Truy-tầm căn-tính
Phần tư thế-kỷ sau 1975, ḍng văn-học Pháp-ngữ đă xoáy phần nào vào thảm-cảnh
ly-hương và hệ-quả của nó: đi t́m căn-tính. Ba thí-dụ tiêu-biểu là La Métisse
Blanche của Kim Lefèvre (Bernard Barrault, Paris, 1989), Calomnies của Linda Lê
(Christian Bourgois, 1993) và La barque của Trần-Quốc-Trung (L’école de loisirs,
Paris, 2001).
So-sánh hoàn-cảnh các tác-giả
Cả hai tác-giả nữ tạp-chủng (lai Việt-Pháp), đă rời Viêt-Nam ở lớp tuổi trẻ để
theo học rồi tốt-nghiệp tại Pháp. Cả hai đều thành-công trong xă-hội. Cả hai đều
viết tiếng Pháp và đều thành-công trong lănh-vực viết văn. Và cả hai đều
tiếp-tục cuộc sống thoải-mái trong xă-hội hiện-tại. Cả hai đều cùng có những
ưu-tư về t́nh-trạng “con-lai” cuả ḿnh. Và bỗng khởi đầu hành-tŕnh t́m về
nguồn-gốc và bản-sắc cuả ḿnh vào thập-niên 1970, khi một số khá đông-đảo người
Việt tỵ-nạn kích-thích óc quan-sát cuả hai bà, đánh-thức tiềm-thức gốc-nguồn
trong họ.
Tác-giả nam ngược lại, sinh-trưởng ở Pháp, giáo-sư, không thông-thạo tiếng Việt
nhưng lại thừa-hưởng gia-tài tinh-thần Việt, đặc-biệt nét sử oai-hùng dân-tộc.
Chưa về Việt-Nam nhưng cậu bé nhân-vật trong truyện đă nói về lịch-sử đất nước
rơ-ràng nhờ trí-nhớ tập-thể gia-đ́nh.
Hành-tŕnh Kim Lefèvre
Kim Lefèvre cứ thản-nhiên sống…không mảy may đặt vấn-đề ḿnh là người Pháp lai
hay ḿnh là người Việt hoàn toàn. Nhưng v́ đám dân Việt tỵ-nạn đông-đảo ở vài
khu phố Paris khiến Kim chợt nhớ ra t́nh-trạng tạp-chủng cuả ḿnh. Không phải là
Tây-lai, Tây-lai-vàng hay Tây-lai-đen mà là ta-lai-trắng, do đó đề cuốn sách đầu
tay cuả Kim là La métisse blanche, nói lên quan-điểm bên ngoại cuả ḿnh, chứ
không phải từ góc nh́n thông-thường quen-thuộc cuả xă-hội bên nội.
Về với nước, với người Việt, Kim Lefèvre nẩy-sinh ư muốn trở về với tiếng mẹ đẻ.
Trong giai-đoạn hiện-tại, qua việc dịch-thuật, giới-thiệu nhiều tác-phẩm Việt
qua tiếng Pháp. Một cuộc về nguồn êm-ả, nhiều thành-công và vui-vẻ.
Trong khuôn-khổ đi t́m căn-tính, nhờ có sự thanh-thản trong ḷng, do thành-công
ngoài đời, Kim Lefèvre đă phóng tầm mắt ra ngoài, phân-tách sự-kiện xă-hội và
lịch-sử, mở rộng chân trời để vinh-danh bản-sắc ḿnh: Kim Lefèvre vạch rơ cái lẽ
thường-t́nh cuả t́nh-trạng con-lai, vui thú khi nhận rơ vị-trí thuận-tiện làm
vai tṛ gạch-nối giưă quê nội và quê ngoại; rồi bắt tay làm việc chuyển-ngữ các
tác-phẩm Việt sang Pháp-ngữ trong khi chờ đợi một cuộc về-nguồn trọn-vẹn với
những tác-phẩm quốc-ngữ cuả chính ḿnh.
Hành-tŕnh Linda Lê
Đường đời cuả Linda Lê gập-ghềnh khúc-khuỷu hơn. Lên sáu, cô rời thiên-đường
Đà-lạt – nơi có ông cha anh-hùng một thời là thần-tượng- và rớt xuống điạ-ngục
Sài-g̣n cho tới khi về Pháp với mẹ và các chị, bỏ lại ông cha bây-giờ thành một
biểu-hiệu cuả thất-bại khốn-cùng. Gia-đ́nh bập-bềnh phiêu-lưu không ổn-định do
sự thiếu-vắng người cha lèo-lái. Linda cũng vươn lên và tạo thành-công riêng.
Nhưng luôn mang theo một mặc-cảm đă bỏ rơi ông cha chết cô-đơn. Và hồi-tưởng lại,
Linda không biết đâu là chân-tướng thật cuả cha: anh-hùng hay khốn-cùng.
Bỗng h́nh-dáng một người cha khác xuất-hiện: người cha thực (biologique) và là
người t́nh cũ cuả bà mẹ cosmopolite: người cha mới này cũng có hai bộ mặt: khi
hào-hoa phong-nhă và lúc giết người như không. Và người t́nh này cuả mẹ đă
lẹ-làng ruồng-bỏ đưá con rơi.
Cái ṿng oan-nghiệt trói buộc: cha trước ḿnh bỏ, cha sau bỏ ḿnh. Mỗi cha
phân-tâm thành hai chân-tướng. Ṿng luẩn-quẩn.
