kỹ thuật viết tiểu thuyết, với lời văn của ngôn-ngữ đời thường. Tuy nhiên
người khởi xướng việc viết văn như lời nói thường không phải là Nguyễn Trọng
Quản, mà là thầy của ông: Trương Vĩnh Kư. Nhưng là một học giả, họ Trương chỉ
thực hiện chủ trương này trong văn khảo cứu hay khi ghi chép chuyện đời xưa và
du hành. Chính Nguyễn Trọng Quản, với truyện Thầy Lazarô Phiền, mới là người đầu
tiên đưa lời nói đời thường vào sáng tác văn-chương.
Khi Nguyễn Trọng Quản viết và xuất bản Thầy Lazarô Phiền th́ khắp nước Việt-Nam
là thời thịnh hành của văn-học chữ Hán và chữ Nôm: truyện văn vần chữ Nôm đang ở
tột đỉnh, sau Truyện Kiều là những Song Tinh Bất Dạ của Nguyễn Hữu Hào đầu thế
kỷ 18, Truyện Săi Văi (1750) của Nguyễn Cư Trinh, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đ́nh
Chiểu, v.v. Mặt khác, ở Nguyễn Trọng Quản có thể có ảnh hưởng của văn tự-sự Nôm
Công giáo (và quốc-ngữ bước đầu) vốn đă trưởng thành qua nhiều thế kỷ như một
ḍng văn-học tôn-giáo đặc thù với những nét riêng, qua các sách kinh của Nhà
Chung, «Truyện các Thánh» từ Maiorica (thế kỷ XVI) đến sau đó. Nguyễn Trọng Quản
cũng như thầy ông và các trang lứa đương thời (cả Trương Minh Kư, người ngoài
Công-giáo, tác-giả Tuồng Joseph) đă làm quen với văn như ngôn-ngữ đời thường của
văn xuôi Công giáo. Trong những «Truyện các Thánh» chẳng hạn, văn biền ngẫu rất
ít và việc sử-dụng từ Hán Việt cũng khá hạn chế, lời văn ngắn gọn, thanh âm (để
được đọc) mà ngữ pháp cũng đă khá hệ thống cũng như các tính từ, từ láy cùng từ
tiếp câu được sử-dụng khá tinh luyện - nói chung là một nền văn-học ‘bạch thoại’
khác xa văn-học ‘bác học’ ảnh-hưởng chữ Hán.
2- Thầy Lazazo Phiền
Tác-giả Thầy Lazarô Phiền là Nguyễn Trọng Quản, sinh năm 1865 và mất 1911. Ông
là môn sinh và về sau làm con rể của Trương Vĩnh Kư (NTQ chồng bà Trương Thị Tự
và là thân phụ Nguyễn Trọng Đắc, người dịch cuốn truyện Thầy Lazaro Phiền ra
tiếng Pháp) (2). Ông từng là bạn đồng học với Diệp Văn Cương tại Lycée d’Alger.
Về nước, ông làm hiệu trưởng Trường Sơ Học Nam-kỳ (Collège d’Adran) tại Sàig̣n,
viết bài đăng trên Gia Định Báo và là người đầu tiên minh họa ấn phẩm tiểu
thuyết chữ quốc ngữ. Ngoài Thầy Lazarô Phiền, ông c̣n có những tựa «Sách làm rồi
- đang in» ghi trên hàng chữ «bản in nhà hàng Rey et Curiol» là một nhà in/xuất
bản khác, nhưng nay không dấu vết thư tịch Pháp cũng như Việt Nam, đó là «Truyện
bốn anh tài Chà và cùng truyện tầm phào chẳng nên đọc», «Kim vọng phu truyện» và
tác-giả một số bài báo đăng trên Bulletin de la Société des études indochinoises
năm 1888) (3).
Văn-học chữ quốc ngữ Việt-Nam khởi đầu với tờ Gia-Định Báo năm 1865 và Nguyễn
Trọng Quản là nhà văn tiên phong mở đường cho thể loại tiểu thuyết với truyện
Thầy Lazazo Phiền, phụ đề ‘conte moderne’, được sáng tác năm 1886; ông viết tựa
đề ngày 1 tháng 12 năm 1886, và được nhà in J. Limage, Librairie - Editeur,
đường Catinat Sàig̣n, ấn hành năm 1887 ấn bản đầu in 3 ngàn cuốn và được tái bản
nhiều lần (4). Lịch sử cho biết rằng ở Tây phương, thế giới giả tưởng của tiểu
thuyết đă đến với người đọc khi Walter Scott xuất bản Ivanhoé năm 1819, như vậy
chỉ gần 70 năm sau, thể loại tiểu-thuyết theo định nghĩa này đă đến đất nước
Việt Nam. Truyện chỉ gồm 28 trang, khổ 12 x 19 cm, nhưng đă có những tiêu chuẩn
của một tiểu thuyết: một câu chuyện liên tục, t́nh tiết gây cấn, có phân tích
tâm lư, đối thoại và nhân vật có cá tính. Văn bản ngắn, một loại tiểu-thuyết
chớp nói theo ngôn-ngữ ngày nay, nhưng tác-giả đă ghi lại tổng thể của câu
chuyện và nắm bắt được hết cá-tính của các nhân vật. Nói đến cá tính v́ truyện
Nôm trước đó đă có nhưng ở thể loại văn vần và nhân vật luôn điển h́nh: Thiện
luôn thắng Ác và ở hiền th́ gặp lành. Truyện được chia làm 10 phần và đă là một
tiểu thuyết đúng nghĩa như nhiều tiểu thuyết Âu châu thời tác giả: tác giả viết
một câu chuyện, về một con người, một vài nhân vật, trong tương giao với những
người khác, với cái nh́n về những con người đó. Tác giả tin tưởng và đề cao một
số lư tưởng văn hóa đạo đức căn bản của thời đại, tin ở một trật tự và tin ở
lương tâm con người. Câu chuyện về thầy Lazarô Phiền nhưng tác giả c̣n cho thấy
con người sống ra sao, xử sự thế nào, t́nh cảm biến chuyển ra sao, tin tưởng đạo
đức luân lư thế nào, v.v. Một tiểu thuyết «ngắn hơi», thắt mở đầy đủ, như một
truyện vừa. ‘Tiểu thuyết’ là một thể loại văn-chương, không cứ phải dài, và c̣n
có thể là văn vần. Hơn nữa, tác giả đă gọi tác phẩm của ḿnh là ‘truyện’ tức
tiểu thuyết để phân biệt với loại truyện-chí tức truyện Tàu!
Trong lời Tựa viết tại Khánh Hội ngày 1 tháng 12 năm 1886, Nguyễn Trọng Quản cho
biết: « ‘Cao nhơn tất hữu cao nhơn trị; học chí như ngu thị vị thiền’! Ấy là lời
đứng hiền nhơn ta đă nói thuở xưa; có lời khác rằng: ‘dầu học thế nào th́ tôi
cũng biết có một điều nầy mà thôi: là tôi chẳng biết ǵ hết’! Ấy là tiếng một
đứng trong bảy đứng khôn ngoan nước Grèco đă xưng ra đời trước. Bởi vậy, lấy đó
làm gốc, cùng xem lại tài trí tôi là như tro bụi, khi sánh với nhiều kẻ đời ta
th́ tôi chẳng có ư làm sách nầy cho đặng khoe tài hay khoe trí; tôi một có ư
dụng lấy tiếng thường mọi người hàng nói mà làm ra một truyện hầu cho kẻ sau coi
mà bày đặt cùng in ra ít nhiều truyện hay; trước là làm cho con trẻ ham vui mà
tập đọc, sau là làm cho dân các xứ biết rằng: người Annam sánh trí sánh tài th́
cũng chẳng thua ai «. Ông thêm: «Đă biết rằng: xưa nay dân ta chẳng thiếu chi
thơ, văn, phú, truyện nói về những đứng anh hùng hào kiệt, những tay tài cao chí
cả rồi đó; mà những đứng ấy thuộc về đời xưa chớ đời nay chẳng c̣n nữa.
Bởi đó tôi mới giám bày đặt một truyện đời này là sự thường có trước mắt ta luôn»
(5). Qua những lời trên chúng ta hiểu được quan điểm về sáng tác của người viết
sách đồng thời tác giả c̣n muốn làm sao cho người các nước khác biết rằng người
Việt-Nam «nếu đem sánh trí sánh tài th́ cũng chẳng thua ai». Khẳng định dùng chữ
quốc-ngữ để sáng tác cho hôm nay, tức là ông đă dứt khoát muốn cắt đứt ảnh-hưởng
Bắc-thuộc! Lời Tựa này của Nguyễn Trọng Quản khẳng định bước đầu của ông về
thể-loại tiểu-thuyết văn xuôi và bằng chữ quốc-ngữ. Và Thầy Lazarô Phiền đă
chứng tỏ có h́nh thức và nội dung, ư thức văn-học cùng quan niệm thẩm mỹ như một
tiểu-thuyết Âu-tây thời đó. Chúng tôi tạm xem tiểu thuyết là một thể loại, có
thể ngắn, như Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản; và khi nói ‘truyện ngắn,
truyện dài’ là gọi theo h́nh thức tác phẩm. Tuy nhiên chưa có thống nhất cách
dùng, v́ trước đây tiểu thuyết c̣n được phân biệt trường thiên và đoản thiên; do
đó có người đă gọi truyện ngắn là tiểu thuyết như Nhất Linh và Khái Hưng ở b́a
tập truyện ngắn Anh Phải Sống đă ghi là «tiểu thuyết». Bùi Đức Tịnh (1974) (6)
gọi truyện Thầy Lazarô Phiền là ‘tiểu thuyết’ trong khi Nguyễn Văn Trung (1987)
và Thế Uyên (1991) th́ xem đây là «truyện ngắn» quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam,
có thể do số trang (7).
Tiểu thuyết Thầy Lazazo Phiền thuộc loại tự-sự, cốt truyện như sau: Đêm
12-1-1884, tác giả xuống tàu tại bến Sàig̣n đi Bà-Rịa, lúc lên pont (sàn) tàu,
tác giả gặp một thầy tu, Lazazo Phiền, thầy có tâm sự buồn đang trên đường đi
Vũng Tàu nghỉ dưỡng bệnh. Thầy Phiền tâm sự năm 1850 thầy được 13 tuổi th́ mẹ
mất, sống với cha là Trùm họ đạo ở Đất Đỏ, Bà-Rịa. Năm 1860, Pháp đánh Biên Ḥa,
phía Việt-Nam, những người có đạo bị bắt cầm tù, khắc trên mép tai 4 chữ « Biên
Ḥa tả đạo «. Năm 1862, Pháp đến Bà-Rịa th́ nhà tù bị quan Annam đốt thiêu ba
trăm tù nhân, số c̣n sống chạy thoát chừng mười người trong ấy có thầy. Hai chân
bị phỏng, thầy té xỉu bên bụi cây, được quan ba Pháp cứu sống và nuôi dưỡng sau
đó quan ba Pháp về nước gửi thầy cho đức cha Lefèvre, thầy được học chữ Quốc
ngữ, đến năm 1864 vào học trường chữ La tinh. Ở trong trường, thầy kết nghĩa với
người bạn là Vero Liễu, người này có cô người em bạn d́ mà về sau cha mẹ anh này
đem gả cho thầy. Thầy xuất thân trường College d’Adran nên đi làm thông ngôn tại
Bà-Rịa. Nơi đây thầy có quen quan Pháp nên hay vào đồn ăn cơm, có vợ viên quan
ba Pháp là người Việt sanh tâm yêu thầy nhưng thầy trốn tránh. Trong khi đó Liễu
thôi làm việc ở Sàig̣n, xuống Bà-Rịa buôn ngựa hay đến ở nhà thầy, xảy ra chuyện
thầy được thơ nặc danh tố cáo bạn và vợ xằng bậy, nên thầy lập tâm dẫn lính phục
kích bắn chết Liễu, rồi nửa tháng sau thầy lại dùng thuốc độc của người Thượng
dạy bỏ vào siêu thuốc của vợ thầy; vợ thầy uống lầm ngă bệnh ngày càng trầm
trọng và hơn mười ngày th́ mất. Trước khi vợ thầy mất, có lẽ đoán được mưu độc
của thầy, nhưng bà chỉ nói: «Tôi biết v́ làm sao mà tôi phải chết, song tôi cũng
xin chúa thứ tha cho thầy». Sau khi chôn cất vợ xong, thầy Phiền xin thôi việc
trở về Sàig̣n xin vào tu nhà ḍng Tân Định và chuyến tàu ấy là lúc thầy đi dưỡng
bệnh. Khi tác giả về đến Sàig̣n ngày 27-1-1884 th́ được thơ của thầy Phiền viết
từ Bà-Rịa ngày 25-1-1884 kể lại là khi thầy về đến nơi, người vợ của quan ba
Pháp kia hối hận nên viết thư cho thầy thuật lại là chính bà đă cáo gian cho vợ
thầy và Vero Liễu. Thầy Lazazo Phiền chết ngày 27-1-1884.
Truyện chỉ gồm 28 trang nhưng đă gây được phần nào sự chú ư v́ viết theo lối Tây
phương, được A. Chéon, phó công-sứ phụ trách các lớp học tiếng Việt và Hoa, dịch
và chú thích vào những năm cuối thế kỷ XIX (in trong tập Recueil de cent textes
annamites annotés et traduits et faisant suite au cours d’annamite (8), và đến
năm 1934, được Nguyễn Trọng Đắc dịch trọn văn-bản, L’histoire de Lazarô Phiền
(9). Từ sau 1974, giai đoạn văn-học thời khởi đầu từ trong Nam được chú ư đến và
trong cũng như ngoài nước, đă có những tiểu luận và chương sách khai phá, nghiên
cứu của người Việt cũng như Mỹ, Pháp. Nay th́ vị trí tiên phong và giá trị
văn-chương của truyện Thầy Lazarô Phiền đă được hiển nhiên xác nhận.
Thầy Lazarô Phiền đă mở đường cho thể loại tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ vừa
hiện đại hóa thể loại này, nhưng có thể quá mới, quá «Tây», quá cách mạng, ở vào
cái thời gọi là chuyển tiếp từ văn-học Hán-Nôm truyền thống sang chữ quốc ngữ,
nên đă không gây được sự chú ư, không gây được phong trào và không được tiếp nối
ngay. Tác-giả Nguyễn Trọng Quản đă khá cô đơn khi muốn đem thể loại tiểu thuyết
hiện đại đến với người đọc, thực hiện giấc mơ hiện đại về văn hóa mà cũng có thể
xem là cuộc ‘cách mạng văn hóa’ đầu tiên! Khi viết truyện này, tác giả cho biết
ông đă thực hiện «mơ ước cho xứ Nam kỳ thân yêu của chúng ta một tương lai chói
rạng ánh sáng, tiến bộ và văn minh (1). Nói như Bằng Giang (10), ông là một «tác
giả cô đơn không có bạn đồng hành trong thể loại của ḿnh» - tức tiểu thuyết,
cho đến một năm trước khi ông qua đời (1911), tức 23 năm sau, lúc ấy mới có Phan
Yên Ngoại Sử của Trương Duy Toản và Hoàng Tố Anh Hàm Oan của Trần Thiên Trung
tức Trần Chánh Chiếu, dù hai tác-phẩm này vẫn mang ảnh hưởng chữ Hán. Trong
không khí của những phong trào vận động Minh Tân và Đông Du hồi đầu thế kỷ, Trần
Thiên Trung đă viết lời Tựa như sau: «Từ ngày các đấng cao minh trong Lục châu
bày diễn dịch các thứ truyện chữ nho ra quốc âm, th́ ít thấy có truyện nào nói
việc trong xứ ḿnh ; các truyện đang bán đương thời là truyện Tàu. Nay tôi ngụ ư
soạn một bổn nói về việc trong xứ ḿnh, dùng tiếng tầm thường cho mọi người dễ
hiểu đặng. Ấy là làm thử, nên chỗ nào có sơ siểng, xin chư quí vị khán quan dung
túng...» (11) - tức là ông tán thành quan niệm hiện-đại của Trương Vĩnh Kư và
Nguyễn Trọng Quản!
Tiểu thuyết hiện đại là một thể loại văn xuôi được hư cấu, theo những chủ đề xác
định hay có mục đích phản ánh bức tranh xă hội hiện thực rộng lớn và những vấn
đề của con người, với phương tiện tường thuật, kể chuyện, qua những nhân vật đặc
thù, với những không gian và sự kiện người đọc chưa từng thấy biết. Lối viết
trong Thầy Lazarô Phiền có thể đă theo năo-trạng (mentality) Tây phương và người
Công-giáo (do đó người Việt Công-giáo dễ đón nhận v́ khá quen thuộc) nên quá mới
và do đó xa lạ đối với cảm nhận của độc giả nói chung vốn đă quen thuộc với lối
viết truyện-chí của Tàu: câu chuyện bao giờ cũng có hậu, kẻ lành được phục hồi,
kẻ ác bị trừng trị, với câu văn biền ngẫu đối xứng, truyện có hồi, đoạn, vào đầu
báo hiệu trước những sự kiện sắp kể, ở cuối hẹn tiếp, v.v.
Truyện của Nguyễn Trọng Quản đă rất mới về tâm lư nhân vật: trong Thầy Lazarô
Phiền, nhân vật chính không hề chất vấn vợ cho ra phải lẽ, cứ im lặng, rồi hành
động theo sự nghi ngờ, ghen tương và quyết đoán của ḿnh. Bà vợ của thầy cũng
vậy, tuyệt đối nín lặng, hiền lành, chung thủy, chịu chết một cách oan uổng, chỉ
trước khi chết mới nói một lời. Thái độ của vợ chồng thầy Phiền đưa đến bi kịch
v́ không có đối thoại, trao đổi, để giải tỏa ngộ nhận... C̣n cô vợ tên quan Ba,
kẻ gây ra tội ác, th́ lại không bị trừng phạt ǵ cả! Ba nhân vật chính trong
truyện không phù hợp với tâm lư người miền Nam-kỳ, thường nói thẳng và không giữ
bụng khi không cần thiết. Phải chăng đây là một lư do khác khiến truyện Thầy
Lazarô Phiền đă không được đón nhận và gây được phản ứng tích cực? Ngoài ra,
cách xây dựng nhân vật ở đây đặc biệt khác người, có thể v́ nhân vật có thật và
lại chỉ là những người thường mà không phải là những anh hùng liệt nữ như chính
tác giả đă giới thiệu trong bài Tựa rằng «những đứng anh hùng hào kiệt, những
tay tài cao chí cả rồi đó; mà những đứng ấy thuộc về đời xưa chớ đời nay chẳng
c̣n nữa. Bởi đó tôi mới giám bày đặt một truyện đời này là sự thường có trước
mắt ta luôn, như vậy th́ sẽ có nhiều người sẽ lấy ḷng vui mà đọc; kẻ th́ cho
quen mặt chữ, người th́ cho đặng giải phiền một giây ...» (5). Ư hướng và kỹ
thuật của Thầy Lazarô Phiền đă mở đường soi lối cho các tiểu thuyết tâm lư về
sau.
