Bắt đầu l một truyện ngắn của Nguyễn Dữ, trong Truyền Kỳ Man Lục [3]:
Phạm Tử Hư qu ở Cẩm Giang, l một người tuấn sảng ho mại, khng ưa sợ kiểm
thc. Theo học nh xử sĩ Dương Trạm, Trạm thường răn Tử Hư về ci tnh hay kiu
căn. Từ đấy chng cố sức sửa đổi, trở nn người c đức tnh tốt.
Khi Dương Trạm chết, cc học tr đều tan đi cả, duy c Tử Cư lm lều ở mmả để
chầu chực, sau ba năm rồi mới trở về. Năm 40 tuổi, Tử Hư đi thi vẫn chưa đỗ; đời
Trần, sang du học ở kinh, ngụ ở trong một nh dn bn bờ hồ Ty.
Một buổi sng, Tử Hư ở trong nh trọ đi ra, trong nh sương m thấy c một đm
những tn vng kiệu ngọc bay ln trn khng; kế lại c một cỗ xe nạm hạt chu,
kẻ theo hầu cũng rất chững chạc. Tử Hư khẽ dm trộm xem th người ngồi trong xe,
chnh l thầy học mnh l Dương Trạm. Chng toan tới gần sụp lậy, nhưng Trạm xua
tay ni:
Giữa đường khng phải chỗ ni truyện: ti mai đến đền Trấn V ở cửa Bắc, thầy
tr ta sẻ hn huyn một hm.
Tử Hư bn sắm rượu v thức nhắm, đng hẹn m đến. Thầy tr gặp nhau vui vẻ lắm,
chng nhn hỏi rằng:
Thầy mới từ trần chưa được bao lu, đ trở nn hiển hch khc hẳn ngy trước,
xin thầy cho biết r duyn do để con được vui mừng.
Dương Trạm ni:
Ta thủa sống khng c một điều thiện no đng khen, chỉ c hay giữ điều tn thực
với thầy bạn, qu trọng những tờ giấy c chữ, hễ thấy rơi vi liền nhặt m đốt
đi. Đức Đế Qun đy ngi khen l c bụng tốt, tu xin cho lm chức trực lại ở
cửa Tử Đồng, tnh cờ lại gặp nh ngươi, đ cũng l v thầy tr mnh c ci mối
duyn.
Tử Hư ni:
Thầy được giữ chức trọng quền cao như vậy, chằng hay sự sống chết thọ yểu của
con, thầy c được r khng?
Việc đ chẳng thuộc về chức vụ của ta.
Vậy thế thầy giữ về việc g?
Ta trng coi về việc văn chương thi cử, khoa danh cao thấp của những học tr
trong thin hạ.
Tử Hư mừng m rằng:
Nếu thế th tiến trnh của con cng đạt thế no chắc thầy biết r
Cứ như văn chương ti nghệ của anh, đương đời khng ai b kịp, hống anh lại cn
c tnh trung hậu, nết thnh thực. Chỉ phải ci hồi cn niện thiếu, anh thường
lấy văn ti m kiu ngạo với người khc, cho nn trời mới bắt đỗ muộn để phải
chn nhụt ci nết ngng ngo đi. Nều khng th cướp thẻ trước cửa Mng Chnh
nhặt hạt cải cửa Hạ Hầu, phỏng anh cn kh khăn g nữa. Cho nn xưa nay, người
ta bn về kẻ sĩ, tất phải xt tới đức hạnh l v thế. Ngy nay những người mặc
o nh nho, đeo dải nh nho th lại khc hẳn. Họ thường đổi họ để đi học, thay
tn để ra thi; hễ trượt th đổ lỗi mờ qung cho quan trường, hơi thnh danh th
hợm mnh ti giỏi hơn cả tiền bối, ch kh ngng ngo tnh tnh trắc trở, thấy
thầy ngho th lảng trnh, gặp bạn ngho th lm ngơ, khng biết rằng ngy
thường dắt dẫn rn cặp, phần nhuiều l do ci cng đức của thầy bạn. Vả như ta
xưa, dạy c đến mấy ngn học tr, giao du ở kinh đ rất nhiều b bạn, thế m sau
khi ta mất, nghe c người đai vng mũ bạc, c người quan cả ngi cao, nhưng
khng hề một ai tm đến thăm viếng mồ ta m tưới ln một vi chn rượu. Nhn thế
ta vẫn để đến anh lắm.
Tử Hư nhn đem những người lm quan bấy giờ, nhất nhất hỏi về từng người một:
Thưa thầy, ng mỗ ở ngi trọng thần m tham lam khng chn, ng mỗ lm chức sư
tư m m phạm khng đủ, ng mỗ coi lễ m lễ nhiều thiếu thốn, ng mỗ chăm dn m
dn bị tai hại, ng mỗ chấm văn m lấy đỗ thin vị, ng mỗ trị ngục m buộc tội
oan uổng; lại cn nhiều người lc bn ni th mi mp bẻo lẻo, đến lc tr tnh
quyết định kế lớn của quốc gia th mờ mịt như người ngồi trong đm my m, thậm
đến khng noi theo danh, khng xt theo thực, khng trung với đấng qun thượng,
lớn th lm việc bn nước của Lưu Dự, nhỏ th lm việc dối vua của Din Linh.
Bọn ấy sau khi chết, c phải luận tội g khng, hay l cứ được hưởng tn vinh
mi thế?
Trạm cười m rằng:
Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Lưới trời thnh thang, thưa nhưng chẳng
lọt. Chỉ c rằng thời gian chưa đến m thi. Nay ta bảo r cho anh nghe: trong
khoảng trời đất bo ứng lun hồi, chỉ c hai loi c thiện. Người chăm lm thiện,
tuy hy cn sống, tn đ ghi tại đế đnh; người hay lm c, khng đợi đến chết,
n đ thnh ở địa phủ. Cho nn Nhan Hồi lc sống ở ng hẻm m chết đưọc lm chức
Tu Văn, Vương Bng ngy thương c nết kiu ngoa m chết phải mu ry mặt đất.
Khng phải như người ở ci đời, c thể mượn thế m lm được quan, c thể nhờ
tiền m thot khỏi vạ, hnh phạt th qu lạm, tước thưởng th thin tư, ci đầu
khom cật, d hn hạ cũng được cất nhắc ln, đứa hoạt thằng gian, nhờ đt lt m
được thot khỏi. Anh cố gắng, đng gieo ci nghiệp bo ở kiếp sau ny.
Tử Hư ni:
Ci cửa họa phc đ được nghe đại khi. Nhung nay nhưng người học tr thường đến
đền Đế Qun lm lễ cầu mộng, xin ngi bo ứng cho biết nhưng sự nghiệp về sau.
Việc đ quả c thực hay khng?
Trạm cười m rằng:
Đấng Đế Qun ngi nuốt nhả nguyn kh, chu du tm phương, ngy xt giấy tơ, đm
chầu thượng đế, cn lc no rỗi để lm ci việc vụn vặt ấy. Song nhưng người một
lng chay sạch thnh knh th trong lc bập bừng, tựa như c thấy. Người đời
khng hiểu bn cho l sự thực, thật đng buồn cười.
Thưa thầy, nếu thế th truyện phng bảng cửa trời, cũng l truyện ngoa truyền
chăng?
Khng, việc đ c thật đấy.
Trạm bn giơ ra một cuộn giấy phong dn rất kỷ bảo Tữ Hư rằng:
Đy l bảng xun sang năm đy. Ta vng mệnh Đế Qun, đi tra xt kỹ lưỡng để giao
ln cửa trời bin vo cho đủ. V c anh đến chơi đy nn ta chưa đi được.
Dương Trạm lại kể cho Tủ Hư nghe những th vui trn Thin To, hơn ở ci trần
nhiều lắm, v bảo nh ngươi nn cố gắng sửa mnh chuốt nết, tự nhin c ngy
được ln ở trn ấy; như ta đy, cũng l ci duyn may mắn khc thường. Tử Hư ni:
Mnh trần vc tục, con biết do lối no m noi ln được! Chỉ mong theo đi xe gi,
dược tạm ln chơi xem một chuyến, chhảng hay thầy c thể gip cho được khng?
Sự đ cũng khng kh. Để ta bẩm với đức Đế Qun, đem tn họ anh điền vo.
Bn lấy bt son viết vo cuối giấy hơn mươi chữ, rồi bảo cất bỏ tiệc rượu. Tử Hư
được theo thầy ln ngồi ở một bn xe, rồi cỗ xe thẳng đường bay ln. Ln đến
trời, Tử Hư thấy một khu c những bức tường bạc bọc quanh, ci cửa lớn khảm trai
lộng lẫy, hai bn c những ta lầu chu điện cẩm ngọc, vằng vặc sng như ban
ngy, sng Ngn bến Sao, m ấp lấy đằng sau đằng trước, gi thơm phưng phức,
đượm ngt q1uanh hin, hơi lạnh thấu da, nh sng chi mắt, trng xuống ci trần,
thấy mọi cảnh vật đều nhỏ b tủn mủn.
Dương trạm ni:
Anh c biết đy l đu khng? Tức l kinh Bạch Ngọc ở trn trời m người đời
thường ni đ. Ở chnh giữa kia, c đm my hồng che phủ, l cung Tử Vi của Đức
Thượng Đế. Anh nn đứng chờ ta ở ngoi cửa thnh để ta vo tu xin cho anh.
Ni rồi Dương Trạm cầm cuộn giấy đi vo, sau một lc lu mới ra. Chợt nghe trn
thnh c tiếng h vang, ni người đỗ đầu bảng sang năm, đ kn được vin trạng
nguyn họ Phạm rồi.
Dương Trạm dẫn Tử Hư đi chơi thăm khắp cả cc`ta. Trước hết đến một ta c ci
biển đề ngoi l Cửa Tch Đức, trong c chừng hơn nghn người mũ hoa dải huệ, kẻ
ngồi người đứng. Tử Hư hỏi th Dương Trạm ni:
Đ l những vị tin thủa sống c lng yu thương mọi người, tuy khng dốc hết
tiền của lm việc bố th, nhưng biết ty thời m chu cấp, đ khng keo bẩn, lại
khng hợm hĩnh. Thượng Đế khen l c nhn, liệt vo thnh phẩm, nn họ được ở
đy.
Lại đi qua một ta sở c biển đề ngoi l Cửa Thuận Hạnh, trong c độ hơn nghn
người, o my lọng mưa, kẻ ht người ma. Tữ Hư lại hi, Dương Trạm ni:
Đ l những vị tin thủa sống hiếu thuận, hoặc trong lưu ly biết bao bọc lấy
nhau, hoặc đem đất ct m san sẻ cho nhau, mấy đời ở chung, cho vo cung my nn
họ được ở đy.
Lại đến một ta sở c biển đề: Cửa Nho Thần, người ở đấy đều o di đai rộng,
cũng c tới số một nghn, trong c hai người mặc o lụa, đội mũ sa. Dương Trạm
trỏ tay bảo Tử Hư rằng:
Ấy l ng T Hiến Thnh triều L v ng Chu Văn An triều Trần đ. Ngoi ra th
l những danh thần đời Hn đời Đường, khng sung vo quan vị chức chưởng g cả,
chỉ ngy sc ngy vọngth vo tham yết Đế Qun, như những vin tản quan đời nay
thỉnh thoảng vo chầu vua m thi. Cứ cch nam trăm năm lại cho ging sinh, cao
th lm đến khanh tướng, thấp cũng được lm sĩ phu hiệu don. Ngoi ra cn đến
hơn trăm ta sở nữa, nhưng trời gần sng, khng đi xem khắp được, vội cưỡi gi
m bay xuống trần. Xuống đến cửa Bắc, thấy trăm quan đ lục tục vo triều chầu
vua.
Tử Hư từ biệt thầy trở về; sang năm đi thi quả đỗ Trạng Nguyn. Phm những việc
ct hung họa phc nh Tử Hư, thường được thầy về bo cho biết...
Nguyễn Dữ người đời L, nguyn qun tại lng Đỗ Tng, huyện Trường Tn, nay
l huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. ng l con tiến sĩ Nguyễn Tường Phiếu, khoa
bnh dần, năm Hồng Đức thứ XXVII, lm quan đến chức thượng thư, chết được thờ
lm phc thần.
Nguyễn Dữ thủa trẻ xem rộng biết nhiều, vốn l một cao đồ của Trạng Trnh Nguyễn
Bỉnh Khim. Đi thi đỗ Cử Nhn, rồi chỉ trng nhất nhị trường trong một vi khoa
thi hội. ng được bổ tri huyện Thanh Ton, nhưng sớm chn hoạn trưng, xin từ
chức về nh nui mẹ gi, xa lnh nơi đ hội. Người đời gọi ng l ẩn sĩ. Nam
sinh năm mất của ng cũng khng ai r, chỉ đồ chừng ng sống khoảng cc triều
vua Uy Mục, Tương Dực, Chiu Tn, Cung Hong hồi nh Tiền L suy loạn. Thời đ
nước nh sản xuất nhiều truyện thần qui. ng sưu tầm nhưng truyền thuyết từ
thủa L Trần, tham khảo nhiều sch Trung Quốc sng tc nn bộ Truyền Kỳ Mạn Lục.
Dẫu nhn vật chnh trong truyện Phạm Tử Hư Ln Chơi Thin To mang tn Việt Nam,
kể cả những địa danh như Hồ Ty, đền Trấn V, Cửa Bắc đều l nhưng địa điểm quen
thuộc tại Long Thnh, nhưng ngn ngữ trong bi văn vẫn l ngn ngữ tiểu thuyết
Trung Quốc. Nhiều đọan tả cảnh Thin To đọc như nghe biền ngẫu cổ, mặc dầu đ
chuyển ngữ sang thnh văn nm. Nhiều hnh ảnh vẫn lấy từ sử Trung Quốc. Tỷ như
khi ng muốn ni sang năm Tử Hư sẽ thi đỗ, ng đ dng điển cướp thẻ trước cửa
Mng Chnh, nhặt hạt cả cửa Hạ Hầu, lấy từ Tống sử, truyện Hồ Đn Phủ nghe tin
L Mng Chnh đỗ trạng nguyn, than rằng: Thi thế l sang năm ta đỗ, lại phải
sau hắn một thẻ rổi; để đối với điển danh nho Hạ Hầu Thắng đời Hn thường ni
rằng: kẻ sĩ chỉ sợ khng sng nghĩa kinh, nếu sng th lấy o xanh o ta dễ như
nhặt hạt cải dưới đất vậy.
Lời Tử Hư hỏi thầy về những người lm quan đương thời cũng l văn biền ngẫu: lấy
điển trạng nguyn Lưu Dư đời nh Tống được người Kim lập lm vua Tề đối với điển
người Din Linh lm quan dưới triều vua Đường Đức Tn, ứng đối trước triều thần
dng ton nhưng lời dối tr. Lời Dương Trạm trả lời Tử Hư cũng l văn biền ngẫu,
lấy từ sch Văn Uyển truyện Nhan Hồi, học tr Khổng Tử, chết trẻ nhưng chết rồi
th dưới ci m được giữ chức Tu Văn Lang, đối với truyện Vương Bằng, sch Loại
Tụ, con Vương An Thạch đời Tống, chết xuống m phủ cn bị cm kẹp tra tấn mu
vấy đầy đất. Tri lại, đoạn cuối truyện Tử Hư được thầy dẫn đi coi một số ta
phủ nơi Thin To lại l một hnh ảnh quen thuộc trong những truyện truyền
thuyết dn gian.
Người xem truyện Nguyễn Dữ tới đy khng khỏi nhớ tới đọan mở đầu truyện cng
cha Liễu Hạnh, chp trong cuốn Vn Ct Thần Nữ do Vũ Ngọc Khnh chủ bin tm
lược như sau: [4]
Tại lng Vn Ct, huyện Thiện Bản, tỉnh Nam Định c nh hhằng tm hằng sản L
Thi Cng, dốc lng thờ Thượng Đế v chuyn lo lm phc. Dầu tuổi qu bốn mươi,
ng mới chỉ c một con cn nhỏ tuổi. Vo năm Thin Hựu đời L (1557) Thi B c
tin mừng, nhưng gần ti cữ bỗng mang bệnh, mặc dầu nhiều thầy nhiều thuốc, bệnh
vẫn một ngy một nặng. bỏ ăn bỏ uống, chỉ cn thiết ngửi hương hoa.
Trung thu năm đ, tiết trời trong sng. Một đm c người o l mũ rơm tới gọi
cổng nh Thi Cng, ni l muốn ra mắt gia chủ chữa bệnh cho Thi B. Người nh
chậm mở cổng, người ấy lớn tiếng ni rằng:
Ta từ ci m về đy, thấy gia chủ l người phc thiện, muốn ra tay trợ gip, cớ
sao xua đuổi ta?
L Thi Cng nghe thấy vậy, thn ra mở cổng mmi vo. Khch xa tc, niệm thần
ch, rồi nm ci ba ngọc xuống đất. Tức thời Thi Cng ng xuống ngủ thiếp.
Trong mơ Thi Cng thấy như hồn la khỏi thn bay bổng theo ba người dẫn đường.
Quanh ng chỉ thấy nh sng bng bạc như trăng. Chẳng bao lu bốn người tới một
cổng thnh vĩ đại. Qua cửa thnh, cả bốn người cng thay đổi o quần, rồi tiếp
tục leo ln chn bậc cung trời.
Qua khe cửa sổ, L Thi Cng nhn thấy Ngọc Hong ngự trn ngai vng, hai bn tả
hữu c đủ mặt quần thần sắp hng đứng chầu. Tất cả đều trang phục o triều git
vng đnh ngọc. Trn mm ngọc đặt trước ngai rồng, c những tri đo trường sinh
mới hi tự Dao Tr, lại c nậm rượu tin nhấp vo sẽ bất tử. Theo tiếng nhạc
Qun Thiều, một đon tin nữ ma khc Ngh Thường. Rồi c một tin c, xim o
một mầu hồng, tay nng chn ngọc, tha thướt bước ra dng rượu ln Ngọc Hong.
Bỗng nhin chn ngọc rớt ra khỏi tay tin vỡ tan trn thềm. Quần thần đều hướng
mắt về tin c o hồng. Từ m tri sn rồng tiến ra một vị đi thần, qy xuống
trước ngai rồng, ln tiếng đọc mười hai chữ trong một cuốn sch vng. Khng kh
sn rồng căng thẳng sợ hi. Rồi từ trn điện c lời phn:
Ngươi thực khng muốn ở chốn thương giới đy nữa.
tức thời c hai hộ sĩ cng một by tin quy quanh tin c o hồng, dẫn nng ra
khi sn rồng bằng lối cửa Bắc. Đi đầu đm quần tin l một tin c vc bảng
viết chũ thiếp vng, nhưng từ xa L Thi Cng chỉ đọc đuợc chữ sắc ging. ng
hỏi nhỏ người dẫn đường truyện g vậy? Họ tr lời ng l Quỳnh Nương cng cha,
lỡ đnh vỡ chn ngọc nn bị đầy xuống hạ giới. Liền đ c một vị thần bưc ra
khỏi điện, lớn tiếng nạt:
Cc người l ai? Sao gim đến đy xầm x?
Ba người thưa:
Chng con l bọn ngũ li thần binh đang đợi lệng ngọc hong.
Ni đọan họ ko L Thi Cng bay về hạ giới. L Thi Cng bừng tỉnh, lng mừng
khấp khời v Thi B đ khỏi bệnh. Khắp nhngo ngạt hương thơm v lồng lộng nh
sng như tr thượng giới. Ngưi nh bo tin Thi B hạ sinh con gi. L Thi
Cng sai tm ngưi khch lạ, nhưng khc đạ biệt tăm cng chiếc ba ngọc. Nhớ lại
cảnh chnh mắt nhn thấy trn thượng giới. L Thi Cng tin chắc l cng cha
Qnh Nưong vừa ging lm vo nh ng. ng Đặt tn con l ging Tin. [...]
Đối chiếu đọan mở đầu truyện Phạm Tữ Hư Ln Chơi Thin To với đọan mở đầu sự
tch Vn Ct Thần Nữ, người đọc thấy r sự tương đồng gũa cch vo Truyện của
Nguyễn Dữ v cch vo truyện của Hồng H Phu Nhn Đon Thị Điểm, tc giả Vn Ct
Thần Nữ.
Truyện truyền kỳ của Nguyễn Dữ, viết bằng chữ nho theo bố cục một truyện Trung
Quốc, nhắm chở đạo, vai chnh l Phạm Tử Hư l một mn đệ nho học chnh thống,
sống theo đng đạo thầy học trọng hơn cha, dập theo thứ tự Qun Sư Phụ của Khổng
Học, dựng lều bn mộ thầy, để tang thầy đủ ba năm. ng cn qu trọng chữ nghĩa
thnh hiền, nhặt từng mẩu giấy c viết chữ mang đốt. Thế nn ng thầy được lm
quan trn thin đnh cảm tấm lng thnh của ng, cho ng c dịp ln chơi thượng
giới, biết trước được sự thnh đạt của mnh.
Hồng H Phu Nhn Đon Thị Điểm mở đầu truyn Vn Ct Thần Nữ, cũng dng hnh ảnh
L Thi Cng, vốn chăm lm việc thiện, thn ra tận cổng đn người đạo sĩ tới xin
chữa bệnh cho Thi B, m cũng đưọc mời ln trời chứng kiến cảnh Qynh Nương
Cng Cha bị ging xuống trần đầu thai lm con gi ng.
Theo Dương Quảng Hm thời Hồng H Nử Sĩ tức Đon Thị Điểm, l người cng thời
với Nguyễn Dữ. B c viết Tục Truyền Kỳ Mạn Lục, gồm su truyện tiếp theo tập
truyện của Nguyễn Dữ[5] . Thế nn cch vo truyện của Nguyễn Dữ v Đon Thị Điểm c
những nt tương đồng, phải chăng l một cch vo truyện đưọc lng độc giả thời
đ ? Điểm đng ni l Nguyễn Dữ đ dng để vo truyện bằng chữ nho cũng l cch
vo truyện m những người viết truyện nm cũng dng: như vậy bt php của những
nh văn viết chữ nho v bt php những nh văn chữ nm cũng l một.
Truyện Phạm Tử Hư Ln Chơi Thin To l Truyện chở đạo, ca tụng tnh thầy tr
thắm thiết của đạo Nho. Tri lại, nhiều truyện dn gian tnh thầy tr khng
khắng kht như vậy v c nhiều truyện thầy khng ra thầy.
Tỷ như truyện:
Xưa c anh học tr học hnh dốt nt, nhưng ci tr đời xấu hay lm tốt, dốt hay
ni chữ, đi đu anh ta cũng khoe khoang ln mặt chữ nghĩa ti giỏi lắm.
C người tưởng anh hay chữ thật, đn về nh để dạy trẻ.
Một hm dạy thằng con chủ nh học sch Tam Thin Tự, sau chữ tước l con chim sẻ,
đến chữ k l con g, thầy ta gặp chữ k nhiều nt 雞 ngắc lại khng biết đọc ra
chữ g v nghĩa ra sao cũng chẳng hay.
Trẻ hỏi gấp. Thầy cuống qut dạy n học liều: dủ dỉ l con d d. Nhưng thầy
đ khn, sợ c ai nghe thấy, bảo trẻ học sẽ sẽ tiếng thi. Tuy vậy trong lng
thầy vẫn thắc thỏm.
Tối hm ấy, nhn chủ nh c bn thờ Thổ Cng, thầy đến khấn thầm xin ba đi m
dương để quyết xem hai chữ ấy c thật l d d chăng.
Thổ Cng cho ba bi được cả ba.
Thấy vậy, thầy lấy lm đắc sch, hm sau bệ vệ ngồi trn giường cao, bảo trẻ lớn
tiếng học.
Được thể, trẻ n go ln thật to rằng:
Dủ dỉ l con d d. Dủ dỉ l con d d.
Bố n đang cuốc đất ngoi vườn, nghe thấy tiếng con học lạ, bỏ cuốc vo xem sch,
rồi hỏi thầy rằng:
Chết chửa, chử ấy l chử k nghĩa l con g, sao thầy dạy cho chu học dủ dỉ l
con d d?
Bấy giờ thy mới nghĩ thầm: Mnh đ dốt, Thổ Cng nh n cũng dốt nữa. Rồi
nhanh tr thầy vội ni gỡ rằng:
ng tưỏng ti khng biếtchữ ấy l chữ k nghĩa l con g sao? Nhưng ti dạy chu
thế l dạy cho n biết tam đại nh con g kia đấy.
Nh chủ ngạc nhin hỏi:
Thầy bảo tam đại con g l thế na? ng b g vậy?
Thầy cắt nghĩa rằng:
Ny thế ny nhớ:
Dủ dỉ l chị con cng
Con cng l ng con g
Thế chẳng phẳi l ti dạy n đến ba đời con g l g?