Calomnies gồm hai độc-thoại: độc-thoại cuả người chú khùng với những bật-mí
tủn-mủn; và độc-thoại khắc-khoải cuả người nữ đi t́m căn-tính cuả ḿnh. Linda Lê
vùng-vẫy, vật-lộn, đay-nghiến, rồi thất-vọng, thất-bại, buông xuôi và bỏ ra đi.
Ra đi như một trốn-tránh. Nhưng cũng có thể sẽ là một cuộc truy-tầm mới và
vô-vọng khác. Như người chú nói: Thời đệ-nhất ảo-tưởng đả qua, thời đệ-nhị
ảo-tưởng đang tới. Nhưng cũng có thể là cuộc giải-phóng toàn-diện qua việc
ly-cách với các ràng-buộc quá-khứ.
Hành-tŕnh Trần-Quốc-Trung
Nhân-vật trong La barque là một cậu bé Tây-con trong giai-đoạn vỡ-giọng chuyển
ḿnh từ thiếu-nhi thành thanh-niên, đồng thời là một thanh-niên Việt đóng khuôn
chắc-nịch trong niềm hănh-diện với lịch-sử dân-tộc oai-hùng. Cậu Tây-con nẩy-nở
về thể-xác và tinh-thần như mọi trẻ khác; cậu thanh-niên Việt tinh-thần
đông-lạnh. Cậu không đi t́m căn-tính. Cậu khéo-léo cân-bằng hai con người trong
một. Trong thực-tế, cậu chỉ c̣n phải đi học tiếng Việt để có thể nói chuyện cho
thông-thạo.
Cuộc đi t́m căn-tính cuả hai người nữ, thực ra, cũng là một đoạn-đường mà chính
một số người tỵ-nạn chúng ta, ở thế-hệ rưỡi hay thứ hai, đă hay đang c̣n ṃ-t́m
lối đi, cho ḿnh, và cho các thế-hệ nối tiếp.
Truyện lấy bối-cảnh Việt-Nam
Những truyện này lấy khung-cảnh quê-hương nên có phần tŕnh-bày văn-hóa và
hoàn-cảnh xă-hội. Daughters of River Huong (Những cô con gái Sông Hương) của
Uyên Nicole Dương (Ravensyard Publishing, VA, 2005) là truyện (hư-cấu)
tràng-giang có bối-cảnh là Việt-Nam và trải dài qua nhiều thế-hệ, ḍng-dơi
hoàng-cung rồi lai Pháp, lấy Mỹ, loại tiểu-thuyết với nhiều chi-tiết văn-hóa
lịch-sử qua nhiều thời-đại; tích-chất hư-cấu rơ-ràng. Thể văn tự-kư (écriture de
soi) nhưng do ba phụ-nữ ở ba thế-hệ kể lại, thành ra có nhiều góc-độ nh́n;
thời-gian lẫn-lộn; không-gian trải rộng từ Huế đến Paris rồi Hoa-kỳ, Manhattan,
NY. Truyện về một bà phi của vua Thuận Thành (Thành-Thái/Duy-Tân? Nhưng lại lấy
tên của vua Chàm cuối-cùng Thuận-thành-vương?) và các con, cháu và chắt gái.
Truyện dựa trên dữ-kiện lịch-sử nhưng tiểu-thuyết-hóa, hé chút ít về tâm-tư của
người phụ-nữ và sự biến-chuyển của họ theo thời-gian/thế-hệ/vận-mệnh nước. Cuộc
chiến tương-tàn và định-mệnh tỵ-nạn chỉ c̣n là một phần nhỏ trong bối-cảnh chung
của phụ-nữ Việt qua gần hai thế-kỷ.
Monkey bridge (Cầu khỉ) của Lan-Cao (Penguin book, NY, 1997) xảy vào giai-đoạn
cuối chiến-tranh mất nước, ngắn hơn cuốn trên, gần-gũi với cộng-đồng tỵ-nạn hơn
v́ nói lên tâm-trạng người mẹ, di-dân tỵ-nạn, vật-lộn để thích-hợp với hoàn-cảnh
mới và nương vào sáng-kiến tập-thể để tương-trợ nơi quê người. Trái lại, người
con hội-nhập dễ-dàng hơn tạo nên vị-trí trái-ngược giữa hai thế-hệ, con
quyết-định và bao-bọc cho mẹ. Vấn-đề đi t́m bản-chất không quan-trọng ở đây; cái
chính là làm sao mà thoả-hiệp được bản-sắc của ḿnh và khung-cảnh xă-hội mới
(cho người mẹ) và bản-sắc (Mỹ-hóa của con) so với văn-hóa cũ. Lan-Cao cố-gắng
tạo những h́nh-ảnh văn-hóa phong-tục Việt, đó cũng là điểm sáng-giá của cuốn
sách; tuy-nhiên, cũng có những sai-lầm dễ hiểu đối với người sống xa quê-hương
từ nhỏ; chẳng hạn như việc cắt tai heo khi cô-dâu không c̣n trinh: nhà trai cắt
tai con heo quay khi “lại-quả” (biếu lại một phần lễ nhà trai mang tới) chứ
không phải cắt tai con heo sống cho chạy loăng-quăng.