Thật vậy, truyện Thầy Lazarô Phiền đă khác với văn-chương tự sự truyền thống với
đặc điểm là diễn tiến câu chuyện thường phải tuân xuôi theo kết cấu cổ điển hội
ngộ - lưu lạc - đoàn viên. Nguyễn Trọng Quản rời bỏ cái bố cục và trật tự quy
tắc cổ điển đó, toàn bộ câu chuyện xoay quanh mối quan hệ giữa ba nhân vật: thầy
Lazarô Phiền, vợ của thầy và người bạn chí cốt, Vêrô Liễu. Kết thúc truyện cũng
là cái chết của cả ba nhân vật, người này nối tiếp người kia. Tự sự ở Nguyễn
Trọng Quản nhắm thông điệp và kẻ mang thông điệp, do đó nội dung là những phân
tích tâm lư và miêu tả đời sống nội tâm. Thể văn tự sự, trong đó mọi diễn tiến,
tư duy tập trung vào thân phận của một nhân vật, từ khởi điểm đến hậu quả. Tự sự
ở đây được khai triển để đạt đến một chủ đích (nào đó) hoặc đề tài của câu
chuyện, với những kỹ thuật kết cấu và thắt mở câu chuyện lúc đó hăy c̣n xa lạ
với người đọc.
Tác giả mở đầu truyện như sau: « Ai xuống Bà-rịa, mà có đi ngang qua đất thánh ở
trong Cát tại làng Phước-lễ, th́ tôi xin bước vô đất thánh ấy, kiếm cái mộ có
cây thánh giá bằng ván, sơn nửa đen nửa trắng, gần một bên nhà thờ những kẻ
Tử-đạo mà thăm mồ ấy kẻo tội nghiệp! V́ đă hai năm nay không ai thăm viếng không
ai màng ngó tới.
«Mồ đó là mồ một thầy đă chịu lương tâm ḿnh cắn rứt đă mười năm, bây giờ mới
đặng nằm an nơi ấy. «Tôi xin phép thuật lại truyện tôi đă gặp thầy ấy và làm sao
thầy ấy đă tỏ chuyện ḿnh ra cùng tôi, như sau nầy.» (Tr. 5).
Kỹ thuật kết cấu truyện Thầy Lazarô Phiền, dù là tác-phẩm bước đầu nhưng không
thô sơ non kém như nhiều người nghĩ. Thô sơ nếu có th́ đó là tâm thức của con
người ở vào thời nửa cuối thế kỷ XIX. Do đó để phê phán, phải đặt tác-phẩm trong
bối cảnh và thời đại xuất hiện và không thể dùng nhận thức văn-học hay tiến bộ
văn minh của hôm nay. Nếu đặt truyện Thầy Lazarô Phiền trong tiến tŕnh văn-học
Việt Nam, nghĩa là trong sự đối chiếu so sánh với những tác phẩm trước và sau
nó, nhà nghiên cứu không thể không ghi nhận sự đổi mới kỹ thuật của truyện. Sự
đổi mới ấy bất ngờ và mạnh mẽ đến nỗi những người sau đă không tiếp thu ngay.
Hơn nữa, Nguyễn Trọng Quản có văn phong của ông. Viết một tiểu thuyết là kể một
câu chuyện, với khả năng tưởng tượng và khéo dùng h́nh ảnh, ngôn-ngữ và nhắm
người đọc (đăng báo, xuất bản). Yếu tố ‘câu chuyện’ có thời sẽ mất quan trọng,
nghĩa là không nhất thiết phải có một câu chuyện và không phải tuân theo, tŕnh
tự thời gian của các sự kiện, biến cố trong câu chuyện. Thường kỹ thuật tiểu
thuyết thâu tóm ở nhân vật, bối cảnh, biến cố khởi đầu, các động tác dồn dập đưa
đến bất ngờ hoặc tột đỉnh tiểu thuyết và cuối cùng kết thúc chuyện. Chủ đề, nội
dung,... quan trọng ít nhiều, nhưng tác giả, người sáng tạo, dĩ nhiên phải làm
chủ t́nh h́nh, chủ chiếc đũa sáng tạo. Chính kỹ thuật viết khiến các tác giả
khác nhau, cũng như ở cách truyền đạt và sử-dụng ngôn từ. Một cuốn tiểu thuyết,
với độc giả trước hết là một ‘câu chuyện’. Nhà tiểu thuyết đích thực là người
biết ‘kể’ bằng ngôn-ngữ một câu chuyện ra sao. Xây dựng cốt truyện là sợi chỉ
nối các thay đổi của hành động, nhân vật và tư tưởng, một cốt truyện chặt chẽ
phải lôi cuốn độc giả vào quá tŕnh sáng tạo tác phẩm. V́ thế, nó đồng thời phải
khả tín và hấp dẫn.
Nhưng trên và trước hết, tiểu thuyết là chuyện không thật, chuyện ‘bịa đặt’ (tức
hết c̣n tham chiếu theo kiểu ‘trước đèn xem chuyện Tây Minh’ hay ‘cảo thơm lần
giở trước đèn’,... ), nhưng ng̣i bút của tác-giả có biến bịa thành như thật mới
hấp dẫn được người đọc, tức phải hợp lư, có lư giải, để người đọc có thể tin
được. Khác với nghệ thuật «bịa» theo kỹ thuật minh họa, rập khuôn cái có sẵn,
dùng tiểu thuyết như một phương tiện, trở thành con thuyền chở ư thức hệ, trở
thành tuyên truyền, lẩn quẩn trong ṿng đai phương tiện này, người gọi là làm
văn-chương sẽ không phân biệt được hiện thực và cái phải thật, cái thật và cái
như-thật, v́ một truyện có thể có thực trong đời sống hằng ngày, hư cấu như
thật. Trong khi đó, tiểu-thuyết như là nghệ thuật hư cấu (fiction) sáng tạo nên
một cấu trúc chữ nghĩa từ tưởng tượng và từ những thực tại và sự kiện của đời
sống hàng ngày, đó là hai đặc tính cùng hiện hữu ở thể loại tiểu-thuyết: hư cấu
và sáng tạo. Hư cấu cho phép tác-giả làm sống lại những biến cố lịch sử và đồng
thời nhân vật cũng không buộc phải theo nguyên mẫu ngoài đời. Nguyễn Trọng Quản
đă khéo léo dùng kỹ thuật đồng hóa, ông dùng những phương thức chọn lọc, tổng
hợp và sáng tạo để vẽ lại một bức tranh của đời sống. Do đó, hư cấu nghệ thuật
trong tiểu thuyết chứng minh tài sáng tạo của nhà văn. Kỹ thuật hư cấu do đó đă
bắt đầu với Nguyễn Trọng Quản rồi đến Trương Duy Toản và Trần Thiên Trung, chứ
không chỉ khởi từ Hồ Biểu-Chánh!
Khác với văn-chương cổ điển, Tây cũng như Đông-phương, các tác-giả thuộc thể
loại tiểu-thuyết từ Walter Scott (Ivanhoé 1819) đă tổ chức cấu trúc của tác-phẩm
như một «thế giới», hoặc một cách nh́n thực tại, mà các liên hệ chằng chịt hay
thô sơ đă được tổ chức. Tả thực đă là một thành tố quan trọng của quan niệm về
tiểu thuyết của Nguyễn Trọng Quản, v́ trước đó văn-học truyền thống chỉ có kỹ
thuật miêu tả theo lối chấm phá. Với phương Tây, tiểu thuyết hiện đại đi đôi với
kỹ thuật miêu tả và tả thực. Tả thực c̣n có nghĩa là đối lập với những ǵ hoang
đường, dị đoan thường bắt gặp trong các chuyện kể thần thoại và trong các truyện
dịch từ chữ Hán. Với Thầy Lazarô Phiền, tả thực ở đây gắn liền với phạm trù của
cái có lư. Hoặc nói cái thực v́ không cần tưởng tượng, v́ cái thực đă quá sức
tưởng tượng rồi, đă đủ khả năng gây xúc động nơi người đọc. Trong chiều hướng
đó, tác giả có thể ghi rơ địa danh, thời gian xảy ra câu chuyện, hoặc dựa vào
một biến cố lịch sử vừa qua c̣n nóng hổi đang ám ảnh hay gây xúc động người
đương thời. Truyện Thầy Lazarô Phiền đă thể hiện những điều trên. Câu chuyện có
nhiều tiểu tiết, sự kiện được tác-giả tŕnh bày như t́nh cờ hoặc không có liên
hệ, nhưng đến cuối truyện người đọc mới thấy mối liên hệ ngọn ngành như sự xuất
hiện của cô vợ của quan ba người Pháp. Mặc khác, nghệ thuật tiểu thuyết trong
Thầy Lazarô Phiền gần với kỹ thuật kịch: cốt truyện mang tính chất bi kịch, có
nhiều t́nh tiết éo le, nhiều mâu thuẫn và kịch tính; tác-giả từ từ tiết lộ các
bí mật từ nhỏ đến lớn, bắt buộc người đọc phải theo dơi, làm cho độc giả bị hấp
dẫn mà nhập vào câu chuyện. Đoạn kết truyện thật là một bất ngờ: tác-giả tiết lộ
bí mật về bức thư của thủ phạm, người vợ tên quan ba đă yêu thầm thầy Lazaro
nhưng bị thầy lánh xa. Độc giả hoàn toàn bất ngờ, v́ suốt câu chuyện đến đó, tác
giả chỉ nói phớt qua về người đàn bà này. Thầy Phiền sinh năm 1847. Năm 1864,
sau một năm rưỡi học chữ quốc ngữ, thầy vào học trường La-tinh. Năm 1866, thầy
học trường d’Adran. Giữa năm 1873, vợ chết, thầy đi tu. Năm 1882, thầy được
phong chức. Ngày 7 tháng 1 năm 1884, thầy mất. Năm sau, 1885, ‘tôi’, người trần
thuật, viếng mộ Lazarô Phiền. Việc kê khai ngày tháng quá đầy đủ và chi tiết,
nhất là thời điểm câu chuyện kết thúc quá gần thời điểm viết và xuất bản (viết
năm 1886, xuất bản năm 1887), làm cho người đọc dễ quên đây là chuyện hư cấu,
trái lại họ có cái ảo giác một câu chuyện có thật, nóng hổi nữa. Cái ảo giác này
càng tăng khi tác giả hai lần sử-dụng chú thích, như muốn chứng tỏ điều Lazarô
Phiền kể là đúng sự thực. Nguyễn Trọng Quản lại là người Bà-Rịa nơi xảy ra câu
chuyện. Có thể nói truyện Thầy Lazarô Phiền là cuốn truyện đầu tiên sử-dụng kỹ
thuật dùng những chi tiết có vẻ không hư cấu vào chuyện hư cấu và sáng tạo nên
cái hư cấu.
Văn-học hiện-đại sẽ là văn-học của cái Tôi đặc thù, ngược với cái Ta điển h́nh
của truyện chí và truyền thống. Thầy Lazarô Phiền là tác-phẩm bước đầu đă đặt
nặng tính đặc-thù khiến nhân vật, sự việc có một nội dung độc đáo và khác cái
chung. Nhân vật có chân dung nhưng cũng phải có những phẩm tính bên trong, có
nội tâm, ước vọng,... Ở đây, Thầy Lazarô Phiền đă khá xa với những tính ước lệ,
điển h́nh và lư tưởng của ḍng văn-chương trước (và cả sau) đó.
Một đặc điểm nổi bật khác của văn-chương tự sự truyền thống, là kể chuyện theo
thời gian một chiều. Truyện Thầy Lazarô Phiền là tác-phẩm đầu tiên không theo
lối tự sự theo ḍng thời gian một chiều đó. Mở đầu truyện là h́nh ảnh ngôi mộ
Lazarô Phiền và kết thúc cũng là h́nh ảnh cùng ngôi mộ đó, một kiểu kết cấu măi
gần nửa thế kỷ sau, thời văn-học tiền chiến, mới thấy sử-dụng. Mặt khác, ngay từ
đầu câu chuyện tác-giả đă tiết lộ cho biết nhân vật chính sẽ chết, có nghĩa là
truyện không nhắm những t́nh tiết ly kỳ, trắc trở, mà điểm chính là cái thế giới
nội tâm của nhân vật với những thăng trầm tâm lư. Tác giả không kể lại một câu
chuyện, mà thật ra là muốn nhân câu chuyện để diễn tả những dằn vặt tâm hồn và
hối hận trễ tràng của một người v́ ghen tuông đă trót phạm tội ác. Nói toàn bộ
câu chuyện xoay quanh tâm lư nhân vật là nghĩa như vậy!
Cũng thật là thú vị khi giọng trần thuật trong truyện Thầy Lazarô Phiền kể
chuyện khách quan, như ở ngoài câu chuyện, để diễn biến câu chuyện được tự do,
viết theo góc nh́n của nhân vật ở ngôi thứ nhất: người trần thuật xưng Tôi.
‘Tôi’ đây chỉ tham gia phần nhỏ vào câu chuyện và không phải là nhân vật chính,
mà cũng không phải là người trực tiếp biết chuyện đă xảy ra, mà chỉ là người
được nhân vật chính kể lại cho nghe. Tự sự nhưng gián tiếp, một cách viết rất
mới vào thời đó.
Truyện Thầy Lazarô Phiền đă theo Tây phương về kỹ thuật viết mà cả về nội dung
và chủ đề. Với đề tài ‘ghen’, tác-giả đă đi vào thế giới nội tâm của nhân vật,
một thành tố của tiểu thuyết, nâng ‘truyện kể’ vào thế giới ;tiểu-thuyết’
(fiction). Đề tài ghen không mới, ‘ghen’ của Hoạn Thư của Kim Vân Kiều đă là ‘cổ
điển’, là ‘nguyên mẫu’, ghen trong Thầy Lazarô Phiền mới là cái ghen cụ thể với
nhân vật cụ thể. Nhưng chủ đề chính là tội lỗi và ơn tha thứ, một chủ đề thường
thấy trong văn-chương chịu ảnh hưởng Thiên-Chúa giáo, ở Thầy Lazarô Phiền đă là
cái mới, trong khi tội lỗi và h́nh phạt đă trở thành một đề tài quen thuộc, ‘cổ
điển’ với Fiodor Dostoievski (Crime et Châtiment 1866), Franz Kafka
(Métamorphose 1915), v.v. hay Oan Kia Theo Măi của Lê Hoằng Mưu (sau Thầy Lazarô
Phiền),... Với tiểu thuyết của Dostoevski cũng như Nguyễn Trọng Quản và Kafka,
con người đời tư được đặt trong tương quan với cả thế giới, trong một không khí
tiểu thuyết rất kịch.
Về h́nh thức và tŕnh bày, Nguyễn Trọng Quản không dùng những tựa đề dẫn nhập
hay tóm lược ư cũng không văn thơ rào đón về phần tiếp theo như cách chia
chương, hồi trong các truyện ta viết theo truyện Tàu, mà chỉ ghi những phần câu
chuyện với kư hiệu La-mă I, II, III, v.v. Tác-giả vào truyện một cách trực tiếp
và kết thúc cũng gói trọn trong phần đó.
Văn viết trong Thầy Lazarô Phiền cho thấy Nguyễn Trọng Quản hoàn toàn thoát ly
văn biền ngẫu của văn-học cổ điển. Đó cũng là chủ trương của tác-giả đă được ghi
trong lời Tựa đầu tập: «Tôi có dụng ư lấy tiếng thường mọi người hằng nói mà làm
ra một chuyện hầu cho kẻ sau coi mà bày đặt cùng in ra ít nhiều truyện hay».
Ngay trong các trang đầu sách, tác-giả đă dùng những từ nôm na như Truyện...
của... làm ra, sách làm rồi, đang in, bản in nhà hàng Rey et Curiel. Chủ trương
như thế tức là Nguyễn Trọng Quản có ư hiện đại hóa ngôn-ngữ văn-học và xây dựng
một nền văn-chương lấy tiếng nói đời thường làm ngôn ngữ, và Thầy Lazarô Phiền
đă là một mở đường. Tác-giả đă tránh dùng từ Hán Việt khi không cần thiết và
dùng những từ nôm na, thuần Việt, những tiếng thường ngày. Một điểm khác cũng
đáng ghi nhận, lời văn của Thầy Lazarô Phiền ít sai chính tả, nghĩa là không
viết trung thành theo phát âm của giọng nói địa phương (Sài-G̣n, Bà-Rịa). Trừ
đôi chỗ chịu ảnh hưởng cấu trúc ngữ pháp tiếng Pháp, nói chung câu văn xuôi,
gọn, chứng tỏ tác giả nắm vững được ngữ pháp tiếng Việt. Lối viết này rất gần
với văn viết trong Gia Định Báo và Nam Kỳ Địa Phận theo một chủ trương viết nôm
na, nhưng câu văn trong sáng, xuôi chiều và gọn gàng cũng như thống nhất về
chính tả - ngược với lối hành văn theo hướng biền ngẫu trong Nông Cổ Mín Đàm và
Lục Tỉnh Tân Văn.
Thể loại tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ xuất hiện hơn 20 năm sau báo chí (Gia
Định Báo 1865). Tiểu-thuyết ‘hiện đại’ khai sinh từ Nguyễn Trọng Quản, lớn mạnh
ở bước đầu là nhờ chữ quốc ngữ và báo chí vốn là phương tiện thông tin mới mà
thời lịch-triều trước đó không có, và đă mang lại cho văn-học Việt-Nam những nền
tảng quan trọng và thiết yếu trong quá tŕnh thành h́nh một nền văn-học (chữ
quốc ngữ). Vào thời đầu thế kỷ XX, văn-học đă đi đôi với báo chí và xuất bản, do
đó sẽ gần người đọc và trở thành món giải trí tinh thần được đại chúng hóa chưa
hề có trước đó. Báo chí đă là những cơ quan ngôn luận, diễn đàn và phổ biến tác
phẩm trước khi xuất bản thành sách như Hà Hương Phong Nguyệt của Lê Hoằng Mưu (đăng
Nông Cổ Mín Đàm từ số 19 ngày 20 tháng 7 năm 1912 đến số 53 ngày 29 tháng 5 năm
1915, với nhan đề Truyện Nàng Hà Hương; J. Nguyễn Văn Viết xuất bản 1915), Kim
Thời Dị Sử (đăng Công Luận Báo từ tháng 10-1917, xuất bản 1921) của Biến Ngũ Nhy
(tức Nguyễn Bính), các tiểu-thuyết của Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu, Hồ
Biểu-Chánh (các tiểu-thuyết V́ Nghĩa V́ T́nh, Cha Con Nghĩa Nặng, Con Nhà Giàu,
Khóc Thầm,... đều đă đăng trước trên tờ Phụ-Nữ Tân Văn - cũng như một số
tiểu-thuyết khác đăng trên báo Thần Chung thời 1952). Độc-giả ở trong Nam rất đa
dạng, từ trí thức đến hạng người lao động - đây là một đặc điểm khiến văn-học
miền Nam lục-tỉnh khác miền Bắc. Các sách báo quảng cáo cũng góp phần phổ biến
tiểu thuyết đến quần chúng, như trường hợp hai cuốn truyện của Nguyễn Chánh Sắt,
T́nh Đời Ấm Lạnh in trong Thiên Sanh Đường đại dược-pḥng ở Chợ Lớn và Nghĩa
Hiệp Kỳ Duyên in trong sách quảng cáo Vệ Sanh Chỉ Nam (1919) của nhà thuốc Nhị
Thiên Đường; tiểu-thuyết của Hồ Biểu-Chánh cũng từng xuất hiện dưới h́nh thức
ấn-phẩm quảng cáo này.