Nh chủ khng biết ni sao, vẫn đnh phải chịu thầy l hay chữ. V tự bấy giờ,
con cng v con g thnh c họ với nhau: cng l ng m g l chu.
Truyện thứ hai l truyện:
Xưa c một thầy đồ ngồi dạy học nh người ta, một hm trng thấy hng bnh rn
mật đi qua, lấy lm thm, nhưng khng dm ni.
Thầy nghĩ mi khng biết lm sao c bnh rn ăn.
Một buổi kia, chủ nh va đi khỏi, thầy mới lấy ớt gi nhỏ, bỏ vo trong nước,
rồi bảo tn học tr nhỏ của thầy lấy nước ấy m tắm. Tn học tr ngoan gon,
vng lời thầy đi tắm ngay. Được một chốc, người n pht nng v lần mần đỏ khắp
mnh mẩy.
Khi cha mẹ về thấy con thế lấy lm lo sợ hỏi thầy đồ rằng:
Khng biết chu n lm sao m người n như sốt v đỏ mần ln cả thế?
Thầy đồ lm bộ ngơ ngc bảo gọi đứa nhỏ vo xem như thầy lang xem bệnh, rồi bảo
rằng:
Khng việc g, thằng ny mắc ci bệnh Thần Hn lm qui đy. By giờ phải đi mua
lấy bẩy đĩa bnh rn mật, để tối nay cng tống thần cho n, th n khỏi ngay.
Nh chủ vng theo lời thầy, vội vng ra chợ mua đủ bẩy đĩa bnh rn, lại km
thm cả trầu cau hương hoa đem về, đặt vo mm tươm tất rồi nhờ thầy cng hộ.
Thầy đồ khăn o chỉnh tề, lm bộ nghim trang ra đứng trước bn thờ đặt giữa
sn, ln giọng khấn rằng:
Thần hn! Thần hn!
Ci mnh trn trn
Ci da đo đỏ
Lm thằng nho nhỏ
Nng đm nng ngy
Tao nuốt my đi
Mau đi! Mau đi!
Thần Hn Thần Hn.
Khấn xong cy ấy, thầy lấy đũa, thầy sắn ngay đĩa bnh, rồi bỏ vo mồm thầy nuốt
ực.
Nuốt hềt đĩa ấy, thầy lại khấn, khấn xong lại nuốt, khấn bẩy lần nuốt hết bẩy
đĩa bnh.
Đoạn rồi thầy bảo đem đứa nhỏ ra sau nh, thầy lấy nưc lạnh tắm cho n. Chỉ một
chốc đứa nhỏ khỏi sốt, khỏi mần.
Nh chủ khen thầy c php ti, m thầy được bữa bnh rn thỏa thch ci miệng
thầy.
Hai truyện dn gian trn cho thấy hnh ảnh người thầy, học hnh dốt nt, tnh
nết nhỏ nhen chỉ tm cch trục lợi chủ nh, đ hạ bệ ng thầy trong lễ gio của
đạo Khổng vốn đặt ng thầy đứng liền sau vua trước bố.
Phải chăng đ cũng l phản ứng thụ động v tự nhin của dn gian dưới sức p của
đạo Khổng đặt ln hng quốc Gio? Phải chăng đ l một sản phẩm hậu bắc thuộc?
Trở lại việc dng bt thuật Hn Học trong sng tc nhn gian, cc tc giả truyện
nhn gian đ thường chuyển biến bt thuận Hn Học đến mức gạn bỏ được mầu sắc
Trung Quốc khiến tc phẩm thắm đượm mầu sắc Việt Nam. Đ l trường hợp tc giả
khuyết danh sng tc truyện Trạng Quỳnh.
Tc giả Truyện Trạng Quỳnh l ai, vai chnh Trạng Quỳnh l một nhn vật hư cấu
hay c thực l một điểm để ngỏ chờ gii văn bản học giải quyết. C một điểm chắc
chắn l truyện Trạng Quỳnh l một tập tuyển truyện khi hi đen. Theo nhiều chi
tiết trong nội dung, c thể l truyện Trạng Quỳnh xuất hiện vo khoảng đời nh
L Trung Hưng.
Dưới triều nh Tống, ba anh em họ T: T Thức tức T Đng Pha, T Triệt v người
em gi T Tiểu Muội l ba văn ti nổi tiếng. Ring trong bt đại gia tức l tm
văn ho lớn nhất Trung Quốc, T Thức, T Triệt v cha l T Tun đ chiếm ba
chỗ.
Sch Trung Hoa Kim Cổ Kỳ Nhn của Phan Hồng Trung, chp nhiều giai thoại giữa T
Thức v T Tiểu Muội. Đặc biệt l đoạn chp truyện đối đp giữa T Thức v em
gi.
T Thc ru rậm, Tiểu Muội nhạo bằng hai cu:ay tin vỡ tan trn thềm. Quần thần đều hướng
mắt về tin c o hồng. Từ m tri sn rồng tiến ra một vị đi thần, qy xuống
trước ngai rồng, ln tiếng đọc mười hai chữ trong một cuốn sch vng. Khng kh
sn rồng căng thẳng sợ hi. Rồi từ trn điện c lời phn:
Ngươi thực khng muốn ở chốn thương giới đy nữa.
tức thời c hai hộ sĩ cng một by tin quy quanh tin c o hồng, dẫn nng ra
khi sn rồng bằng lối cửa Bắc. Đi đầu đm quần tin l một tin c vc bảng
viết chũ thiếp vng, nhưng từ xa L Thi Cng chỉ đọc đuợc chữ sắc ging. ng
hỏi nhỏ người dẫn đường truyện g vậy? Họ tr lời ng l Quỳnh Nương cng cha,
lỡ đnh vỡ chn ngọc nn bị đầy xuống hạ giới. Liền đ c một vị thần bưc ra
khỏi điện, lớn tiếng nạt:
Cc người l ai? Sao gim đến đy xầm x?
Ba người thưa:
Chng con l bọn ngũ li thần binh đang đợi lệng ngọc hong.
Ni đọan họ ko L Thi Cng bay về hạ giới. L Thi Cng bừng tỉnh, lng mừng
khấp khời v Thi B đ khỏi bệnh. Khắp nhngo ngạt hương thơm v lồng lộng nh
sng như tr thượng giới. Ngưi nh bo tin Thi B hạ sinh con gi. L Thi
Cng sai tm ngưi khch lạ, nhưng khc đạ biệt tăm cng chiếc ba ngọc. Nhớ lại
cảnh chnh mắt nhn thấy trn thượng giới. L Thi Cng tin chắc l cng cha
Qnh Nưong vừa ging lm vo nh ng. ng Đặt tn con l ging Tin. [...]
Đối chiếu đọan mở đầu truyện Phạm Tữ Hư Ln Chơi Thin To với đọan mở đầu sự
tch Vn Ct Thần Nữ, người đọc thấy r sự tương đồng gũa cch vo Truyện của
Nguyễn Dữ v cch vo truyện của Hồng H Phu Nhn Đon Thị Điểm, tc giả Vn Ct
Thần Nữ.
Truyện truyền kỳ của Nguyễn Dữ, viết bằng chữ nho theo bố cục một truyện Trung
Quốc, nhắm chở đạo, vai chnh l Phạm Tử Hư l một mn đệ nho học chnh thống,
sống theo đng đạo thầy học trọng hơn cha, dập theo thứ tự Qun Sư Phụ của Khổng
Học, dựng lều bn mộ thầy, để tang thầy đủ ba năm. ng cn qu trọng chữ nghĩa
thnh hiền, nhặt từng mẩu giấy c viết chữ mang đốt. Thế nn ng thầy được lm
quan trn thin đnh cảm tấm lng thnh của ng, cho ng c dịp ln chơi thượng
giới, biết trước được sự thnh đạt của mnh.
Hồng H Phu Nhn Đon Thị Điểm mở đầu truyn Vn Ct Thần Nữ, cũng dng hnh ảnh
L Thi Cng, vốn chăm lm việc thiện, thn ra tận cổng đn người đạo sĩ tới xin
chữa bệnh cho Thi B, m cũng đưọc mời ln trời chứng kiến cảnh Qynh Nương
Cng Cha bị ging xuống trần đầu thai lm con gi ng.
Theo Dương Quảng Hm thời Hồng H Nử Sĩ tức Đon Thị Điểm, l người cng thời
với Nguyễn Dữ. B c viết Tục Truyền Kỳ Mạn Lục, gồm su truyện tiếp theo tập
truyện của Nguyễn Dữ . Thế nn cch vo truyện của Nguyễn Dữ v Đon Thị Điểm c
những nt tương đồng, phải chăng l một cch vo truyện đưọc lng độc giả thời
đ ? Điểm đng ni l Nguyễn Dữ đ dng để vo truyện bằng chữ nho cũng l cch
vo truyện m những người viết truyện nm cũng dng: như vậy bt php của những
nh văn viết chữ nho v bt php những nh văn chữ nm cũng l một.
Truyện Phạm Tử Hư Ln Chơi Thin To l Truyện chở đạo, ca tụng tnh thầy tr
thắm thiết của đạo Nho. Tri lại, nhiều truyện dn gian tnh thầy tr khng
khắng kht như vậy v c nhiều truyện thầy khng ra thầy.
Tỷ như truyện:
Xưa c anh học tr học hnh dốt nt, nhưng ci tr đời xấu hay lm tốt, dốt hay
ni chữ, đi đu anh ta cũng khoe khoang ln mặt chữ nghĩa ti giỏi lắm.
C người tưởng anh hay chữ thật, đn về nh để dạy trẻ.
Một hm dạy thằng con chủ nh học sch Tam Thin Tự, sau chữ tước l con chim sẻ,
đến chữ k l con g, thầy ta gặp chữ k nhiều nt 雞 ngắc lại khng biết đọc ra
chữ g v nghĩa ra sao cũng chẳng hay.
Trẻ hỏi gấp. Thầy cuống qut dạy n học liều: dủ dỉ l con d d. Nhưng thầy
đ khn, sợ c ai nghe thấy, bảo trẻ học sẽ sẽ tiếng thi. Tuy vậy trong lng
thầy vẫn thắc thỏm.
Tối hm ấy, nhn chủ nh c bn thờ Thổ Cng, thầy đến khấn thầm xin ba đi m
dương để quyết xem hai chữ ấy c thật l d d chăng.
Thổ Cng cho ba bi được cả ba.
Thấy vậy, thầy lấy lm đắc sch, hm sau bệ vệ ngồi trn giường cao, bảo trẻ lớn
tiếng học.
Được thể, trẻ n go ln thật to rằng:
Dủ dỉ l con d d. Dủ dỉ l con d d.
Bố n đang cuốc đất ngoi vườn, nghe thấy tiếng con học lạ, bỏ cuốc vo xem
sch, rồi hỏi thầy rằng:
Chết chửa, chử ấy l chử k nghĩa l con g, sao thầy dạy cho chu học dủ dỉ l
con d d?
Bấy giờ thy mới nghĩ thầm: Mnh đ dốt, Thổ Cng nh n cũng dốt nữa. Rồi
nhanh tr thầy vội ni gỡ rằng:
ng tưỏng ti khng biếtchữ ấy l chữ k nghĩa l con g sao? Nhưng ti dạy chu
thế l dạy cho n biết tam đại nh con g kia đấy.
Nh chủ ngạc nhin hỏi:
Thầy bảo tam đại con g l thế na? ng b g vậy?
Thầy cắt nghĩa rằng:
Ny thế ny nhớ:
Con cng l ng con g
Nh chủ khng biết ni sao, vẫn đnh phải chịu thầy l hay chữ. V tự bấy giờ,
con cng v con g thnh c họ với nhau: cng l ng m g l chu.
Truyện thứ hai l truyện:
Thầy nghĩ mi khng biết lm sao c bnh rn ăn.
Một buổi kia, chủ nh va đi khỏi, thầy mới lấy ớt gi nhỏ, bỏ vo trong nước,
rồi bảo tn học tr nhỏ của thầy lấy nước ấy m tắm. Tn học tr ngoan gon,
vng lời thầy đi tắm ngay. Được một chốc, người n pht nng v lần mần đỏ khắp
mnh mẩy.
Khi cha mẹ về thấy con thế lấy lm lo sợ hỏi thầy đồ rằng:
Khng biết chu n lm sao m người n như sốt v đỏ mần ln cả thế?
Thầy đồ lm bộ ngơ ngc bảo gọi đứa nhỏ vo xem như thầy lang xem bệnh, rồi bảo
rằng:
Khng việc g, thằng ny mắc ci bệnh Thần Hn lm qui đy. By giờ phải đi
mua lấy bẩy đĩa bnh rn mật, để tối nay cng tống thần cho n, th n khỏi ngay.
Nh chủ vng theo lời thầy, vội vng ra chợ mua đủ bẩy đĩa bnh rn, lại km
thm cả trầu cau hương hoa đem về, đặt vo mm tươm tất rồi nhờ thầy cng hộ.
Thầy đồ khăn o chỉnh tề, lm bộ nghim trang ra đứng trước bn thờ đặt giữa sn,
ln giọng khấn rằng:
Thần hn! Thần hn![8]
Ci mnh trn trn
Ci da đo đỏ
Lm thằng nho nhỏ
Nng đm nng ngy
Tao nuốt my đi
Mau đi! Mau đi!
Thần Hn Thần Hn.
Khấn xong cy ấy, thầy lấy đũa, thầy sắn ngay đĩa bnh, rồi bỏ vo mồm thầy nuốt
ực.
Nuốt hềt đĩa ấy, thầy lại khấn, khấn xong lại nuốt, khấn bẩy lần nuốt hết bẩy
đĩa bnh.
Đoạn rồi thầy bảo đem đứa nhỏ ra sau nh, thầy lấy nưc lạnh tắm cho n. Chỉ một
chốc đứa nhỏ khỏi sốt, khỏi mần.
Nh chủ khen thầy c php ti, m thầy được bữa bnh rn thỏa thch ci miệng
thầy.
Hai truyện dn gian trn cho thấy hnh ảnh người thầy, học hnh dốt nt, tnh
nết nhỏ nhen chỉ tm cch trục lợi chủ nh, đ hạ bệ ng thầy trong lễ gio của
đạo Khổng vốn đặt ng thầy đứng liền sau vua trước bố.
Phải chăng đ cũng l phản ứng thụ động v tự nhin của dn gian dưới sức p của
đạo Khổng đặt ln hng quốc Gio? Phải chăng đ l một sản phẩm hậu bắc thuộc?
Trở lại việc dng bt thuật Hn Học trong sng tc nhn gian, cc tc giả truyện
nhn gian đ thường chuyển biến bt thuận Hn Học đến mức gạn bỏ được mầu sắc
Trung Quốc khiến tc phẩm thắm đượm mầu sắc Việt Nam. Đ l trường hợp tc giả
khuyết danh sng tc truyện Trạng Quỳnh.
Tc giả Truyện Trạng Quỳnh l ai, vai chnh Trạng Quỳnh l một nhn vật hư cấu
hay c thực l một điểm để ngỏ chờ gii văn bản học giải quyết. C một điểm chắc
chắn l truyện Trạng Quỳnh l một tập tuyển truyện khi hi đen. Theo nhiều chi
tiết trong nội dung, c thể l truyện Trạng Quỳnh xuất hiện vo khoảng đời nh
L Trung Hưng.
Dưới triều nh Tống, ba anh em họ T: T Thức tức T Đng Pha, T Triệt v người
em gi T Tiểu Muội l ba văn ti nổi tiếng. Ring trong bt đại gia tức l tm
văn ho lớn nhất Trung Quốc, T Thức, T Triệt v cha l T Tun đ chiếm ba
chỗ.
Sch Trung Hoa Kim Cổ Kỳ Nhn của Phan Hồng Trung, chp nhiều giai thoại giữa T
Thức v T Tiểu Muội. Đặc biệt l đoạn chp truyện đối đp giữa T Thức v em
gi.
T Thc ru rậm, Tiểu Muội nhạo bằng hai cu:
Khẩu đốc kỷ hồi v mịch xứ
忽 聞 毛 理 有 聲 傳
Hốt văn mao l hữu thanh truyền
Thấy ru động đậy tiếng nghe truyền.
T Thức đp lại nhạo ci trn d của em gi:
Vị xuất đnh trung tam ngũ bộ
額 頭 先 到 畫 堂 前
Ngạch đầu tin đo họa đường tiền
Trn đ đi trưc tới họa đường.
Đm tn hn, Tiểu Muội ra một vế cu đối, thch Thiếu Du đối được th mới cho mở
cửa đn vo uống rượu hợp cẩn, bằng khng th tn lang cứ ở ngoi sn. Vế cu
đối như sau:
閉 門 推 出 窗 前 月
Bế mn suy xuất song tiền nguyệt
nghĩa l:
Thiếu Du nghĩ mi khng ra vế đối, đi ngang đi dọc bn bờ hồ. T Đng Pha muốn
gip nhưng khng muốn ra mặt, ng kiếm một vin sỏi nm thẳng xuống mặt hồ, lm
cho mặt nước đang như mặt gương sng bỗng vỡ ra trăm mảnh, khiến Thiếu Du tm ra
cu đp quay lại n thư viết :
Đầu thạch xung khai tỉnh để thin
đễ thị tỳ đệ trnh T tiểu thư.
Tc giả Truyện Trạng Quỳnh chuyển biến giai thoại trn đy giữa anh em T Thức
v T Tiểu Muội thnh truyện tranh tải giữa Thị Điệm v Trạng Quỳnh Truyện so
ti đ tm tắt theo truyện do Vũ Ngọc Khnh[9] chp trong cuốn Kho Tng Cc ng
Trạng Việt Nam như sau:
[...] Quan Bảng, [thầy học của Quỳnh] nui cho quỳnh ăn học l c muốn gy
dựng cho Quỳnh rồi để gả con gi cho chng. Nhưng Thị Điểm th cn muốn thử ti
Quỳnh cao thấp ra sao. Quỳnh hiểu nn cũng thch đem văn thơ chữ nghĩa ra trổ
ti với Thị Điểm. Một hm Điểm đi chợ, Quỳnh gửi ba mươi đồng tiền kẽm với một
mảnh dấy đề bốn chữ chiến chiến căng căng{ nhờ thị điệm mua hộ. Thi điểm mua
về cho Quỳnh năm nắm cơm nếp. Quỳnh phải phục ti. Thật ra Quỳnh lấn bốn chữ
chiến chiến căng căng ny từ Kinh Thi, v thường được giảng nm l nam năm nớp
nớp. Thị Điểm đn đưọc Quỳnh, đọc trạnh thnh năm nắm cơm nếp, v nng mua năm
nắm cơm nếp cho Quỳnh.
Một buổi chợ khc, Quỳnh lại gửi mười đồng kẽm, km mảnh giấy viết hai chữ đ
cuống, dịch nn l c cuống, muốn nhờ Thị điểm mua hộ c cuống. Thị Điểm hiểu
nhưng cố tnh tru Quỳnh, mua cuống c về cho Quỳnh. Quỳnh bắt đền. Thị Điển
ci: th c cuống ni li chẳng thnh cuống c l gỉ . Quỳnh đnh chịu thua.
Một hm Thị Điểm ngồi khu bn cửa sổ, Quỳnh đến cửa sổ đối diện nhn sang. Thị
Hai người ngồi hai cửa sổ song song.
Một hm khc, Quỳnh đi phố Ma, Sơn Tay về, gặp Thị Diểm, nng ra vế cu đối:
cầm tay kẹo lại hỏi thăm đường.
Quỳnh chưa kịp dối th Thị Điểm ra lun hai cu thứ nữa:
d đến hng nem chả muốn ăn.
đến khm trc thở di hi hp
Quỳnh khng đối lại nổi một cu.
Một buỏi khc, Quỳnh đi dạo về, bị ch sổ ra sủa. hoảng sợ Qnh leo ln cy. Thị
Điểm chạy ra thấy vậy bảo rằnh: nếu đối được cu ny th mới đuổi ch cho m
xuống:
di đỏ hồng hồng
Một buổi khc, Thị Điểm tắm, Quỳnh lần khn đi vo xem. Điểm tức qu đọc một
cu thch đố được th cho vo:
Quỳnh chịu khng đối nổi.
Một tối kia, Quỳnh liều lĩnh lẻn vo giường Thị Điểm nằm. Thị Điểm vo mn tối
m, qườ quạng chạm phải di của Quỳnh. Chữa thẹn Thị Điểm liền đọc vế cu đối
chữ nho:
Lần ny Quỳnh đối lại l:
nghĩa l:
Thị Điểm đọc tiếp cu đối nm:
long vẫn hon long.
thử chơi th thử.
Đối chiếu truyện Trạng Quỳnh so ti cng Thị Điểm với truyện anh em T Thức đối
đp, người đọc thấy trn cấu trc hai truyện giống hệt nhau: cả hai truyện như
tm tắt trn đy đều l truyện tranh ti đối đp bằng cu đối giữa một cặp anh
trai em gi. Tuy nhin, nếu tc giả truyện Trạng Quỳnh dựng truyện theo cấu trc
của truyện Trung Quốc, chi tiết trong cu truyện nm hon ton l một sng tc
thuần ty Việt Nam. Khc với truyện Trung Quốc, T Thức giữ vai chủ động, lun
lun thắng thế, mặc dầu truyện lấy tn T Tiểu Mui lm đầu đề; trong truyện nm
tuy lấy tn Trạng Quỳnh lm đầu đề, nhưng vai chủ động l Thị Điểm, v phần
thắng lun lun về Thị Điểm..
Tuy cng l tranh ti đối đp trong việc lm cu đối, trong truyện T Thức cuộc
tranh ti giới hạn tnh anh em ruột thịt. Trong truyện nm, cuộc tranh ti như
đễ tm hiểu người bạn trăm năm. Điều thch th cho người đọc truyện Nm l những
đi cu đối phơi by nhưng tr chơi chữ hiểm hc trong tiếng Việt Nam, một m c
nhiều nghĩa, khiến đối thủ khng cn đường đối lại. Kh nhất l vế năm chữ:
Da trắng vỗ b bạch
hai chữ cuối l chữ nho cng nghĩa với hai chữ đầu, đồng thời lại l tiếng tượng
thanh đi sau chữ vỗ. Đ rất nhiều người cố đối, nhưng tới nay chưa c ai đối
được cho chỉnh.
Người đọc thấy r l đoạn Truyện Trạng Quỳnh so ti cng Thị Điểm l một đọa dn
dựng theo Truyện T tiểu Muội. Nhưng nội dung truyện đ bị cải biến, gột bỏ mầu
sắc Trung Quốc, đồng thời t đậm mầu sắc Việt Nam. Tc giả dng một bt php lm
nổi r những đặc tnh của ngn ngữ Việt Nam bn cạnh ngn ngữ Trung Quốc.
Trở lại truyện Phạm Tử Hư Ln Thăm Thin To, người đọc ghi nhận một chi tiết
Nguyễn Dữ đ dng để m tả lng chuộng đạo Khổng của Dương Trạm. Đ l Phạm Tử
Hư qu trọng những tờ giấy c chữ, hễ thấy rơi vi liền nhặt m đốt.[10] Nhn
sang những Truyện Cổ Nước Nam, lng tn qu chữ nghĩa thnh hiền như vậy khng
phải l một hnh ảnh thng thường để m tả vai chnh trong truyện. Tri lại,
nhiều truyện đ dựng trn sự kiện chữ nho đọc theo m Việt Nam nghe lạ tai cho
chnh người Việt Nam v v vậy c khả năng khi hi để lm bt thuật khi hi.
Đ l bt thuật của truyện kế tiếp:
Xưa c một con khướu nổi danh l biết đủ cc thứ tiếng.
Khướu mở trường dạy học ni.
Giống chim chc theo nhau đến học đng lắm. Nhưng kể bậc giỏi hơn cả th chỉ c
ba anh l anh chim ri, ang d d v anh cả ngỗng m thi.
Đến kỳ Trời mở khoa thi, bao nhiu học tr của khướu đều đua nhau đi cả.
Buổi thi xong về, tin sinh khướu hỏi đồ đệ rằng:
Bi chi? bi chi?
D d thưa rằng:
nghĩa l như thế no th gọi được l kẻ sĩ vậy.
Khướu lại hỏi:
V sch chi? v sch chi?
vo sch no?
Ngỗng thưa rằng:
D d! V Ấu Học! V Ấu Học
Chim ri nghe ngỗn ni mắng rằng:
Tri chi vi tri chi! Bất tri vi bất tri
Khng biết th rằng khng biết!
Khướu khen rằng:
Kỳ c! Kỳ c! Kỳ c!
Ngỗng ci lại chim ri:
A A! V tri d, ng bất tri d.
Khng biết vậy, ta khng biết vậy.
Khướu vẫn cn tiếp tục khen chim ri:
Kỳ c! Kỳ C!