Riz noir (Cơm đen) của Anna Moï (Gallimard: Folio, 2004) cũng đặt khung-cảnh và
không-gian vào miền Nam Việt-Nam trong khói-lửa, kể chuyện hai cô học-sinh theo
phe cộng-sản và bị bắt, giam ở chuồng cọp Côn-đảo. Rời Việt-Nam khi c̣n
tương-đối trẻ, trở về nước sau ngày thống-nhất, ở cỡ tuổi trên-dưới 40,
kinh-doanh — và thành-công (bán son-phấn và ca-hát trong xă-hội Đổi-mới) Anna
chọn một đề-tài “anh-hùng lăng-mạn”. Cũng như Lan-Cao, cô gài nhiều thông-tin
văn-hóa, tên Việt-Nam để tăng giá-trị kỳ-lạ (exotique). Không có dấu-vết
kinh-nghiệm cá-nhân của người viết. Đề-tài th́ do đọc báo hay nghe kể rồi thêm
mắm thêm muối, xào-xáo, râu-ông-nọ-cắm-cầm-bà-kia, nên tuy là văn tự-kư
(écriture de soi) nhưng độc-giả Việt thấy rơ là giả-tạo như việc cô Cẩm-Nhung bị
tạt a-xít thành Thẩm-Thúy-Hồng (sic), trung-tá Th. thành tướng K., người vợ ghen
thành ông t́nh-nhân giận-dữ; kéo Mỹ-lai cho gần Mỹ-sơn để ghi một chi-tiết Chăm
v.v. Riêng câu chuyện hai chị-em “cộng-sản” có-lẽ cũng khởi nguồn từ một bản tin
do Tom Harkin, một phụ-tá của dân-biểu Neal Smith ghi lại cuộc thăm-viếng
Côn-đảo và tố-cáo sự đối-đăi tồi-tệ các tù-nhân tại đó. Bản tin đăng trong Life
magazine, số ra ngày 17-07-1970. Anna khởi hứng và tạo ra câu chuyện hai chị-em
bị giam trong chuồng cọp, cảnh đổ nước vào miệng (water boarding), cảnh vặn đèn
sáng choang ngày đêm v.v. Nếu thay các tên Phúc-Hải, Côn-đảo bằng Abu-grad,
Guantanamo bay hay Rangoon, Myanmar th́ cũng được. Chuyện một Việt-cộng vừa
thảm-sát một gia-đ́nh không-quân bị ông tướng không-quân bắn trên xa-lộ cũng
“nổi tiếng” trên thế-giới vào dịp Tết Mậu-thân; thế là Anna cũng nhặt lấy ghi
trong cuốn sách. Không thấy bóng-dáng thân-thế và tâm-tư tác-giả trong tác-phẩm,
chỉ thấy hư-cấu do vài bài viết hay bức h́nh trên báo gây khởi-hứng cho Anna
viết làm dáng. Cái tên cũng gây ra chút ngộ-nhận: theo Anna, cơm đen là bát cơm
có đầy ruồi bâu-đậu ở trên mặt. Đối với người Việt “ṛng” thế-hệ trước, cơm đen
là thuốc-phiện; điều mà thế-hệ Anna có thể không c̣n biết.
III. Truy-tầm căn-tính 30 năm sau
Hơn một phần tư thế-kỷ trôi qua, tưởng rằng thế-hệ sau sẽ hội-nhập hoàn-toàn vào
xă-hội đón-nhận, không c̣n thắc-mắc về bản-sắc văn-hóa cha-ông. Vậy mà lại vui
thấy các tác-giả gốc Việt sinh ra tại Hải-ngoại vẫn c̣n có lúc tự vấn về văn-hóa
gốc. Và thấy thương-nhớ, hoặc luyến-tiếc nếu cảm thấy mất-mát.
Saigon is burning (Sài-g̣n khói-lửa) của Laurette Heger (Tate Publishing, Tulsa,
OK, 2006) là truyện tự-kư của một phụ-nữ một phần tư Việt, một phần tư Pháp và
một nửa Thụy-sỹ, nay là công-dân Hoa-kỳ, nói chuyện với con bằng Anh-ngữ, vẫn
c̣n xử-dụng tiếng Pháp khi cần, c̣n nghe và nhớ giọng nói yêu-thương khi nhỏ
nhưng không c̣n nói, đọc và hiểu tiếng Việt nữa. Tác-giả hồi-tưởng ngày thơ-ấu ở
miền Nam, nhớ lại bà ngoại nhai trầu thoát-ly lấy người sĩ-quan Pháp, nhớ mẹ
duyên-dáng hai gịng máu làm say-đắm bao chàng trai nhưng rút-cuộc, lấy anh thợ
đồng-hồ Thụy-sĩ. Nhớ lại nếp sống thanh-b́nh thời Pháp, những lo-âu khi Nhật
chiếm, những hiểm-nghèo khi Việt-minh và Quốc-gia mở các cuộc nổi-dậy rồi
cộng-sản làm dữ, gây khói-lửa chết-chóc. Trong đoạn cuối, Laurette hỏi trên
cơ-thể ḿnh, phần nào là Việt, phần nào là Pháp, vầng trán, bàn tay, nưả thân
bên phải hay bên trái? Và luyến-tiếc phàn-nàn về việc đánh mất văn-hóa Việt bởi
mẹ và bà quá lo cho ḿnh nên đă vô-t́nh gây cuộc diệt-chủng (Việt) trong người
thiếu-nữ tạp-chủng.