Các nhà văn nhà báo quốc ngữ tiền phong lại c̣n ra công tổ chức các cuộc thi cốt
để khuyến khích phong trào viết truyện tiểu-thuyết theo lối Tây phương và bằng
chữ quốc ngữ. Tờ Nông Cổ Mín Đàm tổ chức cuộc thi với chủ đề ‘Quốc âm thi cuộc’:
trong số 262 (23-6-1906) đă đề xướng một cuộc thi viết tiểu thuyết dài «chừng 50
tờ giấy lớn, chia làm ba thứ (...) đặt tiếng thường, thanh nhă, dễ hiểu như
truyện vậy...». «Tiểu thuyết» được cơ quan ngôn luận yêu nước này định nghĩa «người
Lang Sa gọi là roman nghĩa là lấy trí riêng mà đặt riêng ra một truyện tùy theo
nhân vật phong tục trong xứ, dường như truyện có thật vậy» (12). Trong số 260
(9-10-1906), Trần Chánh Chiếu kư ‘chủ bút’ bài «Diễn dịch đặt đề», nhận xét rằng
các nhà nho Việt-Nam đă dịch in sách Trung Hoa ra chữ quốc ngữ, nhưng cho đến
nay c̣n thiếu những truyện Việt Nam, do người Việt-Nam viết. Có người tiếp tục
cóp nhặt sản phẩm văn hóa Trung Hoa, nhưng lại có người chủ xướng một tinh thần
học thuật có tính quốc gia và bài xích chống đối những ǵ là của ngoài (Ấn, Hoa,..).
Ngay sau đó, năm 1907, một số nhà Nho ở Nam kỳ như Tân Dân Tử, Nguyễn Tử Thức đề
xướng việc «đưa Quan Công về Tàu» và «mời Thích-ca về Ấn Độ» gây thành phong
trào quốc gia phục hưng (13).
Mặt khác, hai thập niên cuối thế kỷ XIX và đầu của thế kỷ XX là thời xảy ra
nhiều biến cố về lănh vực văn-học và văn-hóa khác và đều bắt đầu từ miền Nam
lục-tỉnh: thời truyện thơ Nôm được phiên âm ra chữ quốc ngữ (Kiều, Lục Vân Tiên,
Phan Trần,... ) đưa đến hiện tượng phát sinh những truyện thơ khác như Hậu Lục
Vân Tiên, Hậu Phạm Công Cúc Hoa,... Đây cũng là thời thơ văn Việt-Nam được dịch
ra tiếng Pháp, từ truyện thơ Nôm (E. Aubaret nghiên cứu về Lục Vân Tiên trên
Journal asiatique năm 1864 tức ngay sau khi Pháp chiếm lục-tỉnh; Abel Del
Michels dịch và chú Lục Vân Tiên Ca Diễn, 1883, dịch Kim Vân Kiều Tân Truyện
xuất-bản năm 1884, truyện Bạch Thử, 1892, v.v.) đến chuyện đời xưa (với A. D.
Michels dịch nhiều chuyện dân gian và 20 Chuyện Đời Xưa chữ quốc-ngữ của Trương
Vĩnh Kư (Contes plaisants annamites, Paris: 1888, quốc-ngữ dịch ra Pháp ngữ và
phiên âm ra chữ Nôm; năm 1887 đă có bản dịch khác của M.E. Sombsthay, trường
Thông ngôn Sài-G̣n).
Các nhà văn miền Nam đă tiếp nối con đường văn xuôi của những ghi chép lại
chuyện xưa tích cũ của Trương Vĩnh Kư (Chuyện Đời Xưa 1866), của Huỳnh Tịnh
Paulus Của (Chuyện Giải Buồn 1886) và những bút kư như Chuyến Đi Bắc Kỳ Năm Ất
Hợi (1879) của Trương Vĩnh Kư, cũng như bút kư và kịch nói của Trương Minh Kư (Tuồng
Joseph, 1887, tuồng Kim Vân Kiều 1896, «drame en 3 actes»). Nhưng phải đợi đến
những năm đầu thập niên 1910 mới thấy có những tác phẩm tiểu thuyết bằng văn
xuôi theo con đường truyện Thầy Lazarô Phiền như Phan Yên Ngoại Sử của Trương
Duy Toản, Hoàng Tố Anh Hàm Oan của Trần Thiên Trung (1910, 15 hồi, tiểu thuyết
t́nh cảm với những nhân vật người lục tỉnh) và Hồ Biểu Chánh với tiểu-thuyết văn
xuôi đầu tay Ai Làm Được. Ai Làm Được được khởi thảo từ năm 1911, là thời gian
tác-giả làm việc tại Cà Mau và bối cảnh chuyện cũng được ông chọn nơi đó, đến
năm 1922 được tái bản sau khi ông nhuận sắc trở lại và đăng Nông Cổ Mín Đàm
(2-1920). Rồi những truyện xă hội, «nghĩa hiệp», «kỳ t́nh» của các tác giả
Nguyễn
Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu, Trương Duy Toản, vv. Thể tự truyện bắt đầu với Chồn Cáo
Tự Sự (1910) của Michel Tính mà bạn đồng hành trong thể loại phải chờ đến Nguyên
Hồng (Những Ngày Thơ Ấu, 1941). Về cấu trúc, truyện của Nguyễn Trọng Quản xuất
bản năm 1887 đă hoàn toàn theo thể văn đoản thiên và lối viết theo Tây phương,
trong khi đó các tác-giả vừa kể ít nhiều c̣n chịu ảnh hưởng truyện cổ điển Trung
Quốc truyện có hậu, văn biền ngẫu - ảnh hưởng của truyền thống ‘truyện’ của
truyện-chí Tàu. Tuy vậy cũng cần ghi nhận rằng Nghĩa Hiệp Kỳ Duyên của Nguyễn
Chánh Sắt (1920) tuy vẫn giữ truyền thống «ân đền oán trả» của các truyện trước
đó, đă tỏ rơ là một mô h́nh của tiểu thuyết văn-học mới: lời văn trau chuốt hơn,
nội dung có tư tưởng, luân lư rơ, t́nh tiết câu chuyện dồi dào. Các nhà văn miền
đất mới v́ hoàn cảnh lịch sử đă đứng ra giới thiệu cho người đọc những khai phá
h́nh thức thể-loại mà c̣n về tâm hồn, xă hội, cho người cả nước biết chuyện một
nơi cụ thể: xă hội nhiều giai cấp, nho học, con người Á-đông, v.v.
Mặt khác, văn-học dịch thuật đóng một vai tṛ quan trọng và lót đường trong quá
tŕnh hiện đại hóa tiểu thuyết Việt-Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX: phong trào dịch
truyện Tàu mạnh lên từ khoảng năm 1904 (14). Truyện Tàu được người trong Nam ưa
thích đặc biệt phần lớn là tiểu-thuyết bạch thoại trường thiên xuất hiện từ thời
nhà Minh, thành công mở đầu cho truyền thống tiểu-thuyết chương hồi, với đóng
góp của các truyện dịch Chinh Đông Chinh Tây, Thuyết Đường, Phong Thần, các
truyện vơ hiệp, ở Bắc th́ có Tam Quốc Chí là tiểu thuyết dịch đầu tiên bằng chữ
quốc ngữ xuất bản ở Hà Nội (Phan Kế Bính, 1907), rồi những Đông Chu Liệt Quốc,
Tây Sương Kư của Nguyễn Đỗ Mục đăng trên Đông Dương tạp chí và Trung Bắc
Tân-văn, các bản dịch và phiên âm truyện Hán Nôm của ta như Vũ Trung Tùy Bút,
Lĩnh Nam Chích Quái, Truyền Kỳ Mạn Lục, Việt Lam Xuân Thu. Cũng như ghi nhận
công lao của các dịch giả đă diễn dịch tác phẩm tiếng Pháp ra chữ quốc ngữ:
Trương Minh Kư là người đi tiên phong với Truyện Phan Sa Diễn Ra Quốc Ngữ (1884)
gồm
truyện và thơ ngụ ngôn La Fontaine; Tê-Lê-Mác Phiêu Lưu Kư,... Các tờ Nam-Kỳ Địa
Phận, Nông Cổ Mín Đàm,Lục-Tỉnh Tân Văn,... đều chú trọng truyện dịch từ những số
đầu. Trần Chánh Chiếu kư Kỳ Lân Các dịch Tiền Căn Báo Hầu (Le Comte de
Monte-Cristo của Alexandre Dumas, đăng Lục-Tỉnh Tân-Văn trước khi xuất bản năm
1914, Imprimerie de l’Union), sau đến Hồ Biểu Chánh mà chúng tôi sẽ tŕnh bày ở
phần tiếp. Ở ngoài Bắc, những tác phẩm dịch đầu tiên là của Nguyễn Văn Vĩnh và
xuất hiện trên Đông Dương tạp chí (1913); tuy nhiên, với Phạm Quỳnh và Nam Phong
tạp-chí th́ sự tiếp nhận văn-học Pháp mới trở thành thực sự và có ư hướng, đường
lối rơ ràng, nhất là về tiểu-thuyết có thể v́ thể loại này là một khí cụ tiện
lợi và hấp dẫn để truyền bá những luận thuyết và tư tưởng của họ. Ngay từ số ra
mắt (7-1917) Phạm Quỳnh đă có một bài viết giới thiệu thể loại tiểu-thuyết, «Một
bộ tiểu-thuyết mới ‘Nghĩa cái chết’«, một bài khác giới thiệu «Bộ tiểu-thuyết
‘Cái vinh cái nhục của nhà quân’» và chính Phạm Quỳnh đă dịch «Truyện cái dấu
đỏ» và ghi là ‘thảm-t́nh tiểu-thuyết’, ông «chủ nhất một điều: là chọn những
sách văn-chương hay, nghĩa truyện cao, kết cấu khéo, khá lấy làm mẫu cho cái lối
tiểu thuyết của ta về sau này». Phạm Quỳnh cũng là người đầu tiên viết Khảo Về
Tiểu Thuyết (1929).
Cũng là thời của chủ trương phối hợp Đông tây, có tác giả, như Trọng Khiêm (Kim
Anh Lệ Sử 1924), đă nói rơ ư-hướng ngay ở đầu truyện: «Tôi viết bộ Kim Anh Lệ Sử
này, có ư thử viết tham bác hai lối văn xem; các ngài đọc sách sẽ nhận ra rằng
tuy bề ngoài có mượn lối văn Âu Tây, song bề trong vẫn phảng phất cái hồn luân
lư của Việt-Nam cố quốc ta vậy» (15). Như vậy một số tiểu thuyết ở giai đoạn đầu
đă chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết Pháp hoặc Trung-Hoa. Hoặc kết cấu, cốt truyện
theo thứ tự thời gian và kết bao giờ cũng có hậu phù hợp luân lư lẽ thường, hoặc
qua kỹ thuật, cách hành văn. Viết theo truyện Tàu, hay viết theo Tây phương hoàn
toàn, th́ nội dung, tư tưởng đều là văn hóa truyền thống dựa trên Nho học hay
tam-giáo.
Nhưng trước đó, Thầy Lazarô Phiền đă mang đặc tính Việt-Nam về chữ dùng như nói,
về cấu trúc câu xuôi thay v́ biền ngẫu du dương, nhiều tưởng tượng và xa cuộc
sống thực tế. Lời văn của Nguyễn Trọng Quản đă không bị ảnh hưởng ǵ của lối
văn-chương biền ngẫu đó, là loại văn thường thấy ở trong các thể loại thịnh hành
thời ấy mà cả đến những năm 1925, 1932. Truyện Thầy Lazarô Phiền là sáng tác đầu
tiên theo kiểu phương Tây, mà lại quá mới. Như vậy, Nguyễn Trọng Quản nếu có
ảnh-hưởng Âu-tây nào đó th́ đó là v́ ông theo luận-lư của văn hóa giải phóng chứ
không theo luận-lư của văn hóa hội-nhập/đồng hóa như Phạm Văn Kư, Phạm Duy
Khiêm, Linda Lê, v.v. về sau. Nguyễn Trọng Quản đă chủ động trong việc sáng tạo
một tiểu-thuyết hiện đại đầu tiên khi áp dụng nghệ thuật viết tiểu thuyết của
phương Tây. Khoảng ba thập niên sau, Hồ Biểu-Chánh, một nhà văn miền Nam
lục-tỉnh khác sẽ có những tác-phẩm tiểu-thuyết nhận chịu ảnh-hưởng Âu-tây, nhưng
một cách khác và rất Việt Nam. Nguyễn Trọng Quản rồi Hồ Biểu-Chánh đều đă mở
đường cho một đường hướng sáng tác tiểu-thuyết theo Tây phương gồm ba yếu tố:
một câu chuyện, có tính giả tưởng và diễn tiến trong một không gian (tiểu-thuyết
xă-hội, phong tục) cũng như diễn tả tâm lư nhân-vật.
3- Hồ Biểu-Chánh (1885-1958)
Tên thật Hồ Văn Trung, người G̣-Công, ông học trường Chasseloup-Laubat, làm công
chức cho chính quyền thuộc địa, từ kư-lục lên đến đốc-phủ-sứ, trấn nhiệm khắp
các miền lục-tỉnh (1906-1941). Sau khi về hưu làm nghị viên thành phố Sài-G̣n và
làm Cố vấn kiêm đổng-lư Văn pḥng cho Chánh phủ Nam-kỳ tự trị của BS Nguyễn Văn
Thinh (1946).
Trong hồi kư (bản thảo) «Đời của tôi về văn nghệ», Hồ Biểu Chánh cho biết vào
năm 1909-1910, sau khi viết truyện U T́nh Lục bằng văn vần, theo thể lục bát,
ông được đọc truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản, Hoàng Tổ Oanh Hàm
Oan của Trần Thiên Trung và Phan Yên Ngoại Sử của Trương Duy Toản là ba cuốn
truyện bằng văn xuôi đầu tiên ở lục tỉnh kể chuyện trong nước, đă ảnh hưởng
nhiều đến việc định hướng sáng tác của ông. U T́nh Lục (viết năm 1909, xuất bản
năm 1913, nhà P.H. Schneider, với phụ tựa ‘roman annamite’), tác-phẩm mở đầu sự
nghiệp văn-chương Hồ Biểu-Chánh là một truyện-chí viết theo thể lục bát dài 1790
câu - phụ bốn bài thơ thất ngôn bát cú, với cùng đề tài t́nh ái như truyện Thầy
Lazarô Phiền nhưng tự do t́nh ái hơn và người đàn ông trở về lại nhà ở đoạn kết,
nghĩa là tác giả muốn giữ truyền thống «gương vỡ lại lành» thay v́ «hiện thực»
dù bi thảm theo mới như Nguyễn Trọng Quản. Cũng như Thầy Lazarô Phiền, cái mới
của Hồ Biểu Chánh là câu chuyện đă xảy ra tại Sài-G̣n, Mỹ Tho và G̣ Công chứ
không c̣n bên Trung Hoa xa xôi. Tuy vậy, U T́nh Lục không phải là tiểu thuyết
theo lối Tây phương. Chúng ta đă biết Hồ Biểu-Chánh, xuất thân từ học đường Pháp,
nên trước khi khởi nghiệp sáng tác văn-chương đă phải học chữ Hán và dịch truyện
Tàu (16) v́ ông cho biết viết khó khăn v́ «t́m không ra lời mà tả trí-ư cho
người ta thông cảm được» (17). Ông bắt tay dịch lấy 20 truyện Tàu từ hai tập
T́nh Sử và Kim Cổ Kỳ Quan về sau xuất-bản năm 1910, tựa Tân Soạn Cổ Tích, cùng
Giáo Sỏi Đỗ Thanh Phong.
Mặt khác, bước đầu truyện Việt-Nam đă phải cạnh tranh khó khăn với truyện Tàu,
một trong những lư do khiến các tiểu-thuyết đầu tiên đă phải đăng trên các báo
hoặc quảng cáo các hiệu thuốc người Hoa như đă nói ở trên. Đó cũng là lư do
khiến nhiều nhà trí thức tân học không để ư t́m đọc hoặc xem thường. Nhưng rồi
truyện Tàu cũng như truyện Việt ảnh-hưởng Tàu đều đă trở nên món ăn tinh thần
của mọi từng lớp dân chúng, mà rồi ngôn ngữ cũng chuẩn hơn và kỹ thuật, h́nh
thức cũng thuyết phục người đọc hơn. Đó cũng là do công lớn của tiểu-thuyết b́nh
dân mà đầy tính Việt-Nam (miền Nam lục-tỉnh) của Hồ Biểu-Chánh! V́ những Hoàng
Tố Anh Hàm Oan (52 trang) và Phan Yên Ngoại Sử (48 trang), tập trước truyện ta
mà tác giả khiêm tốn gọi là «đồ thuyết», tập sau là truyện dă sử; hai tập tiểu
thuyết đầu tiên 23 năm sau Nguyễn Trọng Quản này vẫn theo phân hồi như truyện
Tàu cũng như bố cục vẫn hiệp rồi tan và cuối cùng «thiện ác đáo đầu chung hữu
báo», mà các nhân vật hai phe chính và tà, và riêng Phan Yên Ngoại Sử Tiết Phụ
Gian Truân cách đặt tên nhân vật cũng đă ngụ ư: Ngưu Cường, Mă Kiện,... như dựa
theo khuôn truyện Kiều!
Hồ Biểu-Chánh đă tự nhận có chịu ảnh hưởng của truyện Thầy Lazarô Phiền và hai
tác-phẩm xuất bản năm 1910 như vừa kể; ảnh-hưởng khiến ông thay đổi hẳn hướng
sáng tác, tiếp thu kỹ thuật viết theo Tây phương, nhưng nội dung tư tưởng nói
chung vẫn theo văn hóa truyền thống Nho học, nhưng theo cung cách khai phóng,
cởi mở, tức là ông đă chọn một giải pháp dung ḥa mới cũ, phối hợp cái hiện đại,
mới mẻ của Âu-tây với nét truyền thống đă quen của Việt-Nam nhất là ở miền Nam
lục-tỉnh. Năm 1912, Hồ Biểu-Chánh viết Ai Làm Được là cuốn tiểu-thuyết văn xuôi
đầu tay, bỏ lối kể chuyện theo ḍng thời gian một chiều để theo khuôn mẫu
tiểu-thuyết phương Tây. Nhưng theo văn bản đă nhuận sắc năm 1922 thi Hồ
Biểu-Chánh dù không thay đổi cốt truyện nhưng đă thay đổi về h́nh thức, từ 27
hồi, ông đă sửa lại thành 6 chương; bỏ những câu giới thiệu ở đầu chương và thay
thế bằng một con số đánh dấu. Câu chuyện rơ ràng hơn, thêm nhiều đoạn tả cảnh và
dùng nhiều đối thoại để làm cho câu chuyện thêm phần sống động. Lời văn được rút
gọn lại, không có những chỗ chuyển đề dài ḍng. Những thay đổi này đă làm cho
bản in lần sau gần với tiểu thuyết hiện đại (18). Theo LM Thanh Lăng trên
tạp-chí Văn năm 1967, Ai Làm Được «có nhiều chỗ mô phỏng giống cuốn André
Cornelis của P. Bourget», nhưng Nguyễn Khuê th́ nghĩ đây là một trùng hợp ngẫu
nhiên v́ trong tập hồi kư và danh sách tác-phẩm phóng tác do chính Hồ Biểu-Chánh
ghi lại, không thấy nói đến (19). Từ năm 1910 đến cuối đời, ông đă có 64 tựa đề
trong thể loại tiểu-thuyết và 12 tập truyện ngắn; nhiều cuốn ở mức độ khá đạt về
kỹ thuật viết theo lối Tây phương: Cay Đắng Mùi Đời, Ngọn Cỏ Gió Đùa, Tỉnh Mộng,
Thầy Thông Ngôn,...