Đỗ cả! Đỗ cả!
Khưu bảo:
Xem cho chu ch! chu ch
nghĩa l:
Truyn cổ trn đy l một truyện khi hi, đặt trong khung cảnh một trường
nho học. Cả thầy lẫn tr đều l chim. Lời đối đp giữa thầy tr b bạn l lời
viết bằng chữ nho nhưng đọc theo m Việt Nam, nghe ru rt như tiếng chim. Khng
ai l khng cảm thấy ngưi viết dng chữ nghĩa thnh hiền nhại lời chim g
ngỗng để mua vui trọc cười.
Theo giới ph bnh văn học [13] , thể văn ny mang tn l macaronique, của người
thường lm thơ khi hi chen thm tiếng la tinh, tiu biểu l tc phẩm Baldus
của Teofilo Folengo, xuất bản vo năm 1517.
Đối chiếu hnh ảnh Dương Trạm nhặt từng mẩu giấy c chữ thnh hiền đem đi đốt,
để tỏ lng tn trọng chữ nghĩa Khổng học, với lời văn truyện Khướu Dạy Học, lấy
chữ nghĩa thnh hiền đọc nhại lời chim để mua vui trọc cười, vậy m truyện cn
truyền tục tới nay, người đọc thấy r l đại chng khng phải ai ai sng knh
đạo Khổng như thầy tr Phạm Tử Hư.
Nhn chung cả ba truyện Tam Đại Nh Con G, Thầy Đồ Ăn Bnh Rn v Khướu Dạy Học,
người đọc thấy cả ba truyện cng lấy khung cảnh l việc học hnh, với vai chnh
l một ng đồ. Vai ng Đồ trong truyện Tam Đại Nh con G l một ng thầy chữ
nghĩa cn km cỏi m lại hay ph trương. Đặt ci km cỏi dốt nt cạnh ci nết
ph trương hư danh l một đề ti trọc cười thng dụng.
Truyện Thầy Đồ Ăn Bnh Rn l một truyện trọc cưi dưới một hnh thức kh xa lạ.
Hnh thức ny l hnh thức trọc cười trong tập truyện cười với hai vai chnh l
Ba Giai v T Xuất. Hnh động của ng đồ trong Truyện Thầy Đồ Ăn Bnh Rn l một
hnh động c thể gọi l bất lương: thầy pha ớt vo nước tắm khiến học tr nhỏ
cũa thầy nổi mẩn khắp người, l cha mẹ n lo sợ; rồi thầy nhn đ bầy ra lễ trừ
ma trừ t bắt cha mẹ tr đi mua bẩy đĩa bnh rn về cng lễ, nhn đ thầy c một
bữa bnh rn no n, rồi thầy lại mang tr ra tắm nước mt khỏi bệnh do chnh tay
thầy gy ra.
Người đọc truyện Thầy Đồ Ăn Bnh Rn khng khỏi lin tưởng tới truyện dưới đy
trong tập truyện Ba Giai T Xuất:
Ny bc ạ, đm qua ti nằm mơ thấy lửa, hẳn l c ti đy. Ta thử vo H Đng
lm canh sc đĩa, may ra phất to th tha hồ c tiền ch chn.
Thế rồi bọn Ba Giai T Xuất, chừng năm su người ko nhau vo H Đng đnh bạc.
Ngỡ l hốt được của thin hạ, phen ny sẽ bốc to, ngờ đu mấy chng thua nhẵn củ
kiệu, phải một phen nhịn đi giắt nhau cuốc bộ về H Nội.
Tới Cầu Giấy, cc cậu đi mềm, lại thấy hai bn hng qun tấp nập, hng phở,
hng cơm, thịt ch treo lủng lẳng, cc cậu thm rỏ ri, sờ ti chẳng cn lấy một
xu nhỏ. Ba Giai bảo T Xuất:
Cơm rượu ngon lnh thế kia m chng ta chịu nuốt nước bọt th uổng thật. Từ xưa
đến nay, anh vẫn kho l giỏi xoay xở, vậy đang lc anh em đi mềm thế ny, anh
hy trổ ti đi cho anh em nhờ no.
T Xuất đp:
Th anh em hy chầm chẫm một cht no. Lm g m nng thế!
Ba Giai ni tiếp:
Chẳng nng th sao! Đi lả ra rồi cn g. Anh c nhớ lc ra về anh bảo l đến
Cầu Giấy th mời anh em đnh chn khng? Gi anh nghe ti giữ lấy vi quan c
phải by giờ anh em khng bị đi meo thế ny khng?
T Xuất thấy Ba Giai thc tợn, ni:
Hy thong thả một cht, để ti đi xem qua một lượt cc hng đ.
Thế rồi, T Xuất để cả bọn đứng đ, một mnh đi khắp một lượt, hết hng nọ đến
hng kia. Hng no T Xuất cũng nhn vo. Tới một hng ở đầu giẫy, T Xuất trng
thấy c hng xinh xắn, m đỏ hy hy, bỗng dừng chn lại.
Trng thấy khch, c hng vội bỏ miếng trầu đang nhai, mời cho tu tt:
Mời ngi vo sơi rượu đ. Hng chu sạch sẽ, ngon lnh lắm. Ngi muốn dng g
cũng c ...
Được để ti cn chờ mấy ng bạn đ.
Thế rồi T Xuất vẫy bọn Ba Giai, mời vo hng. Tưởng l T Xuất ni đa, cả bọn
ngơ ngc nhn nhau, anh nọ đn anh kia vo trước, rt cuộc chẳng c anh no dm
vo.
T Xuất thấy vậy, thc:
Ka vo đi cc anh. Cứ để c hng phải mời mi. Ta vo cơm rượu đi, kẻo tối ...
Ni xong, T Xuất dng dạc bảo c hng:
No c rượu ngon, canh ngọt th dọn ra đy một mm.
Thấy T Xuất gọi cơm rượu, cả bọn mới chắc dạ, bước vo hng.
C hng ko ghế, dọn bn, cười ni lun miệng, Bộ răng c đen nhnh như hạt na,
trng thật l duyn dng.
Bẩm cc ngi sơi g ạ?
Chặt cho ti một con g luộc, vi khoanh gi lụa, hai khc c rn, v cho ti
một chai rượu ngon ra đy.
C hng lấy dao thớt, mang g ra chặt. Mi người đều xanh cả mắt, nhn nhau
khng hiểu T Xuất trng vo đu m dm gọi hăng như thế. C người bụng bảo dạ
c lẽ T Xuất cn găm t tiền; nhưng c ngưi th lo ngay ngy v chỉ sợ ăn
xong, anh em phải đnh bi tẩu m, m n h tuần đuổi bắt được th cứ nhừ đn.
Vi pht sau, c hng đ b ra một mm đầy thịt rượu đặt trước mặt khch.
T Xuất so đũa cho cc bạn, ni:
No, by giờ anh em ta chn đi no. Cứ việc ăn uống cho no say, thiếu thức g
cc anh cứ việc gọi thm, đừng ngại.
Nh hng c con mo tam thể, thấy khch ăn uống, cứ lảng vảng chờ ăn. T Xuất
vừa uống rượu vừa vuốt ve con mo, thỉnh thoảng lại gắp miếng c rn cho ăn. Con
mo thnh quen, cứ sấn quanh bn cạnh T Xuất. chừng đ no, con mo nằm queo
ra lm một giấc ngủ ngon.
Cơm rượu xong, c hng đứng ln thu dọn mm bt, lấy tăm nước cho khch. Cả bọn
lấm lt nhn nhau, rồi trng trộm T Xuất xem chng c hiệu lệnh g chăng. T
Xuất th cứ thản nhin, tr truyện cười ni, với c hng, khng tỏ vẻ g băn
khoăn lo ngại.
Bỗng, T Xuất ngồi xuống, chăm ch ngắm ngha con mo một lc, rồi lm bộ ngạc
nhin đng ln ni to ln rằng:
! con mo ny mới qu ho lm sao chứ! C hng phc đức lắm mới nui được con
mo ny.
C hng bật cưi, trả lời:
Vng, con mo nh chu qy ha thật. Chỉ qu v một nết hay ăn vụng, rồi lại hay
bĩnh ra bếp. Chuột bọ th lm loạn trong nh m mo th cứ lnh như bụt.
T Xuất nghim giọng ni:
hay! dễ c cho ti ni đa sao? C khng biết, chứ con tam thể ny c ci
tướng kỳ dị lắm. Tiền vạn th kiếm dễ, chứ khng dễ g kiếm được con mo lạ như
thế ny.
C hng vẫn cười, cho l khch tru ghẹo mnh:
Thưa ng thế l thế no?
T Xuất ko xong một hơi thuốc lo, ni quả quyết.
Con mo ny chảng nhưng tinh khn m lại cn biết ni nữa.
Ni xong, T Xuất vứt mạnh chiếc xe điếu xuống bn.
C hng nghe ni cưi ngất nghẻo đp:
ng ny ni kỳ qu! Đời thủa no m mo lại biết ni!
T Xuất liền lại gần c hng ni:
C c đố ti bảo n ni cho c nghe ngay by giờ khng?
Vng, th ng bảo đi xem no!
T Xuất hăm hở ni lớn:
C đnh cuộc với ti ci g no, ti lập tức bảo n ni ngay cho m xem.
Mấy người khch đang ngồi ăn ở bn bn, thấy truyện nức cười như vậy cũng bỏ cả
đũa bt, đng dậy xem. Cả những người bộ hnh đang đi qua đ, thấy trong nh to
tiếng, khng hiểu đầu đui ra sao, cũng xm lại xem đng đầy cửa.
T Xuất lại nhắc lại, ni lớn:
No c đnh cuộc với ti ci g no? Một mm rượu nh!
C hng cười toe tot, đp:
Vng, xin vng. Nếu ng bảo n ni được một tiếng, th nh chu xin mất khng
bữa rượu, khng lấy tiền của cc ng nữa.
C ni thật đấy chứ!
Thật chứ dối ạ?
T Xuất cười ha hả, quay ra nhn mọi người phn vua:
Đấy nh! Cc ng cc b lm chứng cho ti nh! C hng đ cam đoan đnh cuộc hễ
con mo ni được, th xin mất mm rượu. Th đy, ti xin bảo con mo n ni cho
m xem. để c hng biết ti khn ngoan của n.
Đoạn T Xuất đến chỗ con mo dang ngủ, xch tai mo giơ ln, đem ra gần chỗ c
hng ngồi, vừa đi vừa dng dạc ni:
No by giờ my ni ln cho c hng biết tr thng minh, xuy xt của my nh ...
Rồi T Xuất giơ con mo ln cao đến tận mặt, hỏi:
Ớ mo! Bớ mo! Của c hng trn ... mo?
Vừa ni đến tiếng mo T Xuất bấm mạnh mng tay vo tai con mo, tưỏng chừng
đến thủng tai ra; con mo đau qu, nhăn cả mm, ku
Mo! Mo!
Mọi người đng xem cười ầm ln, bọn Ba Giai tưởng như bể bụng, b lăn ra đất,
cn c hng th thẹn thng, xấu hổ, mặt cứ đỏ như gấc chn, phải ci đầu dấu mặt
đi cho đỡ ngượng.
T Xuất vứt con mo xuống đất đnh huỵnh một ci, xoa tay ni:
Đấy nh! Con mo đ ni rồi nh, lại ni ni khn, c , c nghĩa, đủ biết con
mo chẳng nhưng biết ni lại cn biết suy xt nữa.
...
C thch n ni c một tiếng cũng l thua cuộc, nhưng đy n lại ni hai tiếng,
thế l ti bị thiệt rồi đấy nh!
....
Chỉ mất c một mm rượu m c đ biết được con mo gi trị ... thật l rẻ đ!
Rồi lại bảo bọn Ba Giai:
Thi tiệc rượu thế l trang trải xong rồi, by giờ ta cho c hng ra về kẻo
muộn ....
Cả bọn bưc ra khỏi hng, cười ồ. C hng, mặt vẫn cn đỏ như say rượu, đnh mất
bữa rưỡu, tuyệt nhin khng dm h răng, ni nửa lời.
Xt trn cấu thức, truyện Thầy Đồ Ăn Bnh Rn v truyện Mo Biết ni c nhiều
điểm tương đồng. Trước hết cả hai cng được coi l truyện vui cười. Hai l cả
hai cng chp truyện một thầy đồ thm ăn bnh rn v một nhm bạn b Ba Giai v
T Xuất thm một bữa rượu. Cả hai vai chnh đều by mưu thiết kế cốt chỉ được
thoả thch niềm ham muốn, bất kể l phải đnh lừa hay lm hại người khc. Thầy
đồ lm hại đứa học tr b nhỏ đnh lừa cha mẹ n để đưọc ăn bẩy đĩa bnh rn. T
Xuất đnh lừa c hng cơm, lm khổ con mo để c bữa rượu sau sưa khi trong ti
khng c tiền. Người đọc truyện cười thỏa thch, trước những hnh động bất lương
của thầy đồ thm bnh rn v của T Xuất cng đồng bọn đi một bữa rượu.
Ci cười ny khiến người đọc nhớ tới ci cười v lại, le rire picaresque[14],
khi đọc cuốn La Vie de Lazarillo de Torms,[15] khiếm danh tc giả, nguyn tc
bằng tiếng Ty Ban Nha. Cuốn truyện ny xuất bản lần đầu tin vo năm 1553 tại
Anvers, từng đươc dịch sang nhiều thứ tiếng tại u Chu. Cũng từng bị coi l
sch cấm đọc trong hng trăm năm. Sch viết theo thể tự sự, kể lại những hnh
động bất lương của vai chnh l Lazarillo, một ngưi ngho kh gốc tại Torms.
Truyện cũng được coi l l một truyện khi hi, đồng thời trnh by quan điểm
ph phn x hội, dưới thời cuối thời Trung Cổ, với những nề nếp khắt khe.
Đối chiếu những truyn trong tập Truyện Cổ Nưc Nam, v trong tập Ba Giai T
Xuất, c cng nghĩa với truyện La Vie de Lazarillo de Torms, vượt qu giới
hạn bi viết ny, v xin dnh cho giới nghin cứu chuyn mn. Đằng khc, qua
nhận xt về sự tương đồng giữa cuốn truyện Ty Ba Nha v truyện Cổ Nước Nam v
Truyện Ba Giai T
Xuất, trch dẫn trn đy, phải chăng người đọc khng khỏi như thấy những truyện
trch dẫn ni trn, t nhất, cũng c thể coi l phản ứng của văn học dn gian
dưới p lực của văn học Trung Quốc đặt trn mức độ quốc học, hay ni một cch
ngắn gọn hơn nhưng truyện cười trch dẫn đ c mu sắc của tnh cải biến trong
văn học dn gian hậu Bắc thuộc?
Trung Quốc c ba bộ tiểu thuyết rất được đng đảo người đọc, khng những tại
Trung Quốc, m tại khắp ci Đng ham chuộng. Đ l bộ Tam Quốc Ch, bộ Thủy Hử
v bộ Ty Du K. Sau đy, cảo luận ny xin xt qua cch đọc bộ Ty Du K của
người Đng như một bộ tiểu thuyết huyền b, như một b kinh Đạo Gio truyền
php dng linh đan để luyện php trường sinh bất tử v sau cng l cch biến cải
của một tc giả khiếm danh Việt Nam khởi hứng từ bộ Ty Du K sng tc thnh
truyện cổ tch Người Đi Tm Kinh Phật.
Bộ Ty Du K chnh l truyện Thầy Tam Tạng, đời nh Đường, tn thật l Trần Vỹ,
sinh năm thứ mười su đời Ty Văn Đế Vương (595 sau Ty Lịch) tại huyện Cu Thị,
nay l huyện Ym Sưu, tỉnh H Nam Trung Quốc đi sang Ấn Độ thỉnh kinh năm ngi
mới vừa hai mươi bẩy tuổi. Truyện đi thỉnh kinh cũng l một truyện c thực, chp
trong sch Đại Đường Ty Vực K. Thầy Tam Tạng đi thỉnh kinh một người một ngựa,
đ tới được Ấn Độ sau khi vượt qua được một trăm hai mươi tm phin quốc với rất
nhiều kh khăn thử thch. Chuyến đi mất hai năm, chuyến về hai năm. Thầy Tam
Tạng ở lại Ấn Độ mười ba năm, học đạo tại cha Na Lan Đ trong su năm, thời
gian cn lại thầy đi viếng thăm cc di tch của Đạo Phật v thu thẩp kinh sch
v phật tch. Ngy về tới Trường An, thầy Tam Tặng mang theo về:
150 X Lợi tử (tinh cốt Đức Như Lai)
2 tượng Phật bằng gỗ đn,
3 tượng phật bằng đn hương
657 bộ kinh
cng nhiều bảo vật khc.
Về tới Trường An, thầy Tam Tạng khởi đầu việc dịch kinh. Trong chn năm
(645-644) thầy dịch được cả thẩy bẩy mươi lăm bộ kinh, bộ Đạo Đức Kinh của Lo
Tử v dịch bộ Đại Thừa Khởi Tn Luận từ chữ Hn sang tiếng Phạn, cng sng tc
bộ Đại Đường Ty Vực K.
Trưa ngy 5 thng 2 năm 664 thầy Tam Tạng mất tại cha Ngọc Hoa, hưởng dương 69
tuổi. Tục truyền c đến ba vạn người cất lều cư tang gần m thầy.
Truyện thầy Tam Tạng đi Ấn Độ thỉnh kinh, sau đ, trở thnh nguồn văn liệu cho
nhiều tc giả viết thnh tiểu thuyết hay thnh tuồng tch. Điều đng ni l
những tc giả ny khng lấy thầy Tam Tạng lm vai chnh m dng vai Tn Ngộ
Khng, một nhn vật huyền hoặc nủa người nửa khỉ, theo hầu bảo vệ thầy Tam Tạng
trong chuyến du hnh lịch sử ny.
Dưới triều nh Tống, truyện Tay Du K xuất hiện dưi hnh thức truyện truyền
miệng, những người sống bằng nghề kể truyện bằng văn vần ny, để lại một vi văn
bản gốc, ngy nay cn tm thấy tại Nhật Bản dưi đầu đề Đại Đường Tam Tạng Thủ
Kinh Thi Thoại, v Đại Đưng Tam Tạng Thủ Kinh K, in từ thời Nam Tống. Giới
nghin cứu cho rằng những tư liệu ny do những vị cao tăng Nhật Bản du học sang
Trung Quốc mang về.
Truyện Ty Du K đời nh Nguyn dưới hnh thức một cuốn tiểu thuyết, m giới
nghin cứu văn bản ngy nay tm thấy được l một tư liệu Hn Quốc, trong sch
Phc Thng Sự Ngạn Giải, [phin m (ngạn giải) theo Hn ngữ của ng thng sự (thng
ngn) họ Phc]. Sch ny vốn l một cuốn sch gio khoa dạy đm thoại tiếng
Trung Quốc cho người Hn Quốc.
Những bản Ty Du K quen thuộc với Người Việt Nam l những bản dịch bộ Ty Du K
đời nh Minh, của Ng Thừa n.
Đối chiếu đời nh Minh với những bản cổ hơn theo tư liệu tm thấy ở Nhật Bản v
Hn Quốc v những tuồng tch cổ l một vấn đề phức tạp m giới nghin cứu cn
đang đeo đuổi.
Ring những chi tiết về đời tư của Tn Ngộ Khng cũng đ c những khc biệt đng
lưu . Theo tuồng tch, đời Nguyn về Ty Du K, th Tn Ngộ Khng khng c cha
mẹ anh chi em, bắt cc nữ vương nước Kim Đỉnh lm vợ. Trong tiểu thuyết Ty Du
K đời Minh, th Tn Ng Khng vốn từ hn đ nứt m sinh ra, khng cha khng mẹ
khng anh em, một thn ph phch thin đnh, nhưng khng hiếu sắc. Phần trch
dịch sang tiếng Đại Hn đời nh Nguyn khng nhắc tới truyện vợ con của Tn Ngộ
Khng, nhưng ni tới vụ Tn Ngộ Khng đnh cắp o tin của Ty Vương Mẫu, một
chi tiết giống y hệt nội dung cc tuồng tch.
Ngược lại theo những truyện truyền miệng bằng văn vần đời Tống th vai chnh
truyện Ty Du K l Hầu Hnh Giả, tiền thn của Tn Ngộ Khng, khng vợ khng
con, như vậy chi tiết ny c cả trong truyện truyền miệng đời Tống v tuồng tch
đi Nguyn.
Về cch Tn Ngộ Khng bị trừng phạt, cũng như về những danh hiệu của Tn Ngộ
Khng c nhiều điểm tương đồng v khc biệt giữa cc bản Ty Du K.
Đằng khc, trả lời cu hỏi ai l tc giả Ty Du K, cũng l một truyện phức tạp
trn văn đn Đng . kiến chung th Ng Thừa n l tc giả bản Ty Du K đời
nh Minh. Chủ trương ny do hai nh văn học nổi tiếng Trung Quốc: Hồ Thch v Lỗ
Tấn khởi xướng, căn cứ vo sự kiện cuốn Hoi An Phủ Ch ghi tn Ng Thừa n viết
sch Ty Du K .
Giới phản đối, đặt cu hỏi l cuốn Ty Du K m sch Hoi An Phủ Ch ni tới đy
l cuốn no, v c nhiều sch mang tựa đề Ty Du K m nội dung khng phải l
truyện Tam Tạng đi thỉnh kinh. Nh nghin cứu Nhật Bản ta Tatsuo cho l Ng
Thừa n chỉ l tc giả viết tuồng tch Ty Du K, dựa trn lập luận l sch Hoi
An Phủ Ch chỉ ghi tn những kinh sử tử tập m khng lưu tới tiểu thuyết, d
l tiểu thuyết nổi tiếng.
Ngược lại giới bảo vệ thuyết của Hồ Thch v Lỗ Tấn, đối chiếu sch Ty Du K
của Ng Thừa n với những tc phẩm khc của cng tc giả, cng so snh một số
chi tiết trong truyện với những biến cố văn học v lịch sử đời Minh, kết quả l
lm nghing cn cn về thuyết Ng Thừa n l tc giả Ty Du K.
Đằng khc, việc phin dịch ny khởi đầu từ việc lựa chọn bản gốc. Người đọc ngy
nay c thể tm thấy ba bản Ty Du K: một l bản do Chu Đỉnh Thần soạn, pht
hnh từ đời Vạn Lịch (1573-1620); hai l bản do Ng Thừa n soạn pht hnh năm
Vạn Lịch 20 (1592); ba l bản do Dương ch Ho bin soạn, khng ghi nin đại
bin soạn v pht hnh. Phan Qun đ dng bản thng dụng nhất l bản của Ng
Thừa n, đời nh Minh, (1500-1582) bin soạn.
Ng Thừa n l con một thương gia, qu tại phủ Hoi An. Thủa trẻ ng l một học
sinh xuất sắc. Tnh tnh vui vẻ giỏi khi hi. ng khng gặp may mắn trn đung
khoa cử, thi hương nhiều khoa khng đậu. ng về sống tạm tại Nam Kinh, sống bằng
tiền viết mướn. Tới năm su mươi tuổi ng được bổ lm một chức quan nhỏ, nhưng
đời lm quan khng hợp với ng, nn ng xin từ quan v trở lại qu xưa, sống tới
ngoi tm mươi tuổi. Bộ Ty Du K l tc phẩm ng viết vo những năm cuối đời.
Bộ Ty Du K gốm 100 hồi, như lời Đường Tam Tạng tu ln vua Đường Thi Tn [16]
, kể lại truyện bốn thầy tr nh sư Đường Tam Tạng cng ba đồ đệ l Tn Ngộ
Khng, Trư Ngộ Năng v Sa Ngộ Tịnh v con ngựa trắng nguyn l một con rồng mắc
đọa, đi qua Ty Phương rng r 14 năm, vượt qua nhiều gian nan thử thch mới tới
được ni Linh Sơn ra mắt Phật Tổ xin thỉnh kinh. Dọc đưng đến nước no củng
trnh điệp thng quan cho cc vua đng ấn lm bằng.
Thỉnh đưọc kinh, bốn thầy tr Đường Tam Tạng được tm vị Kim Cang Nổi g bay
trong hai ngy về tới Trường An. Tới kinh đ, Đưng Tam Tạng được vua Đừng Thi
Tn mở tiệc đn tiếp tại điện Đng Cc v ban cho một bi thơ di ngợi khen cng
lao Ty Du thỉnh kinh của Đường Tam Tạng.
