
Ai xuống Bà-rịa, mà có đi ngang qua đất thánh ở trong Cát tại làng Phước-lễ, th́
tôi xin bước vô đất thánh ấy, kiếm cái mồ có cây thánh giá bằng ván, sơn nửa đen
nửa trắng, gắn một bên nhà thờ những kẻ Tử-đạo ([1]) mà thăm mồ ấy kẻo tội
nghiệp! V́ đă hai năm nay không ai thăm viếng không ai màng ngó tới.
Mồ đó là mồ một thầy đă chịu lương tâm ḿnh cắn rứt đă mười năm, bây giờ mới
đặng nằm yên nơi ấy.
Tôi xin phép thuật lại truyện tôi đă gặp thầy ấy và làm sao thầy ấy đă tỏ chuyện
ḿnh ra cùng tôi, như sau nầy:
Chiếc Jean-Dupuis định mười giờ mới chạy, nên c̣n hai giờ chẳng biết làm đí ǵ?
Muốn lên bờ đi dạo một hai ṿng xem phố xá thành Saigon chơi, mà trong ḿnh có ư
mệt cho nên không lên, vậy mới tính lên sàn tàu coi có cái ghế nào không mà nằm
nghỉ cùng xem trăng chơi, v́ ngày ấy là nhằm ngày rằm tháng chạp annam là 12
janvier 1884.
Lên đến sàn thấy trăng thanh gió mát th́ tôi lại đứng nơi be tàu mà hứng gió.
Đứng đó ḷng buồn một ít v́ phải xa cách cửa nhà vợ con hơn tám bữa, cho nên dầu
mà trên bờ đèn sáng như ngày, kẻ qua người lại xe ngựa rầm rầm, nhà hàng dẫy đầy
những kẻ vui chơi, tôi cũng chẳng đem trí mà xem các sự ấy, cứ một xem phía sông
bên Thủ-thiêm mà thôi; v́ phía đó chẳng chói sự sang trọng vui chơi, chẳng tỏ
bày sự phàm xác thịt; nơi ấy là nơi nghèo khổ làm ăn ban ngày; thong thả mà nghỉ
ngơi ban đêm, nên c̣n một hai chỗ c̣n đèn leo léc mà chỉ vài nhà chưa ngủ mà
thôi.
C̣n dưới sông mặt trăng giọi xuống làm cho nước giọng ra như tấm lụa vàng có thả
kim sa.
Xem các sự ấy th́ ḷng lại thêm buồn, nên tôi muốn kiếm sự giải phiền nơi khác;
song vừa giay mặt lại th́ tôi thấy một thầy tu đứng gần bên tôi và ngó xuống
nước một cách rất buồn bực lắm.
Muốn làm quen cho có bạn v́ dưới tàu lạ mặt hết, tôi mới hỏi thầy ấy rằng: “Thầy
đi xuống Bà-rịa hay là đi Vũng-tàu ?” Thầy ấy ngó tôi một chặp rồi mới nói rằng:
“Thầy hỏi tôi đi đâu làm chi ?” Khi nghe tiếng thầy nói một cách rất buồn bực
thảm năo lắm, th́ tôi ngó mà coi thầy ấy cho tỏ tường; may đâu lúc đó trăng lại
tỏ hơn, nên tôi đặng xem thầy ấy rơ ràng: Thầy chừng ba mươi tám ba mươi chín
tuổi, thấp người; giọng nói đao thương ! Mặt mủi th́ xanh xao mét ưởng, ḿnh th́
ốm o gầy ṃn, lại cái áo ḍng người mặc nó bay phất phơ hai bên làm cho thầy ấy
giống như h́nh con bù nh́nh, để nơi đồng ruộng mà đuổi chim. Tôi mới trả lời
rằng:
“Thưa bởi v́ tôi biết cha sở Bà-rịa lắm, nên tôi tưởng nếu thầy đi Bà-rịa th́
làm sao nay mai tôi cũng gặp thầy.”
Thầy ấy mới trả lời rằng: “Tôi không đi Bà-rịa, tôi đi dưỡng bịnh tại Vũng-tàu,
v́ tôi có bịnh tức đă hai năm nay; song tôi tưởng đi cũng vô ích, v́ tôi biết
tôi không c̣n sống đặng hơn nửa tháng nữa đâu.”
Tôi nghe lời ấy, th́ tôi nói rằng: “Xin thầy đừng nói làm vậy. Chúa ḷng lành vô
cùng người thường làm phép lạ hoài, nên thầy đừng có ngă ḷng nản chí, ít ngày
đây thầy sẽ lành.”
Thầy tu ấy lắc đầu mà nói rằng: “Thầy ôi! Phải thầy biết tội tôi th́ thầy không
muốn cho tôi sống làm chi…”
Nói chưa dức lời thầy lấy tay che mặt mà khóc ṛng.
Tôi thấy vậy mới nói cùng thầy rằng: “Dầu mà tội thầy nặng thế nào th́ Chúa cũng
đă tha cho thầy rồi: v́ thầy chịu cực cũng đă đủ cho nên xin thầy chớ muốn chết
làm chi, v́ thầy c̣n thuộc về những người phải dạy những kẻ chưa biết đạo Chúa;
nên thầy phải sống mà đem những kẻ ấy vào đàng ngay.”
Thầy tu nghe tôi nói như vậy mới cất đầu lên chùi nước mắt mà nh́n tôi và hỏi
chậm chậm rằng: “Thầy đă có đôi bạn chưa?” Tôi thưa rằng: Đă có đặng sáu tháng
nay th́ thầy tu ấy lấy tay mà xô tôi ra cùng nói lớn tiếng rằng:
“Vậy th́ thầy phải xa tôi cho kiếp, kẻo mà sự dữ xảy đến cho, tôi sẽ làm hại
thầy chẳng sai đâu; tôi cũng có đôi bạn như thầy vậy; song phận tôi vô phước! Vô
phước lắm! thầy ôi!”
Nói rồi thầy ấy ôm mặt ḿnh mà khóc một lần nửa; song tôi cũng không ngă ḷng,
tôi nắm tay thầy mà nói rằng: “Tôi thấy thầy buồn bực như vậy, th́ tôi chắc thầy
đă có chịu sự ǵ cực khổ lắm hay là đă làm tội ǵ trọng, sự ấy tôi không muốn
biết làm chi; song xin thầy đừng phiền quá mà làm hại ḿnh, nếu mà thầy có tội
th́ thầy phải sống mà đền tội ấy. Nếu thầy không có tội, mà thầy phải chịu phiền
về sự ǵ, th́ cũng xin thầy phải sống mà chịu cho đến cùng hầu ngày sau sẽ đặng
phần thưởng trọng hơn.”
“Ôi thôi! Thầy đừng an ủi tôi làm chi? Tội tôi đă lớn lắm, và sự cực tôi đă chịu
th́ đă gần quá sức tôi rồi.”
“Thầy ôi! Đă mười năm nay, tôi như thể không c̣n trái tim nữa, trái tim tôi như
thể đă biến hóa ra tro bụi rồi; tôi như thể mất trí khôn vậy. Chớ chi thuở trước
tôi đừng có: ôi thôi! Nói đến chừng nào càng đau đớn ḷng chừng nấy; bây giờ có
một sự chết làm cho tôi quên người đó mà thôi… Tôi có ư đi tu cho đặng trông cậy
có lẽ đọc kinh cầu nguyện th́ sẽ quên người tôi đă đem hết ḷng hết trí mà
thương; song vô ích, thầy! Sự tôi chịu cực mười năm nay th́ đă đủ mà đền tội tôi
rồi. Bây giờ tôi đặng chết bằng an.”
Tôi nghe và thấy sự đau đớn như vậy th́ tôi làm thinh mà để cho thầy ấy khóc.