Hiện tượng phỏng dịch và phóng tác rất phổ biến ở bất cứ nền văn-hóa và thời đại
nào. Văn-học Việt-Nam cũng không ra ngoài hiện tượng đó, từ những Chuyện Tấm Cám,
Quan Âm Thị Kính, Truyện Kiều, v.v. xa xưa đến những Kim Thời Dị Sử của Biến Ngũ
Nhy, Tố Tâm (19) của Hoàng Ngọc Phách, v.v. sau này. Sự nghiệp Hồ Biểu-Chánh có
khoảng 15 tác-phẩm phóng tác. Với Hồ Biểu-Chánh, có thể bàn đến ảnh-hưởng Âu-tây
ở hai tŕnh độ: nội dung, tư tưởng và kỹ thuật tiểu-thuyết. Trong số tác-phẩm đă
có Vậy Mới Phải (1913, xb 1918) truyện văn vần phỏng theo Le Cid của Pierre
Corneille và Lửa Ngún Th́nh Ĺnh (dịch tiếng Pháp, 1922). Với Vậy Mới Phải, Hồ
Biểu-Chánh đă là tác-giả Việt-Nam đầu tiên phỏng theo các tác-phẩm của
văn-chương Pháp để viết truyện. Mô phỏng nhưng Việt hóa, ư hướng đó ông đă bắt
đầu với Vậy Mới Phải. Ông đă thay đổi đoạn kết của Le Cid thành t́nh cảnh hợp
luân lư Việt-Nam (đó phải chăng đă là lư do tác-giả lấy tựa đề là Vậy Mới Phải?).
Thay v́ để hoàng thân Don Sanche đấu gươm với Rodrigue để báo thù cho Chimène v́
cha nàng bị Rodrigue đấu gươm giết chết, và nàng phải kết hôn với kẻ thắng là
Rodrigue vốn là người yêu của nàng (t́nh yêu - t́nh nhà trái ngang), Hồ
Biểu-Chánh đă để cho Lệ Bích tự sát và Thanh Ṭng thay v́ chết theo th́ đă điều
ba vạn binh đi đánh giặc tiếp. Chết theo nàng, vậy mới là ‘Tây’, nhưng ‘Á-đông’
th́
«... Ngặt v́ ơn chúa, nợ cha nặng nề. / Lượng trên dầu chẳng chấp nê,
Đoái thương t́nh mọn, không chê bất tài. / Binh ṛng ba vạn trao tay,
Lănh đam Trung-quốc ra oai côn ḱnh ...».
Rơ là ‘vậy mới phải’! Về sau Le Cid c̣n khiến Hồ Biểu-Chánh cảm hứng trở lại với
phóng tác thứ hai, lần này bằng văn xuôi: tiểu-thuyết lịch-sử Nặng Gánh Cang
Thường (1930). Trong hai phóng tác, nhân vật giống nhau, từ tên đặt tới cốt
truyện nhưng kết thúc th́ khác. Truyện lịch-sử xảy ra đời vua Lê Thánh Tôn,
khoảng hai ba năm trước khi vua thăng hà. Phải nhờ hồn cha của Thân Thanh Ṭng
hiện về qua cơn sấm xét nói rơ, đôi t́nh nhân Thanh Ṭng - Lệ Bích mới hiểu nhau:
‘’Hai con, cha là Thái úy Lê Niệm đây. Năm trước tại số mạng của cha tới chừng
đó mà dứt, nên cha phải chết, chớ không phải Thanh Ṭng cố ư giết cha. Vậy Lệ
Bích chẳng nên v́ cha mà ră rời tơ tóc. Hai con phải thuận với nhau đặng lo mưu
pḥ vua giúp nước cho mau. Triều đ́nh đă loạn rồi, phải toan trở về kinh mà cứu
hiền trừ nịnh đặng khuôn pḥ xă tắc. Hai con phải vưng lời cha’’. Cuối cùng Thân
Thanh Ṭng dẹp được đám phản nghịch. «Thái tử Tăng tức vị, xưng hiệu là Cảnh
Thống, phong cho Lê Thọ Vực làm chức Tả Tướng quốc, c̣n các quan văn vơ đều được
thăng lên một cấp hết thảy. Vua lại dạy Thân Thanh Ṭng làm một cái biểu dựng
lên mà kể tội kể công cho vua xem và dạy Lê Thọ Vực nhóm đại thần mà nghị tội
Trịnh Công Lộ. Thân Thanh Ṭng vưng lịnh làm biểu mà kể hết những chuyện: từ hôn
Công chúa mà phải bị thâu chức lại bị đày, tới Bắc Giang phân rẽ anh em họ Đinh,
qua Thái Nguyên làm con nuôi Huỳnh Như Hào, đi cưới vợ lại cưới nhầm thế nữ Xuân
Lan, nhờ Xuân Lan mới gặp Lệ Bích, lúc sấm sét, nghe quan Thái úy mách bảo, nhờ
Ngô Sĩ Liên và Chánh sứ Hưng Hóa Thái Nguyên giúp binh nên mới đi xuống Bắc
Giang, gặp Đinh Hổ cứu mới khỏi nguy, hiệp với Đinh Long, Đinh Hổ về triều b́nh
loạn. Vua xem biểu rồi mới phán rằng: ‘’Ngày nay trẫm được nối Tiên vương mà tài
bồi xă tắc bá tánh được an cư lạc nghiệp, khỏi nạn loạn ly, phần nhiều nhờ sức
Thân Thanh Ṭng là một đứng nam nhi đă giữ vẹn can thường, mà lại c̣n có chí cần
vương cứu quốc nữa. Vậy trẫm do theo tờ biểu mà phong thưởng như vầy: Thân Thanh
Ṭng: Tài cao, công lớn, nên trẫm phong chức ‘’Nam quốc đại tướng quân“, chấp
chưởng trọn binh quyền trong nước. Lệ Bích: Trọng hiếu, trọng tứ nên trẫm cho
phục phẩm Công nương, lại cho sánh duyên cùng Thân Thanh Ṭng cho khỏi trái ư
cha, và khỏi lỗi thệ ước. Công chúa Nhị Hoa: V́ tiên đế đă tứ hôn cho Thanh Ṭng
nên trẫm cũng vưng theo ư ấy mà đưa về Thân phủ để làm đệ nhị pḥng (...) Khi
sum họp đủ rồi, vua mới chọn ngày đưa Công chúa Như Hoa về Thân phủ, đặng Lệ
Bích, Như Hoa và Xuân Lan chung nhau làm lễ giao bôi với Thanh Ṭng một lượt.
Cang thường nặng gánh hai vai,/ Nghĩa sâu hơn biển, t́nh dài hơn sông». Vai nữ (Lệ
Bích) toàn vẹn cả t́nh lẫn trí, khác xa Chimère của Le Cid.
Tuy nhiên khi Hồ Biểu-Chánh phóng tác và cảm tác bằng văn xuôi th́ ông mới chứng
tỏ tài năng văn-chương. Trong «Đời của tôi về văn nghệ», Hồ Biểu Chánh có viết:
«Tôi biên dưới đây mấy bộ tiểu thuyết của tôi viết ra bởi cảm tác phẩm nào của
Pháp: Chúa Tàu Kim Quy (viết 1922, Comte de Monte-Cristo của A. Dumas), Cay Đắng
Mùi Đời (1923, Sans Famille của Hector Malot), Chút Phận Linh Đinh (viết 1928,
En Famille của Hector Malot), Thầy Thông Ngôn 1926 (Les Amours d’Estève của
André Theuriet), Ngọn Cỏ Gió Đùa 1926 (Les Misérables của Victor Hugo), Kẻ Làm
Người Chịu 1928 (Les Deux Gosses của Pierre Decourcelle), V́ Nghĩa V́ T́nh 1929
(Fanfan et Claudinet của Pierre Decourcelle), Cha Con Nghĩa Nặng 1929 (Le
Calvaire 1886 của Octave Mirbeau), Ở Theo Thời 1935 (Topaze của Marcel Pagnol),
Ông Cử 1935 (L’Aristo), Đóa Hoa Tàn 1936 (Le Rosaire), Người Thất Chí 1938
(Crimes et Châtiment 1866 của F. Dostoevski)» (20). Toàn bộ tiểu thuyết của Hồ
Biểu Chánh gồm có 64 cuốn th́ đă có 13 cuốn cảm tác theo tiểu thuyết phương Tây,
gồm 12 từ tác giả Pháp và 1 của Nga (nhưng tác-giả có lẽ đă đọc bản dịch tiếng
Pháp). Chính Hồ Biểu Chánh đă nói ra việc cảm đề và cách ông phóng tác trong tập
kư trên: «đọc tiểu thuyết hay tuồng hát Pháp văn mà tôi cảm th́ tôi lấy chỗ cảm
đó mà làm đề, rồi phỏng theo ít nhiều hoặc lấy đó mà sáng tác một tác phẩm hoàn
toàn Việt Nam. Tuy tôi nói phỏng theo kỳ thiệt chỉ lấy đại ư mà thôi, mà có khi
tôi c̣n lật ngược tới đại ư, làm cho cốt chuyện trái hẳn tâm lư, khác xa với
truyện Pháp» (21). Trong bài này chúng tôi tuyển chọn 9 tác-phẩm để t́m hiểu ảnh
hưởng tiểu-thuyết Âu tây như thế nào ở Hồ Biểu-Chánh về nội dung cũng như h́nh
thức sử-dụng.
- Chúa Tàu Kim Quy: Bối cảnh của câu chuyện xảy ra dưới thời Minh Mạng, ở vùng
Tân Châu. Hồ Biểu Chánh phóng tác, mượn tác-giả A. Dumas cốt truyện Comte de
Monte-Cristo nhưng đơn giản hóa và đưa vào những nhân vật và sự việc có tính
cách Việt Nam. Lê Thủ Nghĩa, một người dân thường đang làm ăn lương thiện bị
Trần Tấn Thân (xâm phạm tiết hạnh em gái Nghĩa bị Nghĩa đánh găy tay) đút lót
quan huyện và vu cáo Nghĩa theo đạo Thiên Chúa, nên chàng bị án chung thân.
Trong thời gian ở tù, Nghĩa kết thân với một người Khách trú và học nói tiếng
Quảng-Đông. Trước khi chết, người Khách trú tỏ thật cho chàng biết, ông ta là
Mạc Tiển, cháu bốn đời của Mạc Cửu và cha của ông có giấu nhiều vàng bạc tại đảo
Kim Quy, một ḥn đảo nhỏ ở phía nam đảo Phú Quốc. Lợi dụng lúc khám đường bị hỏa
hoạn, Thủ Nghĩa trốn thoát trở về quê nhà th́ được biết cha mẹ và em gái (Thị
Xuân) đă chết. Chàng t́m thấy được kho tàng, giả làm khách Quảng-Đông mua tàu đi
buôn và trở thành chúa tàu Kim Quy. Chúa tàu bèn t́m cách đền ơn em rể là Kỉnh
Chi đă phải chịu nhiều điêu đứng và thiệt tḥi v́ một ḿnh đương đầu với bao bất
trắc, tai ương, đă lo cho cha mẹ và em gái chàng, đồng thời tố cáo tội ác của
Tấn Thân và đám quan lại tham ô. Người yêu của Thủ Nghĩa là cô Tư Chuyên từ ngày
hữu t́nh đă hứa hẹn chờ nhau, nên từ khi Thủ Nghĩa bị sa vào chốn lao tù th́ ở
vậy, «cô không khứng lấy chồng» nên Thủ Nghĩa «trong ḷng hoài vọng hết sức,
quyết t́m cho được mà trả nghĩa tương tri». «Chúa tàu Kim Qui đă từng lao đao
lận đận, mà nay lại được vàng bạc dẫy đầy, đă thấy kẻ giàu mà bất nhơn, người
nghèo mộ nghĩa, đă biết kẻ sang tham lam, người hèn thẳng ngay, nên trong ḷng
chán ngán cuộc đời, chẳng c̣n kể ai là hơn ai, chỉ biết người phải nên thương,
kẻ quấy nên ghét mà thôi».
Nếu trong nguyên-tác, tư tưởng phục thù là một phục thù thẳng tay không khoan
nhượng, như thể theo ư Trời và cả không có ḷng trắc ẩn hay bác ái, nhân-vật
Dantès nuôi mối hận thù thật mănh liệt và toan tính kín đáo th́ nhân-vật Thủ
Nghĩa của Hồ Biểu-Chánh khi ở trong tù, âu lo lớn là t́nh cảm hiếu đễ, là nỗi lo
lắng cho cha mẹ và em, dù cũng có những lúc nghĩ đến mối thù. Thủ Nghĩa là người
bộc trực lại nhiều t́nh cảm dễ lộ ra ngoài và v́ nhân hậu nên không thể lạnh
lùng tính toán chuyện phục hận lâu dài. Ân đền oán trả ở Hồ Biểu-Chánh mang ư
nghĩa đ̣i hỏi công lư phân minh. Ảnh-hưởng truyện Pháp ở đây rất mờ nhạt, từ một
câu chuyện đầy t́nh tiết và biến cố hồi hộp dồn dập đă trở thành một câu chuyện
về t́nh người trong một bối cảnh hoang sơ của miền lục-tỉnh, nơi mà đạo lư
Á-đông đă là nền tảng cho xă-hội, chi phối và điều khiển mọi hành vi và tư tưởng
con người. Thủ Nghĩa là người «bất phụ kỳ danh», đă vậy mà trả ơn trả oán đều
phân minh, đúng là «Thiện ác đáo đầu chung hữu báo / Chi tranh lai tảo dữ lai
tŕ» như ghi ở cuối truyện. Tác-giả lư rằng: «Xưa nay nhà ngôn luận thường hay
căi với nhau, người th́ nói tiền bạc là vật quí báu trong đời, bởi v́ nó có thể
giúp người phải làm việc phải, kẻ lại nói tiền bạc là vật rất lợi hại của xă hội,
bởi v́ nó hay giục người quấy làm việc quấy. Tuy hai phe tỏ hai lư tưởng khác
nhau, song xét cho đáo để th́ lư tưởng nào cũng là phải hết thảy». Của cải trở
thành phương tiện trong khi t́nh nghĩa và đời sống yên lành nơi thôn dă được coi
trọng hơn. Một kết cục bất ngờ!
- Ngọn Cỏ Gió Đùa: Hồ Biểu-Chánh cũng chỉ mượn cốt chuyện Les Misérables của
Victor Hugo, ông để câu chuyện xảy ra ở Nam-kỳ lục-tỉnh vào thời Minh Mạng và
thời điểm nổi dậy của Lê Văn Khôi. Tư tưởng dân quyền, đ̣i hỏi công bằng xă hội
và tôn trọng nhân phẩm của Hugo dàn trăi trong nguyên tác Les Misérables, trong
khi Hồ Biểu-Chánh xiển dương tư tưởng tam-giáo thịnh hành ở miền Nam lục-tỉnh
cùng nguyện vọng công lư chính trực. Thế kỷ XIX là thời cách mạng dân chủ dân
quyền, ở Pháp và Âu-châu xảy ra rất nhiều xáo trộn, tranh chấp về quyền lực
chính trị, rơ rệt giữa phái cộng ḥa và phe bảo hoàng. Les Misérables đề cao
cách mạng dân chủ nhân quyền, chống chế độ quân chủ và phe bảo hoàng. Hugo đứng
về phía dân chúng Paris nổi dậy năm 1832. Chính Victor Hugo đă phải sống lưu
vong và hoàn thành Les Misérables nơi đất người.
Trong Ngọn Cỏ Gió Đùa, nhà Nguyễn, một triều đại mới, mở ra sau nhiều năm chiến
tranh tranh bá đồ vương, tầng lớp quan lại đầy những mâu thuẫn về lư tưởng trung
quân bên Vua bên Chúa. Vua th́ muốn quần thần tiếp tục trung quân theo nghĩa
h́nh thức - trung với vua, v́ vua là vua, là thiên tử. Hồ Biểu-Chánh đồng t́nh
với cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi, tŕnh bày cuộc nổi dậy này như tiêu biểu cho ư
tưởng tôn trọng quân quyền chỉ khi hợp thiên lư, đưa đến tôn tri trật tự và khi
vua biết trọng nghĩa của bầy tôi, cả không ngần ngại nổi dậy chống lại vua khi
làm mất nghĩa của bầy tôi. Người miền Nam lục-tỉnh nói chung bênh nhà Nguyễn Gia
Long nhưng luôn có những chỉ trích khi cần. Ngọn Cỏ Gió Đùa đề cao mẫu người
tráng sĩ hào hùng trọng nghĩa khinh tài, sẵn sàng bảo vệ khí tiết, qua h́nh ảnh
của Vương Thể Hùng, khi thấy người hoạn nạn liền ra tay can thiệp, giải cứu mà
không nhận ơn đền; rồi thấy Lê Văn Khôi nổi dậy v́ đại nghĩa th́ tham gia dù
phải chịu bất nghĩa khi bỏ gia đ́nh cha mẹ vợ con mà ra đi chiến đấu. Anh hùng
hảo hán truyền thống Á-đông, kiểu Lục Vân Tiên!
Trong Les Misérables, tư tưởng bác ái của đạo Thiên-Chúa được thể hiện một cách
gần như trọn vẹn qua h́nh ảnh, tác phong và hành xử của giám mục Myriel; Hồ
Biểu-Chánh th́ cho thấy người Việt-Nam giàu ḷng tín ngưỡng. Tư tưởng từ bi hỉ
xả và thuyết về tham sân si của Phật giáo được tŕnh bày qua hành-xử của ḥa
thượng Chánh Tâm đối với Lê Văn Đó. Tác-giả c̣n chống tư tưởng do trời, là một
cách tiêu cực v́ cứ nghĩ nếu có trời th́ không thể có bất công, áp bức: «C̣n
cháu kêu trời làm chi, nếu trời đất ăn ở công b́nh th́ đâu có chuyện như vậy».
Qua nhân-vật Lê Văn Đó thuộc lớp người nghèo cùng khổ và đă là nạn nhân của việc
phân chia giàu nghèo. Về xă-hội, Victor Hugo chống bất công xă hội, chống t́nh
cảnh trẻ nhỏ bị thất học, bị bỏ rơi, chống sự sa đọa của người phụ nữ và chống
tính cách phi nhân của chủ nghĩa duy pháp lư đến có thể nói là vô công lư. Hồ
Biểu-Chánh th́ đề cao tiết hạnh của người đàn bà Việt-Nam (Lư Ánh Nguyệt,...),
và đề cao đạo làm con đối với cha mẹ (Thế Phụng, con Thế Hùng, nguyện suốt đời
nối chí cha và sống như cha. Lê Văn Đó t́nh nghĩa sâu nặng, chuộc và dạy dỗ Thu
Vân như đă hứa với Ánh Nguyệt). Tác-giả mô tả những cảnh cùng cực của những con
người nghèo khổ hay bị áp bức về mặt xă hội, nhất là ở vùng nông thôn trước thời
kỳ Pháp thuộc đáng ra là bối cảnh của cuộc sống êm đềm, lặng lẽ. Ngọn Cỏ Gió Đùa
c̣n có ư chống thể chế pháp lư độc đoán, cứng nhắc, phi nhân của nhà Nguyễn và
đám quan gian tham ô lại.
Lê Văn Đó là một nông dân nghèo làm ruộng, sau trở thành giàu có nhờ chịu khó
khai hoang làm ruộng, đổi tên là Trần Chánh Tâm. Thời Lê văn Đó nghèo nàn dốt
nát, v́ ăn cắp một tră cháo heo cho chị dâu và cháu đỡ đói nên bị phạt tù 5 năm,
rồi v́ trốn tù nên bị tăng án lên 20 năm. Trong lúc ở tù Lê văn Đó chịu dưới
quyền cai quản của Phạm Kỳ là một tên lính giữ nhà tù, luôn luôn chấp hành luật
một cách nghiêm cẩn. Sau khi ra tù Lê Văn Đó gặp một nhà sư và được nhà sư cảm
hóa bèn cải tà qui chánh. Nhờ tánh siêng năng và may mắn, Đó trở nên điền chủ
giàu có, nhưng luôn lo giúp đỡ những người nghèo. Lư Ánh Nguyệt là con của một
nho sĩ, v́ cha mất th́nh ĺnh mà mắc nợ nên phải ở đợ với chủ nợ là vợ chồng Đỗ
Cẩm mà trừ nợ. Đỗ Cẩm là một tên tham lam giảo quyệt, không từ một tội ác nào
nếu anh ta moi ra tiền. Cặp Lê văn Đó / Phạm Kỳ và cặp Đỗ Cẩm / Lư Ánh Nguyệt
gặp nhau ở nhiều khúc quanh của cuộc đời. Truyện đề cao lợi ích chung, của tập
thể, quên cá nhân. Hồ Biểu Chánh phác họa được nhiều khuôn mặt đầy t́nh nhân ái
của tầng lớp nông dân nghèo. Có định mệnh nhưng cũng có cố gắng của con người.