Kế đ tm vị Kim Cang lại đằng vn, suốt tm ngy, đưa bốn thầy tr Đường Tam
Tạng cng con Bạch M, tới điện Đại Hng chầu Phật Tổ. Phật Tổ ngợi khen cng
lao thỉnh kinh của Đường Tam Tạng cng cc đệ tử, phong cho Đường Tam Tạng chức
Chiến Đng Cng Đức Phật; tha cho Tn Ngộ Khng tội loạn đả thin cung, nay c
cng bảo hộ thỉnh kinh được phong chức Đấu Chiến Thắng Phật. Trư Bt Giới,
nghiệp duyn chưa dứt trọn vẹn song c cng gnh vc bảo hộ thỉnh kinh, được
phong lm Tịnh Đng Sứ Giả; Sa Ngộ Tịnh được phong lm Kim Hn La Hn cũng v c
cng bảo hộ thỉnh kinh; con Bạch M c cng chở Thnh Tăng đi thỉnh kinh được
phong chức Bt Bộ Thin Long.
Từ thế kỷ XVI tới nay đ rất nhiều người ph bnh bộ Ty Du K. Ty theo nhn
quan, mỗi nguời tm thấy một nghĩa của bộ tiểu thuyết. Sau đy, người viết xin
tm tắt ghi lại ba nghĩa tiu biểu:
- Một l nghĩa theo nhn quan của Wu Zuxiang;
Hai l nghĩa theo nhn quan của Phan Qun, dịch giả bộ Ty Du K sang tiếng
Việt Nam;
Ba l nghĩa theo nhn quan của những phương sĩ Đạo Gio, coi bộ sch như một
phổ k dậy cch luyện linh đan để đạt tới ci trường sinh bất tử.
Theo Wu Zuxiang[17], bộ Ty Du K viết dưới hnh thức tiểu thuyết truyền kỳ,
nhưng đng thời c nghĩa x hội hiện thực. Dưới nhn quan đ vai Đường Tam
Tạng trở thnh một vai phụ, tri lại vai Tn Ngộ Khng trở thnh vai chnh, v
l hnh ảnh của một vị anh hng nhn dn. Đằng khc, cốt truyện đưa đon ngui
đi thỉnh kinh qua nhiều nưc phin thuộc nước Đại Đường với những hnh tượng
những thần thnh cng yu ma m tc giả dng để by tỏ quan điểm ring về mọi
mặt của x hội đương thời, với một giọng văn khi hi d dỏm. Sau hết, Ng Thừa
n đ kho lo đưa vo tc phẩm của ng những hnh tưọng c sẵn trong văn học
nhn dn Trung Quốc v kinh sch đạo Lo v đạo Phật để phơi by tnh phản động
của ba tn gio Nho Phật Lo đ nặng trn x hội Trung Quốc thời nh Đường.
Bẩy hồi đầu m tả tch Tn Ng Khng sinh ra đời, khng cha khng mẹ, nở từ mt
tri trứng nứt từ một tảng đ trn ni Hoa Quả Sơn tại nưc Ngao Lai. Tn Ngộ
Khng khổ cng tập luyện, trở thnh thnh, đạt đưọc tới ci trưng sinh bất tử
v đạt được bẩy mươi hai php thần thng biến ha. Với ti sức đ, Tn Ng Khng
xuống nưc ph Long Cung, ln trời ph Thin Đnh, khiến Long Vương phải phục
tng, Ngọc Hong phải phong cho chức Tề Thin Đại Thnh. Cho tới một ngy Tn
Ngộ Khng trổ ti nhảy vọt một bước vượt 18 000 dặm, nhưng liền đ nhận ra rằng
mnh chưa vượt khỏi lng bn tay Phật Tổ. V bị Phật Tổ phạt giam dưới Ngũ Hnh
Sơn, tưọng trưng bn tay Phật Tổ.
Năm hồi, từ hồi 8 tới hồi 13 l truyện Đưng Tam Tạng sửa soạn đi thỉnh kinh. 81
hồi kế tiếp kể lại những gian trun cng kh của chuyến Ty Du. Đi ngang Ngũ
Honh Sơn, Đường Tam Tạng giải thot cho Tn Ngộ Khng v nhận lm đệ tử đi theo
bảo vệ ngi trn đường Ty Du. Tren đường, Tn Ngộ Khng đnh bại Trư Bt Giới
v bắt được thủy qui họ Sa. Cả hai cng đưọc Đưng Tăng thu nhận lm đệ tử v
đặt hiệu l Trư Ngộ Năng v Sa Ng Tịnh. Sau đ thầy tr Đưng Tam Tạng khuất
phục được một con rồng v biến n thnh mọt con ngựa trắng đặt tn l Bạch M.
Trong suốt 81 hồi lin tiếp ni trn trong bộ Ty Du K, nh bnh luận Wu
Zuxiang coi nhưng chiến thắng của Tn Ngộ Khng như biểu thị lng ước mơ chiến
thắng thin nhin của nhn dn; mọi hnh ảnh những thần thnh trong truyện đều
l những hnh ảnh tưọng trưng cho thin nhin. Hnh ảnh Tn Ngộ Khng qua những
chiến thắng đ, rồi bị giam dưới Ngữ Honh Sơn l hnh ảnh của ton thể nhn dn
trong cuộc tranh đấu chống phong kiến, m khng thnh cng lật đổ được chế độ
phong kiến thời đ.
Việc Tn Ngộ Khng được giải thot v được đi theo Đường Tam Tạng thỉnh kinh,
tiu biểu cho sức mạnh của nhn dn nay đ c đường lối để đeo đuổi tri với
những vụ tranh đấu v mục tiu trưc đ. Trước kia Tn Ng Khng phải nỗ lực
chiến dấu m khng biết chiến đấu cho ai, v nay c chủ đch l bảo vệ Đường Tam
Tạng trong vụ Ty Du thỉnh kinh.
Wu Zuxiang nhận xt rằng những yu ma quỷ qui m Tn Ngộ Khng phải đối đầu
trong chuyến Ty Du thuờng lại l đệ tử của nhiều vị thần thnh linh thing. ng
giải thch nhận xt ny bằng cch đối chiếu với lịch sử nh Minh. Thủa đ, vua
quan cường ho c b thưng dung tng cho đn em honh hnh bc lột đ nn nhn
dn. Hnh ảnh Tng Ng Khng dẹp cc yu ma qủy qui tiu biểu cho lng dn đời
Minh nổi loạn khng phải l chống đối vương quyền m muốn tiu diệt bọn cướp
ngy được giới quyền thế bao dung.
Đằng khc, trong nhiều vụ dẹp yu ma quỷ qui, Tn Ngộ Khng thường tỏ ra qu
nghiệt ng khiến Đưng Tam Tạng ln tiếng trch mc. Điểm ny đặt Tn Ngộ Khng
đối nghịch với Đường Tam Tạng, như trong thực tế phe chủ chiến đối nghịch với
phe chủ ha trong việc dng cch phủ dụ thay cho giết trc để dẹp loạn an dn.
Đặt Ty Du K l hnh ảnh x hội dưi triều nh Minh, dưới mắt Wu Zuxiang, vai
Trư Bt Giới tiu biểu cho đm tư sản phản động. Trong nhiều trường hợp gặp kh
khăn trn đưng Ty Du, Trư Ngộ Năng thưng tỏ ra thiếu tin tưỏng, sinh nản ch.
Nhiều lần v đn b m nghĩ tới truyện bỏ dở việc lớn. Hng ngy th tham ăn tục
uống, ham lợi trước mắt. Lc vo cuộc giao tranh thường tỏ ra nht gan sợ chết.
Lc nhn thấy thắng lợi th tm cch kể cng. Tuy nhin Trư Ngộ Khng tnh vốn
thiện. Trong bốn ty tng theo hầu Đưng Tam Tạng Ty Du, Trư Ngộ Khng l người
chịu phần lao lực nhất: phải gồng gnh hnh trang cng lo nhiều việc cực khổ dơ
bẩn khc. Dẫu cứng đầu hay ci, nhưng cũng sẳn sng nhận lỗi, do đ Trư Bt Giới
dễ chiếm được cảm tnh của độc giả.
Vẫn coi Ty Du K l hnh ảnh tiu biểu x hội nh Minh, vai Sa Ngộ Tịnh l
hnh ảnh của đm người gọi chung l lừng khừng. Họ thường nht nht rụt r,
thiếu tinh thần tranh đấu, khiến nhiều phen bỏ lỡ cơ hội tốt đẹp, lun lun cần
đưọc kch thch li cuốn.
Những nhận xt của Wu Zuxiang về bốn vai chnh trong Ty Du K khng phải l
khng xc đng. Tuy nhin ng d dng nhận xt đ để đối chiếu tnh tiết trong
truyện với hon cảnh Trung Quốc dưới triều nh Minh, đặc biệt ch tới ch v
thn phn ngưi dn den, dường như nặng phần gượng p. ng dnh hnh ảnh Tn Ngộ
Khng lm hnh ảnh ngưi dn lnh Trung Quốc đời Minh, với đủ đức tnh tốt, dư
ti năng, lm người đọc lin tưỏng tới hnh ảnh những đồng ch hon thiện những
cn bộ siu phm thời cng sản ton thịnh; đồng thời ton thể những ai khng
phải l đồng ch đều bị liệt vo hng tư sản phản động hay lưng khừng cần cho đi
cải tạo.
Người đọc tự hỏi, ngy nay cn mấy ai đồng với Wu Zuxiang về nghĩa cuốn Ty
Du K như vậy?
C điều chắc chắn rằng nghĩa chia cắt phn loại người dn như vậy kh c thể
tin được l nghĩ của ngưi Trung Quốc dưới triều nh Minh, khi cu
nhn chi sơ tnh bản thiện
chưa bị coi l sản phẩm của những kẻ bi coi khng bằng một bi phn tru.
Trong giới những nh ph bnh Ty Du K người Việt Nam phải kể tới bi ph bnh
của Phan Qun, dịch giả bộ Ty Du K. Phn tch nội dung truyện Ty Du K, Phan
Qun coi bộ tiểu thuyết ny l một truyện thần thoại, vừa c tnh hi hưc tro
lộng vừa bao hm triết l cao su. Điểm mu thuẫn ny đ được Phan Qun phn
giải rnh rẽ. Theo ng một bộ tiểu thuyết thần thoại, v truyện thần tin thường
khc xa một bộ tiểu thuyết tả chn. Tuy vậy trong khung cảnh thần thoại giả
tưỏng, ng vẫn nhận ra được bt thuật của tc giả l một bt thuật phản ảnh đời
sống thực tế của con người. Đi xa hơn nữa, Phan Qun cn cho l hầu hết cc nh
viết truyện ngụ ngn đều dụng k thc vo đ một sự trạng no đ m khng thể
ni ln bằng sự thật bằng tiếng ni. Họ mượn hnh thức`ny hnh thức nọ để ni
ln một cch kn đo hơn . Thế nn, truyện Ty Du K c thể coi l một bộ
truyện ghi lại hnh ảnh của chế độ mục nt, bất cng loạn lạc của nhữg đời vua
Chnh Đức, Gia Tĩnh, Vạn Lịch m Ng Thừa n đ khng viết ra sự thật bằng chữ
m mượn truyện Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh để chỉ trch một cch kn đo.
Dựa trn thn thế của Ng Thừa n, ti cao, lận đận trường ốc, cng danh chẳng
toại, đến gi mới đưọc bổ vo chức huyện thừa, ngho khổ khng con, Phan Qun
coi ng như người bất đắc ch, v kết luận l với một thn thế như vậy, nhất
định tc giả c mệnh trong tc phẩm.
Chứng minh lập luận ny, Phan Qun cho rằng Ng Thừa n lấy mẫu mực con người l
tưởng của ng m dựng ln Tn Ng Khng. Ng Thừa n ước mong đem ti sức ra ph
tan những bất cng x hội đương thời, nn cho Tề Thin Đại Thng ln ph thin
đnh. Nhưng ti khng thắng nổi mệnh, thn ng suốt đời khng thnh đạt biến
thnh hnh ảnh Tn Ngộ Khng bị giam dưới Ngũ Hnh Sơn. Phan Qun khng tạo ra
một Tn Ngộ Khng thnh một chiến sỉ bi phong phản đế, như nhiều nh ph bnh
theo học thuyết marxit thưng ca tụng. Bởi lẽ Tn Ngộ Khng ph thin đnh m
khng c một l tưởng khng đề ra một hnh ảnh thin đnh mới. Ngoi ra truyện
Ty Du K viết ra đ ngoi su trăm năm, lc đ lm g đ c thức phản phong
phản đế. Tn Ngộ Khng ph trời chỉ để cho hả giận, khi được trời phong cho lm
Tề Thin Đại Thnh th hả h ngoan ngon chui vo ci lồng danh vọng, m chẳng
hay l mnh đ vo lồng như ng Hy Văn Nguyễn Cng Tr bốn trăm năm sau.
Cũng như đa số người Đng , tc giả Ng Thừa n, tin tưởng l dương sao m vậy.
Mọi truyện xẩy ra ở trần gian ny đều c thể xẩy ra trn thin đnh hay trn đất
Phật. Thế nn, trời Phật thần thnh linh thing cũng chằng khc g những ng vua
ng cha nơi trần thế. Thần thnh dng yu qui, như vua cha dng thủ hạ, hiếp
đp dn đen. Trong suốt bộ Ty Du K, nhiều lần biết được cội rễ của đm yu
qui, Tn Hnh Giả tới thẳng chủ chng m trch mc bảo thu về. Như vậy Tn Hnh
Giả dng cch chiu ha, dẹp được yu ma m khng tốn sức, khng gy đổ mu,
khng gy thm hận th. Phải chăng đ cũng l giải php yn dn m Ng Tha n
mơ ước?
Phan Qun kết thc bi bnh luận bộ Ty Du K bằng một trang ni về Ảnh Hưởng
Truyện Ty Du Đối với Phật Gio.
ng bc bỏ kiến của nhiều ngưi, m ng coi l mới xem qua Ty Du, cho l bộ
truyện ny gầy ảnh hưởng tốt cho Phật Gio, với l do l sch Ty Du K c nhiều
đoạn đề cao quyền lực v lng nhn của Phật.
Trong hồi thứ 100 sch Ty Du K, qua lời tu của Đường Tam Tạng c đoạn:
Ti đến ni Linh Sơn ra mắt Phật tổ xin thỉnh kinh. Phật Tổ sai c Nang tn giả
v Ca Diếp tn giả, dẫn chng ti ln lầu đi yến v pht kinh. khi đến tủ để
kinh, c Nang tn giả c hỏi ti: Đem lễ vật g thỉnh kinh? Ti khng đem lễ
vật, nhưng ngi khng ni p, pht kinh tử tế. Đoạn chng ti tạ ơn Phật Tổ ra
về. Bỗng một trận gi thổi mạnh, một người hiện xuống giựt kinh bay đi, đệ tử
ti đuổi theo, người ấy quăng kinh xuống đất, vi rơi tứ tung. Nhn thấy kinh
khng c chữ no, chng ti sợ hi trở vo bạch Phật Tổ, xin đổi kinh khc, V
tố co hai vị tn giả đi lễ vật khng c, nn pht kinh giấy trắng. Phật Tổ dạy
l v thỉnh kinh khng lễ nn pht kinh v tự, hai vị ấy trch v lễ chứ khng
tham ti. Bởi vậy ti dng bnh bt khm tử lm lễ thỉnh kinh. Hai vị tn giả
bn đổi kinh c chữ.
Từ đoạn trn dy, Phan Qun lập luận:
Lại như c Năng, Ca Diếp, đệ tử của Phật, m cung đi ăn hối lộ, lc Tam Tạng
đến thỉnh kinh khng c lễ vật, pht kinh khng chữ, rồi lại xiết bnh bt.
Trời Phật sao lại c tm trạng khng khc loi người.
Lập luận của Phan Qun trn đy c nhiều điểm bất cng với c Nang v Ca Diếp.
Phan Qun tố co hai vị tn giả ny đi lễ vật, khng c, nn pht kinh giấy
trắng. Thật ra, theo lời Phật Tổ dạy, v Đường Huyền Tăng tm tắt, l v: thỉnh
kinh khng lễ nn pht kinh v tự.
Trở lại hồi 99, qua lời Phật Tổ, Ng Thừa n c ni r về nghi lễ thỉnh kinh
[18] :
Trước đy, cc si mới tu nơi ny c đem kinh xuống nước X Vệ m tụng cầu an v
siu độ cho Triệu trưởng giả. Nh họ Triệu huờn cng ba thăng gạo, v vng bạc
một t, ta cn ni Triệu trưởng giả bỏn sẻn sau con chu khng được giầu sang.
Nay thy tr ngươi đến tay khng, m thỉnh bấy nhiu kinh, cn than thở g nữa.
Kinh giấy trắng ấy l kinh v tự, qu hơn kinh hữu tự, nhưng v chng sanh xem
khng được, nn ta phải cho đổi.
Lời Phật dạy trch dẫn cho biết hai điều:
Một l: nghi lễ người đến thỉnh kinh thường tự nguyện cng dng đức Thế Tn.
Hai l: kinh khng chữ qu hơn kinh c chữ.
Về điểm thứ nhất, lời Ng Thừa n, trong trch dẫn trn đy khng khc lời kinh
Phật chp trong kinh Trường A Hm, quyển 2, phần 1, Kinh Du Hnh thứ 2, đoạn
1[19] về việc cng dưng lc ra mắt Phật:
Đức Thế Tn lại bảo A-Nan v đại chng đi đến nước Tỳ X Ly (Vesali) do con
đường Bạt Kỳ v nghỉ ở một gốc cy. Lc đ c một dm nữ tn Am B B L
(Ambapali) vừa nghe Phật cng đệ tử đến đ, liền sửa xa gi đi đến chỗ Phật dể
bi dường. Khi đi đến nơi , nng dược thấy bng đức Thế Tn diện mạo đoan chnh,
tưng tốt dầy đủ như mặt trăng giữa đm sao. Nng rất hoan hỷ, xuống xe đi bộ
tới chỗ Phật, ci đầu đảnh lễ, rồi ngồi sang một bn. Đức Thế Tn thuyết php
cho nng, nghe xong nng pht tm vui mừng quỳ bạch Phật rằng: Bắt đầu từ nay
con quy y ngi Tam Bảo. Mong Phật nhận lời cho con được được lm Ưu B Di ở
trong chnh php, con thề trọn đời khng st sinh, khng trộm cắp, khng t dm,
khng ni dối, khng uống rượu. Cầu thỉnh Phật cng đại chng ngy mai thọ lnh
một bữa cơm của con cng dường, đến tối th xin nghỉ lại vườn của con. Phật lm
thinh nhận lời.
[...] Mai đức Thế Tn cng 1250 tỳ kheo nghim chỉnh y bt đến chỗ thỉnh cng.
Sau khi an tọa, nng Am B B L đch thn dng cơm cng Phật v chng tăng. Khi
Phật thọ trai, rửa bt, sửa lại bn ghế xong, nng Am B B L đem nước đựng
trong ci bnh vng đến dng Phật rửa, rồi nng đến trước Phật bạch rằng: Cc
vin lm lầu qun trong thnh Tỳ X Ly ny, chỉ c vin qun của con đy tốt hơn
cả. Nay con muốn dng cng ln Như Lai, cầu xin ngi thương xt nạp thọ. Phật
bảo: Ngươi đem khu vườn ny dng cho Phật l bậc đứng đầu v chiu đề tăng th
thật l qu ha, v nhờ đy m Như Lai c đủ 6 vật cần thiết l vin lm, phng
x, y bt, nn dẫu cc ma vương, đế thch, phạm thin hay trời c đại thần lực
cũng khng ai xứng đng lnh sự cng dường ny. Nng Am B B L y lời, dng
khu vưn cho Phật v chiu đề tăng. Phật nhận lnh
Nng Am B B L, tự nguyện đến ra mắt Phật, tự nguyện xin đem lm vin lầu qun
của nng cng dường đức Thế Tn ngay khi xin ra mắt Phật, xin thỉnh Phật thuyết
php.
Nhiều người đọc nghĩ rằng đoạn kinh Trường A Hm trn đy biểu thị sự phn cng
phn nhiệm giữa người xuất gia v ngưi tại gia: người xuất gia hnh tu giải
thot v giảng php cho người tại gia; người tại gia lo tứ sự cng dường gồm chỗ
ở, thực phẩm, thuốc men y o. Trong thực tế hng ngy, người ln cha lậy Phật
khng ai ln tay khng, bao giờ cũng đem theo hương hoa tri cy, v ty hỷ gp
tiền nhiều it vo thng cng đức.
Thế nn, khi đến thỉnh kinh v khng dng lễ Phật l một sơ xuất của đon thầy
tr Đường Tam Tạng. Theo lời kể truyện của Ng Thừa n, Thầy tr Đường Tam Tạng
phạm sơ xuất ny hai lần.
Lần thứ nhất, Đường Tăng viện cớ đưng x xa xi, khng sắm sửa lễ vật. Hai vị
tn giả trao kinh khng chữ. Nhin Đăng Cổ Phật biết tự sự, e người Đng Đ xem
kinh khng chữ khng được, uổng cng Đường Tam Tạng vất vả thỉnh về, bn sai Bạch Hng tn giả đuổi theo lấy lại kinh v tự v bảo
bốn thầy tr Đường Tăm Tạng quay lại thỉnh kinh hữu tự.
Lần thứ hai, Đường Tam Tạng ti phạm sơ xuất ny l khi nhận lnh kinh hữu tự,
khiến tn giả c Nang lại phải hỏi lễ vật thỉnh kinh thm một ln nữa. Đường Tam
Tạng mới chợt nhớ c bnh bt bằng vng đem ra cng dường.
Ngoi ra, người đọc thấy như Tn Ngộ Khng cũng biết truyện thng thường cần c
lễ vật lc ra mắt Phật xin thỉnh kinh, qua lời tu ln vua Đường Thi Tn[20] :
Lc ở phủ Kim Bnh, ti lấy được sừng T Gic, lng thnh dng Phật [...]
nhưng khi ra mắt Phật Tổ để trnh by việc hai tn giả pht kinh giấy trắng cũng
vẫn buộc ti hai tn giả hỏi nghi lễ thỉnh kinh l cố tnh đi tiền hối lộ.
Người đọc tới đy, it ai khng bỡ ngỡ về truyện đi hối lộ tại đất Phật. Nhưng
suy nghĩ lại, chẳng ai khng thn phục bt php khi hi của Ng Thừa n trong
đọan ny.
Thật vậy theo nh viết kịch Ben Jonson [21] người Anh Quốc th truyện khi hi,
humour, l truyện vui cười, phi l, ngưi ni kể cho ngưi nghe m khiến người
nghe tin l thật, rồi liền đ vỡ lẽ ra l truyện đa. Truyện đi hối lộ l
truyện khng thể c đưọc trn đất Phật, m Ng Thừa n đ bịa ra lm cho người
đọc tin l thật, suy nghĩ kỹ thm ai cũng liền biết l truyện trọc cười. Đ l
ti khi hi của Ng Thừa n.
Thật thế, thầy tr Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh, mang theo điệp thỉnh kinh, đến
nước no xin chiếu khn nưc ấy, chẳng khc g sứ giả của vua nh Đường. Ngy ra
đi, vua Đường Thi Tn ban cho Đường Tam Tạng một bnh bt bằng vng. Người tu
hnh khng ai dng bnh bt vng, khiến người đọc c thể hiểu rằng, theo nh
vua, trao bnh bt vng đ cho Đường Tam Tạng, để tới đất Phật, Đường Tam Tạng
c lễ vật cng dường đức Thế Tn, theo đng nghi lễ thỉnh kinh. Trong truyện,
Ng Thừa n lm người đọc tin l Đường Tam Tạng qun mất chiếc bnh bt vng
ny, nn khng c lễ vật ra mắt thỉnh kinh. Rồi tới lần thứ hai, tn giả c Năng
nhắc tới lễ vật thỉnh kinh mới chợt nhớ l c bnh bt v lấy lm lễ vật cng
dường thỉnh kinh.
Đẳng khc, hai tn giả c Năng v Ca Diếp khng cố lấy bnh bt vng để chia
nhau lm của ring. Điều đ chứng tỏ khng c truyện hai tn giả ny đi hối lộ
rồi xiết bnh bt, v hai vị tn giả chỉ muốn duy tr nghi lễ thỉnh kinh, đng
như lời Phật Tổ cho hay l ngi đ biết truyện nay, hai người pht kinh khng
lỗi.
Viết ra một truyện khng c thực m khiến ngưi đọc tin l thực, rồi suy nghĩ
người đọc mới nhận ra l truyện hi hước bịa đặt: bt php Ng Thừa n quả l
một bt php khi hi.Với bt php ny, Ng Thửa n quả đ lm đm ngưi trẻ đọc
say m v ngưi đọc lớn tuổi đọc rổi ngẫm nghĩ đ v cười đ.