Khi ấy mới nghĩ trong ḿnh rằng: có lẽ nào dưới thế gian nầy mà có sự ǵ dữ tợn
đến đổi làm cho người ta chịu cực đến mười năm mà chẳng nguôi! Mà thật khi ấy
tôi đang c̣n có phước, c̣n đang lúc sung túc, là v́ tôi mới có vợ đặng ít tháng,
c̣n chí thiết thương nhau nên tôi không hiểu người ta chịu cực làm sao đặng? Tôi
mới tưởng thầy tu ấy đau đớn bịnh hoạn nên lăng trí mà nói vậy chăng? Muốn cho
hẳn tôi mới ngó mà xem thầy ấy cho rơ ràng đặng coi có làm sự ǵ tỏ ra như người
điên chăng?
Tôi vừa ngó một chặp, th́ tôi thấy thầy ngấc mặt lên xem trời mà thở ra rằng: “A
Chúa tôi! rất ḷng lành vô cùng, xin Chúa cho tôi về gặp mặt bạn tôi cho chóng,
dẩu mà tội nó thể nào th́ tôi cũng quên, bởi v́ có lời Chúa đă phán: “Tao tha
lỗi cho bay, như bay tha kẻ có lỗi cùng bay.”
Tôi thấy vậy mới nói rằng: “Điên! Thầy nầy điên!” Thầy tu ấy nghe đặng mới nói
cùng tôi rằng: “Thầy ôi! Thầy c̣n trẻ chưa biết đủ việc đời: hay là c̣n đang lúc
có phước, thầy chưa từng sự đau đớn, nên thầy nói tôi điên, tôi không điên đâu
thầy! Tôi c̣n trí khôn đủ, tôi xin Chúa đừng cho thầy mắc sự tôi phải chịu, xin
Chúa giản ra cho khỏi đầu thầy sự dữ đă xảy đến cho tôi.”
Nói vừa dứt lời, th́ đồng hồ vừa đánh mười giờ, nên tàu thổi hơi cùng mở đổi mà
chạy, làm cho tôi quên thầy tu mà coi người ta sửa soạn lui tàu.
Dầu vậy mặc ḷng cũng c̣n lần lựa chưa muốn xuống mà hỏi. V́ đoán rằng: thầy này
đă nói với tôi rằng: “Xin Chúa hăy dang ra cho khỏi đầu thầy sự dữ đă đến cho
tôi”. Th́ sự dữ ấy là quái gở lắm, cho nên có lẽ thầy tu sẽ chẳng nói ra chăng?
Tôi lần lựa như vậy, cho đến khi tàu đi qua khỏi Xóm-chiếu cho tới đồn Cá-trê,
tôi mới xuống pḥng tôi.
May đâu sự cũng lạ. Ngày đó không có đờn bà quá giang, nên tôi và thầy tu được
một cái pḥng có hai cái giường.
Đang khi đi xuống th́ tôi tưởng thầy ấy thức khuya mệt đă nghỉ rồi cho nên tôi
lại gần pḥng, sẽ lén khoát màn ra nhẹ nhẹ kẻo thầy ấy giực ḿnh thức dậy. Song
tôi vừa bước chơn vô pḥng th́ tôi thấy thầy ấy đang qú gối cúi mặt nơi giường
mà đọc kinh cùng thầm th́ những lời tôi đă nghe nói trên sân khi nảy.
Tôi thấy vậy muốn lui ra cho thầy đọc kinh kẻo lo ra, song tôi vừa bước ra th́
thầy kêu tôi mà nói rằng: “Thầy! Thầy lên giường mà ngủ đừng sợ sự ǵ, tôi đọc
kinh rồi có lẽ tôi nghỉ một chốc đây rồi; tôi sẽ thuật truyện tôi lại cho thầy
nghe.”
Nghe nói vậy th́ trong ḷng tôi mầng lắm, nên tôi lên giường mà nằm; khi ấy ông
thầy cũng lên giường ḿnh. Cách một hồi th́ tôi nghe tiếng thầy ấythở một cách
như thể mệt lắm vậy, tôi cất đầu ngó xuống và hỏi rằng: “Thầy mệt lắm hay sao?
Trong ḿnh thầy làm sao?”
Thầy ấy trả lời rằng: “Không hề ǵ đâu, thầy đừng lo, trong ḿnh tôi như thường.”
Vậy tôi mới nằm xuống; có ư thức đợi thầy ấy nói truyện ḿnh, song mắc mệt nên
lần lần tôi ngủ quên không hay. Gần nửa đêm khi dưới tàu thiên hạ ngủ hết, mọi
nơi đều lẳng lặng, trừ ra tiếng máy ầm ầm, như trống canh nhịp, th́ tôi nghe kêu
rằng: “Thầy ôi! Xuống ngồi gần bên tôi, tôi sẽ nói truyện tôi cho thầy nghe.”
Khi tôi nghe kêu, tôi giựt ḿnh và run sợ cả và ḿnh, v́ tôi nghe như thể tiếng
ấy bởi nơi mồ mà lên kêu tôi vậy. Lại khi đó cửa sổ pḥng tôi mở, nên gió khuya
thổi vô, làm cho tôi lạnh lạnh, th́ lại càng run sợ hơn nữa.
Vậy tôi mới lấy mền trùm lại không trả lời, rồi tôi nghe kêu một lần nữa.
Khi ấy tỉnh trí nhớ trực thầy tu nằm dưới tôi, tôi mới xuống nhắc ghế lại ngồi
gần bên giường thầy ấy.
Tôi vừa ngồi gần một bên, th́ thầy ấy nắm tay tôi, mà nói rằng:
“Thầy ôi! Tôi vô phước lắm, xin Chúa tha tội cho tôi … Tôi là kẻ có tội.”
Nói bấy nhiêu lời th́ chảy nước mắt ṛng ṛng. Dầu mà tôi muốn biết truyện thầy
ấy hết sức mặc ḷng; khi tôi thấy sự cực thầy ấy phải chịu mà thuật lại th́ tôi
nói rằng: “Thầy ôi! Nếu mà sự này làm cực cho thầy th́ xin thầy đừng nói ra làm
chi.”
Thầy ấy trả lời rằng: “Không! Không! Tôi không c̣n sống bao lâu nữa mà giấu tội
tôi. Mười năm nay tôi đă giấu với mọi người không ai hay đặng, tôi đă giả trá
trước mặt người ta và trước mặt các cha nơi trường tôi tu, làm cho ai nấy tưởng
tôi là người nhơn đức, song hẳn thật tôi là đứa tội lổi là ngần nào. Vậy tôi xin
thầy hăy lặng tai mà nghe tôi, v́ đương khi nói mà tôi mệt, th́ có khi phải nín
mà lâu đi chăng?”
Nói rồi th́ thầy ấy nhắm mắt lại, cho đặng nhớ mọi sự trước sau cho đủ hầu sẽ
thuật truyện lại cho cùng.
“Xin thầy ghé tai lại mà nghe.
“Thầy ôi! Tôi là người Bà-rịa, quê quán tôi ở tại Đất-đỏ. Ông già tôi là người
có đạo ḍng tử tế, vốn là người Quảng-b́nh, mà vô ở Đất-đỏ đă lâu; c̣n bà già
tôi là người Gia-định. Tôi sanh ra là năm 1847 nhằm năm Tự-đức tức vị.
“Tôi là con thứ năm mà khi ấy tôi c̣n có một ḿnh, v́ mấy người trước đă chết
khi c̣n nhỏ?
“Khi ấy đạo ta phải chịu nhiều đều khốn cực lắm, v́ chỉ vua dạy bắt những kẻ có
đạo cho nhặt, cho nên kẻ ngoại kiếm thế mà làm hại cho những kẻ ấy luôn.