Lê Văn Đó định mệnh oan trái, cùng đinh mạt vận, bị đời khinh rẻ một cách bất
công, phải sống âm thầm, chịu đựng, không dám chống lại «định mệnh» cay nghiệt
đó; v́ muốn sống b́nh thường, nhân ái nên vẫn phải liên tục cố gắng vươn lên,
làm sáng cái chính nghĩa, dù bị vùi dập đến cùng! Như Lê văn Đó, con người nhân
nghĩa không cần phải giàu, và yêu công lư nên khi đă là Thiên hộ, đă phải ra mặt
chịu tù để người khác (mà gian quan tưởng là Lê Văn Đó) khỏi bị tù oan.
Trong khi với Valjean là cuộc chiến đấu giữa Thiện với Ác và một cuộc chiến đấu
với chính ḿnh, cuộc chiến khó khăn cam go nhất v́ không phải chỉ để thắng cái
xấu, cái tiêu cực nơi ḿnh, mà c̣n để vượt qua chính ḿnh, dù phải hy sinh và từ
bỏ những ǵ tốt đẹp. Con người đạt tới chỗ quên ḿnh hoàn toàn, quên cả những ǵ
ḿnh tha thiết yêu quí nhất như t́nh cảm, t́nh yêu v́ người khác. Với Javert,
thêm cuộc chiến để công lư xă-hội và đạo đức được tôn trọng. Trong khi đó, với
các nhân-vật của Hồ Biểu-Chánh, cuộc chiến đấu được diễn ra thầm lặng, có tính
cách nội tâm, tư riêng: cuộc đời và nguồn gốc cũng như bản chất con người của họ
không hiển nhiên trước mắt người khác (22).
- Cay Đắng Mùi Đời (1923): phóng tác theo Sans Famille của Hector Malot. Hồ
Biểu-Chánh chỉ lấy cốt chuyện của nguyên tác và đặt câu chuyện vào khung cảnh
hoàn toàn Việt Nam. Chuyện về t́nh người, về cuộc đời con người với đủ vui buồn,
cốt đề cao ḷng nhân nghĩa và t́nh nghĩa vợ chồng chung thủy. Ba Thời có chồng
là Hữu đi làm ăn xa. Ở nhà t́nh cờ Thời thấy một đứa bé độ 5 tháng bị bỏ rơi,
liền đem về nuôi, đặt tên là Được. Thằng Được lên 9 th́ Hữu trở về, anh ta bán
cho thầy Trần Cao Đàng là người trước kia dạy học, sau làm thông ngôn, gặp quan
trên khắc khe, tức khí xin thôi việc, lại bị vợ bạc đăi bèn bỏ đi lang thang
khắp lục tỉnh. Thầy xin con Liên và thằng Được, dạy chúng đàn ca tŕnh diễn cho
thiên hạ nghe mà kiếm tiền. Những lúc rảnh, thầy c̣n dạy cho chúng học chữ quốc
ngữ và chỉ bảo điều hay lẽ phải. Một hôm ba thầy tṛ đến Trà Vinh, thầy Đàng
thấy một chú bếp xét giấy thuế thân đánh một người dân quê, thầy bất b́nh nên
can thiệp. V́ vậy thầy bị đưa ra ṭa lănh án 15 ngày tù. Trong thời gian thầy ở
tù, con Liên và thằng Được gặp bà hội đồng Nhàn đem con là Thanh Phong lên
Sài-G̣n chửa bịnh. Bà hội đồng thấy con thích hai đứa trẻ nầy nên đem chúng đi
theo dưới ghe và biên thư nhờ người dặn thầy Đàng măn hạn tù đến Mỹ Tho t́m bà.
Gặp thầy Đàng, bà ngỏ ư xin con Liên và thằng Được để con bà có bầu bạn và giúp
chúng lập thân sau nầy, thầy Đàng thấy con Liên cần đươc bà Hội đồng dạy nữ công
nữ hạnh nên bằng ḷng cho nó ở lại, rồi dắt thằng Được ra đi. Bà hội đồng t́m
gặp lại được con là Nhă (Được) mà khi được 5 tháng đă có người muốn đoạt gia tài
sự sản nên mới lập mưu đem vứt bỏ: «nay tôi lại t́m được thằng Nhă tôi rồi th́
tôi cũng hết giận quân gian đó nữa. Ở đời tôi cứ giữ ḷng lành, ai có quấy th́
để cho trời định tội họ».
Nhiều cảnh tượng hợp văn-hóa, tâm lư Việt-Nam (thủ tiết) kể cả những hủ tục thê
thiếp, gia tài, v.v. Truyện không chỉ mô tả những cảnh đời tục lụy, trớ trêu. Hồ
Biểu Chánh viết về những cảnh cay đắng của đứa trẻ, thân phận con hoang, để nói
đến những khốn cùng của người lớn. Truyện đề cao t́nh nghĩa, đạo lư qua những
mảng đời trôi nổi: không ham giàu, nếu cần th́ thà nghèo khổ mà giữ được được
khí tiết, nhân cách, phẩm giá con người, và nếu nghèo mà giữ được khí tiết th́
không những không phải hổ thẹn, mà c̣n nên lấy làm hănh diện. Giàu có không hẳn
là điều xấu, nhưng dễ đưa đến làm điều xấu, sinh ra điều xấu. Cách đặt vấn đề
của tác giả, nếu làm cho người đọc hiểu rằng đứa trẻ phải trải qua những hoàn
cảnh cay đắng th́ mới biết thương người, không hẳn đă đúng v́ chỉ là ngoại lệ,
c̣n vấn đề xă hội, đạo lư chính là giáo dục cho đứa trẻ biết ḷng thương người.
«Thằng Nhă ngày nay ăn mặc sung sướng, lên xe xuống ngựa, chớ không phải là
thằng Được xách đờn đi ca mà kiếm ăn như khi trước nữa, song nó không đổi tánh,
chẳng hề quên mấy người yêu nó trong lúc nó bần hàn». Tác-giả thêm: «Chẳng những
là thằng Nhă hậu đăi những người yêu nó trong lúc nó nghèo hèn mà thôi, mà hễ nó
thấy con nhà nghèo th́ nó động ḷng thương nên hay xin mẹ cho bạc tiền hoặc cho
quần áo. Người ở trong xóm ai thấy tánh t́nh nó như vậy cũng đều ngợi khen, duy
một ḿnh người viết truyện nầy đă không khen mà lại buồn, là v́ thầm nghĩ thằng
Nhă nầy nhờ có làm thằng Được trót mười lăm năm trời nên ngày nay mới biết
thương con nhà nghèo như vậy, c̣n biết bao nhiêu thằng Nhă khác không có làm
thằng Được nên chưa nếm đủ nùi cay đắng trong đời, th́ ai nghèo mặc ai, ḿnh
giàu ḿnh hưởng... Ai dám chắc.».
- Người Thất Chí phóng tác từ Prestouplénié i nakazanié (1866) của văn hào Nga
Fédor Mikhaĩlovitch Dostoievski. Đề tài ở nguyên tác là cứu rỗi và khổ nạn, với
một nghệ thuật phân tích tâm lư sâu sắc, tinh tế và với cái nh́n tín ngưỡng và
hiện sinh, Dostoievski đă dựng lên một bức tranh ảm đạm về số phận bế tắc của
lớp người bần cùng của xă hội Nga, nhất là tầng lớp trẻ. Tác-giả phê phán giai
cấp tư sản cũng như không chấp nhận chủ nghĩa xă hội. Anh sinh viên Raskolnikov
v́ nghèo và hận đời bất công nên đă giết bà già cầm đồ cướp của. H́nh phạt cho
tội ác giết người đó sẽ là tâm trí anh sẽ phải luôn căng thẳng, luôn triền miên
trong nỗi ân hận dày ṿ, vừa v́ sự lẩn tránh tội lỗi, vừa v́ những dằn vặt ám
ảnh của bản thân khiến toàn thân anh nhiều lúc ră rời, đầu óc muốn nổ tung, và
đă tâm sự với Sonya, một cô gái làm nghề điếm, rằng anh giết người bởi muốn trở
thành một siêu nhân như Napoléon. Raskolnikov biện minh tin ḿnh có thể vượt lên
trên luân lư b́nh thường khi giết bà già cầm đồ để làm việc thiện. Anh trở thành
con bệnh ám ảnh, hoang tưởng, nh́n ai cũng nghĩ họ biết tội giết người cướp của
của anh. Trong một lần độc thoại với chính ḿnh, anh đă liên tục tự hỏi «ta là
con sâu con bọ run rẩy hay ta có quyền lực?», và khi hiểu ra phần nào anh đă
thốt lên «ta đă giết không phải một con người, ta đă giết một nguyên lư». Với
anh, lúc này h́nh phạt ghê gớm nhất không phải là tù đày mà là nỗi nhức nhối dai
dẳng v́ đă giết chết nhân phẩm của chính ḿnh và cắt đứt quan hệ với những người
thân thiết. Tác-giả tả mối t́nh của anh với Sonia như một t́nh yêu bị truất phế,
cuối cùng anh nghe lời Sonia, đi đầu thú và bị án đày đi Sibéria lao động cưỡng
bách. Bảy năm sau ở tù ra, t́nh yêu Sonia đă đưa anh đến sự cứu rỗi và khổ nạn
cũng đến hạn cùng.
Phóng tác của Hồ Biểu-Chánh khá thu gọn, diễn tiến nhanh và bất ngờ hơn, phần
phân tích tâm lư đơn sơ như nhân-vật Phụng trong truyện - trong khi trong nguyên
tác, Dostoievski lê thê dằn vặt. Hồ Biểu-Chánh luận về sự khờ-khạo của người mê
nhân-đức v́ có thể Trời Phật không công b́nh hoặc không có đó. Phụng có thái-độ
của người đa-cảm nên dễ nhạy cảm trước những bất công của xă-hội và xảo trá của
con người: «Tâm-hồn của mỏa đă đổi rồi. Mỏa quyết đánh đổ nền phong hóa hủ bại
của tổ tiên ḿnh để lại, rồi gây một nền phong-hóa mới có đủ tánh-chất hùng-dũng
cương-quyết tấn-thủ, đặng giúp cho đồng-bào mau tấn-hóa cho kịp dân-tộc khác.
Bây giờ mỏa cách mạng tới ngàn phần trăm, chớ không phải trăm phần trăm mà thôi
đâu. đời kỳ cục quá, mà c̣n mê-mẩn phong-hóa, c̣n sùng bái trời phật làm chi
nữa». Bà Phán cười và nói: «Mỗi người đều có mạng số riêng. Cực hay sướng đều
tại mạng của ḿnh, chớ nào có phải tại ông trời mà thầy trách ông. Ông trời
công-b́nh lắm». Trên đời này, «kẻ hung bạo, trộm cướp hoặc chém giết người ta,
th́ ṭa chiếu luật mà bỏ tù hoặc đày họ. Họ khuấy rối xă-hội, th́ sẵn có luật
buộc họ phải đền tội. Ấy vậy hạng người đó ít hiểm cho bằng hạng người làm mặt
quân-tử rồi cắt họng lật lưng người ta, mà không có luật, hoặc có luật mà không
có đủ bằng cớ cho ṭa trừng-trị họ. Tôi cho hai hạng người đó tội ác như nhau,
th́ tôi có nhơn nhiều lắm rồi; nếu lấy tâm-lư mà xét th́ hạng người sau phải
chịu h́nh phạt nặng hơn hạng người trước kia mới đáng». Cuối cùng Phụng cướp tủ
sắt của bà Lợi cầm đồ rồi nhờ Trinh, người bạn nối khố, sau khi anh trốn đi th́
một nửa làm việc thiện c̣n một nửa đem cho gia đ́nh cô gái nghèo tên Tâm đă «tự
quyết hy-sinh thân-thể danh-giá hết thảy đặng cứu vớt gia đ́nh,... v́ nghèo, cha
đau nên phải làm đĩ». Và anh có cách tự phạt ḿnh: «tại tôi có cái tánh đa-sầu
đa-cảm thái-quá, thấy nhà nghèo, mẹ với em bị người ta khinh-rẻ, th́ đau ḷng
tức trí chịu không được, thấy cảnh thảm-khổ của người khác lại động ḷng rồi
thù-oán xă-hội, nên tôi mới phạm tội đại-ác như vậy đó. ... Tôi không chết, mà
cũng không tu. Tôi sẽ sống, song sống với cảnh đời không được hưởng vật ǵ của
xă-hội hết thảy, sống mà không được phép gần người ḿnh yêu, sống mà phải chịu
buồn thảm cực khổ, nghĩa là sống đặng đền tội cho xă-hội, chớ không phải sống
đặng chung vui với xă-hội». Phụng v́ uất t́nh đời nên làm cho bạn tưởng là đă
trốn đi tu, mất tích 12 năm, hóa ra anh t́m đến vùng Thất-sơn, Châu Đốc, sống
một ḿnh trồng khoai trồng đậu để đổi gạo mà ăn: «tôi đă phạm tội với xă hội,
tôi không được phép ở chung với xă hội nữa!».
Tác-giả để cho nhân-vật Trinh quan niệm «bố thí th́ không phải cất chùa cất miễu
hay cống hiến cho mấy hội gọi là hội phước thiện, mà phải đi chơi trong mấy xóm
nhà nghèo ở, thấy ai cùng khổ, hoặc bịnh hoạn th́ lấy bạc mà cứu giúp, ai khổ
nhiếu th́ giúp nhiều, ai khổ ít th́ giúp ít cho đến chừng nào hết số bạc ấy th́
thôi». Với đồng tiền đă cướp từ bà Lợi cầm đồ. Phụng, nhân-vật chính, th́ lại
nghĩ dù tránh khỏi luật người v́ xảy ra đă quá lâu nhưng vẫn nghĩ luật Trời
không làm sao tránh được! Trinh, bạn anh, th́ cho rằng «Lương tâm! - Trời Phật!
Nếu bà Lợi chưa chết, th́ bà làm hại thêm cho con nhà nghèo, chớ có ích ǵ. Bà
chết đó là may mắn cho nhiều người lắm. Huống chi toa lấy bạc của bà chẳng phải
toa lấy mà ăn xài, lấy đặng tấm gội cho những kẻ nhơ nhuốc, lấy đặng làm mạnh
cho những kẻ đau ốm, lấy đặng giúp sống cho những kẻ nghèo đói, thế th́ tội trộm
cướp sát nhơn của toa có chỗ dung chế được. Đă vậy, trọn 12 năm nay, toa đă phạt
thân toa cực khổ mà chuộc tội rồi. Các cớ ấy há không đủ làm cho lương tâm an
tịnh, đặng toa gần gũi má cho má vui, đặng toa kết tóc với cô Tâm cho cô phỉ
t́nh ước nguyện hay sao? C̣n toa sợ luật Trời, cái đó toa bậy lắm. Đời nầy mà
toa c̣n tin tưởng Trời Phật th́ trái mùa quá. Nếu Trời Phật có luật và thi hành
luật ấy hẳn ḥi, th́ làm sao những người biết nhơn nghĩa lại chịu nghèo khổ, c̣n
những kẻ tham lam lại được giàu sang? Toa phải về, đừng cải nữa... « Thêm lư
luận của Tâm 12 năm qua vẫn chờ Phụng để gá nghĩa đền ơn: «anh là người có ḷng
thương xót con nhà nghèo, anh cứu vớt em trong lúc em v́ nhà nghèo, cha bịnh mà
phải sa ngă dưới bùn dưới vũng... Anh nói anh có tội... Hứ! Tội! Người như anh
mà có tội ǵ. Anh phải có phước, chớ không phép có tội. Em nói anh có phước, anh
phải tin em. Anh co phước th́ anh phải hưởng phước, nghĩa là anh phải về đặng
cho em thờ phượng anh, đặng cho em nựng nịu anh, đặng cho em phỉ t́nh hoài vọng
mười mấy năm nay». Các nhân-vật đều có cùng một nhân sinh quan. Không khí
tiểu-thuyết và t́nh cảnh thích hợp tâm tính người những vùng đất mới, ở miền Nam
lục-tỉnh cũng như châu Mỹ, châu Úc, khá xa tâm lư người Nga (Âu-tây) của nguyên
tác.
- Chút Phận Linh Đinh (viết 1928) phỏng theo truyện En Famille 1893 của Hector
Malot cuộc đời của một đứa bé mồ côi trong khung cảnh xă-hội kỷ nghệ vào thế kỷ
XIX, cơ xưởng Saint Frères ở La Nièvre, vùng Somme nước Pháp. Chút Phận Linh
Đinh th́ phân tích tâm lư người Việt-Nam trong toàn cảnh phong tục văn-hóa
Á-đông; tác-giả đề cao tiết hạnh của người đàn bà Việt, và đề cao đạo làm con
đối với cha mẹ. Khi Thu Vân nghe tin thuyền chồng đi du học Pháp bị đắm đă toan
tính tự vẫn để giữ trọn nghĩa với chồng, nàng buồn rầu đem con vào Nam, tính
giao nó cho cha chồng nuôi trước khi ra tay. Nhưng vào tới Sài-G̣n, Thu Vân t́m
con bị thất lạc và t́nh cờ gặp lại Hai Th́nh. Hai Th́nh cho biết Thu Ba đă bị
đem bán cho người khác. Thu Vân buồn nản bị bịnh nên tạm ở nhà Hai Th́nh để tiếp
tục t́m con, nhưng bị vợ chồng Hai Th́nh gạt lấy hết của cải. Cuộc sống linh
đinh lưu lạc khổ sở gian truân của hai mẹ con bắt đầu từ đó. Thu Vân dẫn Thu Cúc
về quê chồng để giao cho ông Hội đồng nuôi dưỡng. Nhưng hai mẹ con sợ ông c̣n
giận nên tạm xin vào làm ở ḷ gạch của ông để chờ cơ hội tốt thổ lộ. Tại đây Thu
Cúc khám phá ra nhiều bí mật. Và gia đ́nh cuối cùng đoàn tụ. Hồ Biểu-Chánh cho
thấy t́nh nghĩa vợ chồng phải chịu nhiều thử thách trong một xă hội văn-hóa xưa
«cha đặt đâu con (trai) ngồi đấy, áo mặc không qua khỏi đầu»; nhưng cuối cùng
tác giả đă để cho nhân đạo và lẽ phải thắng, cải hóa hết trong đoàn viên và niềm
vui. Một tâm lư dĩ ḥa vi quí và t́nh người là trên hết, trên cả đạo lư Tống Nho
khắc nghiệt!