Trở lại truyện pht kinh khng chữ. Ngy nay, kinh v tự khng phải l một hnh
ảnh xa lạ trong văn học Việt Nam. Trong Bắc Hnh Tạp Lục, kết luận ng thơ di
Lương Chiu Minh Thi Tử Phn Kinh Thach Đi, 梁 昭 明 太 子 分 經 石 臺,
Nguyễn Du viết:
Ti tri v tự thị chn kinh
Bồ đề bản v thụ
明 鏡 亦 非 臺
Minh knh diệc phi đi
本 來 無 一 物
Bản lai v nhất vật
何 處 惹 塵 埃
H xứ nhạ trần ai
Gương sng chẳng phải đi
Xưa nay khng một vật
Chỗ no vướng trần ai.
Hai cu đầu của bi kệ của Huệ Năng ni: người ta khng thể diễn tả đưọc chn
l tuyệt đối. Hai cu sau ni: người ta khng thể tu hnh để đạt được chn l
tuyệt đối ấy. Khng thể tu hnh khng c nghĩa l khng tu hnh, m c nghĩa l:
xem khng tu hnh l tu hnh.
Thế nn, phải chăng theo Ng Thừa n, khi Đường Tam Tạng đến thỉnh kinh khng
theo nghi lễ thng thường, khng c lễ vật thỉnh kinh, no c khc g c dng lễ
thỉnh kinh; thế th, kinh khng chữ khc g kinh c chữ?
Đằng khc, khi Đường Tam Tạng dng bnh bt vng lm lễ vật thỉnh kinh, th hai
vị tn giả pht kinh c chữ. Thế th cu truyện thỉnh kinh khng lễ vật, pht
kinh khng c chữ trn đy l thật m l đa. Phải chăng đ l bt php khi hi
của Ng Thừa n theo đng lời m tả chữ khi hi của Ben Jonson trch dẫn trn
đy?
Cu truyện kinh v tự cn di, vượt qu giới hạn bi viết ny, vậy người viết
xin tạm ngưng tại đy, chờ qu vị trưởng thượng chỉ gio.
Nhn sang phi Đạo Gio, c rất đng những nh bnh giải dựa theo niềm tin Đạo
Gio coi bộ Ty Du K như một cuốn sch dậy cch luyện nội đan để đạt được php
trường sinh bất tử.
Tiu biểu cho giới bnh giải ny, trong thế kỷ thứ XVII, c Ung Tượng Hc 汪 像 旭
viết cuốn Ty Du Chứng Đạo Thư 西 遊 證 道 書 năm 1663; sang thế kỷ XVIII c Trần Sỉ
Bn 陳 士 斌, viết cuốn Ty Du Chn Thuyn 西 遊 真 詮, năm 1780; rồi sang thế kỷ thứ
XIX c Lưu Nhất Minh, 劉 一 明 xuất bản cuốn Ty Du Nguyn Chỉ, 西 遊 原 旨 năm 1820.
Mỗi nh bnh giải c một nhn quan ring để giải thch bộ Ty Du K. Nhưng cả ba
cng chủ trương l tc giả bộ Ty Du Kkhng phải l Ng Thừa n đời Minh, m l
một phương sĩ thuộc phi Ton Chn 全 真, biệt hiệu l Khu Xử Ky, 邱 處 機, (Khu
Trường Xun, 邱 長 春, 1148-1227) người đời Nguyn. Điều đoan quyết ny một phần
dựa trn sự kiện l bộ Ty Du K l một bộ kinh của Đạo Gio, viết dưi dạng
khi hi, như nhiều bộ kinh Đạo Gio khc, để ngưi đệ tử Đạo Gio theo đ m
thực hnh php tu luyện nội đan với mục đch thnh tin bất tử.
Gần đy, Vương Quốc Quang [23] chứng minh rằng, những chương thứ 32 tới 66, sch
Ty Du K l những chương hợp thnh một bộ sch dậy luyện kh cng v chuyển vận
nội cng trong nội thn. Tiếp theo Vương Cương [24] tiếp tục cng trnh của
Vương Quốc Quang chứng minh rằng những chương sch Ty Du K từ 66 tới 100 bn
về php luyện nội đan, v php tu thn.
Bi viết ny phỏng theo một cng trnh của Jennifer Oldstone-Moore [25] , v dựa
theo lập luận của Vương Quốc Quang v Vương Cương, dẫn tới việc tm hiểu, theo
ngn từ Đạo Gio, ba chương 44, 45 v 46 sch Ty Du K [26] , ghi lại truyện
kh khăn thầy tr Đường Tam Tạng trải qua tại Xa Tr Quốc. Đối chiếu lời sch
Ty Du K với ti liệu cổ, cho thấy tc giả Ty Du K thường dng hnh ảnh lm
biểu dụ cho php luyện đan v điều ha nội cng. Trong ba chương ny, biểu dụ l chiếc h xa, m dịch giả gọi l chiếc xe gỗ đ để m
tả việc khổ cng luyện php điều cng để đạt tới đưọc php trường sinh. Xử dụng
h xa l bước đầu trong Tiểu Chu Thin (vng trời nhỏ) trong cng trnh luyện
tập ny. Ngoi ra, ba chương sch ny ny cn ngầm răn dậy người luyện cng phải
tm đưọc đng thầy để học đạo, mới mong trnh được những hậu quả tai hại do
truyện luyện cng, cũng như uống linh đan, khng đng php cng sự rối loạn tĩnh
tm gy nn. Giới nghin cứu đồng rằng sch Ty Du K m tả tỷ mỷ cng trnh
tu tập qua hnh ảnh những kh khăn m thầy tr Đường Tăng hng ngy trong cuộc
hnh trnh phải khổ cng đương đầu. Mỗi cảnh giới đon người thỉnh kinh đi qua
tiu biểu cho một cơ quan trong cơ thể con người. Thế nn, ngược lại, muốn thấu
triệt lời sch Ty Du K, người đọc cần c một căn bản vũng vng về việc luyện
cng hay dng linh đan.
Hnh trnh qua Xa Tr Quốc, khng chỉ l những hnh ảnh để giảng giải cch luyện
cng, m cn l một truyện khi hi xu đậm. Theo chương 44 truyện Huyền Tăng
cng, Tn Ngộ Khng, hnh th như con khỉ, Chư Bt Giới mặt mũi tựa con heo v
Sa Mn v con ngựa qu Long M, đang đi trn một bi ct ven sng, bỗng nghe
tiếng rn rỉ than van. Tn Ng Khng đằng vn thm thnh, thấy một đon tỳ kheo
gồm 500 người đang mệt nhọc đẩy một chiếc h xa chất đầy gỗ đ ln ngưọc dốc
tch quan (dốc xương sống). Ngạc nhin hơn nữa l c hai đạo gia thuộc phi Ton
Chn, đang tiến tới gần đon tỳ kheo. Đon tỳ kheo như sợ hi, ha nhau cố sức
đẫy cỗ xe h xa đi nhanh hơn. Tn Ng Khng lại được cho biết l mấy năm trước
đy nước Xa Tr ny bị nạn hạn hn. Nh vua truyền cho tỳ kheo Phật gio lm lễ
cầu đảo như v hiệu. Bỗng nhin khng biết từ đu tới ba đạo sĩ tn l Hổ Lực
Đại Tin, Lộc Lực Đại Tin v Dương Lực Đại Tin, v được nh vua cho mời lm lễ
cầu mưa. Nước Xa Tr v vậy thot nạn hạn hn. V v vậy ba vị đạo sĩ được nh
vua tin cẩn, khng những được trọng thưởng hậu hỹ m con được giao quyền quản
thc đm tỳ khẻo, v tha hồ tc oai tc qui.
Tn Ngộ Khng liền ra tay sửa đổi tnh thế tại nước Xa Tr, vung thiết bảng băm
hai đạo sĩ nt như tương. Rồi một đẩy chiếc h xa tụt dốc, vỡ tan thnh mun
mảnh.
Đm hm đ Tn Ngộ Khng lại cng Chư Bt Giới v Sa Tăng tr hnh thnh ba đạo
sĩ vo qun Tam Thanh, vật đổ tương Nguyn Thủy, Thi Thương, v Linh Bửu nm
xuống ao, rồi cả ba leo ln bn thờ, giả lm tượng Tam Thanh ngồi ăn hết cả hoa
qua bnh tri. Bất ngờ c một tiểu đạo sĩ nhận ra l c người ngồi trn bn thờ
h hon cầu cứu tới ba vị Đại Tin vo truy xt quanh bn thờ. Chẳng tm được ai,
lại khấn vi xin nước kim đơn để uống cho đạt được tới ci trường sinh bất tử.
Tương kế tựu kế, Tn Ng Khng, Trư Bt Giới v Sa Tăng lừa ba Đại Tin tiểu
tiện vo những lọ qu của ba Đại Tin đặt ln bn thờ giả lm nước kim đan. Pht
gic được quỷ kế, ba Đại Tin cng bọn tiểu tin vy đnh Tn Ng Khng Chu Bt
Giới v Sa Tăng. Ba người phải đằng vn về cha Sắc Tứ Tr tạm tr qua đm.
Sng ngy hm sau, Đường Tăng cng ba đồ đệ vo triều vua nước Xa Tr xin đổi
điệp thng hnh. Đồng th lại c ba vị đạo sư vo trnh tấu. Nhn thấy bốn thầy
tr Đường Tam Tạng, Hổ Lực Đại Tin trnh lại việc đm qua Tn Ngộ Khng cng
Chu Bt Giới v Sa Tăng đến ph phch đn lễ, v vụ đuổi bắt khng kịp. Vua nước
Xa Tr truyền đem bốn thầy tr Đường Tăng ra chm. Tn Ng Khng biện bc khiến
vua nước Xa Tr phn vn. Ngay lc đ lại c hương l xin yết kiến, tu trnh
trời thiếu mưa, xin đảo hạn cứu ma mng. Nhn thế nh vua cho php thầy tr
Đưng Tăng đấu php củng ba Đại Tin. Bắt đầu l việc cầu mưa. Hổ Lực Đại Tin
trổ ti gọi gi gọi mưa; nhưng Tn Ngộ Khng, đằng vn ngăn cc thần gi thần
my thần mưa gip Hổ Lực Đại Tin, v yn cầu những vị thần ny trợ gip mnh.
Kết quả việc Hổ Lực Đại Tin đảo vũ khng thnh, v Tn Ngộ Khng thắng thế.
Ba đại tin khng chịu thua, bầy thi ti Vn Th Hiển Thnh, ngồi yn hng giờ
trn ghết đặt trn đi cao. Đường Tam Tạng quen ngồi thiền nn nhận thi ti cng
Hổ Lực Đại Tin. Hổ Lực dng mưu gian toan hại Đường Tăng, nhưng khng qua nổi
mắt Tn Ngộ Khng. Tn Ngộ Khng, tức gin, tương kế tụu kế phản cng khiến Hổ
Lực rớt xuống chn đi gần bỏ mạng. Lộc Lực Đại Tin cũng khng chịu thua, đề
nghị thi ti thuật Bng Xai Mai, bỏ một vật vo tủ kn, ai đon trng th thắng.
Qua ba lần thi ti, cả ba lần Tn Ngộ Khng dng thuật php thay đổi vật dấu
trong tủ kn v thầy tr Đường Tam Tạng lại thắng cuộc. Lần thi ti th ba l
thi chặt đầu, mổ bụng v tắm dầu si, lần lượt Tn Ngộ Khng thắng Hổ Lực Đại
Tin, khiến đạo sĩ ny hiện nguyn hnh l con hổ lng vng mất dầu; rồi tới Lộc
Lực Đại Tin thua Tn Ngộ Khng trong cuộc thi mổ bụng củng hiện nguyn hnh
thnh con nai trắng; sau hết Dương Lộc Đại Tin thua Tn Ngộ Khng trong cuộc
đua tắm vạc dầu khiến thịt da tiu tan chỉ cn bộ xưong d. Vua nước Xa tr, lm
bi điếu thơ tế ba cố quốc sư như sau:
Gẫm lại lm người kh lắm thay
Quốc sư php tắc chửa cao tay
Ku mưa h gi ti th kh
Mổ ruột tắm dầu chước chẳng hay
Kinh địch với trời khnh kh nổi
Chống ngăn cng Phật chống sao ty
Cng linh mấy chốc tri dng nước
Cuộc thế hư nn cht rủi may.
Giới nghin cứu đồng rằng theo nghĩa đen, ba Đại Tin bỏ mạng chỉ v đ học
đạo tại chốn bng mn t phi. nn ti nghệ khng đng so với Tn Ngộ Khng, một
đệ tử chn truyền của nh Phật. Theo st cốt truyện, ba Đạo Tin ny, ỷ mạnh m
đ nn đm 500 tỳ kheo bắt đẩy chiếc h xa ln dốc tch quan. Ngoi ra, ba Đạo
Tin ny vốn l mn đệ bng mn t phi nn chỉ học php luyn thn m khng học
php tu tm, bởi thế ti nghệ khng đạt được tới chốn ton vẹn.
Giới nghin cứu xc nhận rằng, để nhận nghĩa bng của ba chương sch Ty Du K
trn đy, cng tầm quan trọng của việc luyện nội đan, 內 丹, cần đối chiếu ba
chương sch ny với nhưng đoạn tương ứng trong sch Phc Thng Sự Ngạn Giải bằng
tiếng Đại Hn.
Đoạn Xa Tr H Xa trong sch Php Thng Sự Ngạn Giải bắt đầu bằng một cuộc đối
thoại giũa hai người bạn về ci th đọc bộ Đường Tam Tạng Ty Du K. Người thứ
nhất hỏi: Đọc Ty Du K anh thấy hay dở ra sao? Người thứ hai trả lời: Tay Du
K l một bộ tiểu thuyết sống động. Lc buồn buồn đọc thấy vui. ng c đọc đoạn
thầy tr Huyền Tăng đi qua x Xa Tr chưa? Trong sch Php Thng Sự Ngạn Giải,
vị Đaọ Tin chnh tn l B Nhn Đại Tin, một tay đn p đm tỳ kheo v thin
kiến chứ khng phải do đ thắng cuộc cầu đảo. Cũng như trong truyện Ty Du K,
Tn Ngộ Khng đnh thắng B Nhn Đạo Tin khng cần đến sự trợ lực của Trư Ngộ
Khng v Sa Ngộ Tỉnh. Tn Ng Khng thắng B Nhn Đại Tin trong cả ba trận thi
ti tựa như trong Ty Du K. B Nhn Đạo Tin c hai đồ đệ, - tn l Lộc B chừ
khng phải Lộc Lực - Lộc B bị chết trong cuộc thi tắm trong vạc dầu thay v thi
mổ bụng nhu trong Ty Du K. Giống như trong Ty Du K, B Nhn Đạo Tin, chết
trong cuộc thi chm đầu v ho ra con hổ cụt đầu.
Chnh v hai điểm khc nhau như trn giữa Ty Du K v Php Thng Sự Ngạn Giải
m giới nghin cứu tm ra nghĩa của Ty Du K dạy php luyện nội đan. Một l
chiếc h xa đẩy ngược dốc tch quan; hai l ba vị đạo tinHổ Lực, Lộc Lực v
Dương Lực, lần lưọt chết thảm v bị chặt đầu, mổ bụng v tắm vạc dầu.
Đối chiếu với sch cổ, Anthony Yu [27] thấy l tc giả Ty Du K viết đọan tỷ
th cầu đảo, trong truyện xứ H Xa, dựa vo tiểu sử Phật Bất Khng, trong Tống
Cao Tăng Truyện. Đng khc, Lưu Tồn Nhn [28] đ lấy truyện H Xa để đề ra mối
tương quan giữa tập tục của Gio Phi Ton Chn v tiểu thuyết Ty Du K.
Hai danh từ tch quan, tức xương sống, v h xa l hai danh từ thng dụng trong
php nội đan 內 丹 một php tu luyện thnh tin trường sinh bất tử, pht hiện sau
php ngoại đan 外 丹 dng linh đan. Linh đan thường thuờng được ti luyện cng phu
từ những kim loại v linh dưọc khc. Tri lại, php nội tn dng php nhập định
củng nhiều phương php tu tập khc để hưng dẫn kh huyết trong cơ thể theo
muốn để đạt dược php trường sinh thnh tin bất tử.
Php nội tn pht xuất từ thời nh Đường nh Tống. Theo php ny th tu tm v
luyện tập thn thể bổ tc cho nhau trong việc luyện php trưng sinh. Nguyn tc
chnh của nội tn l php phản hồi 反 回 tạo nn dng nghịch lưu 逆流 hay nghịch
hnh 逆 行 bằng php nhập định lm đổi chiều lưu hnh của kh huyết cũng như tinh
dịch trong cơ thể. Khi nhập định để tạo ra dng nghịch lưu, người tu luyện phải
thực hnh php nội quan 內 觀 để theo ri dng nghịch lưu trong cơ thể. Theo ngn
ngữ Đạo Gio, mỗi cơ quan trong thn thể con người thưng tương ứng vi một cơ
sở ở ngoại cảnh. Ci đầu tương ứng với ni Cn Ln 崑 崙, cuống họng với một ci
thp cao 12 tầng, v cuối cng l vĩ lư 尾 閭 tương ứng với tri thận v bộ phận
sinh dục. Tch quan hay xương sống cũng l một cơ sở, dẫn từ xương cng ln ti
đầu phải qua một ci cổng v ba chướng ngại vẫt. Trong php nhập định dng tinh
kh 精 氣, (semen) v dng thần kh 神 氣 đi ngược xương sống ln tới c. Phải mất
rất nhiều cng phu tu luyện mới đạt được tới kết quả ny.
H xa l hnh ảnh chiếc xe chở kh huyết ngược tch quan, xương sống về bộ c.
Đ chnh l php nội đan của phi Chung Ly 鐘 離 của Đạo Gio, do Chung Ly Quyền 鐘
離 權, người đời Hn v đệ tử l Lữ Đồng Tn 呂 潼 賓 pht hiện nay cn chp trong
chương Luận H Xa, 論 河 車 sch Chung Lư Truyện Đạo Tập, 鐘 呂 傳 道 集 . Trong chương
Luận H Xa, Chung Ly giảng l với php nhập định, người tu tin hướng dng
nghich lưu đưa tinh kh thần kh l tới N Hon 泥 丸 (no) vo Hong Đnh 黃 庭,
rồi tới Đan Điền 丹 田, qua ba chăng ấy tinh kh v thần kh lần lượt biến thnh
ngọc dịch 玉 液 v kim dịch 金 液. Ty theo nhiệm sở, Chung Ly đặt tn cho ba h xa
đ theo thứ tự l dương xa 羊 車, lộc xa 鹿 車 v đại ngưu xa 大 牛 車. Cả ba loại h
xa ny cng phi qua nhất trng tam quan 一 撞 三 關. trong việc chuyển vận đi vật
nhi tố đan 戴 物 而 做 丹.
Tc phẩm ni trn của Chung Ly l một kinh điển quan trọng của phi Ton Chn
thuộc Đạo Gio. Sau khi Vương Triết 王 晢 ngưi sng lập ra phi Ton Chn, chầu
trời, phi ny tch ra lm hai: Bắc Tng v Nam Tng. Bắc Tng do Khu Trường
Xun, một cao đồ đứng đầu cc đệ tử của Vưong Triết chủ trương. Theo lịch sử,
Khu Trường Xun từng đưọc bệ kiến Thnh Ct Tư Hn năm 1222 v l người m cc
tn đồ Ton Chn coi l tc giả bộ Ty Du K v coi bộ tiểu thuyết ny như b
phổ dạy php nội đan.
Giới nghin cứu cho rằng php nội đan của Bắc Tng, chp trong sch B Truyền
Chnh Dương Chn Nhn Linh Bảo Tt Php, 秘 傳 正 陽 真 人 靈 寶 畢 法 l php nội đan c
từ đời nh Tống. Php nội đan ny dng nhập định tp trung tinh, kh, thần rồi
hướng thnh dng ngược chiều với dng lun lưu của cơ thể, chay ngưọc xương sống
ln c. Ln tới c dng tinh kh thần đ đổ xui xuống nui cơ thể người luyện
php. Baldrian-Hussein, Farzeen [29] , tả chi tiết phương php ny trong cuốn
Procds secret du Joyau magique, với những kh khăn khi dng tinh, kh, thần
ngược xương sống, qua ba ải, lần lượt tiu biểu bằng dương xa, lộc xa v kim
ngưu xa.
Php nội đan của Bắc Tng hon ton l một php dng nhập định, khc hẳn php
Hon Tinh Bổ No của Nam Tng. Php nội đan của Nam Tng c từ đời nh Hn v
chp trong sch BoPhc Tử. đời Lục Triều, v quen gọi l php Hon Tinh Bổ No.
Theo php ny người luyện php, lc sắp xuất tinh, dng ngn tay bp mạnh ngọc
hnh để khỏi xuất tinh, tinh kh chạy ngược ln đầu nui c. Henri Maspro m tả
php ny đầy đủ trong cuốn Le Taoism [30] .
Qua nhưng vaqan bản về php nội đan Bắc Tng, người đọc thấy l nhhung hnh ảng
trong đoạn sch Ty Du K, kể truyện đon người thỉnh kinh phải đương đầu tại
nước H Xa, c những điểm đng ghi nhn như sau:
nhưng hnh ảnh ny khng c trong bản Php Thng Sự Ngạn giải;
- những hnh ảnh đ tương ứng với nhiều bộ phận trong cơ thể con người.
Bắt đầu l hnh ảnh tch quan, tức xương sống tiu biểu bởi ci dốc m đm 500
tỷ kheo phải kh nhọc đẩy chiếc h xa. Chiếc h xa lc ny chở đầy đ đất chậm
chạp nặng nhọc ln dốc, tiu biểu cho ci kh khăn của ngưi luyện nội đan,
ngưng tụ đước tinh, kh, thần v kh khăn đẩy đm tinh kh v thần đ ngược ln
xương sống.
Tiếp theo, truyện Ty Du K kể tới tch ba Đại Tin, tương ứng với ba ải m
người luyện nội đan phải đẩy dng tinh, kh v thần đi qua. Hổ Lực Đại Tin,
tiu biểu cho Kim Ngưu Xa, phải vượt qua ải tại cổ người luyện nội đan. Hnh ảnh
dng tinh kh thần vướt qua ải ny tương ứng với hnh ảnh Hổ Lực Đại Tin bị mất
đầu. Lộc Lực Đại Tin tiu biểu cho cửa ải ở khc bụng người luyện nội đan. Hnh
ảnh dng tinh kh thần vượt qua ẳi ny tương ứng với hnh ảnh Lộc Lực Đại Tin
bị mổ bụng. Hnh ảnh dng tinh, kh, thần xuống tới ải ở phần bụng dưi bng
quang đựng nước tiểu cũa người luyện nội đan, lại thm nhiệt đ tại phần ny
lun lun cao nn tương ứng với hnh ảnh một chiếc vạc dầu Đẩy được dng tinh
khi v thần qua ải thứ ba ny l hnh ảnh Dương Lực Đại Tin bị tiu sc trong
vạc dầu. Ci chết của cả ba Đại Tin tiu biểu cho niềm nguy hiểm cho nhưng ai
học php nội đan khng c thầy, v học được php lạ theo bng mn t đạo. Ngược
lại, Tn Ngộ Khng, theo Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh, lại l đệ tử của chnh
phi, nn c sức mạnh thần thng đồng thời c chnh nghỉa nn đnh đu thắng đ.
Sau hết, tổng kết về ton thể ba hồi 44, 45 v 46 sch Ty Du K l một vấn
đề m giới ph bnh khng nhất tr. Theo Plaks [31] , th chủ y cả ba hồi ny l
đặt vấn đề tu tm cao hơn truyện tu thn trong việc luyện php nội đan. Tri lại,
theo Jennifer Oldstone-Moore th truyện tu tm v tu thn quan trọng như nhau
trong việc luyện ni đan, qua nhưng hnh ảnh trnh by trong ba hồi ny. Phải
tri ra sao phải chăng chỉ c ai c kinh nghiệm bản thn về việc luyện nội đan
mới trả lời nổi?
Trn đy l hai th dũ về việc đọc v bnh giảng bộ Ty Du K. Cu hỏi kế tiếp
l đọc tiểu thuyết Ty Du K c gợi hứng sng tc cho người Việt Nam khng?
Tm trong truyện cổ tch Việt Nam người đọc tm thấy truyện ngắn:
Người Đi Tm Kinh Phật [32]
Ngy xưa, ở đất miền Nam c một nh sư dốc một lng tu hnh tn l Nguyễn Được.
Một hm nằm mộng thấy Bồ Tt hiện ra bảo: Ngy mai ngươi cng cc mn đệ hy đi
về pha Ty. Nếu ngươi vượt qua được nhưng gian nan lao, khổ hạnh trn đường thử
thch th sẽ tm thấy Chn Kinh, v đọc dược Chn kinh th sẽ đắc đạo thnh
chnh quả
Hm sau, nh sư theo lời bo mộng, cng cc mn đệ ln đường, nhắm về hướng Ty
m đi. Ngy đi đm nghỉ, đon người o vng lặng lẽ chn dẫm đất, tay lần trng
hạt, theo đng lời pht nguyện khi ra đi l khng ai thốt ra lời no trước khi
tm thấy chn kinh. Họ khng quản nắng mưa, di kht, sống nhờ của thập phương.