“Vậy khi tôi đă nên ba tuổi th́ tôi đă biết chịu cực khổ rồi. Khi ấy bà già tôi
được bốn mươi tuổi rồi mắc dịch tả năm 1850 mà chết để tôi lại với ông già tôi
một ḿnh, khi ấy ông già tôi hơn bốn mươi sáu tuổi, mà bà con không c̣n ai cả,
cho nên khi cha tôi đi đâu th́ tôi cũng đi theo luôn: như khi cha tôi đến nhà
nào có cha làm lễ, th́ tôi cũng đi theo. Khi kẻ ngoại hay được, có kẻ đạo hiệp
nhau lại, th́ báo với quan đến bắt. Nên ai nấy đều kiếm phương mà ẩn ḿnh, cho
khỏi chúng nó bắt: nên nhiều lần cha tôi phải đem tôi lên rừng mà trốn cho đến
ba ngày mới về được, th́ trong ba ngày ấy phải ăn những trái cây và rể cây cho
khỏi chết đói mà thôi.
“Từ khi tôi mới sanh ra cho đến hai mươi tuổi, th́ tôi thấy những sự bắt bớ kẻ
có đạo luôn. Lại ông già tôi là trùm họ nên lại càng phải sợ hơn nữa. Ngày chúa
nhựt mà muốn xem lễ cho được, th́ phải chịu nhiều đều rất cam khổ là quá chừng.
Ông cha ở nơi Đất-đỏ th́ phải trốn lánh luôn. Khi th́ làm lễ nhà này khi làm lễ
nhà kia; có khi kẻ ngoại hay đặng th́ lại phải đi xa cách vài ba làng; cho nên
bổn đạo phải chịu muôn vàn sự khốn khó mới t́m đặng cha sở ḿnh.”
Tới đây thầy ấy nín một hồi mà nghỉ cùng nhớ các sự cho đặng tiếp theo truyện
mới nói.
Tôi thấy thầy ấy gác tay trên trán cùng nhắm mắt lại dường như muốn đọc truyện
ḿnh ở trong trí khôn, như một người kia đọc trong một cuốn sách đang khi rồi sẽ
thuật truyện lại, cho nên tôi làm thinh.
“Sự cực tôi chịu đă quá trí tôi rồi”; th́ sự cực ấy là độc dữ là thể nào? Mà sự
cực ấy bởi đâu mà ra? Thầy tu đă nói: “Tôi cũng có đôi bạn như thầy”; mà nay sao
thầy ấy lại là thầy tu? Lại thầy ấy có đọc rằng: “Xin Chúa cho tôi gặp bạn tôi”;
hay là thầy ấy phiền v́ đă mất bạn ḿnh là người ḿnh rất yêu mến lắm, cho nên
phải phiền vậy chăng? Như vậy không có lẽ? nếu phải phiền v́ sự ấy mà thôi th́
không nói rằng: “Dầu tội nó thể nào th́ tôi cũng quên rồi.” Vậy tôi chắc một là
thầy này điên, hai là thầy có làm sự ǵ quái gở quá trí hiểu không đặng.
Tôi c̣n đang suy như vậy th́ tôi nghe thầy ấy ho hai tiếng nhẹ nhẹ rồi nói rằng:
“Thầy ôi! Thầy nghe tôi th́ thầy biết tôi là thể nào? Sanh ra khỏi ḷng mẹ th́
đă chịu cực cho đến lớn. Tưởng khi có trí khôn th́ được sung sướng một ít mà
cũng không được; số phận tôi phải chịu khốn nạn cho đến trọn đời mà thôi.
“Song sự cực tôi đă chịu cho đến mười hai tuổi th́ tính lại không bằng sự tôi sẽ
chịu khi Tây qua. Thuở ấy là năm 1860 tôi được mười ba tuổi th́ tôi nghe nói xôn
xao rằng: “Tỉnh Gia-định đă bị Tây lấy rồi hơn hai ba tháng nay; chừng ít ngày
nữa th́ Tây cũng sẽ qua đánh lấy Biên-hoà cùng Bà-rịa. Kẻ ngoại khi nghe đều ấy
th́ lo sợ, c̣n kẻ có đạo th́ mầng rở, v́ người ta đoán rằng: “Tây qua sẽ binh
vực những người có đạo Datô mà giết những người chẳng giữ đạo ấy.”
“Song người có đạo th́ mầng là v́ trông cậy một ít lâu sẽ đặng thong thả mà giữ
đạo ḿnh mà thôi.
“Phải chi người có đạo biết sự dữ tợn quan Annam sẽ làm cho những kẻ ấy chịu,
khi Tây sẽ đánh lấy Bà-rịa th́ những kẻ ấy chẳng trông đợi như vậy đâu!
“Hẳn thật như vậy, v́ năm sau th́ nghe Tây đă đánh lấy Biên-hoà rồi, c̣n kẻ có
đạo th́ đă bị quan Annam đốt hết, khi ấy ai nấy đều kinh khủng, người th́ sợ Tây
qua giết, người th́ sợ quan Annam đốt trước khi Tây qua. Mà cũng không khỏi v́
cách ít tháng (khi ấy tôi đă nên mười lăm tuổi) th́ có lịnh truyền dạy bắt những
con nhà có đạo cầm tù lại hết; cùng khắc bốn chữ nầy, “Biên-hoà Tả-đạo” trên hai
mép tai, hầu sau có trốn mà bắt cho dễ.
“Tôi và ông già tôi cũng bị bắt cầm một nơi. [2]
“Thầy ôi! Tôi muốn nói sự cực những kẻ bị bắt vô ngục cho thầy nghe, song nói
chẳng đặng. Ban đầu khi những người ở tù c̣n tiền đủ mà cho những người lính
canh th́ c̣n đặng thong thả mà đi việc của ḿnh; mà đến khi hết tiền cho chúng
nó ăn, th́ phải chịu các sự cực khổ muôn phần. Mọi người đều bị đóng trăng hết,
cho nên những kẻ đau đớn bịnh hoạn, hay là những kẻ có việc cần phải đi ra, mà
bị lính không cho đi th́ lại phải làm nhiều sự dơ dáy nơi ḿnh nằm, th́ ngục ấy
hóa ra thúi tha gớm ghiết lắm, nhiều người phải mang bịnh mà chết. Chúng ta chịu
như vậy cho tới bốn tháng trường, đến năm 1862 th́ nghe đồn nói binh Langsa đă
kéo qua đánh lấy Bà-rịa. Nhiều kẻ khi nghe tin ấy th́ mầng, nhiều kẻ th́ sợ,
nhưng mà mầng sợ cũng không bao lâu, v́ binh Tây chưa đến nơi th́ ngục đă bị đốt
ra tro mạt hết rồi. Đến khi lấy đặng Bà-rịa th́ ngục c̣n một đống xương mà
thôi.”
Tới đây tôi chận truyện thầy ấy mà hỏi rằng: “Mà thầy không nói làm sao mà thầy
ra khỏi tù.”
Thầy ấy gặc đầu cùng trả lời rằng: “Ông già tôi trước khi đốt ngục th́ đă xán
bịnh rồi, nên khi đốt ổng nghe tiếng thiên hạ la, th́ ổng ngồi dậy mà coi, song
ổng vừa ngó thấy ngục cháy th́ giực ḿnh té ngửa ra mà chết.” Thầy ôi! Khi tôi
thấy cha tôi chết như vậy, th́ tôi không c̣n muốn sống nữa, tôi mới chạy lại ôm
xác ông già tôi quyết ḷng đợi lửa tới mà chết thui với ông già tôi, song lửa
mới vừa tới cháy hai chơn tôi th́ sự đau đớn làm cho tôi quên hết mọi sự cùng
bắt tôi chạy a ra cửa mà ra khỏi tù.