Sur Place (Tại chỗ) là một tṛ chơi-chữ của Kim Đoan (Plon, France, 2003) ở đây,
thiếu động-từ. Đi về tại chỗ đó (alller sur place) để nh́n thấy cảnh-vật
tận-nơi-tận-chốn hay là đang ở ngay chính tại chỗ (être sur place). Trong truyện,
Loan cô gái xa nhà sau gần một phần tư thế-kỷ đă đi về tại chỗ đó để chính tai-nghe
mắt-thấy quê-hương cũ. Và bây-giờ, cô đă ở tại chỗ. Nhưng sao phong-cảnh thấy
khác xưa? Và con người cũng khác xưa? Những ngọn đồi Chapa với vẻ văn-hóa
sắc-tộc đặc-biệt, bao cung-điện và lăng-tẩm Huế xưa dấu vết h́nh-bóng cổ-kính,
những con đuờng đầy bóng mát ở thủ-đô cũ cũng khác lạ, hậu-quả của cuộc
hí-trường tạo-hóa bày ra. Loan thành người khách xa-lạ tại chính chỗ cô nghĩ là
(quen-thuộc) của ḿnh và cô đă cất công đi tới đó để t́m-kiếm. Mà rồi không-thấy.
Hội-chứng Từ-thức mô-tả qua biến-chuyển của cảnh-vật theo thời-gian, của người
và của xă-hội. Nhưng ở bề sâu của vấn-đề, ví-thử có một bà tiên hiền-lành như
trong truyện cổ-tích làm cho tất-cả ngủ yên không biến-chuyển trong phần-tư
thế-kỷ, liệu người viễn-khách tha-phương khi trở về, có t́m thấy h́nh-bóng cũ
hay không? Mặt trái của Hội-chứng Từ-thức là chính người trở về chỗ đó, có c̣n
dùng đôi mắt và con tim xưa để mà giao-tiếp với cảnh-vật cũ hay không? Hay chính
ḿnh cũng đă đổi thay? Sự so-le giữa kỷ-niệm và thực-thể không phải là một chiều
mà từ hai phía, theo thời-gian; mà hai tốc-độ biến-chuyển khác nhau. Cuối cùng,
những kỷ-niệm tủn-mủn được nhớ lại, và kết-nối lần-lần, những bí-mật của đời xưa
được bật-mí.
L’arrivée (Tới chốn) (Plon, France, 2005) cũng kể một cuộc trở lại với một
mục-đích, thoạt mới nh́n tưởng là rơ-rệt: t́m một đứa con gái mà ḿnh chót
ruồng-bỏ ngày xưa. Cuộc hành-tŕnh ngược thời-gian và không-gian của một ông lăo—có
thể chỉ c̣n là một hồn ma vất-vưởng hay một gă chờ chết—gậm-nhấm bởi nỗi
khắc-khoải muốn đi t́m đứa con gái hắn đă bỏ rơi, giao cho người bà-con nuôi từ
hơn 20 năm trước. Có phải là bản-năng của con vật muốn t́m lại bầy xưa hay ít
nhất, quay đầu về núi cũ? Hay là thôi-thúc của loài người nói chung muốn muốn
“tính trọn sổ-sách” vào lúc cuối đời? Hay là trăn-trở của một người muốn
ṣng-phẳng với chính ḿnh và con ḿnh vào phút chót? Hay chỉ là cuộc t́m-kiếm
ích-kỷ một người đi t́m dấu-ấn của ḿnh là hạt máu rơi, chứng-tích của mối t́nh
cũ và người yêu không quên nổi? Dù với lư-do nào đi nữa th́ nhân-vật ít gây
cảm-t́nh thân-thương hay thân-thuộc cho người đọc. Có thể có những độc-giả
khó-tính hay nghiêm-khắc c̣n ghét-bỏ hay lên án nhân-vật nữa là khác: hắn
thất-vọng khi đứa con gái
chẳng như hắn mơ-tưởng, không phải là h́nh-bóng của người vợ cũ. Tuy-nhiên, nỗi
đau-khổ ray-rắt, cảnh nửa-sống nửa chết—hay mẩu đời sống già-nua bệnh-hoạn
ngắn-ngủi c̣n sót lại—sự thoi-thóp hiển-nhiên của một đời sống chỉ c̣n nửa vời,
nỗi sanh (của người con) và cái chết (xưa của người mẹ và sắp tới của nhân-vật);
tất-cả chuỗi khổ-đau sinh-lăo-bệnh-tử diễn ra trong cuốn truyện như là một bài
ca tang-tóc ma-quái (marche funèbre) khiến cho chúng ta, dù không có cảm-t́nh
với nhân-vật, vẫn có thể ngậm-ngùi cho thân-phận con người. Kim Doan lại chơi
chữ nghĩa khi chọn tên truyện một cách nửa vời, nước đôi là L’arrivée (Về)Tới
chốn nhưng chính bà đă đề tặng trên một cuốn sách : L’arrivée qui n’en est pas
une, Chuyến về tới chốn nhưng sự-thực chẳng tới chốn : Nhân-vật rốt cuộc không
trọn-vẹn với mục-đích ban-đầu, bỏ ngang chẳng nh́n mặt người con đi t́m mà ra đi
trong hiu-quạnh, không c̣n tha-thiết việc lắp đầy sự vắng-không của đời ḿnh
bằng h́nh-ảnh thực của người con gái nữa.