Mỗi khi họ đi qua cc lng, dn chng đem thức ăn uống ra đứng hai bn đường
chực sẵn để trt vo bt của đon Phật tử. C khi họ đi hng mấy ngy khng gặp
một ai, đnh nhịn đi chịu kht, hoặc hi hoa tri bn đường ăn cho đỡ dạ. Con
đường đi cng di, hng ngũ cc mn đệ cng thưa dần. Người v bệnh tật khng
thể l chn đi đưọc nữa, người th tự xt mnh kiếp ny cn vụng đường tu, kh
lng đi tới nơi để thnh đạo, đnh dừng lại ở một nơi để tu hnh, người th thấy
đường di kh khăn, mất dần lng tin m quay trở lại.
Cho đến một ngy kia, chỉ cn trơ trọi một mnh nh sư họ Nguyễn trn con đường
vắng vẻ đi về phương Ty. Cc thần linh hiện ra gip nh sư vượt qua những trở
ngại chồng chất lin tiếp trn đường. C khi vừa ln dến đỉnh một ngọn ni cao,
nh sư đ được thần linh đưa qua một ni khc, khỏi phải xuống ni hiểm ngho,
rồi lại phải leo dốc khổ nhọc. Mặc d ngăn ni cch sng, đường đi mun vn trở
ngại, nh sư vẫn quyết một lng đi cho đến đch.
Dấu chn nh sư ngy nay cn in trn cc ngọn ni đ đi qua. Một hm nh sư đi
đến bờ biển, khng trng thấy thuyền b, khng một bng người, v trước mặt l
biển cả mnh mng. Nh sư vẫn khng nản ch, lng tưởng tới Phật, chn cứ bước
tới, nghĩ rằng niềm tin sẽ gip mnh vượt khỏi trng dương. Thế rồi nh sư đi
xuống nước, sng khỏa đến nửa thn. Bỗng thấy một con c knh bơi vo đưa lưng
cho nh sư ngổi ln. Nh sư điềm nhin ngồi ln lưng con c ln, nổi tiếng ăn
thịt người, để cho c phng chở ra khơi. Ban ngy c kinh theo hướng mặt trời,
ban đm theo hướng sao, cứ thế m bơi theo con đường thẳng hướng về pha Ty.
Gặp hm nắng chy thiu người, c từng đn hải điểu bay đến tụ họp trn đầu nh
sư để lm bng che như một đm my. Buổi chiều c từng đn ong bay đến đem mật
đặt ln mi nh sư.
C knh chở nh sư đi đ khng biết bao nhiu ngy đm, một hm bỗng dưng lại
ni rằng: M Phật, nh sư đi tm Chn Kinh để được đắc đạo c thể nghe lời
thỉnh nguyện của ti được khng? Nh sư trả lời :Được, qun rằng mnh đ phạm
vo lời nguyện giữ yn lặng cho đến khi tm thấy Chn Kinh. C knh kể lể: Từ
mấy ngn năm nay ti đ trưng trai để chuộc tội lỗi trưc kia. Ti bị bắt buộc
phải ăn thịt, trong khi ti đ kinh sợ mi thịt v đ qun cả vị c tm. Xin nh
sư hy cầu nguyện cng Đc Phật cho ti thot được vng khổ ải ny. Nh sư đp
lại: Được, phạm vo lời nguyện lần thứ hai.
Knh ngư lại tiếp tục bơi về phương Ty, cho đến một hm th thấy bờ. Nh sư
Nguyễn Được trở ln đất liền, thấy một ngi cha bỏ hoang, trong đ c để một
chồng sch kinh, song nh sư Nguyễn Dược đ hai lần phạm lời nguyện, nn chỉ đọc
ra được c một cu đầu: Nam m bỏn sư Thch Ca Mầu Ni Phật.
Nh sư khng nản ch, gấp kinh lại, bỏ vo đẫy rồi trở lại bờ biển, ln lưng c
trở về. Trong khi vượt biển, nh sư mải m theo lời kinhđ đọc được, khng để
đến vẻ buồn rầu của knh ngư. Lc thấy đất liền, c knh ngừng lại hỏi rằng:
Nh sư c nh đạt lời thỉnh nguyện của ti ln Đức Phật chăng? Ti cn phải ở
trong vng khổ ải trầm lun ny bao lu nữa? Nguyễn Được đang thiền định, nghe
ni giật mnh, để rơi cả đẫy đựng kinh xuống biển. C knh ngỡ l vật cứu rỗi
của nh sư ban cho, liền đớp lấy nuột vo bụng cả pho Chn Kinh.
Nh sư lảo đảo bước ln bờ, thẫn thờ đi, miệng vẫn th thầm cu kinh đ học
được, khng ngờ l c knh đ đưa mnh dạt ln đảo Ph Quốc. Trong mấy năm cn
sống, nh sư đm ngy vẫn thc mắc nghĩ đến cuốn Chn Kinh. Đến khi gần chết,
Nguyễn Được khắc ln đ ni Bi Sập v ni Thạch Động cu kinh mnh đ học được.
Về sau để ghi nhớ việc tm Chn Kinh đ sẩy đến cho Thầy v mong cho thầy sớm
được Phật độ, cc mn đệ lấy gỗ chạm hnh con c knh để lm m tụng kinh. Rồi
từ đ, cc nh tu hnh mỗi khi tụng kinh đều g vo đầu c knh v đọc cu: Nam
m bổn sư Thch Ca Mầu Ni Phật.
Đối chiếu ton bộ Ty Du K với truyện Người đi Tm Kinh Phật một cch tổng qut
cho thấy hai văn phẩm ny c chung một cốt truyện. Đ l truyện đi về phương Ty
trải nhiếu kh khăn để thỉnh kinh. Nhưng nếu đối chiếu ngoi lời, hai cuốn
truyện ny c nhiều điểm khc nhau hơn l giống nhau.
Bắt đầu l ch đi thỉnh kinh. Trong Ty Du K, vua Đường Huyền Tn được Phật
Quan m cho biết tại cha Li m bn nưc Thin Trc c ba tạng kinh của Phật Tổ,
nn nh vua tm người c lng thnh đi Ty Phương thỉnh kinh. Nh sư Huyền Trang
tự nguyện phụng chỉ ra đi, vua cấp thng hnh cho Đường Huyền Tăng, ban thm một
bnh bt bng vng, hai tn tng giả v một con ngựa đỡ chn.
Trong truyện Người Đi Tm Kinh Phật, một vị Bồ Tt hiện ln cho nh sư Nguyễn
Được biết l ngy mai cng mn đệ ln đường đi về pha Ty, nếu vượt qua đưọc
gian lao thử thch th sẽ tm được Chn Kinh v sẽ đắc đạo.
Như vậy Đường Huyền Tăng tun lệnh vua đi Ty Trc thỉnh kinh, được vua đặt php
danh l Đường Tam Tạng, được vua nhận lm ngự đệ, Nhận danh vọng v php
danh,Tn Ngộ Khng lẫy lừng ln đường. Nh sư Nguyễn Được ra đi cng mn đệ,
chn dẫm đất, tay lần trng với một lời tự nguyện nếu chưa tm thấy Chn Kinh
th chưa ni một lời.
Dọc đường, Đường Tam Tạng thu nạp Tn Ngộ Khng, ti nghệ xuất chng, từng ln
ph thin đnh khiến Ngọc Hong phải phong chức Tề Thin Đại Thnh Để cầu ha,
rồi thu nạp Trư Ngộ Giới một hảo hn tham ăn, tục uống, si m đn b con gi
nhưng chịu kh gồng gnh dọc đường v sau cng thu nạp Sa Ngộ Tịnh tnh kh rụt
r nht nht chăn nui ngựa cho Đường Tăng. Người đọc thấy cảm dường như cả ba
vai Tn Ngộ Khng, Trư Ngộ Giới v Sa Ngộ Năng như ba bộ mặt con người của Đường
Tam Tạng. Lc nhận lm ngự đệ của vua Đưng cũng như nhn php danh Đường Tam
Tạng, Huyền Tăng sung sướng chẳng khc g Tn Ngộ Khng được Ngọc Hong phong
cho lm Tề Thin Đại Thnh. Nhận lnh nhiệm vụ đi Ty Trc thỉnh kinh, dầu biết
l chuyền đi đầy gian nan nguy hiểm, Huyền Tăng c nt giống Tn Ngộ Khng chẳng
sợ hiểm nguy ln ph thin đnh. Xuốt 81 đại nạn trn đưng đi thỉnh kinh, nhiều
lc Huyền Tăng v chữ từ bi cũng c khi yếu lng như Trư Bt Giới, cũng c lần
dụt d như Sa Ngộ Năng. Phải c sức mạnh cng tr thng minh ti tho vt của
Tn Ngộ Khng cng sự trợ gip hữu ch khi cần của Trư Ngộ Năng v Sa Ngộ Tĩnh,
Đường Tang mới đến được ni Linh Sơn thỉnh kinh.
Tri lại, đm mn đệ của nh su Nguyễn Đưọc thưa dần cho tới lc chỉ cn c một
mnh nh sư tiếp tục cuộc hnh trnh. Trời Phật thần thnh lun lun ph hộ độ
tr cho thầy tr Đường Tăng. Mỗi khi bị yu ma cản đưng Tn Ngộ Khng biết sức
mỉnh khng thắng nổi l một lần Tn Ngộ Khng bay đi cầu viện trời Phật thần
thnh, khng lần no lời cầu viện của Tn Ngộ Khng khng được chấp nhận. Thầy
tr Đường Tăng lại một lần thot nạn. Suốt thời gian vượt biển, sư Nguyễn Được
cũng đưọc trời Phật che chở. Ngồi trn lưng knh ngư, nếu trời qu nắng th c
chim biển tụ thnh đn như đm my che nắng , hay c đn ong bay đến nhả mật
trn mi nh sư Nguyễn Được.
Con knh ngư giữ một vai quan trọng trong truyện Người Đi Tm Kinh Phật l hnh
ảnh biến cải của một con ra thần Thủy Nguyn, tu luyện đ lu năm trả ơn Tn
Ngộ Khng. Truyện tm tắt như sau :[33]
Thầy tr Đường Tăng đến sng Thng Thin, được biết l Linh Cảm Đại Vương hng
năm bắt dn phải hiến đồng nam đồng nữ ăn thịt. Tn Ngộ Khng v Trư Bt Giới
tr lm đồng nam đồng nữ c chiến với Linh Cảm Đại Vương. Linh Cảm Đại Vương
biết sức, ở trn bộ, khng địch nổi bn trốn v thủy động. Rồi lập kế lm nước
sng Thin Thng đng băng, thầy tr Đường Tăng nng lng tới được đất Phật,
vượt sng trn mặt băng. Ra tới giữa sng Linh Cảm Đại Vương lm băng tan, v
bắt được Đường Tăng. Đồ đệ Đường Tăng khng thắng nổi Linh Cảm Đại Vương ở dưới
nước để cứu thầy. Tn Ngộ Khng phải đi cầu viện Phật B Quan m. Nghe tin Đường
Tăng mắc nạn, Phật b vội v xch rỏ ra đi, khng kịp cả trang điểm. Đến bến
sng Thng Thin, Phật b niệm ch bắt Linh Cảm Đại Vương, hiện nguyn hnh l
một con c vng bỏ vo rỏ. Đường Tăng một lần nữa thot nạn lớn. Dn chng khắp
vng, nhớ ơn Tn Ngộ Khng v Trư Bt Giới sắp sửa thuyền b đưa đon người
thỉnh kinh qua sng. Liền khi đ c một con ra hiện ra xin đưa bốn thầy tr
Đường Tăng v con ngựa qua sng. Tn Ngộ Khng sợ lại bị trng quỷ kế, dọa đnh
chết ra. Ra ni: Ti vốn l Thủy Nguyn, tu luyện d lu năm, nay cm ơn Đại
Thnh đến đy cứu gip, sao lại đi đnh ti. Rồi Thủy Nguyn ni tiếp: Nguyn
ng b ti đều ở sng ny tu hnh c cng, sau lập dinh Thủy Nguyn m ở. Chẳng
ngờ cch đy chn năm, nước sng dng cao, con qui kia từ đu đến chiếm Thuỷ
Nguyn Động, đuổi gia đnh ti đi. Nay nh Đại Thnh thỉnh Bồ Tt bắt con qui ấy, gia quyến
ti được trở về đon tụ. V vậy ti mang ơn.
Tn Ngộ Khng bảo Thủy Nguyn b ln m sng, rồi bốn thầy tr cng con ngựa
cng ln lưng Thủy Nguyn. Thủy Nguyn b xuống nước, vưon mnh lội như bay,
chẳng mấy chốc sang tới bờ bn kia. Qua đến bờ, Đường Tam Tạng chắp tay tạ ơn
Thủy Nguyn. Thủy Nguyn ni: Ti chẳng mong việc đp đền. Song nghe đồn Phật
Tổ bn Ty Phương biết việc vị lai qu khứ, vậy xin gởi li nhờ sư phụ đến đ
hỏi xem ti tu đ hơn một ngn ba trăm năm, cớ sao khng ha đưọc hnh người,
mặc dầu biết ni v sống lu.. Đường Tam Tạng nhận lời hỏi gip. Thủy Nguyn
vẫy đui lặn xuống sng, bốn thầy tr Tam Tạng ngắm hưng ty thẳng tiến.
Trong ton bộ Ty Du K, Thủy Nguyn chỉ hiện ra c một lần ny. Rồi đến đoạn
Đường Tam Tạng ra mắt Phật Tổ tại ni Linh Sơn, qu bận rộn về truyện kinh khng
chữ v kinh c chữ, đọc giả khng thấy Đường Tăng chuyển đạt cu hỏi của Thủy
Nguyn ln Phật Tổ.
Trở lại truyện Người Đi Tm Kinh Phật, knh ngư giữ vai tr quan trọng, khng
những đ đưa nh sư Nguyễn Được vượt biển tới đất c ngi cha cổ tng kinh, rồi
đưa về tới đảo Ph Quốc, m c knh đ hai lần lm nh sư phạm lời nguyện giữ im
lặng cho tới khi tm thấy chn kinh; v lần th hai l lần c knh xin hỏi nh
sư đ chuyển lời c kn khẩn cầu nguyện Phật Tổ cho thot kiếp khổ ải lm c
knh. Cu c knh năn nỉ nh sư tương tự như cu Thủy Nguyn nhờ Đường Tam Tạng
hỏi Phật Tổ. Lời c knh kể lể như sau: Từ mấy ngn năm nay ti đ trường trai
để chuộc tội lỗi trước kia. Ti bị bắt buộc phải ăn thịt, trong khi ti đ kinh
sợ mi thịt v đ qun cả vị tm c. Xin nh sư hy cầu nguyện cng Đức Phật cho
ti thot được vng khổ ải ny.
Đối chiếu lời Thủy Nguyn ni với Đường Tam Tạng với lời knh ngư ni với nh sư
Nguyễn Được, người đọc thấy hai lời đ c điểm tương đồng v khc biệt. Thủy
Nguyn xin Phật Tổ, thần thng biết r việc qu khứ tuơng lai, cho biết tại sao
tu tập suốt một ngn ba trăm năm qua m chưa được lm người. Knh Ngư, đ trường
trai cả ngn năm qua, nay xin nh sư Nguyễn Được cầu Đức Phật cho sớm thot vng
khổ ải. Thủy Nguyn xin Phật Tổ trả lời một cu hỏi; knh ngư xin Phật tổ ban ơn
để sớm thot vng khổ ải.
Lời c knh cầu Phật ban ơn cho sớm thot vng khổ ải l một điểm người đọc
thường gặp trong văn học Việt Nam. Cu số 19 bi Chiu hồn Thập Loại Chng Sinh,
Nguyễn Du viết [34] :
Mun nhờ Đức Phật từ bi
Trong bi Thanh Giang Tự Tỵ Thử, 青 江 寺 避 暑, Nguyễn Khuyến viết:
Đn cầu nhn thế lin
Đoi thương nhn thế mun vn cậy trng
Hai nh thơ, một lm thơ nm, một lm thơ Việt m, như cng gặp tc giả khuyết
danh truyện Người Đi Tm Kinh Phật, cả ba cng tin tưởng ở php Phật từ bi. Phải
chăng đ l một căn tnh của người Việt Nam tin ở Đạo Phật?
Bởi đ hai lần phạm lời pht nguyện, giữ im lặng cho tới khi tm được Chn Kinh,
khiến khi c Chn Kinh trong tay nh sư Nguyễn Được chỉ đọc ra được một cu đầu:
Khi về gần đến đảo Ph Quốc, c knh hỏi nh sư rằng: Nh sư c nhớ đạt lời
thỉnh nguyện của ti ln Đc Phật chăng? Ti cn phải ở trong vng khổ ải trầm
lun ny bao lu nữa?. Cu hỏi ny lm nh sư đang nhập thiền giật mnh, để rơi
cả ci đẫy đựng kinh xuống biễn. C Knh ngỡ l vật cứu rỗi của nh sư ban cho,
liền đp lấy ci đẫy để kinh vo bụng. Thế l sau cả một cng trnh đi tm Chn
Kinh, nh sư Nguyễn Được chỉ đọc được chn chữ trn đy. Nh sư Nguyễn Được nắm
được trong tay bản Chn Kinh c chữ m cũng như Chn Kinh khng chữ.
Người đọc truyện nhớ tới năm chữ Nam M A Di Đ Phật của phi Tịnh Độ Tng,
đọc theo dịch m chứ khng theo nguyn m Sancrist hay dịch nghĩa. Truyền thuyết
ni[35] một số tn đồ nhiệt thnh đ niệm cu ny một ngy hơn mười vạn lần. Lập
lại danh hiệu của đức Phật A Di Đ, tn đồ Tịnh Độ Tng mong đạt tới điều quen
gọi l an tm. Đ l php mn Niệm Phật.
Phải chăng niệm chn chữ:
l niệm danh hiệu Đức Phật Thch Ca, người đầu tin trong lịch sử đ mang bản
nguyện của Phật A Di Đ đến cho chng sinh. Nhắc tới danh hiệu của đức Phật
Thch Ca, phải chăng cũng nhắm cng một mục tiu an tm như nhắc tới danh hiệu
Đức Phật A Di Đ ? Phải chăng đ cũng l php mn Niệm Phật?
Như vậy, nếu nh sư Nguyễn Đuợc l một mn đệ phi Tịnh Độ Tng, phải chăng chn
chữ
cũng đủ coi l đủ đền b cho cng trnh của ngi đi tm Chn Kinh ?
Phải chăng, như vậy truyện Người Đi Tm Kinh Phật trong ton bộ truyện dn gian,
đng được coi l một biến cải của bộ Ty Du K của Trung Quốc.
Đi xa hơn nữa vo việc nghin cứu nhưng biến cải từ văn học Trung Quốc sang văn
học dn gian Việt Nam xin dnh cho giới nghin cu. Tương tự, xt những biến cải
từ văn học Trung Quốc sang thơ văn Việt m cũng như sang văn học nm l một vấn
đề rộng lớn, gip người đọc nhận diện ra được văn học Việt Nam trong văn học
Đng bn cạnh văn học Nhật Bản v Đại Hn.
Những trang kế tiếp trnh by một vi niệm về việc tự dịch tc phẩm văn học
trong khun khổ việc nghin cu văn học hậu ngoại thuộc. Vấn đề ny trong một
vi năm nay si động trong giới nghin cứu văn học cũng như trong tro lưu
nghin cứu hậu ngoại thuộc.
Trong văn học Việt Nam, cho tới đầu thế kỷ XX, khi chữ nho mất địa vị độc tn,
c rất đng tc giả chỉ sang tc bằng chữ nho. Một số nhỏ sng tc vừa bằng chữ
nho vừa chữ nm, tiu biểu l Nguyễn Tri (1380-1442) đề lại c Trai Thi Tập
bằng chữ nho v Quốc m Thi Tập bang chũ nm. Vua L Thnh Tn (1442-1497) c
nhiều thơ xưng họa trong hội Tao Đn bằng chữ nho v một số thơ nm. Trạng
Trnh Nguyễn Bỉnh Khim (1491-1585) c Bạch Vn Am Tập bằng chữ nho v Bạch Vn
Quốc Ngữ Thi bằng chữ nm. Sang đời nh Nguyễn c Nguyễn Du để lại ba tập tho
chữ nho Thanh Hin Thi Tập, Nam Trung Tạp Ngm v Bắc Hnh Tạp Lục cng nhiều
thơ chữ nm. Mối tương quan giữa thơ chữ nho v thơ chữ nm của nhưng nh thơ kể
trn l một vấn đề chưa c ai nghin cứu tưng tận.
Đằng khc, c Cao B Qut (?-1854) chỉ lm thơ chữ nho. Hồ Xun Hương, ngưọc lại
chỉ lm thơ chữ nm.
Giữa hai chiều hướng sang tc ny c Nguyễn Khuyến (1835-1909) l một nh thơ
sng tc cả bằng chữ nho v chữ nm; trong đ c nhiều bi ghi r l tự dịch từ
những bi chữ nho.
Trn thi đn thế giới, chỉ c một số khng ngoi vi mươi nh thơ tự dịch thi
văn phẩm của chnh mnh như Nguyễn Khuyến. Tm hiểu phương php tự dịch của
Nguyễn Khuyến, dng những phưong php nghin cứu việc tự dịch của những nh thơ
nh văn tự dịch ny l chủ đch của những trang kế tiếp
Giới nghin cu thường nhắc tới Rabindranath Tagore (1861-1941), người xứ
Bengali. Với thi phẩm mang tựa đề Gitanjali: Song Offering ng đ đoạt giải
Nobel năm 1913. Từ 1912 tới 1921 ng dịch tiếp năm tập thi tuyển ca chnh ng.
Đồng thời với Rabindranath Tagor, c Stefan George (1868-1933), người Đức, từ
nhỏ đ ni thng thạo tiếng Đức v tiếng Php. Sau đ ng học thm nhiếu tiếng
khc như cổ ngữ Hy Lạp, Latanh, Ty Ban Nha, , Anh, Ho Lan, Ba Lan v NaUy.
Khi khởi nghiệm văn thơ Stefan George th thục l, biết qu nhiều ngoi ngữ
khiến ng khng biết viết bằng tiếng no nữa. Sau đ ng trở thnh một nh thơ
nổi tiếng tại Đức khiến năm 1933 phong tro Quốx X Đức cố tnh li cuốn ng vo
hang ngũ. Sau khi ng chết, thơ ng xuất bản năm 1934 v 1936, trong tập
Schlussband c hai bi thơ tiếng Anh nổi tiếng: Those Who Lived in Dreams v You
Boldly Ceased to Love the God of Yore, cng ba bi tiếng Php: Proverbes,
Frauenlob v DUne Veille, do chnh ng tự dịch từ bản tiếng Đức.
Tiếp theo Tagor v George, giới nghin cứu ch tới nh thơ người Giuseppe
Ungarenti (1888-1970), ngưi x Tuscan, nhưng gia đnh lập nghiệp tại Alexandra,
Ai Cập. Ở nh ng ni tiếng , đi học ng học tiếng Php, ng biết qua một đi
cht tiếng Ả Rập. Lớn ln ng đi Php du học v kết bạn cng cc thi văn nghệ sĩ
đương thời như Apollinaire, Picasso, v sang tc đều đặn bằng tiếng Php v
tiếng , v tự dịch kh nhiếu thi phẩm của ng từ tiếng sang tiếng Php. Ngược
lại ng dịch nhiếu thơ của Shakespeare v Blake cng một số nh thơ Ba Ty sang
tiếng .
Gần nay hơn, c nh văn dng gii qy tộc người Nga Vladimir Nabakov
(1899-1977). ng di tản ra khỏi nưc Nga năm 1920, sống tại Php, ni viết thng
thạo tiếng Php, Anh v tiếng Nga. ng nghin cứu cả ba nền văn học Nga, Anh v
Php. Năm 11 tuổi, ng dịch cuốn The Headless Horseman của Mayne Reid từ tiếng
Anh sang tiếng Php. Cho tới năm 1938, ng sang tc bằng tiếng Nga. Sau đ số
độc giả đọc tiếng Nga cạn dần, ng quay sang dịch thuật giửa ba thứ tiếng Nga,
Php v Anh. đồng thời bắt đầu sang tc bằng tiếng Php. Sừa soạn di cư sang Hoa
Kỳ, ng tự dịch sang tiếng Anh hai tc phẩm: Kamera Obskura/Laughter in the Dark
v Otchayanie/Despair.