“Thầy ôi! Trong ngục hết thảy là ba trăm người mà khi ấy c̣n sót lại có mười
người mà thôi.”
Đến đây thầy ấy vổ trán cùng nói rằng: “Đây nầy! Tôi thấy rơ các sự ấy như thể
mới có hôm qua vậy; nó c̣n rơ ràng trong trí tôi đây.” Nói những lời ấy rồi thầy
ấy thở ra một tiếng cùng giấu mặt trong tay ḿnh.
“Vậy khi tôi thấy tôi c̣n một ḿnh bơ vơ giữa đàng không cha không mẹ không bà
con cô bác. Không ai đoái thương th́ tôi quyết lên trên núi liều ḿnh cho thú dữ
ăn đi cho rồi. Tôi phăn phăn đi đặng vài dặm đàng như vậy cho đến khi chơn tôi
bị cháy nó phồng lên mà làm cho tôi đau đớn lắm; đi không nổi nữa, th́ tôi mới
ngồi lại bên đàng mà khóc, khi ấy mặt trời đă lặng rồi, lại tôi phần th́ đau
phần th́ mệt và đói nên tôi té ngửa trong bụi kia cùng bất tỉnh nhơn sự. Tôi
chẳng biết tôi nằm đó là bao lâu, v́ khi tôi tỉnh trí lại mở con mắt ra th́ tôi
thấy tôi ở nơi nhà thương lính, nằm một bên người lính bị thương tích kia, c̣n
dưới chơn tôi th́ có một ông thầy thuốc đang giặc thuốc nơi chơn tôi bị phỏng.
Tôi ở nhà thương hơn bốn mươi ngày; không cục cựa đặng v́ hai chơn tôi bị bó lại,
cho nên đi đâu không được, mà trong bốn mươi ngày ấy th́ có một ông quan ba kia
cách vài ba bữa th́ lại đến thăm tôi một lần. Đến khi hai chơn tôi lành, th́ ông
quan ba đă đến thăm tôi khi tôi đau, cho người kêu tôi lên và biểu người thông
ngôn hỏi tôi rằng: “Mầy c̣n cha mẹ bà con tại Bà-rịa không?”
“Tôi thưa rằng: “Tôi không c̣n ai hết, cha tôi đă chết trong ngục rồi, c̣n mẹ
tôi đă chết khi tôi c̣n nhỏ.” Th́ ông biểu thông ngôn nói cùng tôi rằng: “Tao đă
gặp mầy nằm trong bụi gần chết, tao coi thấy mặt mầy sáng sủa th́ tao thương,
muốn đem mầy về nuôi cho mầy lành; nay tao tưởng mầy c̣n cha mẹ th́ tao cho mầy
về, mà mầy nói mầy không có ai th́ tao đem về Gia-định với tao. Mầy chịu đi
chăng?”
“Tôi mới thưa rằng: “Ông đă cứu tôi cho khỏi chết, bây giờ ông thương tôi muốn
đem tôi về Gia-định mà tôi không đi th́ tôi sẽ bạc ngải và dại dột là dường
nào.”
“Ba bữa sau tôi xuống tàu mà về Gia-định đặng sáu tháng, kế lấy ông quan ba mắc
bệnh phải về Tây, th́ để tôi lại cho Đức cha Lefèbvre.
“Tôi ở giúp đức cha được một năm rưởi cùng học chữ quốc ngữ cho đến năm 1864 th́
đức cha cho tôi vô trường Latinh.
“Khi tôi mới vô nhà trường th́ tôi kết nghĩa làm anh em vuối một người tên là
Verô Liểu, cũng vô trường một lượt cùng tôi. Người ấy là con ông trùm họ Cầu-kho
mà bởi nhỏ hơn tôi hai tuổi, th́ nhường cho tôi làm anh; hai anh em thương nhau
như anh em ruột vậy; chẳng khi nào mà rời nhau, dầu trong nơi học, nơi ngủ, nơi
ăn, th́ cũng gần nhau luôn; khi đến ngày bải trường tôi muốn ở lại trường; song
thầy Liểu một hai không cho, một bắt phải đi về nhà cùng thầy mà thôi.
“Lại cha mẹ thầy Liểu, thấy tôi kết nghĩa với con ḿnh th́ lại đem ḷng thương
tôi như thương con ruột ḿnh, cho nên trong hai năm tôi học nhà trường Latinh,
th́ tôi chẳng thiếu sự ǵ, lại đặng vui ḷng lắm v́ chưng bây giờ tôi thương cha
mẹ thầy Liểu và coi hai ông bà ấy như cha mẹ ruột tôi vậy.
“Học đặng hai năm đến 1866, khi có thầy ḍng qua lập trường d’Adran, th́ hai anh
em xin qua đó mà học. Học đó th́ hai anh em cũng c̣n thiết nghĩa với nhau như
cũ, lại tôi cũng năng về nhà cha mẹ thầy ấy như thường.
Đến năm 1870 là năm có giặt người Allemanha và người Phalangsa đánh cùng nhau
th́ hai anh em tôi ra đi thi tại Saigon. May đâu hai anh em thi đậu một lượt và
lại được sai đi làm việc một nơi tại dinh quan Thượng-thơ cho nên tôi lại c̣n
nương ngụ nơi nhà cha mẹ thầy Liểu nữa.
“Tôi ra làm thông ngôn đặng sáu tháng, khi cha mẹ thầy Liểu thấy tôi ở nơi nhà
ấy mà có ḷng ngại chưa đặng thong thả, th́ lại muốn giúp mà lo đôi bạn cho tôi,
để tôi lập cơ nghiệp đặng ra ở riêng cho thong thả.
“Ôi! Thầy ôi! Phải mà tôi biết người thiết nghĩa ấy sẽ phá sự phước tôi, th́ tôi
sẽ xa lánh người ấy là thể nào? Ấy thầy xem đó mà coi, th́ thầy biết ḷng người
ta giả trá là thể nào? Nó đang c̣n thiết nghĩa với ḿnh hết sức, mà nó kiếm sự
làm cho ḿnh phải khốn không hay.
“Phải chi tôi chết cùng cha tôi trong ngục th́ tôi sẽ khỏi chịu cực cho đến bây
giờ! Ôi! Trong ba mươi lăm năm, tôi đặng hưởng phước không đầy năm năm, c̣n mấy
năm kia th́ những chịu cực chịu khổ mà thôi.”
“Ban đầu khi người đi đến th́ tôi cũng tưởng là như bà con; mà cách ít tháng th́
tôi lại đem ḷng thương, cùng hằng tưởng đến người ấy luôn. Tôi đă thương người
ấy như vậy là một năm chẳng, cho đến khi thi đậu mà ra khỏi trường.
“Song dầu mà tôi thương người ấy mặc ḷng, tôi cũng chẳng tỏ sự ấy ra cho thầy
Liểu là anh em thiết nghĩa với tôi hay.
“Vậy ngày kia nhằm ngày chúa nhựt khi xem lễ về, ông già thầy Liểu rủ tôi ra
vườn đi dạo chơi. Khi đến một đống đá th́ ổng nói cùng tôi rằng: “Ta ngồi đây
nghỉ một chặp và nói chuyện hử Mi Lazare!”
“Khi nghe ổng mời tôi ngồi, th́ trong ḷng tôi bắt hồ nghi có sự ǵ cả thể, cho
nên mới kêu tôi ra ngoài vườn một ḿnh, vậy tôi mới ngồi mà làm thinh.
Ông già thầy Liểu cũng làm thinh một chặp rồi nắm tay tôi mà nói rằng: “Thầy!
Thầy biết xưa nay tôi thương thầy như con ruột tôi vậy, cho nên khi nào bải
trường có con tôi về mà không có thầy th́ tôi cũng trông nhớ thầy lắm.”