IV. La princesse et le pêcheur (Nàng công-chúa và anh đánh cá)
Trần Huy-Minh (Acted Sud, 2007)
Tác-giả là một phụ-nữ trẻ kể lại kinh-nghiệm hồi dạy-th́, ṃ-mẫm khám-phá cùng
một lúc, t́nh bạn trai, ḷng quê-hương, văn-hóa cổ-truyền. Chưa đầy ba-chục
xuân-xanh, cô kể lại chuyện xưa: sinh-trưởng tại Paris, học-sinh xuất-sắc,
suy-nghĩ và cư-xử như thể mọi thiếu-nữ tuổi trăng rằm; cô lên tàu sang Luân-đôn
thực-hành Anh-ngữ, tự-nhiên thấy gần-gũi với một bạn trai gốc Việt thuyền-nhân.
Gặp rồi tan, h́nh như không có lư-do chính-đáng, hay đúng hơn, không có lư-do
như những cuộc gặp-gỡ hụt-hẫng vào lớp tuổi đó. Nhưng c̣n lại chút dấu-ấn khiến
cô gái muốn t́m hiểu thêm về ḿnh, về quê-hương và văn-hóa gốc. Cô về thăm Việt-Nam
và lần-lần, hiểu hơn về nước nhà, về hoàn-cảnh chiến-tranh, về t́nh-cảnh của
người bạn cùng là một số bí-mật gia-đ́nh mà cha-mẹ bao-bọc tránh không kể cho
con.
Ở tầng trên, câu chuyện t́nh nhẹ-nhàng ngắn-ngủi của cô gợi một cảm-nhận buồn
man-mác vô-thường như cuộc t́nh thoáng qua ngắn-ngủi giữa tiếng hát Trương-Chi
và khóe mắt của cô gái quyền-quư. Nhưng ở tầng dưới là ḷng cô ray-rắt muốn
xác-nhận bản-sắc, dựa vào hồi-ức, mong t́m lại liên-hệ cội-nguồn, dần-dần
phát-hiện ra những vết thương chưa lành da non của những thảm-kịch nhỏ trong
gia-đ́nh trên quê-hương, những thảm-kịch lớn nát gan xé ruột của cả xă-hội bị
tàn-phá, trong đó có gia-đ́nh người bạn trai xưa. Và thảm-kịch riêng của người
anh bỏ em gái ra đi giống như trong cổ-tích.
Ư-thức Việt
Câu truyện t́nh ngắn ngủi tuổi mười-lăm đánh thức cô gái Việt trong Lan, sinh
trưởng và sống hồn-nhiên như một cô học-sinh Pháp xuất-sắc, được cha-mẹ bao-bọc
che-chở trong một môi-trường vững-chắc êm-ả:
Quand j’étais petite, le monde était merveilleusement rassurant: je m’imaginais
en Cendrillon ou en Peau d’Ane, et tenais pour acquis le triomphe des bons sur
les méchants, la renaissance des orphelines en princesses et la métamorphose des
villains petits canards en cygnes gracieux. (tr. 13)
Cô bị giằng-co giữa cha-mẹ muốn cô được hoàn-toàn vô-tư và bà nội luôn lôi-kéo
cô về cội-nguồn mà cô không thấy chút ǵ ràng buộc.
Mes parents n’aimaient pas revenir sur le passé et, pour ma part, j’éprouvais
une certaine méfiance vis-à-vis de toute forme de “retour aux sources” ou de
“pèlerinage sur le lieux des origines”…Il était aussi inutile de renier que de
se charger du poids du passé…(tr. 46)
Cho đến ngày cô gặp người bạn trai mà cô có cảm-t́nh ngay. Cô tả anh ta và cho
một chi-tiết ngồ-ngộ:
Il me plaisait si fort que je ne pouvais poser sur lui sans les détourner
aussitôt…Ses cheveux étaient d’un noir brilliant, comme des cristaux de charbon…(tr.16)
Cô gái ngây-thơ chưa nhận ra là một trong các yếu-tố—nếu không phải là điều
quan-trọng—khiến cô để ư tới cu cậu là v́ cu cậu là người Việt với bộ tóc đen
nhánh. Hai người kể chuyện; mà chuyện lại là cổ-tích Việt: Tại sao nước biển mặn.
Cuốn sách cũng bắt đầu bằng một cổ-tích:
Il était une fois deux orphelins qui habitaient un petit village. L’aîné était
déjà un jeune home; sa soeur en revanche n’avait pas six ans. Ils avaient perdu
leurs parents lors d’une inondation durant la saison des pluies et ne vivaient
plus que l’un pour l’autre. (tr. 11)
Nam là một thuyền-nhân tỵ-nạn nói tiếng Pháp c̣n nhiều lỗi văn-phạm giọng Việt
hơi vụng-về giống cha. Nam nói về truyện Tấm Cám, truyện nỏ-thần, Hồ Hoàn-kiếm.
Thành ra, tuy bề ngoài, Lan xử-sự như một cô gái Pháp, xoi kỹ trong thâm-tâm,
vẫn c̣n chút phân-vân về cội-nguồn mà cô chưa nhận ra, cho đến khi Nam tóc-đen
xuất-hiện và đánh thức cái tiềm-thức đó.
Cổ-tích và định-mệnh
Cổ-tích có truyền-thống truyền-khẩu và tải theo văn-hóa tông-tộc. Trong khi cha-mẹ
bao-bọc che-chở Lan bằng cách không nhắc tới những kinh-nghiệm đau-thương th́ bà
nội lại nhắc lại những giá-trị tinh-thần dân-tộc qua các cổ-tích. Khi gặp Nam cô
có dịp đào xâu thêm kho-tàng văn-hóa dân-tộc đó. Một cách mê-say; như để bù-đắp
cho xuốt thời-gian vô-tư như một trẻ em bản-xứ. Và các cổ-tích ấy, đôi khi có
âm-hưởng trên định-mệnh con người và trên chính tác-giả.