Sang Hoa Kỳ, ngược lại với Ugaretti, quay về tiếng mẹ đẻ, Nabakov ngưng sang tc
bang tiếng Nga, m chuyn viết bằng tiếng Anh. Năm 1955, ng xuất bản cuốn tiểu
thuyết Lolita nổi tiếng thế giới.Trong nhưng năm dậy học tại Đại Học Cornell,
ng hon tất một phương php dịch thuật, trnh by trong cảo luận The Art of
Translation. Giới nghin cứu tm ra l chnh ng đ đi ngưọc lại phương php
dịch thuật đề nghị trong cảo luận ny khi ng dịch cc văn ho Nga như Puskin v
Lenmontov v nhất l trong việc tự dịch cc tc phẩm của ng.
Tc giả tự dịch, thứ năm, thường được giới nghin cứu bn tới l Julian Green
(1900-1998) gốc người Hoa Kỳ. Tiếng mẹ đẻ của ng l tiếng Anh, ni trong nh,
khi gia đnh ng sống tại Paris. Nhưng b gio tại gia trng coi ng trong những
năm ng bắt đầu đi học l người Php khiến chnh mẹ ng bảo l ng ni tiếng Anh
với giọng Php. ng khn lớn vi hai thứ tiếng Anh v Php. Sau thế chiến thứ
nhất, ng trở lại Hoa Kỳ theo học đại học (1919-1922) Trong thời gian ny ng
xuất bản tc phẩm đầu tay The Apprentice Psychiatris.
Trở lại Paris ng sang tc bằng tiếng Php trong suốt hai chục năm. Trong thế
chiến thứ hai ng về sống tại Hoa Kỳ, tiếp tục việc dịch thuật v sang tc bằng
tiếng Anh. Sau thế chiến thứ hai ng trở lại Php, tiếp tục việc sng tc bằng
tiếng Php v tới năm 1971 ng được bầu vo Hn Lm Viện Php Quốc. ng l ngưi
ngoại quốc đầu tin c được vinh dự ny. Bi diễn văn nhậm chức của ng mang đầu
đề Qui sommes nous/Who are we? ng dường như l người đầu tin trong thế hệ ng
viết những tc phẩm song ngữ, trang tiếng Anh đối diện vi trang tiếng Php.
Khc với Nabokov chật vật viết bằng tiếng Anh, Julian Green giống như Giuseppe
Ungaretti đổi ngn ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Php rất dễ dng.
Sau Julian Green vi ba năm c nh viết kịch ngưi i Nhĩ Lan Sammel Beckett
(1906-1989) l một nh văn tự dịch hầu như trọn vẹn mọi tc phẩm của ng từ
tiếng Php sang tiếng Anh hay ngược lại. Tiếng Anh l tiếng mẹ đẻ của ng. ng
học sinh ngữ, chuyn về chữ Php v chữ tại Trinity College Dublin. Trong ba
năm 1928-1930, đi thực tập tại Php, ng bắt đầu sng tc bằng chữ Anh cho tới
hết thập nin 1930. Tới 1937 ng định cư tại Paris v bắt đầu lm thơ chữ Php
v khởi cng dịch cuốn tiểu thuyết Murphy của ng sang tiếng Php, từ trước khi
hon thnh bản tiếng Anh. ng xuất bản cuốn Murphy tiếng Anh năm 1938 v bản
tiếng Php năm 1942. Trong thời gian ở Paris, ng kiếm sống bằng cch dịch cc
nh thơ tiếng Anh, Ty Ban Nha, Đức v Php, cũng trong thời gian đ ng gặp nh
văn Joyce cng nhiều họa sĩ nổi danh khc. Thời đ (1941-1945) Paris đang bị
qun đội Đức chiếm đng, ng tham gia phong tro khng chiến v phải sống trong
vng trốn trnh. Trong chn năm sau 1946-1955 ng sng tc hon ton bằng tiếng
Php, như ng ghi lại trong bi From an Abandoned Work (1957). Từ đ ng lại
sng tc bằng tiếng Php v tiếng Anh v tự dịch ngưọc lại, như hồi trước năm
1937.
Để phn tch việc tự dịch của Nguyễn Khuyến, cảo luận ny khai thc thnh quả
của Jan Walsh Hokenson v Marcella Mielson, tổng hợp những cng trnh nghin cu
về những tc giả tự dịch tc phẩm kể trn.
Khởi đầu l cng trnh nghin cứu thơ tự dịch của Rabindranath Tagore từ tiếng
Bengali sang tiếng Anh. Cc nh bnh thơ thời đ đồng l Rabindranath Tangor
đ sửa đổi cả lời thơ, nhịp thơ, cảnh thơ thơ của nguyn bản để c một bản
dịch hon chỉnh theo đng luật thơ Edwardian. Mục tiu của việc tự dịch của
Rabindranath nhắm vo những độc giả người u Chu. ng đ thnh cng rực rỡ. Tập
thơ dịch của ng được ti bản nhiều lần với những lời đề tựa của những thi sĩ
nổi tiếng tỷ như W.B. Yeats, v c bi lại được Andr Gide dịch sang tiếng Php,
Juan Ramn dịch sang tiếng Ty Ban Nha. Tập thơ tự dịch của Rabindranath Tagor
được coi l tiu biểu cho tiếng ni của người phương Đng huyền b trầm tĩnh từ
cuối trời xa vọng tới nhắn nhủ với người phương Ty si động trong đời sống vật
chất, ngy chu u đang bi li cuốn vo thảm họa của thế chiến thứ nhất. Hn lm
viện Thụy Điển ca tụng bản thơ tự dịch của Rabindranath Tagor l một aesthetic
theism, ngoi ra cn nhn đ ghi nhận ảnh hưởng của việc truyền b đạo Cơ Đốc
tại một vng xa xi như :[36]
A revival and regeneratuion of the vernacular language, i.e. its liberation
from the bondage of an artificial tradition.
Ngy nay, giới bnh thơ, tri lại, ph bnh việc tự dịch thơ của Rabindranath
Tagor như sau:
In fact, the sheer artificial of Tagors Edwardian style in English actually
effaced the richer vernacular poetry of his Bangali text. In what can only be
called Tagores English pseudo-style, the flatness of the poetry derives from
the texts superficial equilibriums, patently constructed to imitate an extant
model, stilling even the radically foreign echoes of his Hindu imagery.
Từ khi thế chiến thứ nhất bng nổ, tập thơ Gitaljali của Rabindranath Tagore mất
dạng trn văn đn tại Anh Quốc.
Điểm đng ghi nhận khc l, khng nhất thiết việc dịch thơ Đng sang tiếng u
Chu phải theo cc thể thơ cũng như dung những hnh ảnh của thi ca u Chu. Tri
lại c nhiều dịch giả như Judith Gautier năm 1885 v Paul Louis Couchoud năm1906
dịch hi c Nhật Bản đ khng ngần ngại biến cải luật thơ u Chu.
Trở lại việc tự dịch thơ của Nguyễn Khuyến, v tin ở li ghi trong cc di cảo,
Nguyễn Khuyến thường tự dịch từ bi chữ nho thnh bi chữ nm.
Bi nổi tiếng nhất l bi:
Sơn Tr
春 來 客 贈 我 山 茶
Xun lai khch tặng ng sơn tr
醉 裡 矇 矓 不 辨 花
Tu l mng lung bất biện hoa
白 髮 蒼 顏 吾 老 矣
Bạch pht thương nhan ng lo hĩ
紅 袍 金 帶 子 真 耶
Hồng bo kim đi tử chn da
尋 常 細 雨 驚 穿 葉
Tầm thường tế vũ kinh xuyn diệp
蕭 瑟 晨 風 怨 落 茄
Tiu sắt thần phong on lạc gia
近 日 相 看 惟 以 鼻
Cận nhật tương khan duy dĩ tị
了 無 香 氣 一 呵 呵
Liễu v hương kh nhất kha kha.
Tết đến người cho một chậu tr
Đương say ta chẳng biết rằng hoa
Da mồi tc bạc ta gi nhỉ
o ta đai vng bc đấy a
Mưa bụi những khinh phường xỏ l
Gi to lại sợ n rơi gi
Xem hoa ta vẫn xem bằng mũi
Chẳng thấy mi hương một tiếng kh.
Nguyn do l vo năm 1905, nhn cuộc thi vịnh Kiều tại Hưng Yn, Chu Mạnh Trinh
dự thi v được giải nhất về thơ nm. Nguyễn Khuyến lm chủ khảo kỳ thi ny. Khi
ng đọc bi Vịnh Sở Khanh của Chu Mạnh Trinh, c cu:
Bợm x ai ngờ mắc phải tay.
Nho đối với xỏ lo ny khng ưa.
Bi Sơn Tr ny Nguyễn Khuyến lm để trả đũa Chu Mạnh Trinh.
Quay lại truyện tự dịch thơ. Điểm đặc sắc nhất l Nguyễn Khuyến đ tư dịch bi
thơ Sơn Tr theo luật đường thất ngn bt c thnh một bi thơ nm cũng theo
luật đường bẩy chữ tm cu. Hơn nữa, lại l một bản dịch nguyn vận. Đ l một
việc dịch thuật kh c ai snh kịp. Ngoi ra ng giữ nguyn vẹn thơ trong bản
chữ nho. Trong cu thứ ba, bốn chữ 白 髮 蒼 顏, nghĩa l tc trắng mặt xanh, Nguyễn
Khuyến thay bằng từ ngữ da mồi tc bạc; trong cu năm, ba chữ 子 真 耶 nghĩa l
thật ngươi a đổi thnh ba chữ bc đ a. Biến đổi mấy chữ trong hai cu thơ ny,
Nguyễn Khuyến đ biến đổi hai cu thơ chữ nho thnh hai cu thơ hon ton bằng
chữ nm. Trong cu thứ năm, ba chữ 驚 穿 葉, kinh xuyn diệp nghĩa l sợ xin l,
Nguyễn Khuyến tự dịch thnh bốn chữ: kinh phường xỏ l. Trong cu thứ su ba chữ
怨 落 茄 on lạc gia, dịch st nghĩa l on rơi đi, cũng dịch thnh bốn chữ: sợ n
rơi gi. Người đọc thấy l Nguyễn Khuyến tự dịch rất st nguyn bản chữ nho,
nhưng ci kho của ng l đ dng những tiếng đồng m để tạo nghĩa mới cho cu
thơ. Hai chữ xin l ha ra xỏ l tức phường đểu cng, chữ rơi gi, tức rụng di
đồng m, theo cch đọc của người miền bắc, với hai chữ dơi gi, hnh ảnh tiu
biểu của hạng ngưi đng khinh.
Phải chăng với ti chơi chữ cao siu đến vậy m Nguyễn Khuyến đ trả đũa được
Chu Mạnh Trinh? Phải chăng cũng v ti chơi chữ ny m bi thơ nm được truyền
tụng trong đại chng?
Đối Chiếu với Rabindranath Tagore đ đổi lời thơ, thơ, thể thơ của bi thơ
nguyn bản bằng tiếng Bengali, để bi thơ dịch được người u Mỹ ưa chuộng,
Nguyễn Khuyến giữ nguyn vẹn thơ lời thơ, cả vần thơ nguyn bản nhưng chơi chữ
bằng nhửng tiếng đồng m để được người đọc thơ nm hm mộ.
Theo giới nghin cứu, bi thơ nguyn bản v bi dịch của Rabindranath Tagore
cũng như của Stefan George l hai sng tc gần như khng c lin quan mật thiết
với nhau nhắm vo hai giới đọc giả khc nhau. Nguyn bản chữ nho v bản tự dịch
chữ nm l hai sng tc lin quan mật thiết với nhau, bản dịch c thể c ngoi
lời khc với nguyn bản chữ nho: ngoi lời đ phải hiểu bằng cch dng những
chữ đồng m.
Đối chiếu cch tự dịch thơ của Nguyễn Khuyến với cch tụ dịch của Giuseppe
Ungaretti người đọc thấy hai cch tự dịch khc hẳn nhau. Nh thơ người Quốc
dường như khng muốn cho người đọc thấy mối tương quan giữa nguyn bản v bản tự
dịch. Trong nhiều bi, ng thay đổi cả cch trnh by bi thơ, tỷ như bi
Soldati
ng sang tc tại tiền tuyến năm 1918:
Si sta come
dautomno
sugli alberi
le flogi
(Vita, p.87)
Hai nh bnh thơ Jan Walsh Hokenson v Marcella Munson dịch sang tiếng Anh l :
They are like
Of autumn
On the trees
The leaf
Nous sommes
telle en automne sur
Larbre la feuille
(Guerre, 22).al
Cu thơ nguyn bản tiếng trnh by thnh cột dọc. Cu thơ tự dịch tiếng
Php trnh by theo dng ngang thnh nhiều nhm chữ cch nhau bằng những khoảng
trắng, di ngắn khc nhau, để ngưi ngm ngắt cu khc nhau, v Giuseppe
Ungaretti khng chấm cu. Việc đổi hnh dạng đứng doc của bi thơ nguyn bản
thnh nằm ngang trong bản dịch đ gip tc giả thnh cng trn hai mặt, một l
cho thấy hai bi thơ sng tc tại hai thời điểm khc nhau; hai l hai bi thơ
hướng về hai đm độc giả khc nhau.
Tri lại, khng những Nguyễn Khuyến ghi r tại cuối bi thơ dịch nm dịch từ bi
nguyn bản Việt m no, m thường th ng cố giữ cho nguyn bản v bản tự dịch
c cng một thể dạng. Thể dạng ny khng nhất thiết phải cng theo thể thơ Đường.
Người đọc thơ Việt m v người đọc thơ nm đều c cảm tưởng l tc giả sng tc
cả hai bi với cng một hứng thơ.
Th dụ như bi:
Bi Vin Cựu Trạch Ca
四 十 年 今 日 賦 歸 來
Tứ thập nin kim nhật ph quy lai
松 松 匊 匊 梅 梅
Tng tng cc cc mai mai
膘 然 有 丘 壑 林 泉 之 逸 趣
Phiu nhin hữu khu hc lm
tuyền chi dật th
彭 澤 素 琴 吟 舊 句
Bnh Trạch tố cầm ngm cựu c
溫 公 樽 酒 樂 餘 春
n Cng tn lửu lạc dư xun
東 風 回 首 淚 沾 巾
Đng phong hồi thủ lệ trim cn
渺 茫 際 滄 海 桑 田 經 幾 度
Diểu mang tế thương hải tang điền
kinh kỷ độ
君 莫 嘆 魯 侯 之 不 遇
Qun mạc than Lỗ Hầu chi bất ngộ
鬅 鬆 白 髮 復 何 為
Bằng tng bạch pht phục h vi
歸 去 來 兮 胡 不 歸
Quy khứ lai hề hồ bất quy.
Vườn Bi chốn cũ
Bốn mươi năm lụ khụ lại về đy
Trng ngoi sn đua nở mấy chồi cy
Th khu hc lm tuyền u cũng thế
Bnh Trạch cầm xoang ngm trước ghế
n Cng rượu nhạt chuốc chiều xun
Ngọn gi đng ngoảnh lại lệ đầm khăn
Tnh thương hải tang điền qua mấy lớp
Người chớ giận Lỗ Hầu chẳng gặp
Như lơ phơ tc trắng lại lm chi
Muốn về sao chẳng về đi.
Dẫu viết bằng chữ nho, nhưng m điệu bi Bi Vin Cựu Trạch Ca l m điệu một
bi ca tr. Đ cũng l m điệu bi Trở Về Vườn Cũ. Nội dung hai bi hệt như nhau,
ni ln niềm hn hoan của tc giả, trở lại chốn cũ sau bốn chục năm xa cch. Ci
vui của tc giả ngy nay l vun trồng mấy cy cảnh thay v đi tm vui tại chốn
suối rừng, l đnh đn l uống rượu, gạt bỏ sự đời thay đổi, chẳng cn giận v
khng được gặp Lỗ Hầu lỡ dịp trổ ti an dn trị nước, bởi lẽ trn đầu ng, tc
đ bạc, đ đến lc phải lui về vườn.
Qua những bi tự dịch nm ny, Nguyễn Khuyến đưa vo dng thơ nm những điển
tch như n Cng Tư M Quang khi về ẩn dật uống rượu giải buồn, với Đo Tiềm v
cy đn khng dy v Đo Tiềm chỉ muốn thưởng thức nhạc m khng muốn nghe tiếng
tơ rung, v Lỗ Bnh Cng, người m Mạnh Tử muốn gặp khng được gặp khiến mất cơ
hội gip nước.
Đằng khc, khng phải Nguyễn Khuyến lun lun giữ một thể thơ trong cả nguyn
bản v trong bi tự dịch, m nhiều khi ng đổi thể thơ ngũ ngn thnh thể thơ
thất ngn, tỷ như hai bi dưới dy. Bi thư nhất l bi :
Di Chc Văn
我 年 值 八 八
Ng nin trị bt bt
我 數 逢 九 九
Ng số phng cửu cửu
嗟 哉 我 德 涼
Ta tai ng đức lương
壽 紀 邁 先 考
Thọ kỷ mại tin khảo
嗟 哉 我 學 淺
5Ta tai ng học thiển
魁 然 占 龍 首
Khi nhin chiếm long thủ
豈 非 先 考 齡
Khởi phi tin khảo linh
留 以 錫 爾 父
Lưu dĩ tch nhĩ phụ
豈 非 先 考 名
Khởi phi tin khảo danh
10不 做 以 留
Bất tố dĩ lưu hậu
平 日 無 寸 功
Bnh nhật v thốn cng
俯 仰 已 慚 負
Phủ ngưỡng dĩ tm phụ
足 矣 亦 何 求
Tc hỹ diệc h cầu
死 葬 勿 淹 久
Tử tng vật ym cửu
15死 幸 得 全 歸
Tử hạnh đắc ton quy
葬 幸 得 親 附
Tng hạnh đắc thn phụ
棺 衾 不 可 美
Quan khm bất khả mỹ
只 以 斂 足 手
Chỉ dĩ liễm tc thủ
具 饌 不 可 豊
Cụ soạn bất khả phong
20只 以 答 奔 走
Chỉ dĩ đp bn tẩu
不 可 寫 祝 文
Bất khả tả chc văn
不 可 為 對 句
Bất khả vi đối c
不 可 設 銘 旌
Bất khả thiết minh tinh
不 可 題 神 主
Bất khả đề thần chủ
25不 可 達 門 生
Bất khả đạt mn sinh
不 可 訃 僚 友
Bất khả ph lieu hữu
賓 客 不 可 招
Tn khch bất khả chiu
賵 吊 不 可 受
Phng điếu bất khả thụ
此 皆 累 於 生
Thử giai lụy ư sinh
30死 者 亦 兮 有
Tử giả diệc hề hữu
惟 以 重 吾 過
Duy dĩ trọng ng qu
囂 然 眾 多 口
Hiu nhin chng đa khẩu
唯 於 葬 之 日
Duy ư tang chi nhật
旗 扁 導 前 柩
Kỳ biển đạo tiền cữu
35于 工 八 九 人
Vu cng bt cửu nhn
吹 送 列 左 右
Xuy tống liệt tả hữu
草 草 死 葬 完
Thảo thảo tử tng hon
酹 我 以 杯 酒
Lỗi ng dĩ bi tửu
爰 題 墓 石 碑
Vin đề mộ thạch bi
40皇 阮 故 休 叟
Hong Nguyễn cố hưu tẩu.
Tc giả tự dịch l
Km hai tuổi xuan đầy chn chục
Số sinh ra gặp lc dương cng
Đức thầy đ mng mng mong
Tuổi thầy lại sống hơn ng cụ thầy
5Học chẳng c rằng hay chi cả
Cưỡi đầu người kể đ ba phen
Tuổi l tuổi của gia tin
Cho nn thầy được hưỏng nin ly dầy
Ấy thủa trước ng my chưa đỗ
10Ho by giờ để bố lm xong
Ơn vua cht chửa đền cng
Ci trng thẹn đất ngẩng trng thẹn trời
Sống được tiếng trn đời trọn vẹn
Chết đưọc về qu qun hương thn
15Mới hay trăm sự vung trn
Sống lu đ trải chết chon chờ g
Đồ khm liệm chớ nề xấu tốt
Kn chn tay đầu gt th thi
Cỗ đừng to lắm con ơi
20Hễ ai chạy lại khuyn mời người ăn
Tế đừng c viết văn m đọc
Đối trướng đừng gấm vc lm chi
Minh tinh con cũng bỏ đi
Mời quan đề chủ con th chớ nn
25Mn sinh chẳng tống tiền đạt giấy
Bạn của thầy cũng vậy m thi
Khch quen chớ viết thiếp mời
Ai đưa phng điếu cn thời chớ thu
Chẳng qua nợ để cho người sống
30Chết đi rồi cn ngng vo đu
Lại mang ci tiếng to đầu
Khi nay bầy biện khi sau ch bn
Cờ biển của vua ban ngy trước
Khi đưa thầy con rước đầu tin
35Lại thu một lũ phường kn
Vửa đi vừa thổi mỗi bn dăm thằng
Việc tống tang nhung ngăng qua quit
Cng cho thầy một t rượu hoa
Đề vo mấy chữ trong bia
40Rằng quan nh Nguyễn co về đ lu.
Ta đến tuổi tm tm
Số gặp hạn dương cửu
Than i đức ta mỏng
Tuổi thọ hơn tuổi ng
5Than i sức học nng
Nghiễm nhin chiếm đầu rồng
H chẳng nhờ tuổi ng
Lưu lại dnh cho ta
H chẳng phải danh ng
10Khng đạt để đời sau
Suốt đời ta v cng
Nhn đất trời hổ lng
Thế đủ chẳng cầu hơn
15Chết chn chớ để lu
Chết may được vẹn than
Được chn gần cha mẹ
Quan khm chẳng cần đẹp
Cần gi kn tay chn
20Đủ đi người tới gip
Khng được viết văn tế
Khng được viết cu đối
Khng được đặt minh tinh
Khng được đề thần chủ
25Khng thng bo học tr
Khng co ph b bạn
Khng được mời quan khch
Khng nhận đồ phng viếng
Rồi chỉ khổ người sống
30Người chết chẳng hưởng g
Chỉ nặng tội cho ta
Ồn o them đều tiếng
Duy c ngy cất đm
Cờ biến rưc đi trưc
35Thợ kn tm chin người
Hai bn quan tiễn đưa
Qua loa chn cho xong
Đổ cho ta chn rượu
Rồi khắc trn bia đ
40Mộ hưu quan nh Nguyễn.
Vn Đồng Nin Vn Đnh Tiến Sĩ
楊 尚 書
Dương Thượng Thư
已 矣 楊 大 年
Dĩ hỹ Dương đại nin
雲 樹 心 懸 懸
Vn thụ tm huyền huyền
回 憶 登 科
Hồi ức đăng khoa hậu
與 君 晨 夕 聯
Dĩ qun thần tịch lin
5相 敬 且 相 愛
Tương knh thả tương i
遭 逢 如 夙 緣
Tao phng như tc duyn
有 時 出 京 路
Hữu thời xuất kinh lộ
空 山 聞 落 泉
Khng sơn văn lạc tuyền
有 時 上 高 閣
Hữu thi thượng cao cc
10歌 兒 鳴 素 絃
Ca nhi minh tố huyền
有 時 對 君 飲
Hữu thời đối qun ẩm
大 白 浮 八 延
Đại bạch ph bt din
有 時 與 論 文
Hữu thời dữ luận văn
東 壁 羅 簡 編
Đng bch la giản bin
15厄 運 逢 陽 九
ch vận phng dương cửu
斗 升 非 貪 天
Đẩu thăng phi tham thin
予 老 公 亦 老
Dư lo cng diệc lo
解 組 歸 田 圓
Giải tổ quy điền vin
往 來 不 數 得
Vng lai bất sc đắc
20一 遇 三 年 前
Nhất ngộ tam nin tiền
執 手 問 衰 健
Chấp thủ vấn suy kiện
語 言 殊 未 愆
Ngn ngữ th vị khin
公 年 少 予 歲
Cng nin thiểu dư tuế
予 病 疑 公 先
Dư bệnh nghi cng tin
25忽 聞 公 訃 至
Hốt văn cng ph ch
鷙 起 皇 皇 然
Kinh khởi hong hong nhin
予 起 不 厭 世
Dư khởi bất yếm thế
而 公 爭 上 仙
Nhi cng tranh thưọng tin
有 酒 為 誰 買
Hữu tửu vi thuỳ mi
30不 買 為 無 錢
Bất mi vi v tiền
有 詩 為 誰 寫
Hữu thi vi thy tả
不 寫 為 無 箋
Bất giả v vi tin
陳 蕃 榻 不 下
Trần Phồn thp bất hạ
伯 牙 琴 亦 然
B Nha cầm diệc nhin
35公 既 棄 予 去
Cng k kh dư khứ
予 亦 不 公 憐
Dư diệc bất cng lin
老 人 哭 無 淚
Lo nhn khốc v lệ
38何 必 強 而 漣
H tất cưởng nhi lin.