“C̣n thầy th́ tôi cũng biết thầy thương hai vợ chồng già tôi như cha mẹ thầy,
cho nên hai vợ chồng tôi cũng mầng, và lại tôi thấy thằng Liểu nó yêu mến thầy
th́ tôi càng mầng hơn nữa, v́ nó đặng bắt chước cách ăn ở thầy mà sửa ḿnh lại
và nó khỏi theo những đứa hoang đàng mà hư đi.”
“Tôi nghe nói như vậy th́ tôi làm thinh cúi đầu xuống mà nghe cho cùng, th́ ông
già thầy Liểu nói rằng:
“Thầy nay đă lớn tuổi rồi, cho nên bữa nay tôi muốn nói mà hỏi thầy có ưng nơi
nào th́ nói ra, cho tôi liệu cho thầy.”
“Xin thầy đừng ngại mà từ chối làm chi. Nếu thầy từ chối th́ sẽ làm cho vợ chồng
tôi buồn bực lắm, tôi không có giàu có muôn hộ chi, song tôi cũng có đủ mà lo
cho thầy cách tử tế v́ thầy là như con tôi. C̣n khi thầy có đôi bạn rồi, mà muốn
ra tư riêng th́ tôi cũng sẽ lo cho thầy đặng đủ mọi sự, mà lập cơ nghiệp riêng.”
“Vậy tôi xin thầy tỏ thật ḷng thầy đă ưng nơi nào cho tôi biết?”
“Tôi trả lời rằng: “Bỏ và vú thấy tôi mồ côi, mà đem tôi về nuôi như con ruột,
mà tôi chưa đền ơn ấy được nay bỏ vú lại muốn lo đôi bạn cho tôi nữa, th́ tôi
khi nào trả nghỉa cho vú bỏ cho xong ơn ấy kể sao cho xiết?”
“Lại tôi xưa rày chưa tưởng đến sự vợ chồng, cho nên chưa chọn nơi nào cho xong.
Ông già mới nói rằng: “Ơn ngải chi đâu mà đền, Mi Lazare! Thầy là con, ta là
cha, thầy nói ngay ra th́ ta sẽ lo cho. Vậy nếu Mi Lazare không biết nơi nào,
thôi để ta chỉ cho.”
“Vậy thầy có biết ở trong làng ta có người con gái nào chừng mười tám tuổi,
thường đến thăm ta đây không?”
“Khi tôi nghe hỏi như vậy th́ tôi dấu mặt lại cho nên ông trùm mới cười mà nói
rằng: “Bộ đây! Mi Lazare cũng biết nàng ấy th́ phải! Cho nên mới dấu mặt lại như
vậy.”
“Khi tôi thấy ông già thầy Liểu hiểu biết ư tôi đă có ḷng thương người ấy, th́
tôi quyết ḷng nói thật ra rằng:
“Thưa với bỏ, xưa nay tôi không tỏ ḷng tôi ra cùng ai, mà nay bỏ đă ḍ ḷng tôi
mà biết rơ sự ấy, th́ tôi xin thú thật. Tôi đă có ḷng thương cô ấy hơn một năm
rưởi nay, mà bởi tôi tưởng tôi là đứa mồ côi không xứng đáng nơi ấy, nên tôi để
trong ḷng không dám tỏ ra cùng ai.” Ông già nghe đặng mới cười lớn lên mà rằng:
“Hả! Hả! không hề ǵ đâu Mi Lazare! Không hề ǵ! Các con trẻ tưởng ông già không
biết chi! Hả! Hả! Già biết rơ hết. Để già hỏi đây, th́ con cháu sẽ ừ liền không
khỏi đâu.”
“Mà thật tháng sau người con gái bà d́ thầy Liểu và tôi đến bàn thờ mà chịu phép
hôn phối.
“Thầy ôi! Nói sự phước hai đứa tôi th́ không cùng, tôi tưởng có ít người mà
thương vợ như tôi. Dầu mà vợ chồng đă về cùng nhau rồi, song ḷng tôi c̣n thương
tưởng như trước.
“Lại bạn tôi gặp tôi th́ cũng lấy làm có phước lắm, v́ cũng có ḷng thương tôi
như tôi đă thương vậy, cho nên không khi nào, dẫu có phiền ḷng thể nào, th́
cũng không nói lời ǵ ra, làm cho tôi nhớ phận tôi là con mồ côi cô độc. Khi ấy
sự phước tôi là vô cùng.
“Tôi với bạn tôi về ở nhà thầy Liểu đặng sáu tháng, kế lấy có tờ quan sai tôi đi
làm thông ngôn tại Bà-rịa.”
Tới đây thầy tu nghe đồng hồ đánh ba giờ khuya th́ thầy ấy la hoảng lên
rằng:”Đó! Đó! thầy! nó nằm đó…! gần chết…! nó nắm tay tôi đây…!”
Rồi nói nhỏ rằng: “Ôi! Tôi là kẻ có tội; tôi là kẻ có tội!” Nói dứt lời, th́
nhắm mắt lại mà nghỉ.
Nghỉ một hồi, thức dậy nói rằng: “Bây giờ mới đến sự cực tôi đây thầy! Tôi về
Bà-rịa đặng hai tháng rồi, mà bởi tôi có làm quen với các quan trong đồn cho nên
thường đi ăn cơm với các quan ấy. Vậy trong các quan th́ có ông quan ba kia có
một con vợ annam.
“Mà con ấy khi thấy tôi th́ làm nhiều cách thể, muốn như xui giục tôi phạm tội
cùng nó, cho nên tôi trốn lánh cho khỏi dịp làm thiệt hại cho vợ ḿnh, vậy lần
lần tôi bớt vô đồn ăn cơm với các quan nữa cho nên tôi đă khuất mặt người đờn bà
ấy đi.
“Qua năm 1872, thầy Liểu thôi làm việc đă bốn tháng nay, xuống tại Bà-rịa mà mua
ngựa đem về Saigon.
“Thầy ấy tới nơi th́ anh em rước nhau mầng rỡ bội phần, v́ cách mặt đă hơn tám
tháng trường, cho nên gặp đặng th́ truyện văn cùng nhau luôn.”
Tới đây thầy tu nắm tay tôi mà nói rằng: “Thầy hăy ghé tai lại đây mà nghe cho
rơ. Đây là đến hai tội tôi, tới đây là tới đầu sự khốn cực tôi. – Tôi mệt lắm,
xin cho tôi nghỉ một chút cùng nhớ các sự cho rơ hơn.”
Tôi lại mở rương ra th́ thấy có một cái thơ; tôi đem cái thơ ấy kề bên đèn mà
đọc rằng:
Bà-rịa, ngày 14 tháng tám năm Tân mùi.
“Kính thăm thầy đặng rơ: người viết thơ nầy là một người xưa nay những tưởng tới
thầy luôn. Dầu mà tôi biết nói thiệt sự nầy ra th́ đau đớn ḷng thầy lắm. Song
là sự chán chường trước con mắt mà nín đi th́ sao đặng?
“Xưa nay ai nấy đều khen bạn thầy là người nhơn đức, hiền lành trung hiếu cùng
chồng lắm, chẳng ai ngờ sự rất quái gở! Tôi không biết làm sao mà người bộ bề
ngoài nhơn đức như vậy, mà có ḷng ngoại t́nh được. Lại sự rất gớm ghiếc hơn, là
người ấy đă chọn bà con ḿnh và bạn hữu thiết nghĩa của chồng ḿnh mà phạm tội
ấy.
“Tôi biết rằng, khi thầy được thơ nầy th́ thầy sẽ nói tôi là một đứa nói gian;
song tôi có đủ tang án mà làm cho thầy tin tôi.