Cái tựa-đề công-chúa và chàng đánh-cá áp-dụng cho mối t́nh thoáng-qua; đề chỉ
được giải-thích ở phần tư cuốn sách, trang 141-3 khi bà-nội kể cho nghe truyện
anh đánh-cá. Nhưng cổ-tích đích-thực giải-mă truyện t́nh đứt quăng chính là tích
Hồn Vọng-phu mà tác-giả dùng nhiều đoạn ngắn để mở đầu mỗi chương và tiếp-tục
suốt cuốn sách. Lần-lần hé-lộ ra lư-do thầm-kín khiến Nam bỏ ra đi: Trong khi
Lan có nhiều cảm-t́nh lăng-mạn th́ Nam coi Lan là h́nh-ảnh cô em gái xa-vắng.
- C’est drôle, je trouve qu’on se ressemble.
- On a les cheveux noirs, et les yeux bridés, ça fait deux points communs, c’est
sûr.
- Il y a aussi les yeux, la bouche…L’allure. Tu pourrais être ma soeur. Non?
(tr. 36)
Người em gái đó, Nam muốn quên đi. Hai anh em rất gần-gũi với nhau như trong
cổ-tích nhưng hoàn-cảnh riêng khiến Nam đă bỏ em để đi Pháp. Cô em đă ghi lại
tích Hồn-Vọng-phu trong một cuốn sổ b́a da nhỏ và trao cho Nam để làm kỷ-niệm.
Đọc lại đoạn vừa dẫn trên, câu trên nói về tóc và đuôi mắt là đặc-điểm chung
người Á-đông, giữa Lan và Nam; nhưng câu dưới, mắt, miệng và dáng-điệu vạch ra
sự giống h́nh-hài giữa em của Nam và Lan. Thành ra mấy câu trao-đổi nối-tiếp
nhau nhưng câu cuối ngụ một ư khác, có khi chưa nhận ra khi nghe nhanh lần đầu.
Phải lâu về sau chắc Lan mới thấu-hiểu hết ư-nghĩa của câu nói đó.
-Et ta soeur, tu penses à elle?
Il a eu un silence.
-Non, et c’est mieux comme ça.
De pensive, la voix s’était faite tranchante. Presque cruelle, et Nam s’est
détourné de moi avec un geste d’impatience. (tr. 88)
Từ đó, Nam lâm vào cảnh tiến-thoái lưỡng-nan. Lan là h́nh-ảnh cô em gái và cô em
gái là bức rào ngăn-cản: tiến tới với Lan thành cuộc t́nh ngoại-lệ như trong
cổ-tích —loạn-luân theo tiêu-chuẩn thông-thường trong một xă-hội cổ-kính— bỏ ra
đi để tránh th́ cũng vẫn y-chang như trong cổ-tích Hồn vọng-phu. Nam trở thành
một nhân-vật bi-hùng trong bản kịch cổ Hy-lạp, một nạn-nhân của định-mệnh, không
lối thoát. V́ hoàn-cảnh đă bỏ em gái đi Pháp. Nay lại phải bỏ Lan.
Chữ-nghĩa và Ẩn-dụ
Tác-giả giới-thiệu ḿnh thích đọc sách, chơi nhạc và coi phim. Như một phụ-nữ
trí-thức Âu hay một sinh-viên văn-khoa chăm-chỉ với cuộc sống sách-vở hơn là
thực-tế.
Films et romans m’aidaient à supporter l’ennui des jours alignés les uns après
les autres comme des voitures embouteillées, et je ne me préoccupais guère,
alors, des rapports qu’entretenaient le réel et la fiction; le monde mis en mots
ou fixé sur pellicules était plus riche que celui je côtoyais tous les jours,
voilà tout, et j’en avais fait ma nourriture, ma drogue, ma perfusion.
Je me suis ainsi peu à peu constitué une culture éclectique, mais à trous, et
dénuée de toute hiérarchie. (tr. 27-8)
Rồi chứng-minh hơi lộ-liễu lúc lục túi cho Nam xem đống sách ḿnh mang đi theo.
Hay phô-trương— một cách hơi làm dáng—những tác-giả lớn kể-dẫn khắp nơi, thi-sĩ,
triết-gia v.v.
Nhưng hai yếu-tố rất đặc-biệt của truyện là sự phong-phú về cổ-tích và ẩn-dụ.
Ngoài mấy cổ-tích có dính-dáng gần-gũi với câu truyện, c̣n bao nhiêu truyện khác
được kể tóm-tắt hay nhắc đến Tại sao nước biển mặn (tr.16-20), Tâm-Cám, Nỏ-thần
(tr.20), Hồ Hoàn-kiếm (tr.54), Anh dân-đen lấy con gái Ngọc-Hoàng Thượng-đế
(tr.72-3), Trầu cau (tr.84-7), những truyện thần-tiên phong-thổ, Hai Bà Trưng,
Mỵ-châu Trọng-thủy (tr.139), Dạ-Tràng (tr.140), Thiên-mụ (tr.143). Trong
thời-gian sau này, cô càng nghiên-cứu các cổ-tích, ghi-chép kỹ-lưỡng mỗi khi
nghe được. Rồi như tiếc rẻ không có chổ để dồn hết vào trong sách, tác-giả viết
thêm một cuốn sách đi kèm theo, tuyền về cổ-tích dân-gian.