- Cha Con Nghĩa Nặng viết năm 1929, phóng tác theo tiểu-thuyết Le Calvaire 1886
của Octave Mirbeau. Le Calvaire gần như là tự truyện của tác-giả Mirbeau, kể lại
mối t́nh với một cô gái làng chơi: trở thành địa ngục của đam mê và là nguồn của
mọi đau khổ và luân lư tàn tạ; t́nh yêu cuối cùng chỉ là gian dối. Tác-giả chống
lại gia đ́nh, trường học và cả quân đội, biện hộ cho rằng quân đội tàn sát nhiều
sinh linh hơn những ǵ nhân-vật chính đă phạm. Hồ Biểu-Chánh kể chuyện Trần văn
Sửu vốn là nông dân thật thà, chăm chỉ, thương vợ, thương con, trong khi người
vợ lại lăng loàn. Một hôm Sửu bắt quả tang người vợ ngọai t́nh với Hương hào
Hội, thị đă ngọai t́nh mà lại c̣n ăn nói láo xược. Quá tức giận, Sửu xô té vợ
nhưng không may thị chết. Sửu đành phải bỏ trốn, hai đứa con được ông ngoại là
Hương-thị Tào nuôi, nhưng hoàn cảnh lại quá nghèo nên cả hai phải đi ở đợ. Khi
lớn lên, hai anh em thằng Tư con Quyên đều có cuộc sống ổn định và đang chuẩn bị
lấy vợ, lấy chồng th́ Sửu bỗng nhiên trở về, lúc đó Hương hào Hội nghèo mạt đă
phải bỏ trốn khỏi làng, Sửu thương con không muốn lư lịch ḿnh hại đến tương lai
hôn nhân của hai con, đă phải giả làm người Thổ lén về thăm nh́n, bị bố vợ lúc
đầu xua đuổi. «Thương yêu cha là người thiệt thà mà có tánh khoan dung đến nỗi
việc phải oán mà không nỡ cố oán, bền dạ thương con đến nỗi lúc hiểm nguy mà
cũng không quên chúng nó». Nhờ Tư ŕnh nghe được chuyện nên đă níu giữ cha lại
để rồi cha con đoàn tụ, hai con nên vợ nên chồng. Lại nhờ con rễ Ba Giai «làm
việc thầy kiện mấy năm, nên tôi biết luật chút đỉnh. Theo luật h́nh, ai phạm tội
tiểu h́nh th́ trong năm năm, c̣n ai phạm tội đại h́nh th́ trong mười năm, nếu
bắt không được th́ thôi, khỏi bị xử nữa. Bố vợ Sửu cuối cùng cũng tha thứ v́ con
gái ông «nó ở theo thói trâu chó, mầy giết nó th́ phải lắm, có tội ǵ đâu».
Tiểu-thuyết vẽ lên h́nh ảnh cuộc sống dân quê vất vả nhưng thật thà. Văn linh
động như đoạn đối thoại Sửu cục mịch hỏi vợ về tin đồn bà ta trắc nết ngoại t́nh
nhưng Sửu lại bị vợ chửi mắng và cuối cùng hai người ăn nằm t́nh tứ như không có
ǵ xảy ra - đoạn mà các nhà văn-học sử như Vũ Ngọc Phan đă cho là tuyệt tác,
giáo sư Bùi Xuân Bào th́ cho đoạn trên không những thành công mà c̣n táo bạo
trong văn-chương thời bấy giờ (23). Từ một nguyên-tác tiếng Pháp thường thường
bậc trung, Hồ Biểu-Chánh đă viết thành một tiểu-thuyết phong tục và t́nh cảm đặc
sắc!
- Kẻ Làm Người Chịu và V́ Nghĩa V́ T́nh phóng-tác từ hai tập tiểu-thuyết đại
chúng Les Deux Gosses và Fanfan et Claudinet của Pierre Decourcelle, khai thác
t́nh cảnh các nạn nhân thường là nhân-vật anh hùng bị lôi cuốn vào những t́nh
huống bất công và phải chịu những án tù vừa dài vừa tàn nhẫn v́ những tội ác họ
không phạm, nhưng cuối cùng th́ họ được phục hồi danh dự. Kẻ Làm Người Chịu kể
giai đoạn đoạn trường và V́ Nghĩa V́ T́nh là chuyện oan trái được giải tỏa và kẻ
ác phải trả nợ, người hiền hay bị oan th́ được đền bù, đoàn viên. Chánh Tâm và
Cẩm Vân sống với nhau rất hạnh phúc nhưng Chánh Tâm v́ ghen lầm nên hại vợ khiến
phải bịnh nặng và được người quen để ở trong Chùa Hang. Chánh Tâm đậu xong tú
tài ở Pháp về nhà, t́nh cờ bắt được lá thư của Trọng Quí lần ṃ t́m ra đầu mối
sự thật mới biết là vợ bị oan, nay thân thế điên cuồng, con th́ biệt tích. Kẻ
làm ác là Phùng Xuân trong khi Trọng Quí, Cẩm Vân phải chịu tiếng oan. Tập V́
Nghĩa V́ T́nh đưa người đọc sống cảnh ‘cha con tương phùng, vợ chồng hội hiệp’.
Chánh Tâm được đoàn tụ với vợ con, Cẩm Vân th́ muốn trả ơn cho cô Năm Đào «nết
na đằm thắm, mà nhan sắc lại đẹp đẽ nữa» đă «v́ đại nghĩa mà phải liều danh dự»
cứu gíup chồng ḿnh, nên «muốn kết nghĩa chị em và ở chung một nhà với cô Năm
Đào, rồi lại cậy Trọng Quí làm mai đặng cho chồng nàng cưới cô làm đệ nhị pḥng»
nhưng cô Năm Đào trọng danh dự không muốn được đền bù. Tiểu-thuyết nguyên-tác
giúp tác-giả thành triệu phú trong khi phóng tác của Hồ Biểu-Chánh hợp thị hiếu
độc giả b́nh dân thời bấy giờ ở miền Nam!
- Ở Theo Thời: Trong nguyên tác vở kịch Topaze, Marcel Pagnol châm biếm thói t́m
cách ngoi lên của những ông thầy Topaze và Tamise. Họ trở thành nạn nhân của
chính lương tâm nghề nghiệp sư phạm mà từ ban đầu họ đă hết ḿnh. Topaze là nạn
nhân đầu tiên, khi bị đuổi việc phải làm nghề dạy kèm để từ đó khám phá ra mặt
trái của thế giới trưởng giả và chính khách. Khi ông trở nên giàu có đầy quyền
lực, ông nhận ra cái luân lư dạy cho con trẻ ngày trước đă lỗi thời. Tamise bạn
ông, cuối cùng cũng đi theo con đường của Topaze. Ở Theo Thời kể chuyện một thầy
giáo trẻ, tên Hà Tấn Phát, vừa mới ra trường, được đưa xuống một làng quê dạy
học. Thầy giáo Phát sống rất đạo đức và làm việc với lương tâm của một giáo
chức: chăm chỉ, siêng năng, không bài bạc, không điếm đàng. Lối sống nầy của
thầy đă khiến cho nhiều đồng nghiệp ngày càng khó chịu và xa lánh dần. V́ muốn
giúp một người bạn nên thầy giáo Phát nhận tạm làm chủ một gia tài với kết quả
là cả hai đều bị ra ṭa và thầy Phát mất luôn chỗ làm. Rồi thêm vài tṛng tréo
khác của người đời, tốt ḷng mà bị oan trái, thầy Phát quyết tâm «ở theo thời».
Đây là một sự giằng co giữa đạo đức, lễ giáo và nếp sống đua chen, lường gạt
trong xă hội Việt-Nam thời Pháp thuộc, đă được Hồ Biểu Chánh diễn tă rất sống
động và hấp dẫn. Trong tập tiểu-thuyết này, Hồ Biểu-Chánh đă lư luận dài ḍng và
ít động tác hơn những tác-phẩm khác.
«Lời thánh hiền! Lời thánh hiền hay là hay hồi đời thánh hiền đó ḱa, chớ theo
bây giờ th́ em coi giở quá, mà ḿnh làm theo lại hại cho ḿnh nữa chớ. Thầy nghĩ
đó coi, như thánh hiền xưa nói: «Hoạnh tài bất phú». Trời ơi, sao lại bất phú?
Không nhọc sức mà được tiền, th́ là sướng lắm, mà hễ được tiền th́ làm giàu
ngay, tại sao mà nói bất phú. C̣n câu: «Tiền tài như phấn thổ» th́ sai nhiều
nữa. Tiền tài là tiền tài, chớ tiền tài như phấn thổ sao được. Em nhớ câu: «Nhơn
nghĩa thắng thiên kim» em bắt tức cười. Đời nầy nhơn nghĩa thắng thiên kim không
nổi đâu. Ḿnh nghèo ḿnh nói nhơn nghĩa ai thèm nghe chớ họ có thiên kim họ nói
bậy thiên hạ cũng dạ rân. Lại có câu «Nghèo cho sạch, rách cho thơm». Thầy xét
cho kỹ mà nói, nghèo mà sạch giống ǵ, rách mà thơm sao được, phải giàu người ta
mới khen sạch, phải lành người ta mới khen thơm chớ. (...) Ở đời nào phải làm
theo đời nấy. Ḿnh giữ cái nhơn nghĩa mà đối với cái đời tiền bạc nầy, th́ ḿnh
đă thua sút người ta, mà lại c̣n bị người ta chê cười nữa».
«Bây giờ tánh t́nh em đổi khác hơn xưa, là v́ em thấy đủ nhơn t́nh thế thái rồi
chán ngán quá. Em làm phải, em bị người ta khi; em ở phải, em bị người ta gạt.
Em làm quấy, em được người ta khen; em ở quấy, em được người ta trọng. Cái đời
như vậy, th́ cần ǵ mà lo phải quấy. V́ vậy đó nên em phải lập tâm lăn lộn theo
thiên hạ, đặng cho hiệp với nhơn t́nh, đặng khỏi thua sút người ta. Em tự quyết
từ rày sắp lên đối với người đời, em chẳng đê? cho họ khi hay là gạt được em nữa
đâu. Thiên hạ cư xử thế nào, em cũng cư xử theo họ như vậy. Tuy vậy mà dầu làm
theo thiên hạ chớ cái gốc đạo đức em vẫn nắm vững bền, cái ḷng nghĩa nhơn em
vẫn nuôi kỹ lưỡng; nắm đạo đức, nuôi nghĩa nhơn đặng em vui riêng cái thú của
em, dầu ai biết hay là không biết cũng chẳng quan hệ ǵ, miễn lương tâm em thơ
thới th́ đủ. Xin thầy đừng có lo những lời em luận hồi hôm đó mà đoán cho em đă
trở nên một đứa gian xảo trá. Đối với thiên hạ th́ em cũng là một «thằng điếm
trong một xă hội» nầy như họ vậy, nhưng mà thằng điếm có lương tâm, có nhơn
nghĩa. (...) Hồi trước thầy truyền cho em cái nhơn đạo mà thôi, bây giờ em cải
lương chế sửa cái nhơn đạo ấy cho thích hiệp với thời cuộc, th́ hay lắm». (...).
Ông giáo Lư Kỳ Phùng thầy cũ của Phát đành phải theo lư lẽ «ở theo thời»: «Em
luận th́ trái đạo lư, song nghe cũng có chỗ phải».
Qua các tiểu-thuyết phóng tác vừa xét qua, Hồ Biểu-Chánh cho thấy đă đón nhận
văn hóa Tây-phương thể hiện qua phong cách viết tiểu thuyết, qua kỹ thuật bố cục
xây dựng tiểu-thuyết đă thoát dài ḍng, rườm rà của truyện-chí Trung-Hoa, qua
cách kể chuyện không theo hẳn đường thẳng trước sau và qua việc cổ vơ cho ‘kim
thời tiểu-thuyết’ và đề cao vai tṛ nhà văn trong xă hội ở buổi giao thời. So
với một số nguyên tác, các tiểu-thuyết phóng tác của ông cũng ngắn gọn hơn, đi
thẳng vào trọng tâm câu chuyện và ư tưởng, chớ không dài ḍng thuyết minh như
nguyên tác (của F. Dostoevski hay Victor Hugo chẳng hạn). Nhờ sử-dụng ngôn-ngữ
đời thường, nhờ những cảnh tượng thực tế của đời sống ở thành thị cũng như thôn
quê đă khiến tiểu-thuyết phóng tác của Hồ Biểu-Chánh thoát được tính sáo rỗng
hoặc bị g̣ theo khuôn mẫu luân lư. Độc giả dù đă đọc nguyên-tác vẫn bị
tiểu-thuyết của Hồ Biểu-Chánh gây bất ngờ và lôi cuốn; đại chúng th́ lại càng
không biết đó là những phóng tác, mà những tác-phẩm nổi tiếng (được nhắc nhở hay
lên phim) của Hồ Biểu-Chánh lại là những phóng tác.
Khởi đầu nghiệp văn bằng thể-loại văn-chương truyền thống, rồi phóng dịch, phóng
tác một số tác-phẩm của Âu-tây, Hồ Biểu-Chánh đă mạnh bước sáng tạo những
tiểu-thuyết có tính cách ‘Hồ Biểu-Chánh’ và Việt-Nam thích ứng với thời hiện-đại.
Hồ Biểu-Chánh vừa sử-dụng kỹ thuật thể-loại tiểu-thuyết Âu-tây, vừa khởi đi
nhưng rồi rời xa thể-loại truyện thơ truyền thống, như vậy là ông đă t́m cách
thoát khỏi ảnh-hưởng truyện-chí của Tàu và truyện thơ Nôm. Cũng như về nội dung
và tư tưởng chỉ đạo trong tác-phẩm, ông đă tạo nên một thể cách tiểu-thuyết Việt
Nam! Có thể nói Hồ Biểu-Chánh đă thành công làm cây cầu nối từ truyền thống ra
đến hiện đại! Dù làm công chức cho người Pháp nhưng trước sự bành trướng của chủ
nghĩa thực dân, Hồ Biểu-Chánh đă sợ Việt-Nam bị thực dân đồng hóa, ngoại hóa,
làm cho mất gốc, mất nền, do đó ông đă chủ trương tổng hợp văn-hóa (syncrétisme)
nhưng vẫn c̣n ngại ngần không triệt để với văn-hóa Bắc-thuộc v́ từng và vẫn là
cái Ta chung, tức chung gốc. Ông đă đại chúng hóa những khuôn thước của
văn-chương bác học đó và đưa vào văn-học nhân sinh quan và thế giới quan của văn
hóa dân gian cùng với kho tàng ngôn ngữ đời thường. Nếu động năo th́ sẽ thấy cần
phải xác định lại ư niệm ‘Đông-phương’ gốc chung hay cái Ta chung này như đă bị/được
Edward Said đem ra mổ xẻ trong Orientalism (1979). Theo ông, Đông-phương đă trở
nên đồng nghĩa với bị động, thụ động, thấp kém, xa lạ, là kẻ khác bên cạnh
phương Tây. Đông-phương trở thành tu từ, quan điểm và nghiên cứu bị Đông-phương
hóa, bị thể chế hóa và chi phối bởi những viễn cảnh và thành kiến về ư-thức-hệ,
một thứ ảo ảnh do các nhà Đông-phương học người Tây-phương chế ra. Tiến bộ cũng
có thể (và đă) đến từ Á-đông và các nước cựu thuộc địa (Nhật, Hàn, Mỹ châu,
v.v.), và những tiêu chuẩn đánh giá văn minh và văn-hóa cũng khó hiển nhiên một
cách khoa học!
Như vậy, Hồ Biểu Chánh đă không hoàn toàn theo cách viết văn xuôi của Nguyễn
Trọng Quản, v́ bên cạnh ảnh hưởng hiện đại của Nguyễn Trọng Quản, ông lại vẫn
không hoàn toàn dứt bỏ được lối văn biền ngẫu và cách kết cấu chương hồi của
thời đại ông. Ngoài ra, Hồ Biểu-Chánh dùng chất liệu tiếng nói của dân chúng
hằng ngày sử-dụng ở nhiều vùng đất rộng lớn để xây dựng ngôn ngữ tiểu-thuyết với
phương-tiện kỹ thuật tiểu-thuyết và cách hành văn trong sáng của Tây phương, từ
đó sáng tạo nên ngôn-ngữ của nghệ-thuật làm khác ngôn-ngữ của cuộc-sống. Hơn nữa
Hồ Biểu-Chánh đă khéo léo lồng ngôn-ngữ, lời nói, lối nói của các nhân-vật trong
một khung cảnh tiểu-thuyết, phân bố cục chặt chẽ chứ không trống trơn, bỏ rơi
theo lối kể chuyện. Ghi lại lời ‘quê mùa’, mộc mạc, v́ ông muốn trung thành vẽ
lên những bức truyền thần về đời sống và tâm lư, phong hóa của một miền đất nước
ở vào một thời điểm lịch-sử! Sự đóng góp quan trọng của Hồ Biểu-Chánh c̣n là yếu
tố Việt-Nam ở lối truyện kể dân gian đă từng phát triển với các truyện cổ tích
và khôi hài cũng như qua ca dao tục ngữ. Ảnh hưởng này thấy rơ trong Cha Con
Nghĩa Nặng, Ngọn Cỏ Gió Đùa,... Có thể nói các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh là
một phát triển tự nhiên từ những truyện Lục Vân Tiên, Hậu Lục Vân Tiên hoặc
những truyện thơ phát triển mạnh ở trong Nam. Về h́nh thức đă vậy, mà về nội
dung, các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh và một số nhà văn tiền phong vẫn cố giữ
yếu tố truyền thống dân tộc trong đó luân lư, phong hóa giữ một nhiệm vụ quan
trọng. Trong «Đời của tôi về văn nghệ», Hồ Biểu Chánh cho biết hồi ông mới bắt
đầu viết tiểu thuyết th́ tŕnh độ học thức của quần chúng c̣n thấp kém, phần
nhiều người ta thích đọc truyện t́nh và truyện phiêu lưu, c̣n loại tiểu thuyết
phong tục th́ quần chúng chưa biết (24). V́ thế, ông đă viết Ai Làm Được là
truyện vừa diễm t́nh vừa phong tục, và Chúa Tàu Kim Quy là truyện phiêu lưu pha
diễm t́nh. Hồ Biểu Chánh sau đó hiện đại hơn với Khóc Thầm, Tiền Bạc Bạc Tiền,...
Dù vậy vào cuối đời, khi nh́n lại chặng đường sáng tác của ḿnh, Hồ Biểu Chánh
tự nhận thấy: «Sản xuất cả mấy chục pho tiểu thuyết, luôn luôn tôi vẫn theo đuổi
theo cái mục đích duy nhất là: Thành nhân với Thủ nghĩa» và điều này đă trở
thành niềm tự hào được ông nhắc tới trong di chúc của ḿnh: «viết tiểu thuyết ta
cũng cố giữ vẹn đạo hiếu nghĩa» (25).
Về phần Hồ Biểu-Chánh, ông không chú trọng làm văn-chương thuần túy và ông theo
thị-hiếu của người đọc của thời mà văn-học và báo chí đă được đại chúng hóa. Lấy
Ai Làm Được làm thí dụ, ông gọi đó là «tiểu-thuyết tả chân», trong khung cảnh
đất Cà-Mau, một thử nghiệm đầu tiên. Thật vậy, trong tiểu-thuyết Hồ Biểu-Chánh,
văn-chương giản dị, tác-giả kể chuyện hơn là diễn tả toàn chuyện, làm văn hoặc
khai thác t́nh tiết rối rắm. Không rối rắm lắm v́ ở ông, t́nh tiết, diễn tiến
thường được thuận theo lư-giải hoặc lẽ Trời, lẽ đương nhiên, nhân quả, thiện
thắng ác dù trễ tràng và t́nh gia-đ́nh, t́nh người luôn thắng thế. Thời gian
diễn tiến thường theo chiều thuận - Hồ Biểu-Chánh chưa dám mạo hiểm ‘hiện-đại’
như Nguyễn Trọng Quản. Nói chung, kết có hậu và thường tác-giả không quên «thưởng
phạt» các nhân-vật! Truyền thống «thiện ác đáo đầu chung hữu báo» khiến lúc nào
cũng có hai phe phía thiện-ác được thể hiện qua ngôn-ngữ cũng như hành động của
nhân-vật. Hai loại nhân-vật lẫn trong tập thể các nhân-vật thuộc nhiều giai-tầng
xă-hội, tức trong đơn điệu (lưỡng đầu) vẫn có đa dạng, nhờ cách dùng chữ và
ngôn-ngữ đă làm phong-phú t́nh tiết, diễn-tiến và nội-dung.