“Vậy xin thầy kiếm trong tủ để áo của bạn thầy, th́ thầy sẽ thấy hai cái thơ của
thầy Liểu gởi cho bạn thầy th́ thầy sẽ biết tôi có nói sai chăng?
“Bấy nhiêu xin thầy nhậm lời cùng miễn chấp.”
Khi tôi đọc thơ rồi th́ thầy tu ấy nói rằng: “Thầy ôi! Ngày kia đang khi vợ
chồng bạn hữu bà con vui vẻ sum vầy cùng nhau th́ sự dữ ấy đến nhà tôi, v́ ngày
ấy tôi đặng cái thơ nầy đây.
“Ôi! Thầy ôi! Nói sự đau đớn ḷng tôi đă chịu khi được thơ ấy th́ không nổi. Tôi
xin thầy đừng khi nào biết sự đau đớn ấy th́ hơn.
“Nhưng vậy dầu cực thể nào tôi cũng làm như không có sự ǵ vậy. Song thật trong
ḷng tôi quyết kiếm thế nào mà báo cừu hai người đă phá sự phước tôi như vậy.
“Ôi! Thầy ôi! Người ta nói rằng: “Chẳng có sự dữ nào mà nó đến một ḿnh đâu, một
sự dữ th́ nó kéo một bầy sự dữ khác theo.
.
“Khi quan tham biện nghe báo như vậy th́ kêu tôi mà hỏi rằng: “Thầy dám lănh
mười tên lính đi bắt ăn cướp chăng?”
“Tôi suy một hồi rồi thưa lại rằng: “Xin quan lớn cho tôi quân lính và thuốc đạn
cụ túc, cho được chống trả phi đảng th́ tôi dám đi.”
“Vậy quan tham biện liền cho tôi đủ quờn phép khí giái quân lính cùng dạy tôi
phải lo xuất hành cho kịp.”
“Khi tôi đặng phép th́ trong ḷng tôi bồi hồi run sợ, nửa vui nửa buồn, v́ tôi
có ư xin đặng đủ quờn phép mà làm một sự quái gở kia, cho bằng ḷng tôi mới thôi.
“Sửa soạn rồi, tới ngày ấy tôi đem mười ba tên lính xuống ghe mà đi. Tôi đi đặng
vài con nước th́ bỏ Tắc-mọi đă xa.
“Vậy ngày sau chừng sáu giờ chiều, tôi thấy phía bên kia sông, đậu gần bên bờ,
một chiếc ghe giống như ghe thầy Liểu vậy. Khi coi đi coi lại, rơ là ghe thầy ấy,
th́ tôi dạy đậu ghe lại ăn cơm, soạn sửa khí giái, v́ tối nay nước lớn th́ sẽ có
ăn cướp mà bắn.
“Phải mà thầy thấy mặt tôi khi ấy th́ thầy sẽ kinh khủng chẳng sai.” Là v́ tôi
khi đó như bị quỉ ám vậy. Một ít nữa th́ tôi sẽ giết một người kia vô tội, mà
bây giờ tôi c̣n gượng mà cười đặng, th́ mặt mủi tôi hóa ra gớm ghiết lắm.
“Vậy khi ăn cơm nước nghỉ ngơi rồi, th́ vừa tới nửa canh ba, nước mới lớn, tôi
liền dạy dưới ghe tắt đèn hết, cho ăn cướp không thấy mà đi qua.
“Súng ống vừa sẵn sàng, th́ vừa ghe thầy Liểu đi giữa ḍng sông, ngang ghe tôi;
tôi liền dạy tên cai đứng nơi lái mà kêu ghé.
“Song người cai mới kêu rằng: “Ghe đi kia ghé!” th́ tôi nghe một viên đạn đi vo
vo bên tai tôi, cùng một tiếng súng nổ nơi ghe thầy Liểu.
“Tôi thấy viên đạn gần trúng tôi th́ tôi giận quá sức cho nên sự tôi hềm thù
thầy Liểu lại càng thêm nữa. Tôi liền la rằng: “Cha! Chả! Nó cự bây! Bắn!
“Tức th́ mười mủi súng day qua ghe thầy Liểu mà phát một lượt; vừa khi ấy tôi
nghe một tiếng rằng: “Cha ôi! Chết tôi!” Tôi nghe tiếng ấy th́ tôi biết là tiếng
thầy Liểu th́ sự giận và sự hềm thù tôi như thể biến đi đâu mất vậy, cho nên tôi
sợ hải và trách ḿnh tôi lắm. Vậy tôi dạy chèo ghe lại có ư coi có phương thế
nào mà cứu thầy ấy chăng.
“Song vừa lại đến nơi th́ thầy Liểu đă tắt hơi rồi. Nên tôi buồn bực trách móc
tôi, cùng khóc lóc lắm, mà tôi khóc tội tôi mà thôi, chớ c̣n thầy Liểu th́ tôi
không thương tiếc chút nào.
“Hỏi cớ sự rồi tôi dạy lính đem ghe vô bờ mà nghĩ cho đặng đến sáng về mà báo
quan.
“Về đến nơi th́ tôi đến tŕnh quan tham biện rằng: “Ngày kia hồi canh ba có một
chiếc ghe đi ngang qua chỗ tôi đậu mà đón bắt kẻ cướp. Thấy ghe ấy đi ngang qua
th́ tôi kêu ghé, song ghe ấy không ghé mà lại bắn lại một phát súng, tôi thấy
vậy tưởng ghe muốn cự th́ dạy lính bắn lại. Bắn rồi chèo ghe ra mà coi, th́ tôi
thấy là ghe thầy Liểu đi mua ngựa về có giấy thông hành tử tế, tôi hỏi bạn th́
bạn thưa rằng: “Khi thầy tôi nghe kêu th́ tưởng là ăn cướp, nên trèo lên mui mà
bắn chúng nó; chẳng ngờ đàng kia tưởng ăn cướp bắn cự th́ bắn lại; mà tại thầy
tôi ở trên mui cho nên bị đạn mà chết đi.”
“Tôi tŕnh rồi, quan tham biện nói rằng: “Thầy có phép quan sai đi bắt ăn cướp,
mà bởi thầy kia đă không hỏi han cho rơ trước khi bắn lại cho nên chết th́ phải
chịu; thầy không tội ǵ!”
“Nói rồi quan tham biện quở trách tôi sao không hỏi cho kỉ càn cùng dạy tôi về
mà chôn cất thầy ấy cho tử tế.
“Vậy thầy ôi! Từ ngày ấy cho đến bây giờ th́ trí tôi không khi nào an đặng, tôi
những thấy súng ống khí giái luôn, nhứt là khi ngủ th́ tôi thấy tôi bị ăn cướp
bắt mà bắn tôi hoài.
“Song dầu mà lương tâm tôi cắn rứt tôi thể nào th́ tôi cũng không quên sự lỗi
của thầy Liểu và của bạn tôi đă phạm với tôi.
“Nhiều lần tôi ở trường án mà về th́ tôi muốn lại hỏi mọi sự ra cho vợ hay mà
tha lỗi cho vợ. Song khi lại gần th́ tôi không muốn nói ra lại tưởng rằng: hỏi
nó th́ nó đương chịu cho đó. Ai dại mà chịu làm cha ăn cướp, bởi vậy cho nên tôi
không khi nào nguôi sự lỗi bạn tôi đă phạm cùng tôi đặng.
“Khi tôi c̣n nhỏ, th́ thường có Mọi hay đến mà bán hàng nơi nhà tôi. Trong mấy
người Mọi đó th́ có một đứa hay ra ngoài vườn mà hái một thứ bông tím tím kia, ở
dưới cỏ mà mọc lên; tôi thấy người ấy hái th́ tôi cũng bắt chước hái chơi. Người
Mọi thấy tôi hái bông đó th́ la tôi biểu đừng có hái, v́ nó là giống độc lắm:
sắc chừng một nắm mà uống th́ phải mắc bịnh lần lần cho đến bảy tám tháng một
năm th́ phải chết: uống vô rồi không thuốc nào mà chữa đặng.