Ẩn-dụ là một điểm phong-phú khác của tác-phẩm. Có những cái dẫn ra và dễ hiểu:
Chàng đanh-cá và mối t́nh ngắn-ngủi; Hồn Vọng phu, t́nh anh-em ngoài luân-lư
thường-t́nh. Cũng có cái kín-đáo hơn: Lan cho hay một lư-do cô có cảm-t́nh với
Nam v́ Nam có nhiều điểm giống cha của Lan; và ngay sau đó, bày tỏ ḷng yêu-mến
cha. Ẩn-dụ Oedipe không nhắc nhưng vương-vẩn đây đó.
Son timbre était doux et grave, Presque un soufflé, avec un pointe d’accent
vietnamien qui donnait à sa prononciation du français une gaucherie qui me
touchait parce qu’elle me rappelait mon père. J’éprouvais beaucoup de tendresse
pour ce dernier. (tr. 31-2)
Có ẩn-dụ không nói ra và chỉ có ai hiểu nhiều văn-hóa Á-đông mới dể-dàng nắm
được khi vài lần, Nam gọi Lan là Papillon, bướm bay. Có phải là bướm bay cho
ai-kia theo đuổi? hoặc giả bướm trong giấc mộng là người hay người trong mộng là
bướm? hay là h́nh-ảnh người em gái? Câu truyện tại sao nước biển mặn tưởng như
vô-can, một câu chuyện vẩn-vơ nhưng về sự xa-cách giữa Nam và người anh, độc-giả
có thể hỏi phải chăng đây Lan muốn nói xa-gần đến sự thiếu gần-gũi, như thể
vô-t́nh của hai người tựa như giữa hai anh-em Seo và Tâm? Hăy đọc lại một lần
nữa để thấy Nam nhạy-cảm với Tâm và chỉ-trích Seo cùng là sự kết-cấu và kết-thúc
của chuyện, bỏ quyên Tâm lạc-lơng, tựa như hoàn-cảnh của Nam vậy.
J’ai juste une question: qu’est-ce que devient Tâm?
L’histoire ne disait pas…
Aucune idée.
Il se retrouve sans rien, comme avant?
Je crois bien.
C’est limite…
Oui, ça me contrerait aussi quand j’étais petite…
Tu parles! Un conte, c’est pas faitre pour être “réaliste”. On punit le méchant
et on sauve Tâm, c’est la règle. Là, il passe pour une andouille…Comment veux-tu
qu’on s’en sorte si même dans les histories, les innoncents se font avoir? (tr.
20-1)
Lan cũng nhắc đến câu truyện về Arsene Lupin về Người phụ-nữ có hai nụ cười, lúc
đầu tưởng là một người bị phân-tâm nhưng sau hóa ra hai người giống nhau, ngược
với phim Vertigo của Hitchkoch trong đó tưởng có hai phụ-nữ nhưng lại chỉ là một
người mà thôi. Phải đọc đến cuối mới thấy Lan, qua mắt của Nam, là một phiên-bản
của cô em gái xa-vắng với đôi mắt, cửa miệng và dáng-điệu giống nhau. Mối t́nh
với em gái được lập lại với Lan và cả hai mối t́nh đều là định-mệnh, không thể
trọn-vẹn.
Đời sống nội-tâm
Một thiếu-nữ mơ-mộng với sách, phim và nhạc, sống với cổ-tích, ưa ẩn-dụ thường
có một nội-tâm phong-phú, nh́n sự-việc chung-quanh dễ thấy đời như tiểu-thuyết:
bà nội biếu nhẫn cưới khi “bị” quyên tiền phải chăng là phảng-phất bản cũ
Scarlett O’hara lập lại?
Cô dể-dàng thấy ẩn-dụ trong đời sống. Nếu cần, Lan c̣n dễ-dăi “sửa-sai
điều-chỉnh” cổ-tích cho hợp với hoàn-cảnh. Có khi chỉ dùng một mẩu truyện. Chỉ
dùng nửa tích anh đánh-cá cho một cuộc t́nh ngắn-ngủi thoáng qua (ít nhất theo
nhăn-quan Mỵ-nương). Lại đổi Mỵ-nương thành công-chúa, dựa vào tích công-chúa
con Ngọc-hoàng Thượng-đế cành vàng lá ngọc hạ ḿnh lấy người dân-dă. Giống như
Nam đă viết lúc từ-biệt:
Tu es quelqu’un de bien et moi pas. (tr. 117)
Sự ra đi trở thành cuộc chạy trốn định-mệnh. Nên đề ư thêm việc Lan thay đổi tên
anh chàng đánh cá thành Thương. Không phải là lầm-lẫn hay một lỗi chính-tả hay
xếp chữ v́ trong cuốn Le lac né en une nuit et autres légendes du Việtnam ,
tác-giả giữ đúng tên Trương-Chi cho chành đánh-cá. Có phải là cô không thích tên
anh chồng hay ghen-bóng-ghen-gió đă ghen cả với bóng ḿnh mà gián-tiếp giết
người vợ oan? để rồi dân đă thương-cảm dựng miếu thờ tới nay c̣n nghi-ngút đầu
ghềnh tỏa khói hương? Có lẽ đúng hơn là cô muốn chơi chữ dùng tên Thương như
biểu-tượng của t́nh yêu? Nói một cách khác, không phải cô chỉ kê một chuỗi
cổ-tích ẩn-dụ mà hơn nữa, cô lồng dọc, xếp ngang và đan chéo các ẩn-dụ quấn-quít
(allegorie)
Lan quá t́nh-cảm, quá sâu-sắc; biết quá nhiều; tài mệnh có ḥa-hiệp không. Như
người nữ sắc-sảo khôn-ngoan, vô-duyên là truyện hồng-nhan đă đành, lại mang lấy
một chữ t́nh, khư-khư ḿnh buộc lấy ḿnh vào trong?