Tc giả tự dịch l:
Bc Dương thi đ thi rồi
Nước non man mc ngậm ngi lng ta
Nhớ từ thủa đăng khoa ngy trước
Vẫn sớm hm ti bc cng nhau
5Knh yu từ trước tới sau
Trong khi gặp gỡ khc đu duyn trời
Cũng c lc choi nơi dặm khch
Tiếng suối tun rc rch lưng đo
C khi tầng gc cheo leo
10Th vui con ht lựa chiều cầm xoang
Cũng c khi rượu ngon cng nhắp
Chn quỳnh tương ăm ắp bầu xun
C khi bn soạn cu văn
Biết bao đng bch điển phần trước sau
15Buổi dương cưu cng nhau hoạn nạn
Phận đẩu thăng chẳng dm than trời
Bc gi ti cũng gi rồi
Biết thi thi thố th thi mới l
Muốn đi lại tuổi gi thm nhc
20Trước ba năm gặp bc một lần
Cầm tay hỏi hết xa gần
Mừng rằng bc vẫn tinh thần chưa can
Tuổi ti lại cn hơn tuổi bc
M ti đau trước bc mấy ngy
25Ai ngở bc vội về ngay
Chợt nghe ti đ chn tay rụng rời
Ai chẳng biết chn đời l phải
Vội vng chi đ mải ln tin
Rượu ngon khng c bạn hiền
30Khng mua khng phải khng tiền khng mua
Cu thơ nghĩ đắn đo khng viết
Viết đưa ai ai biết m đưa
Giường kia cheo nhưng hững hờ
Đn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đn
Bc chẳng ở dẫu van chẳng ở
Ti tuy thương lấy nhớ lm thương
Tuổi gi giọt lệ như sương
Hơi du p lấy đi hang chứa chan.
Dịch nghĩa như sau:
i bc Dương mất rồi
My phủ cy sầu lắng
Nhớ lại từ thi đỗ
Sớm tối lun c nhau
5Knh nhau cng mến nhau
Gặp gỡ nhờ duyn trời
Ngy cng nhau chẩy kinh
Ni vắng vẳng suối reo
Buổi cng nhau leo gc
10Nghe ca nhi đn ht
Buổi cng nhau say sưa
Rượu Đại Bạch chứa chan
Buổi cng nhau luận văn
Phủ Đng Bch đầy sch
15Phận rủi gặp dương cưu
Đấu trời chẳng dm tham
Ti gi bc cũng gi
Trả ấn vua về vườn
Chẳng được gặp nhau lun
20Lần gặp ba năm trước
Cầm tay hỏi yếu mạnh
Ni năng chưa lu lẫn
Tuổi bc thua tuổi ti
M ti đau trước bc
25Chợt nghe tin co ph
Ti giật mnh kinh hong
Ti đu khng chn đời
Bc dnh ln tin trước
C rượu uống cng ai
30Khng mua chẳng khng tiền
C thơ chẳng muốn viết
Khng viết chẳng thiếu giấy
Giường Trn Phồn chẳng hạ
Đn B nha đem đốt
35Bc bỏ ti ra đi
Ti cũng chẳng luyến tiếc
Người gi kh nước mắt
38Can chi gượng xụt xi.
Đổi thể thơ năm chữ của nguyn bản thnh thể thơ song thất lục bt trong bản
tự dịch, Nguyễn Khuyến tăng số 200 chữ của nguyn bản bi Di Chc Văn ln tớ
280 chữ trong bản tự d̏ch Di Chc. Người đọc cả nguyn bản v bản tự dịch thấy
l số 80 chữ m Nguyễn Khuyến đưa vo bản dịch đ biến đổi một văn bản thơ chữ
nho, giữ đặc tnh nghim khắc của Nho Học, dầu l trong tnh thn mật giữa cha
với con thnh lời gửi gắm đằm thắm của ngưi cha với đn con. Lời thơ trong bản
chữ nho kh khan như một bản mệnh lệnh khng mấy khc những bi thơ viết gửi con
của Đo Tiềm trong văn học Trung Quốc. Lời thơ trong bản tự dịch như lời dặn d
giảng giải thn thiết giữa bố với con chẳng xa g những cu ca dao Việt Nam.
Tương tự, Nguyễn Khuyến tăng số chữ 190 chữ trong bi Vn Đồng Nin Vn Đnh
Tiến Sĩ Dương Thương Thư ln 266 chữ trong bi Khc Bạn đ biến cải một bi thơ
của một vị Tam Nguyn khc một vị tiến sĩ thượng thư thnh bi khc bạn của một
ngưi mới mất bạn thn, hồi tưỏng lại những kỷ niệm xưa, từ buổi thiếu thời đến
khi cng về gi, linh động thắm thiết như ngưi bạn hiện đang cn ngồi đối diện
với tc giả, v chẳng khc g cảnh ng bạn tới chơi nh, ngy con chu ng đi
vắng, chợ th xa, khiến ng chẳng những khng c cơm g cho gỏi, m cũng chằng
c cả quả c bt canh mướp đi bạn, ngay đến miếng trầu đn bạn cũng khng,
nhưng hai ta vẫn l một ta.
Bt thuật tự dịch của Nguyễn Khuyến tăng số chữ nguyn bản để tự dịch, c nhiều
điểm tưong đồng v khc biệt với bt thuật tụ dịch của Rabindranath Tagor.
Tha65t vậy, nh thơ Rabindranath Tagor đổi thể thơ Bengali thnh thể thơ
Edwardian dể bản tự dịch dễ đọc hơn cho người đọc u Chu; cũng như Nguyễn
Khuyến đổi thể thơ ngũ ngn thng dụng trong văn học Trung Quốc thnh thể thơ
song thất lục bt thịnh hnh thủa đ tại Việt Nam. Điểm khc nhau l Rabindrath
chuyển biến thơ Bengali thnh thơ Anh Quốc giới thiệu thơ của dn bản địa với
dn mẫu quốc. Nguyễn Khuyến, ngược lại, đưa bản tự dịch ra khỏi văn học Trung
Quốc về văn học Việt Nam.
Đối chiếu với Stefan George, một nh thơ m giới nghin cứu m tả việc tự dịch
thơ của ng từ tiếng Php sang tiếng Đức như sau [37] :
Schooling himself in their linguistic properties and literary traditions, George
was interested in the differences between languages, especially the constrastive
modes of syntax and phonic sub-systems, which he enjoyed re-creating in Germany
to revitalize that language.
Người đọc thấy l: lm thơ Việt m l sở trường của Nguyễn Khuyến, một mn học
m ng đ di mi để đổ đầu ba kỳ thi; chắc chắn l ng thng hiểu thấu đo m
luật trong việc lm thơ Đường, đồng thời ng nổi tiếng hay thơ nm, chc chắn l
ng cũng thng hiểu những khc biệt trong việc lm thơ Đường v lm thơ nm song
thất lục bt, với những kiến thức vững chắc đ, ng tự dịch thơ Đưng sang thơ
song thất lục bt, khng những để tạo cho ring ng ci th lm thơ bằng tiếng
mẹ đẻ m cn nhn đ đưa bi thơ tự dịch ra xa vng ảnh hưởng của thơ Đường.
Phải chăng đ l điểm Nguyễn Khuyến tương đồng với Stefan George? Điểm đng lưu
l khng phải l hễ giỏi lm thơ Việt m l giỏi lm thơ nm. Cao B Qut th
nhạn rằng ng khng lm được thơ nm v ng chưa hề được học lm thơ nm.
Đối chiếu việc tự dịch thơ của nh thơ Quốc Giuseppe Ungaretti với việc dịch
thơ của Nguyễn Khuyến, người đọc thấy nh thơ người cố tnh thay đổi cch
trnh by của nguyn bản v bi tự dịch; xuất bản hai bi thơ vo hai thời điểm
kh xa nhau, thay đổi lời thơ để cho thấy hai bi thơ như hai văn bản độc lập.
Tri lại, qua hai bi Khc Bạn v Di Chc trn đy, so với hai nguyn bản khng
ai c thể bảo đ l hai cặp thi phẩm độc lập: dẫu viết trong hai ngn ngữ, khc
nhau về thể thơ, lời thơ, nhưng cảnh thơ v thơ vẫn l một.
Đối chiếu việc tư dịch của Julian Green với việc tự dịch của Nguyển Khuyến,
người đọc nhận thấy nhiều điểm tương đồng. Julian Green gốc người Hoa Kỳ nhưng
ng thng thạo tiếng Php đến mức đổi từ tuếng Anh sang tiếng Php khng cần mảy
may cố gắng. C nh ph bnh đ viết rằng trn bao ba tc phẩm cũa Julian Green
thưng c ghi Julian Green traduit par Julien Green, nhưng đng hơn th nn
đọc ngược lại l Julien Green traduit par Julian Green. Nhiều nh ph bnh khc
cn cho l việc tự dịch của Julian Green khng chỉ l việc chuyển ngữ của một
tc phẩm m l việc sng tc hai tc phẩm cng một đề ti với hai giọng văn khc
nhau. Việc đổi giọng văn l chủ của tc giả hướng tc phẩm để hợp với ngn ngữ
người đọc. Đằng khc dng hai giọng văn l dụng bi tỏ hai dng văn ha Anh
Php trong tc phẩm song ngữ của ng, v để gip người đọc tc phẩm dễ bề thng
cảm với cả hai dng văn ha đ. Điểm tương đồng giữa Nguyễn Khuyến v Julian
Green l khng những ng rất giỏi thơ Việt m v thơ nm, m cn thấu triệt cả
hai dng văn ha Trung Quốc v Việt Nam.
Đọc bi Di Chc Văn bằng chữ nho v bi Di Chc bằng chữ nm, người đọc thấy
ngoi biến cải văn học, Nguyễn Khuyến cn cho thấy nhưng biến cải tập tục trong
nếp sống hng ngy, xa dần phong tục Trung Quốc.
Thật vậy, trong bi Di Chc, Nguyễn Khuyến đạn d con ng mười su điều, trong
số đ c mười điểm khng lm: quan khm khng cần đẹp, khng lm cỗ to, khng
viết văn tế, khng lm cu đối, khng đặt minh tinh, khng đề thần chủ, khng
bo tin cho học tr, khng co ph vi bạn b, khng mời khch khứa, khng nhận
phng viếng ; v chỉ c năm điều phải lm: chết chn ngay đừng để lu, cờ biển
rước trưc quan ti, thu phường bt m, rt rượu xuống đất, khắc mộ bia.
Mười điều khng lm l mười điều ng giảm thiểu việc tổ chức lễ an tang của
chnh ng, cũng phải kể thm điểm ng muốn khi ng năm xuống thời được chn cất
sớm. Những điu khng ny, ở thời của ng, ở địa vị của ng trong x hội l
những điều mọi thế gia đều lm trong ngy đm, ng dặn con khng lm chnh l
điều ng đ đi trước những biến cải tập tục x hội Việt Nam đương thời cn dựa
trn tập tục Trung Quốc.
Biến cải thể thơ ngũ ngn của bi Di Chc Văn nguyn bản bằng chữ nho thnh bi
tự dịch nm Di Chc theo thể song thất lục bt, bt thuật tự dịch của Nguyễn
Khuyến tương đồng với bt thuật tự dịch của Samuel Becket, qua nhận xt của Ruby
Cohn như sau: [38]
[] the French is more reduced and the English more amplified , the English has
added color and detail of objects and situation where the French is more
colorless and spare, the English narrator is more differentiated as a distinct
presence where the French narrator seems a neutral copher.
Với Samuel Becket bản tiếng Php l nguyn bản, bản tiếng Anh l bản tự dịch,
tương ứng với bản chữ nho của Nguyễn Khuyến l bản gốc vả bản chủ nm l bản tự
dịch, thế nn nhận xt của Ruby Cohn về Sammuel Beckett c thể p dụng với
trường hợp tự dịch của Nguyễn Khuyến.
Tỷ như cu thứ ba trong bi Di Chc Văn:
Ta tai ng đức lương
Than i đức ta mỏng
Nguyễn Khuyến tự dịch thnh:
Chữ ng trong nguyn bản thnh chữ thầy trong bản tự dịch. Chữ lương l mỏng
trong bản gốc thnh chữ nhi ba mỏng mng mong, những biến cải đ biến cải cảnh
thơ kh khan trong bản gốc thnh cảnh thắm thiết giữa cha v con trong bản nm.
Rồi tới hai cu 9 v 10:
豈 非 先 考 名
Khởi phi tin khảo danh
不 做 以 留
Bất tố dĩ lưu hậu
Nghĩa l:
Khng đạt l để dnh cho ta
Ho by giờ để bố lm xong
Những chữ ng my, v lời tự xưng l bố đều l những chữ Nguyễn Khuyến thm vo
bản tự dịch, gợi ln cảnh thn mật giữa tc giả v con để biến cải cảnh thơ mang
mầu sắc Trung Quốc của nguyn bản thnh cảnh cha con thắm thiết trong bản tự
dịch. Biến cải ny chẳng khc g những biến cải m Ruby Cohn nhận thấy trong
những bản tự dịch của Sammuel Beckett từ bản chữ Php sang bản chữ Anh, như
trch dẫn trn đy.
Trong hai bi Vn Đồng Nin Vn Đnh Tiến Sĩ Dương Thưọng Thư v bản tự dịch
Khc Bạn, của Nguyễn Khuyến đ đưa vo văn học Việt Nam những biến cải của ring
ng trn một vấn đề gai gc của triết học Đng v Ty phương: vấn đề đ l vấn
đề tnh bạn.
Thật vậy, tnh bạn l một vấn đề quen thuộc của nhiều nh thơ Đưng v cũng l
vấn đề m Khổng Tử từng nhiều lần đề cập tới trong sch Luận Ngữ.
Sch Đường Thi Tam Bch Thủ chp bi Mộng L Bạch 夢 李 白 của Đỗ Phủ c hai cu
tha thiết :[39]
Cố nhn nhập ng mộng
明 我 長 相 憶
Minh ng trường tương ức.
R ta di nhớ mong
[40]
Ng i Mạnh Phu Tử
[41]
Tri m thế sở hi
[42]
Bất tương kiến
不 相 見 來 久
Bất tương kiến lai cửu
Nghĩa l:
Chẳng gặp nhau bấy lu
Mở sch Luận Ngữ, thin Học Nhi, chương 1, Khổng Tủ viết :
[43]
Hữu bằng tự viễn phương lai
不 亦 樂 乎
bất diệc lạc hồ
Chẳng đng vui chăng
Luận Ngữ, quyển III, thin 4: Cng D Trng.chương 16 c cu:
[44]
thiện dữ nhn giao
久 而 敬 之
cửu nhi knh chi
nghĩa l:
giữ cung knh được lu di
Bằng Hữu tn chi
Nghĩa l:
Bạn b tin nhau
人 而 旡 信
不 知 其 可 也
bất tri kỳ khả d
chẳng biết lm nn việc g
Trong sch Nho Gio, Trần Trọng Kim căn cứ vo mấy chương Luận Ngữ trn dy kết
luận về tnh bằng hữu như sau [47]:
Người ta trong x hội, giao thiệp với nhau, bao giờ cũng phải lấy chữ tn lm
trọng.
Trở lại sch Luận Ngữ, quyển 6, thin 12 Nhan Uyn, chương 23, chp lời Khổng Tử
khuyn Tử Cống cư xử với bạn b như sau [48] :
Trung co nhi thiện dạo chi
不 可 則 止
bất khả tắc chỉ
毋 自 辱 焉
V tự nhục yn
nn kho khuyn bảo
bn chẳng nghe chẳng ni thm
khỏi tự chuốc nhục.
Tương tự, sch Luận Ngữ, Quyển II Thin thứ 4, L Nhn, chương 26, chp lời Tử
Dư :
Bằng hữu sc tư sơ hỹ
Nghĩa l:
ấy l la xa vậy
Ngược lại, sch Luận Ngữ, quyển VII, thin thứ 13 Tủ Lộ, chương 28 chp lời
Khổng Tử khuyn: [50]
bằng hữu thiết thiết ty ty
Trở lại bi Khc Bạn của Nguyễn Khuyến v qua những trch dẫn sch Đường Thi Tam
Bch Thủ v sch Luận Ngữ trn đy, người đọc nhận thấy cc nh Thơ Đường thường
dng thơ để bi tỏ tnh cảm của mnh đối với bạn v sch Luận Ngữ chỉ nhắm ni
tới tnh bạn lồng trong chữ tn v nhấn mạnh trn cch cư sử đối vi bạn để
trnh những điều hiểu lầm.
Trở lại bi Khc Bạn trn đy, Nguyễn Khuyến, khng gii by tnh cảm với Dương
Khu, khng ni tới bổn phận lm bạn, c thể tại bi thơ lm khi Dương Khu mới
mất, m chỉ nhắc lại những kỷ niệm đẹp m ng đ sống cng Dương Khu, kể từ
ngy hai người do duyn trời quen biết nhau khi cng thi đỗ, rồi cng vo kinh,
rồi đi nghe ht, đi ăn uống tiệc tng, cng luận bn văn chương, cho tới khi về
gi, vi ba năm mới c dịp gặp lại nhau, để rồi nay nghe tin Dương Khu về ci
tin, khiến ng đau buồn m khng cn nước mắt khc bạn.
R rng l cả bi thơ việt m v bi Khc Bạn bằng chữ nm, Nguyễn Khuyến đ
khng cn dng nhửng hnh ảnh của tnh bạn của những nh thơ lớn đời Đường cũng
như của sch Luận Ngữ về tnh bạn. Phải chăng l Nguyễn Khuyến đ bước một bước
di, đưa thơ Việt m v thơ nm ra xa vng ảnh hưởng của thi ca v kinh điển
Trung Quốc?
Một điểm đng để khc trong dng thơ tự dịch của Nguyễn Khuyến l tnh tạp
chủng, hybridit trong việc chơi chữ của Nguyễn Khuyến.
Theo giới nghin cứu văn học hậu ngoại thuộc, th một văn bản c tnh tạp chủng,
nếu tc giả l người thuộc cuốc, viết bằng ngn ngữ mẫu quốc v chơi chữ bằng
cch dịch những danh từ, từ tiếng mẹ đẻ sang tiếng mẫu quốc, để tạo ra những chữ
mới trong ngn ngữ mẫu quốc, đi khi với chủ đch chọc cười.
Nguyễn Khuyến l một thi ho c biệt ti tạo chữ tạp chủng. Trong Bi Sơn Tr
ng đ dng hai chữ xuyn diệp 穿 葉 để dịch hai chữ xỏ l v hai chữ lạc gi 落 笳
để dịch chữ rơi đi v đọc theo m người Bắc l rơi gi.
Th dụ thứ hai chứng tỏ ti chơi chữ tạp chủng trong mạch thơ tự của Nguyễn
Khuyến l bi:
Thiền Sư
人 謂 先 生 愛 我 兒
Nhn vị tin sinh i ng nhi
愛 兒 之 母 有 誰 知
i nhi chi mẫu hữu thy tri
ʬ 橋 舊 句 非 無 謂
Gi kiều cựu c phi v vị
攬 鏡 前 因 只 自 悲
Lm knh tiền nhn chỉ tự bi
只 恐 世 間 無 寡 婦
Chỉ khủng thế gian v quả phụ
莫 言 天 下 欠 蟬 師
Mạc ngn thin hạ khiếm thiền sư
愛 兒 欲 為 愛 兒 教
i nhi dục vị i nhi gio
校 得 而 成 母 又 癡
Gio đắc nhi thnh mẫu hựu si.
Người bảo rằng thầy yu chu đy
Thầy yu mẹ chu c ai hay
Bắc cầu cu cũ khng hờ hững
Cầm knh tnh xưa vẫn đắng cay
Ở ga thế gian no mấy mụ
Đ ve thin hạ thiếu chi thầy
Yu rồi cũng muốn cho thầy dậy
Dậy chu xong rồi mẹ chu ngy.
Hai chữ thiền sư trong đầu đề bi thơ Việt m quả l hai chữ Nguyễn Khuyến tạo
ra theo lối chơi chữ tạp chủng của ring ng. Khng c tự điển Trung Quốc no c
hai chữ 蟬 師 ny. Nhưng nếu dịch nguyn văn sang tiếng nm l Ve Thầy th đng l
đầu đề bi thơ với đại l người quả phụ ve ng thầy, rước thầy về dậy con.
Nhưng khng hiểu sao đầu đề bi thơ tự dịch lại đổi l Thầy Đồ Ve Gi Ha, đặt
thầy đồ vo vai chủ động khng đng hẳn với nội dung cả hai bi nguyn bản v tự
dịch.
Ngoi truyện chơi chữ trong đề bi thơ, Nguyễn Khuyến cn dng ca dao tạo nn
điển tch trong thơ Việt m. Trong cu thứ ba, hai chữ gi kiều nghĩa l bắc cầu
do cu ca dao:
Muốn con hay chữ th yu lấy thầy
C gương m để bn mnh khng soi
Hiểu những chữ gi kiều v lm knh như vậy, giới bnh thơ Nguyễn Khuyến cho l
bi thơ l lời người đn b ga ch thầy đồ nht gan khng dm dấn thn trong
truyện ve gi. Hiểu như vậy, đầu đề Thiền Sư dịch st nghĩa l Ve Thầy rất hợp
với nội dung bi thơ.
Người đọc thơ cn nhận ra lối chơi chữ tạp chủng của Nguyễn Khuyến trong đầu đề
bi 武 夫 隊 Vũ Phu Đội, m tc giả tự dịch thnh Đống ng Cuội . Chữ vũ phu 武 夫 c
hai nghĩa. Một l kẻ ỷ mạnh v đon th tục v hai l một loại đ trắng c vn
hồng quen gọi l đ cuội. Nguyễn Khuyến chơi chữ tạp chủng, ghp với chữ đội 隊,
nghĩa l đống để dịch từ ngữ nm đống ng Cuội. Chữ Cuội đy dựa vo thnh ngữ
ni dối như cuội. Nhưng đằng khc, bi tự dịch chp dưới đy, mang tựa đề:
Đầu đường ngang c một chỗ lội
C miếu ng Cuội cao vi vọi
Đn b đến đ vn quần ln
Chỗ thời đến hang chỗ đến gối
ng Cuội ngồi trng mỉm miệng cười
Ci g trắng trắng như con ci
Vội vng khp np đứng liền thưa
Trt dại hở hang xin x tội
ng rằng: My cũng chẳng tội g
Chỉ tội lm ng cứng con buội
Muốn tốt my về bảo lng my
Ra đy ng cho giống ng Cuội
Cho nn lng ấy sinh ra người
Sinh ra rặt những thằng ni dối.
Nabokov consistenly enhances the sexual into the erotic [] adds more humor []
and wordplay, accumulates color symbolism and themique indicators.
Nguyễn Khuyến cn dng lối chơi chữ tạp chủng ny trong đầu đề bi Thất Tam Tam,
thường được dịch nm thnh Mất Ba Ba.
Văn học Việt Nam cn c một dng thơ quen gọi l ht ni. Đ l những ng thơ
sng tc để kp ht đệm đn v c đầu g phch v ht theo những điệu cổ truyền.
Trong mỗi bi ht nt thưng c một số cu khng hạn định viết bằng chữ nho,
trnh by chủ của bi ht. Cu chữ nho ny c thể do tc giả sang tc hay
trch dẫn thơ cổ Trung Quốc. Thề nn ht ni c thể coi l một dng thơ dung kỷ
thuật tạp chủng.
Vấn đề tạp chủng trong văn học l một vấn đề hệ trọng trong vng Trung Mỹ, dưới
ảnh hưởng của hai ngn ngữ Ty Ban Nha v Anh ngữ. Đ cũng l vấn đề phin m
tn người tn đất, tại Việt Nam, vo hồi đầu thế kỷ XX, cũng như việc phin m
tn thnh trong việc dịch Kinh Thnh ngy nay. Những vấn đề ny hiện cn bỏ ngỏ
chờ giới nghin cứu giải quyết.
Gần đy, nhiều cộng đồng người Việt Nam di tản tại khắp nơi trn thề giới,
thường bn đế vấn đề bảo tồn truyền thống với mục đch bảo vệ văn ha Việt Nam
trước tro lưu hon vũ ha.
Bước đầu của việc bảo trợ truyền thống l nhận diện ra được truyền thống.
Cảo luận ny đề nghị ứng dụng những thnh quả của tro lưu hậu ngoại thuc v
việc đi tm căn tnh của văn học hậu Bắc Thuộc tại Việt Nam để như một trong
những phương php khởi dầu cho cng trnh tm hiểu truyền thống. Tương lai sẽ
cho biết hiệu quả của phương php ny đối chiếu với hiệu quả của những phương
php khc.