“Khi ấy thầy Liểu đă chết đặng mười lăm bữa rồi. Ngày kia tôi nhớ đến sự cực tôi,
th́ trí khôn tôi nó bắt xao xiến bối rối làm cho tôi như điên vậy, th́ tôi đi ra
vườn cho có gió mát giải phiền một ít.
“Tôi đi chưa đặng giáp ṿng vườn th́ tôi ngó thấy một đám cỏ bông tím dưới chơn
tôi, tôi cúi xuống mà hái nó mà coi, th́ tôi thấy nó là cái bông thuốc độc người
Mọi đă nói với tôi khi trước.
“Vậy tôi nhắm cái bông một hồi, rồi cúi xuống hái một nắm bỏ vô khăn cầm vào nhà.
Thật sự tôi sẽ làm th́ hiểm độc lắm, mà khi tôi vô nhà th́ trí tôi cũng an tỉnh
như tôi mới làm một sự phước vậy.
“Tôi vô nhà thấy bạn tôi đang bắc một cái siêu trên bếp th́ tôi hỏi rằng: “Ḿnh
sắc ǵ đó vậy?” Bạn tôi trả lời: “Ba bốn bữa rày nó bắt tôi ho dữ quá, cho nên
khan tiếng; tôi sắc thử lá nguyệt bạch với chanh uống coi có hết chăng.”
“Tôi làm thinh không nói ǵ, cứ cúi xuống mà ngó cái siêu luôn, tôi ngó cái siêu
th́ thấy cái nắp nó nhảy lên nhảy xuống dường như muốn mời tôi bỏ nắm bông trong
khăn vô đó vậy. Vừa khi ấy bạn tôi lên nhà trên ăn trầu, th́ tôi lại dở nắp siêu
lên bỏ nắm bông ấy vô.
“Khi bạn tôi uống rồi, đến ngày mai th́ không chổi dậy khỏi giường cũng không ăn
uống ǵ đặng.
“Thầy ôi! Khi tôi biết tội tôi trọng là thể nào, cùng khi thấy bạn tôi nằm trên
giường mà than thở th́ tôi buồn bực ăn năn trách ḿnh muốn cứu vợ tôi cho khỏi
chết. Tôi rước không biết là mấy thầy; mà mỗi khi thầy nào đến tôi cũng lắc đầu
hết, v́ khi ấy tiếng người Mọi đă nói với tôi hơn hai mươi năm nay th́ tôi nhớ
lại hết: “Uống vô rồi không thuốc nào cứu đặng”
“Bây giờ mỗi ngày th́ bạn tôi lại thêm ốm o gầy ṃn hoài. Khi tôi thấy bịnh bạn
tôi càng ngày càng nặng hơn chừng nào th́ tôi lại càng trách ḿnh chừng nấy.
“Bạn tôi đau đă hơn mười một tháng song tôi không nghe khi nào bạn tôi mở miệng
ra mà nói cùng than thở đều ǵ; khi thấy tôi buồn th́ kiếm lời dịu dàng mà an ủi
tôi th́ có.
“Ôi! Trong mười một tháng ấy tôi trách ḿnh tôi không biết là bao nhiêu; tôi
buồn bực cho đến đổi có nhiều lần bạn tôi thấy tôi chảy nước mắt ra th́ tưởng
tôi khóc v́ nó, th́ nói cùng tôi rằng: “Xin thầy đừng rầu rỉ làm chi, tôi không
chết đâu; tôi đă chịu thuốc rồi, it ngày đây th́ tôi sẽ lành.”
“Những lời như vậy th́ nó làm cho tôi đau đớn như lưởng gươm đâm thấu vào ḷng
tôi vậy.
“Tôi chịu cực thể ấy cho đến gần nữa năm 1873. Ngày kia tôi thấy bạn tôi mệt lắm
th́ tôi biết đă gần giờ nó phải ĺa khỏi thế rồi, nên tôi ở gần một bên bạn tôi
luôn. Đến nửa đêm khi tôi thấy bạn tôi c̣n thở hơi ra mà thôi th́ tôi không c̣n
trông cậy ǵ về sự sống nó nữa, th́ tôi cho mời các chức đến mà đọc kinh giúp kẻ
mong sanh th́.
“Khi các chức đến đọc kinh cùng kêu chúa đặng một hồi lâu, th́ đồng hồ đánh ba
giờ sáng. Khi ấy bạn tôi bắt tay tôi mà kéo tôi lại một bên miệng mà nói rằng:
“Tôi biết v́ làm sao mà tôi phải chết, song tôi cũng xin Chúa thứ tha cho thầy.”
Nói rồi làm thinh cho đến bốn giờ th́ linh hồn ra khỏi xác.
“Ôi! Thầy ôi! Khi tôi thấy tôi c̣n ở đời một ḿnh th́ sự buồn bực nó đă quá trí
tôi đi. Lại khi tôi tưởng đến hai người, tôi đă thương mến quá chừng mà đă phải
bị tay tôi mà chết th́ tôi buồn bực sợ hải đêm ngày.
“Cho nên khi chôn cất bạn tôi rồi tôi xin thôi làm việc mà lên Saigon đặng xin
Đức cha chuẩn cho tôi vô ở nhà ḍng Tân-định mà tu tŕ đức hạnh ít lâu.
“Tôi vô nhà ḍng rồi, th́ tôi ở một cách sốt sắng lắm: đêm ngày tôi những đọc
kinh cầu nguyện, ăn chay hăm ḿnh cùng học hành siêng năng tử tế lắm cho nên các
thầy bề trên tôi đều bằng ḷng mà khen ngợi tôi hết. Tôi có ư ra sức mà làm các
sự ấy, cho đặng quên hai tội tôi không xưng ra. Bởi vậy, bề ngoài người ta gọi
tôi là người nhơn đức, mà hẳn thật tôi là đứa tội lỗi giả h́nh mà thôi, cho nên
dầu tôi làm thể nào, th́ lương tâm tôi cũng cắn rứt luôn chẳng khi nào cho trí
khôn tôi b́nh an đặng.
“Thầy ôi! Tôi chịu cực mà học như vậy đă đặng sáu năm, chịu đặng chức thầy, cho
đến năm kia là 1882, th́ tôi mắc bịnh nầy; v́ ḿnh tôi đă mệt lại thêm trí tôi
không an nữa th́ nó sanh ra nhiều chứng bịnh lắm.
“Đă hai năm nay tôi ở nhà thương mà uống thuốc, song bịnh tôi càng ngày càng tấn
tới th́ thầy thuốc dạy tôi xuống Vũng-tàu, “ở đó thanh khí có lẽ ông bớt chăng.”
“Nói tới đây th́ trời vừa sáng, tàu đến Vũng-tàu.
Vậy tôi mới nói với thầy ấy rằng: “Tội thầy đă nói với tôi đó là đều độc dữ lắm,
song Chúa nhơn từ vô cùng, c̣n dung thầy sống đến nay th́ thầy phải xưng tội th́
Chúa sẽ tha cho thầy chẳng sai đâu.”
Thầy ấy trả lời rằng: “Thầy đừng sợ làm chi, mai đây cha sở Bà-rịa xuống
Vũng-tàu th́ tôi sẽ xưng tội tôi ra hết, v́ tôi chịu cực cũng đă quá trí rồi.”
Tôi lại hỏi rằng: “Thầy xuống Vũng-tàu mà ở nhà ai?”
Thầy ấy trả lời rằng: “Tôi xuống ở nơi nhà cha Bà-rịa đă cất để mà nghỉ tạm khi
cha xuống Vũng-tàu.”