Từ Trương Vĩnh-Kư, Hồ Biểu-Chánh đă tiến thêm một bước, tự nhiên hơn, trơn tuột
hơn. Trong các đối thoại đă có dàn dựng, có kịch tính, có bất ngờ; bàn tay
tác-giả đă phong phú hóa ngôn-ngữ và tương-đối đă văn-chương hơn, bớt luộm thuộm,
bớt Tàu quá! So với Nguyễn Trọng Thuật (Quả Dưa Đỏ, 1925) và Hoàng Ngọc Phách (Tố
Tâm, 1925) hoa mỹ, cầu kỳ, trừu tượng và cả thi vị ra sao th́ Hồ Biểu-Chánh
tự-nhiên và giản dị b́nh dân bấy nhiêu và đến gần tiếng Việt thống-nhất của cả
nước. Thật vậy, ngôn-ngữ văn-chương Việt-Nam được Tây phương hóa rồi hiện đại
hóa, từ Phan Khôi, Tự-Lực văn-đoàn đă đi đến nhóm Sáng-Tạo rồi trở về căn bản
Việt-Nam đồng thời liên tục tiếp tục đón nhận những trào-lưu văn-chương mới. Vậy,
phải chăng tự nhiên, giản dị là thấp kém và văn-chương hoa mỹ cao quư hơn? Thiển
nghĩ Hồ Biểu-Chánh tự nhiên và giản đơn của con người có văn-hóa thời đại của
ông chứ không phải là thô-thiển, hạ cấp! Các nhân-vật thấp hèn trong tiểu-thuyết
của ông có người ác-độc hay cộc cằn ở một hoàn cảnh nào đó nhưng không thô lỗ và
mục đích của tác-giả không ở chỗ gợi dục vọng và đề cao cái ác (Ác có thắng th́
cũng để gây suy nghĩ, đặt vấn đề cho người đương thời)!
Như đă nói, văn Hồ Biểu-Chánh thuộc truyền-thống hành văn trơn tuột như lời nói.
Lối viết này thể hiện trong ngôn-ngữ đối thoại của các nhân vật đă đành, mà c̣n
cả trong văn truyện và mô tả cảnh t́nh, tả tâm lư. Ngoài ra, tả thực là một đặc
điểm trội bật của tiểu thuyết của Hồ Biểu-Chánh kể cả trong các phóng tác:
tác-giả thường tả thực, đem muôn mặt sinh động của xă hội và đời sống vào tác
phẩm, chân dung và hành cử của những con người thời đại, lớn nhỏ cũng như cao
thấp (những nhà đại kinh doanh, chủ máy xay, chủ hăng tàu thủy, ông phủ, ông
huyện, hội đồng, hương chức, thanh niên trí thức tân học, thầy thông thầy kư,
thầu khoán, gái điếm, v.v.). Trong các tiểu thuyết đầu đời, Hồ Biểu Chánh đă ghi
lại cảnh sinh hoạt, đời sống, ngôn-ngữ và con người... của xă hội miền Nam sau
thế chiến thứ nhất, từ chủ đến thợ, kư lục, nghệ sĩ giang hồ, me tây, gái
điếm.... Xă hội miền Nam ở những nơi hẻo lánh như Cà Mau rồi Mỹ Tho, Châu
Đốc,... hay đô hội như Sài-G̣n, Chợ Lớn,... Những người thấp kém, nghèo hèn,
thấp cổ bé miệng trong Ngọn Cỏ Gió Đùa, Cha Con Nghĩa Nặng,... Với những suy
nghĩ, ngôn ngữ và hành cử của nhân vật cũng như cách diễn tả tiểu thuyết có tính
thật của đời sống lúc bấy giờ. Tính hiện thực c̣n là việc sử-dụng các địa danh
và ngôn-ngữ tạp lục của miền Nam (người Hoa Quảng Đông, Triều Châu, Thổ Miên,
Chà, Tây, v.v.).
Ngoài ra, khuynh-hướng giáo-dục quần chúng lộ rơ trong nhiều tác phẩm của Hồ
Biểu-Chánh. Ông luôn đề cao những nhân vật thiện hoặc người xấu cuối cùng cũng
cải hóa, theo con đường lương thiện. Kết cục loại truyện này có hậu, thiện bao
giờ cũng thắng ác. Lạc quan khi tin ở nhân quả, phúc họa vô lường, ở hiền gặp
lành, tin tưởng có thần đến cứu (Ngọn Cỏ Gió Đùa). Ngay Thầy Lazarô Phiền cũng
là truyện luân lư nói đến sự hối hận và chuộc tội! Đời sống mới, có tốt th́ cũng
có mặt trái. Hồ Biểu Chánh ngay từ những tác phẩm đầu như Ai Làm Được, v.v, đời
thường đó được đưa vào tiểu thuyết một cách tự nhiên các nền tảng đạo lư trở nên
nồng cốt cho một xă hội mới từ đây không vua ở trên và không huấn-đạo ở địa
phương, mà giai cấp nhà Nho cũng mất chỗ đứng! Hồ Biểu Chánh kể trong «Đời của
tôi về văn nghệ» rằng ông viết tiểu thuyết với ư muốn «cảm hóa quần chúng mà đưa
họ trở lại con đường nghĩa-nhân chính-trực» (26). Giáo dục quần chúng, đề cao
những giá trị truyền thống của dân tộc như lễ nghĩa, nhân đạo, thuyết nhân quả.
Đối với Hồ Biểu Chánh và một số nhà văn tiền phong miền Nam, tác phẩm được viết
không cốt yếu để đưa ra những lư thuyết cao siêu trừu tượng, những diễn văn dao
to búa lớn rỗng nội dung, mà như chỉ để chứng minh những truyền thống, tư tưởng
luân lư ngàn đời hăy c̣n sống động và có giá trị, cũng như để vẽ chân dung những
nếp cũ phong hóa đặt trong môi trường giao-động, giả-chân của một thời buổi phải
tiếp-xúc đối đầu với văn-minh Tây-phương trong vị-thế yếu. Về nội dung, các tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh (và một số nhà văn tiền phong) vẫn cố giữ yếu tố truyền
thống dân tộc trong đó luân lư, phong hóa giữ một nhiệm vụ quan trọng. Đa số các
tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, phóng tác cũng như sáng tác, nặng tính luân lư,
chỉ cần xem qua các tựa cũng đă rơ phần nào nội dung và chủ đích. Văn dĩ tải
đạo, viết để xiển dương đạo lư, mà ông lại tỏ ra thủ cựu tư tưởng dù làm việc
cho tân trào là chánh quyền thuộc địa Pháp. Một đạo lư truyền thống nhưng phổ
quát, b́nh dân, thực tế áp dụng chứ không luân lư suông, cứng nhắc, do đó mà
truyện ông lắm khi dài ḍng: cảnh Trần Văn Sửu lỡ xô ngộ sát vợ ngoại t́nh, mười
mấy năm trốn sống vùng người Thổ (Miên) lén lút về thăm con, dài ḍng nói đi lư
lại cốt chỉ để tả cha con thâm t́nh ra sao, tía vợ hiểu con rể thế nào, v.v.
trong Cha Con Nghĩa Nặng! T́nh cha con thắm thiết nhưng nhẹ nhàng, đầy đủ chứ
không cứng nhắc như «nghiêm đường, hiếu tử» ở miền Ngoài! T́nh phụ-tử được Hồ
Biểu Chánh triển-khai trong Ngọn Cỏ Gió Đùa khác với nguyên-tác Les Misérables
của Victor Hugo: t́nh con Vương Thể Phụng đối với cha Thể Hùng thật thấm thiết!
Yếu tố đạo đức, luân lư nói trên một phần là v́ tác-giả Hồ Biểu-Chánh đă theo
thị hiếu của độc giả thời bấy giờ, nhưng cũng thêm rằng thị hiếu này đă phải có
những thay đổi trong một xă hội ngày càng biến hóa theo thời, tiền bạc được
trọng hơn chẳng hạn trong Tiền Bạc Bạc Tiền, nhân-vật thầy kư Huy thay mặt những
giáo chức dạy bảo cho Hà Tấn Phát: «Đời này là đời danh lợi, là đời kim tiền, từ
lớn chí nhỏ, từ sang chí hèn, thảy đều tranh đua với nhau mà làm cho có tiền,
không kể cách làm đó hiệp nhân nghĩa hay không hiệp. Hễ có tiền rồi th́ lo mua
cái danh, không cần xét cái danh đó là trong hay là đục».
Hồ Biểu Chánh đă tỏ rơ lập trường đạo đức của ông như là một tiểu thuyết gia cải
lương xă hội. Trong số các tiểu thuyết gia thời đầu thế kỷ XX, Hồ Biểu Chánh có
tư tưởng dung ḥa cũ-mới một cách chọn lọc, mời gọi khai phóng và thực tế.
Truyện ông nói đến đủ thế thái nhân t́nh mới cũ, chân dung và quan hệ, mỗi cái
đều có tích cực cũng như mặt trái, vấn đề là làm sao để áp dụng vào cuộc sống.
Hôn nhân gia đ́nh là phong hóa tốt, nhưng cũng có những mặt trái, cổ hủ phong
kiến cũng như theo mới quá tự do đều có những trở ngại, hạn chế. Mê tín dị đoan,
ngoại t́nh, hiếp dâm, án mạng, lường gạt, thủ đoạn, v.v. xuất hiện thường xuyên
trong nhiều tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, được ghi nhận như bức tranh xă hội
nhưng đồng thời ngụ ư chê trách, mời gọi cải đổi. Cả giai cấp thống trị, quan
lại mà ông là thành phần (khác chế độ) cũng bị ông phê phán (Từ Hải Yến trong
Ngọn Cỏ Gió Đùa), v́ đối với ông có nhiều cái vượt quá khuôn khổ đạo lư thông
thường! Thế giới tiểu-thuyết của Hồ Biểu-Chánh không có những nhân vật điển
h́nh: ông hội đồng, đốc phủ hay điền chủ không nhất thiết là người xấu, vẫn có
những địa chủ giàu ḷng nhân ái, sẵn sàng giúp đỡ người hoạn nạn, và người nghèo
không hẳn đă là người tốt. Các nhân vật nói chung rất linh-hoạt, sống động như
cuộc sống, câu chuyện nhiều bất ngờ thích thú không đoán trước được như với
truyện truyền thống (trong Ai Làm Được, ngoài ảnh-hưởng truyện chí của Tàu, Hồ
Biểu-Chánh thêm tâm lư nhân vật, t́nh huống và những sự kiện bất ngờ đến để giải
vây t́nh huống khó khăn, căng thẳng). Trong toàn bộ tác-phẩm của ông, Hồ
Biểu-Chánh đă đa dạng hóa các nhân vật thuộc đủ mọi thành phần xă-hội, giáo
dục,... và đặt họ trong nhiều môi trường, t́nh cảnh, tạo nên nét độc đáo, đặc
biệt ‘Hồ Biểu-Chánh’!
Vai tṛ của phụ nữ được cập nhật theo thời và được đề cao hơn so với văn hóa
Tống Nho. Trong Tân Phong Nữ Sĩ và một vài tiểu-thuyết khác, Hồ Biểu-Chánh không
những đề cao vai tṛ mà c̣n để cho một số nhân-vật nữ có những tư tưởng sáng
suốt và hành cử hợp thời điểm và hoàn cảnh: điểm này khá xa với quan niệm «nhất
nam viết hữu, thập nữ viết vô» của tam ṭng tứ đức. Hôn nhân tuy vẫn theo nếp
cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy nhưng ở Hồ Biểu-Chánh đă có hiện tượng dung ḥa rộng
răi hơn và tự do luyến ái được đề cao. Ông đă hơn một lần đưa vào truyện như mặc
nhiên nh́n nhận việc trai gái sống chung không hôn thú và cả «tiền dâm hậu thú»
(Hai Thà Cưới Vợ, Bỏ Vợ,...) - những sống thử và sống chung thường được xem như
b́nh thường nơi miền đất mới. Hoặc cũng theo tinh thần đạo lư của truyện Tàu,
nhưng Hồ Biểu-Chánh lại đề cao tính người, giá trị con người, muốn con người hăy
làm con người đúng nghĩa và con người là hiện thân của Chân Thiện Mỹ - một đạo
lư hoàn toàn nhân bản, dân gian, liên hệ đến hoàn cảnh sống cụ thể của miền đất
Nam-kỳ tân lập, chứ không phải xuất phát từ giáo điều, thanh giáo! Hơn nữa trong
tiểu-thuyết của Hồ Biểu-Chánh tam giáo như đă hoà tan (syncrétique) như thực tế
xă hội miền Nam, không c̣n tách bạch xơ cứng và riêng rẻ độc tôn, mà một số tư
tưởng tôn giáo Âu-tây (bác ái, sám hối,...) cũng đă xen kẽ vào. Quan điểm tiến
bộ của Hồ Biểu-Chánh như sát cánh với phong trào đ̣i «đưa Quan Công về Tàu» và
«mời Thích-ca về Ấn Độ», và rơ ràng là ông đứng về phía canh tân, chấn hưng
văn-hóa, ly khai và chống lại những tàn tích của Tống Nho và giả h́nh!
Nếu Trương Vĩnh-Kư, Húnh Tịnh Paulus Của chập chững ḍ dẫm bước đi với những
văn-bản quốc-ngữ đầu tiên, phôi thai, đơn sơ, nếu Nguyễn Trọng Quản Tây-phương
nhanh hơn con người cùng thời đại, th́ Hồ Biểu-Chánh đă vững bước hơn, vừa
Âu-hóa kỹ thuật, vừa bảo-tồn sắc-thái dân-tộc cũng như địa phương, vừa mô phỏng
(những tiểu-thuyết phỏng dịch) vừa sáng-tạo, chính là nhờ ngôn-ngữ sử-dụng trong
tiểu-thuyết của ông vậy! Bút pháp, kỹ thuật và nội-dung ở Hồ Biểu-Chánh dường
như bất biến khiến người nghiên cứu có cảm tưởng tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
không tiến theo bước đường hiện đại hóa ngày càng thôi thúc của văn-học phần nửa
đầu thế kỷ XX. Lịch sử phát triển thể-loại tiểu thuyết đă để lại cho nền văn-học
Việt-Nam những thành tựu đáng kể nếu tính từ khi h́nh thành thể loại văn-học
này. Hồ Biểu-Chánh không theo thời nhưng cập nhật, theo con đường hiện đại riêng
cũng đă để lại cho hậu thế những tác-phẩm đặc sắc, rất ‘Hồ Biểu-Chánh’. Dù ǵ
th́ Hồ Biểu-Chánh cũng đă là một hiện tượng văn-học đặc biệt, vừa truyền thống
vừa hiện đại, vừa đại chúng vừa trí thức. Những đặc tính này sẽ tiếp tục với
những Sơn Nam, B́nh-Nguyên Lộc,... sau này. Những nhà văn rất Nam-kỳ lục-tỉnh
này đă làm phong phú chữ quốc-ngữ cũng như ngôn-ngữ tiểu-thuyết!
4- Thực-dân và hậu-ngoại-thuộc
Sau hơn ngàn năm (bốn lần) Bắc-thuộc, nước Việt-Nam đă ch́m đắm trong văn-hóa
Bắc-thuộc, từ tổ chức chính trị, luật pháp, xă hội đến ngôn-ngữ và sinh hoạt
văn-học nghệ-thuật. Hăy gọi giai đoạn này là Bắc-thuộc để phân biệt với thực dân
Pháp, dù cả hai đều là thực-dân với mục đích ‘cao đẹp’ là ‘khai hóa’ (hay ‘bảo
hộ’) toàn là mỹ từ nhưng thực ra họ đều muốn làm chủ, thống trị và chi phối
quốc-gia khác. Mỗi thực dân (Trung-Hoa, Pháp) có những mưu đồ khác nhau do nguồn
xuất phát địa lư và văn-hóa. Người Hán (rồi Hoa) và Pháp cuối cùng đều rút quân
đội và guồng máy cai trị khỏi Việt-Nam, nhưng thực-dân văn-hóa vẫn ở lại qua
nhiều h́nh thức và quá sâu đậm khiến nay thế kỷ XXI đă là thời của hiện đại
Âu-Mỹ (với những h́nh thức thực-dân mới !) mà phần lớn trí thức và sĩ phu vẫn
không thoát-ly được và hơn nữa, vẫn thần phục và vẫn ‘cơng rắn cắn gà nhà’ (biên
giới Lạng Sơn và các đảo Trường Sa, Hoàng Sa rồi bauxite trên cao-nguyên!) cũng
như đă và đang cơng rắn ‘ngôn-ngữ’ và ‘kinh tế’ làm ‘gà nhà’ mất dần Việt tính.
Dưới thời Bắc-thuộc, đă có những nỗ lực vươn lên chứng tỏ thực lực dân tộc với
những Nguyễn Trăi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, v.v. nhưng vẫn chưa
vượt thoát được sự lệ thuộc Bắc-thuộc đó, qua ngôn-ngữ sử-dụng, điển tích, tứ, ư
và thể-loại văn thơ, v.v. - đưa đến khuynh hướng nhận diện và tách biệt yếu tố
Việt-Nam khỏi rừng già Hán tộc như của LM Kim Định sau này. Tính Việt thời nào
cũng mạnh và để lại dấu vết đặc thù trong các sáng tác của tác-giả Việt Nam, từ
Nguyễn Trăi đến Nguyễn Du và về sau.