Nói truyện vừa rồi tàu gieo neo; khi thầy ấy bắt tay tôi từ giả mà lên đất, th́
thầy ngó tôi mà rằng: “Thầy! Coi tôi cho rơ có lẽ ta gặp nhau lần nầy là lần sau
hết. Xin thầy đi bằng an, đến sau khi thầy có xuống Bà-rịa, th́ tôi xin thầy hăy
đọc một kinh nơi mồ LAZARO PHIỀN.” Nói rồi thầy Phiền xuống đ̣ mà lên đất.
Thầy ấy lên đất đặng nữa giờ th́ tàu đi vô Bà-rịa. Tôi ở Bà-rịa, đặng một tuần
lễ, rồi tôi trở lại Saigon không nghe tin thầy Lazaro Phiền nữa cho đến ngày 27
janvier 1884 th́ người đem thơ đam đến nhà tôi một cái thơ. Tôi coi ở ngoài bao
thơ th́ thấy có đóng con dấu Bà-rịa, tôi dở thơ ấy ra th́ thấy đề rằng:
Bà-rịa, ngày 25 janvier 1884
“Kính thăm thầy đặng mạnh giỏi trong chúa Khirixitô, cùng xin Chúa phù hộ cho
hai vợ chồng thầy.
“Thầy ôi! Tôi xưa nay đă giấu tội tôi khi c̣n sống làm cho thiên hạ tưởng tôi là
người trọn lành cho nên trước khi tôi bỏ thế mà xuống nằm nơi tro bụi tôi muốn
cho người ta biết tôi là ai, biết tội tôi là thể nào. Vậy nay tôi mới viết thơ
nầy mà xin thầy giúp tôi làm việc ấy cho nên. Bây giờ có một ḿnh thầy cùng cha
sở Bà-rịa biết các việc tôi mà thôi, mà cha sở người chẳng có phép mà tỏ tội tôi
đă xưng ra với người. Bởi vậy tôi mới dám xin “thầy, khi tôi chết rồi, th́ thuật
truyện tôi lại cho mọi người biết, lại tôi xin thuật truyện sau nầy đặng cho
thầy tiếp theo sự tôi đă nói cùng thầy dưới tàu Jean-Dupuis ngày 12 janvier
1884, có lẽ khi thầy đặng thơ nầy th́ Lazaro Phiền chẳng c̣n ở đời nữa.
“Tôi về Bà-rịa đă đặng ba bữa rày cho đặng gần cha linh hồn, v́ thầy thuốc đă
đoán rằng: tôi không c̣n sống đặng hơn ba ngày nữa. Vậy ngày hôm qua tôi xin cha
cho phép người ta vỏng tôi đi xuống Đất-đỏ mà viếng quê hương tôi một lần sau
hết, ôi! Khi tôi thấy nơi tôi ở thuở c̣n thơ ấu th́ hai hàng nước mắt tôi tuôn
xuống ṛng ṛng.
“Khi ấy trí khôn tôi nhớ trực lại hết những sự trốn lánh cực khổ ông già tôi và
tôi đă chịu khi c̣n bé th́ tôi bước xuống vỏng lại ngồi trên miệng giếng ở trước
nhà tôi thuở trước cùng ôm mặt tôi mà khóc ṛng; một hồi lâu tôi chổi dậy lên
vỏng biểu người ta đem tôi về Bà-rịa.
“Tôi về vừa đến nhà th́ cha sở đưa cho tôi một cái thơ cùng dạy tôi đọc cái thơ
ấy cho đến cùng.
“Tôi dở thơ ra th́ thấy chữ viết trong thơ là chữ đờn bà không có kư tên. Vậy
trong thơ ấy viết thể nầy; tôi xin chép lại đây cho thầy coi:
“Thơ nầy là thơ một người đă làm cho thầy phạm hai tội rất trọng cùng bởi hai
tội ấy mà làm cho thầy chịu cực khổ mười năm nay, tôi cúi lạy thầy! Nay mai th́
thầy sẽ về cùng Chúa cho nên tôi giám đến mà tỏ ra cùng thầy sự thiệt hại tôi đă
làm cho thầy phải chịu, mà xin thầy hăy theo gương Chúa mà lấy ḷng thương xót
tha sự tội ấy cho một người đă có ḷng thật thà mà ăn “năng cùng đền tội ḿnh.
“Lạy thầy tôi là một người đờn bà tội lỗi dại dột cùng bạc ác lắm; thuở tôi c̣n
xuân xanh th́ đă theo đàng tội lỗi mê sa sắc dục thế gian xát thịt, cho đến hai
mươi mốt tuổi. Khi ấy tôi ở với ông quan ba kia ở tại đồn Bà-rịa đă đặng ba
tháng; rồi qua năm 1871 khi tôi thấy thầy xuống làm thông ngôn tại Bà-rịa th́
tôi lại đam ḷng mà thương thầy một cách rất lạ lùng lắm. Ban đầu tôi mướn người
làm cách nọ thể kia mà đam thầy vô đàng tội lỗi cùng tôi mà tôi thấy thầy khinh
dễ chê ghét tôi, th́ tôi lại kiếm thế mà oán thù. Tôi đă kiếm cách thế mà hại
thầy đă hơn hai tháng, vừa may kế lấy thầy Liểu xuống đây mà mua ngựa; nhơn dịp
ấy tôi mới viết hai cái thơ giả chữ thầy Liểu, mà sai người đem giấu hai thơ ấy
nơi áo bạn thầy, rồi tôi gởi một cái thơ khác cho thầy mà cáo gian hai người
nhơn đức ấy.
“Bây giờ thầy biết rơ ràng rằng: Bạn thầy cùng thầy Liểu là ngươiụ vô tội mà đă
bị chết hoan v́ tôi. Cho nên tôi lạy xin thầy tha tội cho tôi, th́ Chúa cũng sẽ
tha tội cho thầy.
“Tôi chẳng dám viết tên tôi vào thơ nầy; tôi xin thầy hỏi cha sở Bà-rịa th́ thầy
sẽ biết tên người đờn bà tội lỗi ấy là ai.”
Qua năm sau, là 1885 nhằm ngày băi trường, tôi xuống Bà-rịa một lần nữa mà thăm
bà con cùng cha sở Bà-rịa.
Ngày kia tôi đi cùng cha sở ra đất thánh mà viếng nhà thờ Tử-đạo, v́ nơi ấy có
ông bà tôi nằm đó. Khi tôi ra khỏi nhà thờ th́ tôi thấy có một cái mồ gần một
bên có cây thánh giá, có đề chữ mà mưa đă làm lu hết c̣n sót bốn chữ: 27 janvier
1884 mà thôi; tôi hỏi cha rằng: “Mồ ấy là mồ ai?” Cha sở trả lời rằng: “Mồ ấy là
mồ thầy kia đă phạm tội trọng lắm, mà khi gần qua đời đă ăn năn tội một cách rất
trọn lành cho nên bây giờ ở tại nước thiên đàng chẳng sai?” Tôi hỏi cha rằng:
“Có phải là mồ thầy Phiền chăng?” Cha sở vừa ừ; th́ tôi qú gối nơi mồ mà đọc
rằng: “Chúng tôi cậy v́ danh Chúa nhơn từ cho linh hồn Lazaro Phiền đặng lên
chốn nghỉ nghơi. Hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng.”
trong ngục thuở bắt đạo khi Tây qua, th́ tôi đă nghe bà già tôi nói lại nhiều
lần; v́ bà già tôi khi ấy cũng bị bắt bị đốt tại Bà-rịa song đă trốn ra khỏi. –
Đă hai mươi năm nay mà bốn chữ “Biên-hoà Tả-đạo” cũng c̣n rơ ràng nơi mép tai
như mới khắc vậy.