Ngay từ đầu thời thuộc địa Cochinchine, ở miền Nam lục-tỉnh đă có những nỗ lực
canh tân, hiện đại hóa đất nước. V́ những t́nh cờ lịch-sử, người Việt Công-giáo
đă là đa số trong những người đi đầu về tiếp nhận, nhập vào và tổng hợp văn hóa;
thời của tự tôn và «bế quan toả cảng» xem như cáo chung. Khác với thời ‘văn-hóa
chung’ Nho giáo (và tam giáo) trước đó, văn-hóa (và các phó sán văn-học, văn
minh vật chất, ..) nay khác hẳn, như là một đoạn tuyệt với thế giới cũ
lịch-triều. Như vậy có thể xem những nhà văn hóa tiên phong này đă mở một kỷ
nguyên Hậu Bắc-thuộc, nhưng không phải dễ v́ ảnh-hưởng Bắc-thuộc hăy c̣n quá
nặng và có thể xem như xă hội Việt-Nam khi người Pháp đến, đă là một chư hầu về
văn-hóa của Trung quốc hay nói cách khác, Ta và Người đă nhập làm một. Nhiều nhà
văn đă sử-dụng chữ quốc ngữ và phương tiện tiểu-thuyết, thể-loại của Âu-tây để
tiếp tục một thứ văn-hóa Bắc thuộc nhưng cũng có những nhà văn như Hồ Biểu-Chánh
tiến xa hơn, làm một tổng hợp văn-hóa (syncrétisme) qua tác-phẩm của ḿnh, có
thể xem như là một nỗ lực vươn ra ngoài khuôn khổ văn-hóa Tây thuộc? Từ đầu thế
kỷ XX, Phan Bội-Châu, Trần Chánh Chiếu và các sĩ phu Duy tân, Đông-du (sau những
Trương Vĩnh Kư, Nguyễn Trường Tộ, v.v. của thế kỷ trước) đă thất vọng về những
cái gọi là ‘truyền thống’, là ảnh-hưởng Nho học đều là những tàn tích Bắc-thuộc,
do đó đă nỗ lực hiện-đại, Âu hóa đất nước và con người qua Tân thư và con đường
Nhật-bản, nhờ v́ ư thức dân tộc ngày càng rơ với giới sĩ phu. Phong trào Đông-du
và mở trường truyền bá chữ quốc-ngữ và tư tưởng mới với khẩu hiệu ‘Giáo dục quần
chúng để canh tân xứ sở’. Sĩ phu và trí thức Việt-Nam khi mở trường Đông-kinh
nghĩa thục và khơi động các phong trào Duy tân đầu thế kỷ XX, một trong những
mục đích hàng đầu là về văn hóa, là đổi mới nền học thuật và văn hóa với những
tư tưởng mới của Âu tây, tức là làm sao hiện đại hóa đất nước song hành và hỗ
trợ công cuộc chống thực dân Pháp. Đối mặt với sự xâm nhập và bành trướng của
chủ nghĩa thực dân, tân thư và giáo dục đă được đề cao đúng mức, chữ quốc ngữ đă
được sử-dụng như một phương tiện ‘cập nhật’ để hiện đại hóa đất nước. Văn-chương,
báo chí được dùng như công cụ tranh đấu ôn ḥa, sử-dụng cả tư tưởng chính-trị
của người Pháp chính quốc: Nguyễn An Ninh với La Cloche fêlée (Cái chuông rè),
Nhất Linh và nhóm Tự-Lực văn đoàn, v.v. Nhưng tư tưởng nền tảng vẫn là chống
đuổi thực dân, muốn một Hậu Tây-thuộc dân chủ tự do, khai phóng và hiện đại. Tuy
vậy, ảnh-hưởng thực-dân cũng đă xâm nhập vào văn-hóa và văn-học Việt-Nam hai mặt
tốt xấu, tích cực tiêu cực đều có, với tiểu-thuyết lăng-mạn và hiện thực của
Tự-Lực văn đoàn và ‘Tân Dân’, Thơ Mới, v.v. Khi Việt-Nam chia cắt ở vĩ tuyến 17
năm 1954, miền Nam Cộng-ḥa với chín năm ngắn ngủi đă tỏ ra khí-thế hậu thực-dân,
t́m cách làm chủ lấy ḿnh vừa khai phóng, nhất là từ hội nghị Bandung các nước
không liên kết năm 1955 (với sự tham dự của lănh đạo 29 nước Á-Phi nhằm t́m kiếm
cơ sở chung để hợp tác trong tương lai, chống lại chủ nghĩa thực dân và cam kết
đứng trung lập giữa hai khối Đông-Tây). Hậu thuộc-địa tức đặt các nước cựu
thuộc-địa ngang hàng với chính quốc thực-dân.
Từ nửa cuối thế kỷ XIX, trong viễn tượng hiện đại hóa đất nước và học thuật, các
thể loại văn-học mới như tiểu-thuyết, kịch nói, thơ phá thể, v.v. được sử-dụng
ngày càng nhiều, mà văn báo chí, nghị luận, phê b́nh,... xuất hiện và ngày càng
vững vàng. Báo chí không chỉ xây dựng một nền văn-học mới mà c̣n là phương tiện
và đầu tàu đấu tranh bài thực và cho dân chủ tự do. Mục đích và quan niệm về
văn-chương cũng thay đổi, từ phục vụ lư tưởng và đạo đức truyền thống đă xoay
sang phục vụ nhân sinh, xă hội và thực tế. Với một số nhà văn th́ văn-chương c̣n
sử-dụng cho nhu cầu riêng tư (t́nh ái, buồn vui,...) và cả như công việc mưu
sinh (khác thời trước đó là ‘nghiệp dư’, trà dư tửu hậu, khi đă về hưu). Đề tài
th́ mở rộng hơn, từ t́nh yêu, t́nh nước đến cuộc sống gia đ́nh, ở thành thị cũng
như thôn quê, nơi đền đài cũng như hang cùng ngơ hẽm. Về tư tưởng, lư luận đă
bắt đầu thêm tinh thần duy lư, dân chủ và nhân bản. Ngôn-ngữ và nhân vật gần với
cuộc sống thường nhật và con người ở vào một nơi và thời điểm nào đó, hết phải
điển h́nh, ước lệ, sáo ngữ, trừu tượng, của măi bên Tàu, v.v.
Ngôn-ngữ (Hán, Anh, Pháp, v.v.) vốn là phương tiện của quyền lực của các đế quốc,
thực dân đặt lên đầu lên cổ dân thuộc-địa hay bị trị. Nhưng một số dân-tộc cựu
thuộc địa đă biết tận dụng ngôn-ngữ của đế quốc (và tiếng Anh của đế quốc
Internet) để hội nhập/đáp ứng với điều kiện của quốc-gia ḿnh và để kiến-dựng
một nền văn-học quốc-gia độc lập như Hoa-kỳ, Úc, Gia-nă-đại, Ấn,... đă làm. Nay
là thời của văn-hóa hội nhập toàn-cầu, văn-hóa khai phóng, dân chủ hơn. Nhưng
hội nhập hay ảnh-hưởng của thời mới có những hiểm nguy cận kề và thường trực của
cả ba thực-dân, Bắc-thuộc và hậu thực-dân tùy tiện: trong nước đang bị Bắc-thuộc
và thực-dân về chính trị cũng như văn-hóa và kinh tế, có thể xem là nguy hại hơn
cả những ảnh-hưởng Âu-Mỹ và Internet hay khuynh hướng toàn-cầu hóa. Ảnh-hưởng
trực tiếp, cá nhân (ngoài tập thể) và từ nhiều nguồn khác nhau, làm giàu và đa
dạng văn-học hơn. Các phong trào, khuynh hướng mới trong lănh vực văn-học ra đời,
xuất hiện là để đáp ứng cho những nhu cầu văn-hóa và đời sống xă-hội, lịch-sử
mới, khác. Sự xuất hiện của thể loại tiểu-thuyết cũng như Thơ Mới sau này chẳng
hạn sẽ gây phản ứng có khi thuận có khi nghịch và thế hệ đương thời không chấp
nhận ngay th́ rồi sẽ được tiếp nhận sau đó. Đối với văn-học, cần phải Việt-Nam
hóa (hậu Bắc-thuộc và hậu thực-dân) về ngôn-ngữ, thể-loại và thẩm-mỹ học để phù
hợp với văn-hóa, con người và đất nước! Phóng tác, phỏng dịch, dịch thuật nói
chung là một nghệ thuật, một công tŕnh văn-hóa. Dịch khởi từ văn-hóa, của cả
hai văn-hóa - gốc và dịch. Dù sao th́ các nền văn-hóa đều mang tính lai căng v́
từng nhận chịu nhiều ảnh-hưởng, đồng hóa, trao đổi, do đó cần một chuyển đổi
liên tục mới lột trần được t́nh cảm và phụ thuộc văn-hóa. Từ đó dễ hiểu tính
tổng hợp và pha trộn (syncrétisme) mà các nền văn hóa ít nhiều đều có.
Ở đoạn mở đầu phim Indochine (1992) được quay ở Việt Nam, một giọng nữ đă dẫn
nhập rằng thế giới là do những thành tố không thể cách chia: nam và nữ, núi non
và đồng bằng, con người và Thượng đế, Đông-dương và Pháp quốc! Ngôn-ngữ thực-dân
nói vậy mà chưa chắc đă vậy; về địa lư th́ không, nếu có là về văn hóa và nhất
là hồi-tưởng lịch-sử. Phim L’Amant (dựa trên tiểu-thuyết tự thuật của Marguerite
Duras 1984, nhưng đến 1992 mới lên phim, phải chăng hợp thời Pháp … trở lại Việt
Nam?), Mùi Đu Đủ Xanh (L’Odeur de la papaye verte 1993) và Xích Lô (Cyclo, 1995)
của Trần Anh Hùng, Ba Mùa (Three Seasons 1999) của Tony Bùi và một số phim ảnh
khác cũng như những dự án phiên dịch, hội thảo lịch-sử và văn-học là những thành
tố, b́nh mới rượu cũ, trá h́nh của một văn hóa thực-dân mà Edward Said đă gọi
‘sự rồ dại và cái ác hoàn-toàn của chủ nghĩa thực dân’ (the evil and utter
madness of imperialism) (27) hơn là phản ứng hậu-thực-dân; nếu so với những ǵ
đă xảy ra ở các nước cựu thuộc địa khác. Phim ảnh, báo chí, quảng cáo du-lịch cố
t́nh xoay quanh cái gọi là ‘thời thuộc-địa’ (époque colonial) huyền thoại hóa
bằng h́nh ảnh những cái trong thực tế chỉ là ‘ảo ảnh thuộc-địa’ (illusion
coloniale) v́ che giấu những mưu đồ chính trị (ngoại giao) thực-dân. Cuối phim
Cyclo, trật tự (của Âu-tây) đến để giải quyết hỗn loạn của con người và xă hội
thuộc địa (Việt Nam) ; cả về cái ṭ ṃ của anh Tây phương (hay quan điểm v́ đạo
diễn gốc Việt Nam) nh́n phái nữ và đời sống t́nh dục của người Việt, về huyền
thoại ‘nhà quê’ hay ‘indigène’. Về phía nhà văn gốc xa gần Việt-Nam như Anna Moĩ,
Linda Lê trong một vài tác-phẩm đă phần nào làm mạnh thêm cái huyền thoại
thuộc-địa đă thuộc về quá khứ! Trong một luận án tŕnh ở đại học Lyon (Pháp) năm
2003, bà Phạm Thị Hoài Trang đă cho rằng ‘’thời đầu đón nhận văn hóa Pháp – cùng
vói đạo Thiên Chúa, chính là lúc mà văn hóa Việt-Nam bắt đầu hội nhập vào văn
hóa nhân loại (!). Trong chiều hướng này, việc thực dân Pháp thôn tính Việt-Nam
là một giai đoạn quan trọng cho hành tŕnh đi t́m căn cước cho một Việt-Nam hiện
đại. Như Trung Hoa thời trước, sự hiện diện của Pháp, qua vay mượn và chống đối,
đă đóng góp cho một định nghĩa lại dẫn đến một căn cước quốc gia thời mới’’.
Trong kết luận cuối, bà cho rằng ‘’khối Pháp-thoại (Francophonie) là một khái
niệm của tương lai, một bước tới trước để Việt-Nam thành công mở cửa mà không
đánh mất căn cước. Đây là một thách đố căn cước cho Việt-Nam’’ (28). Thiển nghĩ
đây là một thiên lệch có tính chính trị, v́ văn hóa Á-đông (hay Nho giáo, tam
giáo) không những cũng là văn hóa nhân loại mà c̣n là tham dự khai mở văn minh
thế giới.
Canada Pháp-thoại từ khi bị Anh xâm chiếm những năm 1759 đă phải đợi đến khi
đảng Québecois thắng cử năm 1976 mới có thể xem là thoát khỏi kềm kẹp của thực
dân Anh-thoại về chính-trị, nhưng về văn hóa đă có nhiều phong trào và nỗ lực
thoát khỏi đô hộ văn hóa đa số từ nhiều thập niên trước đó. Một việc không dễ và
mơ hồ v́ ư thức hệ truyền thống (nhà nông, Công-giáo, gốc Pháp, thiểu số) bị xem
như yếu tố khiến người dân bị vong thân, mê muội măi đến những năm 1930 mới thức
tỉnh thâu tóm lại và đến những năm 1960 dân québecois đi t́m lại căn cước của
ḿnh, họ phản kháng, tự chủ hơn với ư thức dân tộc mới, với tự hào về ngôn-ngữ
joual. Thật ra hậu thuộc-địa cũng đă đóng góp và đem lại nhiều cái tích cực cho
‘mẫu quốc’, như văn-hóa của Québec với Pháp, của Hoa-kỳ, Úc, Ấn, Canada cho Anh,
Nam Mỹ la-tinh cho Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha!
Từ Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu-Chánh đến các thế hệ nhà văn hôm nay luôn có những
dằng co giữa nhu cầu hiện-đại hóa và ư thức dân tộc, giữa đặc tính Việt và ‘của
người’ có tính phổ quát, toàn cầu và tính hiện-đại liên hệ mật thiết ít nhiều
với văn-hóa thực-dân. Cái chính là văn-hóa tức là những ǵ c̣n lại sau khi quên
hết, sau khi đă hấp thụ, tiếp nhận, nhưng là một văn-hóa có ư thức v́ nô lệ
văn-hóa là chuyện thường thấy với những tâm thức thuộc-địa, tùng phục ‘mẫu
quốc’.
Hăy bỏ cảm tính và thiên kiến khi đọc và nghiên cứu về Thầy Lazarô Phiền, hăy
xét như một tác-phẩm văn-học và là một biến cố văn hóa (ước muốn cho nước Việt-Nam
có tương lai rực rở, tiến bộ và văn minh). Nguyễn Trọng Quản đi bước đầu dùng
phương tiện kỹ thuật tiểu-thuyết, Hồ Biểu-Chánh và nhiều tác-giả khác đă tiếp
nối nhưng dung ḥa theo con đường Việt-Nam hóa cái của người cộng thêm sáng tạo,
như Nguyễn Du ngày xưa với truyện Kim Vân Kiều: phỏng theo thể-loại, tư tưởng,
nội dung của người mà sáng-tác cái của ḿnh như là một người miền Nam và một
người Việt Nam, tức nhận ảnh-hưởng và phương tiện nhưng không bán hồn cho người!
Có phần khác với sự tiếp nhận của văn-học Tây phương ở Phạm Quỳnh, Phạm Duy Tốn
rồi Nhất Linh, Bích Khê,... - đă tích cực t́m đến và ở lại với ảnh hưởng của
văn-học Âu-tây.
Một mặt, các nhân sĩ và tác-giả thời tiền phong đă lựa chọn con đường kỹ thuật
và thể loại của Tây phương để cập nhật và hiện đại hóa văn-chương học thuật lúc
bấy giờ bị phong tỏa bởi Tống Nho g̣ bó đă đưa đến bế tắc tinh thần cũng như bại
vong về quân sự. Mặt khác, chữ quốc ngữ được các vị truyền giáo Bồ đào Nha chế
biến ra như phương tiện thông tin, truyền giáo, rồi bị người Pháp sử-dụng như
phương tiện thống trị, đă trở thành phương tiện lần hồi vững vàng cho một nền
văn-học mới, hiện đại; bước đầu dùng để phiên dịch các tác phẩm văn-học, sau
được dùng để sáng tác. Thật vậy chữ quốc-ngữ đă tác động đến tư duy và ảnh hưởng
lên đời sống văn hóa! Chữ quốc-ngữ, một trớ trêu của lịch sử, đă là phương tiện
để phát triển văn hóa, khai mở một nền văn-học mới, mà c̣n chứng tỏ là khí-cụ
thống-nhất ngôn ngữ và văn tự, từ ải Bắc đến mũi cực Nam. Sự h́nh thành và sự
sử-dụng của chữ quốc-ngữ như là ngôn-ngữ hành chánh đă trở thành văn tự của Việt-Nam
và đă đóng vai tṛ quan trọng trong việc h́nh thành một nền văn-học mới từ nửa
cuối thế kỷ XIX bắt đầu từ miền Nam. Đây là điểm quan trọng v́ trước đó Việt-Nam
ta qua bao thế kỷ đă không thoát được t́nh trạng Bắc thuộc về văn-hóa và không
có một văn tự riêng có tính quốc gia và phổ quát - v́ ngay cả chữ Nôm xuất xứ từ
chữ Hán cũng chỉ có một thiểu số sử-dụng được và cũng không là một văn tự thống
nhất. Trong khi đó, nước Nhật và các quốc-gia Âu-tây xuất phát từ chữ la-tinh đă
h́nh thành được văn tự riêng và từ đó bước những bước nhảy vọt về văn-hóa và văn
minh. Hăy thử tưởng tượng nếu không có chữ quốc-ngữ th́ Việt-Nam ta nay đang ở
đâu?
Từ những năm 1920 đến 1945 là thời mà văn-học Việt-Nam đă tỏ rơ chịu ảnh hưởng
mạnh của văn-học Pháp nhất là ở miền Bắc, tiếp theo là thời nhà văn Việt-Nam
phản ứng lại ảnh hưởng của văn-học Pháp, xă hội rồi tinh thần quốc gia ở trong
miền Nam. Các ảnh hưởng về quan điểm sáng tác về thế giới quan, nhân sinh quan
và các thẩm mỹ học cũng như ảnh hưởng về các phương pháp sáng tác, thể loại, đề
tài, chủ đề kết cấu, h́nh tượng, ngôn ngữ nói chung đều đă được hiện-đại hóa
theo thời đại. Hoàn cảnh văn hóa, lịch sử và địa lư của lănh thổ khiến người
Việt-Nam tiếp xúc và đón nhận nhiều ảnh hưởng khác nhau: bản xứ, Trung-Hoa, Âu
Mỹ, cộng sản, Nga Xô,... Văn-học Việt-Nam hôm nay chóa ngợp trước những phong
trào đến từ nhiều nước (nữ quyền, h́nh thức, Tân h́nh thức, hậu hiện-đại, hậu
cấu trúc, ...), có cái mới, có cái cũ người mới ta, và đang bị những ảnh-hưởng
ngoại lai thử thách, chi phối. Thiển nghĩ nếu tác phẩm phản ánh con người Việt
Nam, nói lên tâm t́nh Việt, th́ đó là tiểu thuyết Việt-Nam vậy! Gia tài văn hóa
lịch sử, cộng thêm những văn-hóa do cọ xát với ngoài, khác. Nói khác đi, nội
dung Việt và h́nh thức hiện-đại, học ở người! Và rồi cái ǵ tồn tại với thời
gian không thể không có căn bản dân tộc hoặc Việt Nam! Nếu trong truyện cổ,
huyền thoại, vai tṛ của cốt truyện, tính điển h́nh và mục đích luân lư hay văn
hóa là quan trọng, th́ ở thế kỷ XX và sau đó, văn-học Việt-Nam khi hiện đại hoá,
đă đề cao vai tṛ của bút pháp, kỹ thuật và tác giả; nói chung là nâng cao cá
tính và tính độc đáo!
Văn-học Việt-Nam hiện đại làm nên bởi những văn nghệ sĩ có tâm hồn dân tộc;
nhiều người nhận chịu ảnh hưởng các khuynh hướng ở Âu Mỹ, có người th́ không.
Nhưng qua quá tŕnh lịch sử cộng với nhiều biến động, cũng như sự kiện hiện diện
của người Việt ở khắp năm châu, khiến nền văn-học đó đă phải mở rộng cửa để vươn
ra với nhân loại về ư tưởng, tiếp xúc - tức là với thời gian th́ những cái gọi
là bản sắc dân tộc hết c̣n có thể thu hẹp, co ḿnh mà phải đa chiều và đa-dạng
ra. Lúc đầu, tiểu thuyết hiện-đại có sứ mạng văn-chương và mục đích cho tập thể,
có lúc tiểu thuyết trở thành một hiện tượng xă hội, lúc khác có tính thời sự,
đấu tranh, và nói đến tiểu-thuyết tức là đồng thời không thể không bàn đến yếu
tố giải trí, thẩm mỹ, từ đó nảy nở tính «văn-chương» là một phạm trù văn-học
quan trọng chưa thể khai thác hết trong bài này!