Cái trội của Lan là cô đă có căn tu, hiểu được cái vô-thường và chấp-nhận
số-mệnh trong những việc xảy ra trong đời. Từ đó mà ḱm được cái thất t́nh tránh
khổ-năo, khi xa-cách người bạn trai yêu-thương
Mono no aware. Dans la vie, on croise des gens précieux, qu’on voudrait garder
toujours aupres de soi, mais qui, pour des raisons qui ne tiennent ni à eux, ni
à nous, sont forcés de s’en aller. Ce n’est pas qu’ils nous abandonment de leur
plein gré, ni que nous sommes coupables de n’avoir pas su les retenir, c’est
juste que, parfois, il ne peut être autrement. (tr. 187)
Tự-truyện
Truyện viết theo thể-loại tự-kư (écriture de soi) nghĩa là ngôi thứ nhất, ḿnh
viết về ḿnh. Nhưng tự-truyện viết ngược lại thời-gian, cho nên tác-giả cho
những kư-hiệu để báo cho độc-giả rằng ở đây, tác-giả (khoảng ba-chục tuổi) viết
về ḿnh thuở trước, một thiếu-nữ mười-lăm tuổi (mười-lăm năm trước) bằng cách
gợi trong trí-nhớ rồi nói về ḿnh ở ngôi-vị thứ ba. Cô kể mùa hè, khi dạo bên bờ
sông Seine, cô c̣n mường-tượng trông thấy
deux adolescents d’origine asiatique qui discutent accoudés au bastingage,
sourcils froncés sous le soleil. Leur sourire n’en est pas moins joyeux, leurs
gestes animés, leurs visages frais, bronzes, vivifiés par les embruns et le vent
qui gonfle leurs cheveux. Ils ont l’air d’être frère et soeur. Elle est dotée
d’un joli minois… (tr. 15)
Tự-truyện cần trung-thực và viết theo trí-nhớ; mà trí-nhớ th́ không hoàn-hảo. Do
đó, tác-giả không quả-quyết biết và hiểu đúng mọi truyện ngay cả khi ḿnh là
nhân-vật chính bên người bạn mới. Nên Lan cẩn-thận rào-trước đón-sau, tôi không
biết rơ hay là chính những kỷ-niệm hay suy-diễn cũng có thể sai-lầm.
Je n’ai pas de certitude et il me semble parfois que même si j’avais le pouvoir
de mettre au jour tout ce que ma mémoire a enfoui, je ne ferais que rouler des
cendres entre mes doigts.
Les indices peinent à se raccorder, et mes souvenirs mêmes ont leur part de
mensonge. J’ai brodé sur des manques, interprété à tort ou à raison des
allusions faites en passant, et Nam, où qu’il soit, n’est plus là pour confirmer
ou infirmer les hypothèses que j’ai pu élaborer. (tr. 80-1)
Những lời báo trước đó khiến có những chỗ độc-giả không thể hiểu được đâu là sự
thực nhất là khi nghe Nam nói. Có những chỗ Nam nói thẳng về Lan và đó là thực.
Tu es quelqu’un de bien et moi, pas. (tr. 117)
Nhưng cũng có những khi Nam nói với Lan nhưng độc-giả không biết rơ đó là nói
cho Lan hay cho chính em gái của ḿnh. Lúc mới nghe tưởng như Nam nói với Lan
sau khi hôn nhẹ lên má nàng (không phải lên môi!), nhưng càng đi xâu vào câu
chuyện, thấy có thể là nói với em gái, hay là nói với cả hai?
Ne fais pas attention, papillon, c’était juste une blague. Ca me plait de
t’asticoter, il y a toujours un moment ou un autre où tu demandes si je suis
sérieux. En tout cas, tu peux être sûre d’une chose, c’est que je t’aime comme
je n’ai jamais aimé personne…
Mặc dù xác-nhận trí-nhớ có thể nhầm-lẫn hay thêm-thắt, Lan cũng rất khôn-khéo;
khi nào cần nhấn-mạnh đến một việc có thực, cô lại quả-quyết giải-thích tại sao
lúc đó, trí-nhớ của cô lại toàn-hảo và kỷ-niệm lúc này rất chính-xác: tại v́ nó
có bấu-víu vào một vài chi-tiết chắc-chắn.
Une scène me reste, cependant, qui me semble moins sujette à caution parce
qu’elle se déroulait lors de circonstances précises. (tr. 81)
Một điểm đặc-biệt của tự-truyện là tính-cách diễn-giải tại sao các kinh-nghiệm
sống đă tạo nên tác-giả thành con người hiện-nay. Nhân-vật Lan hiển-nhiên đă
biến-đổi từ một thiếu-nữ trăng-tṛn vô-tư-lự không chú-trọng nhiều đến cội-nguồn
nay thành một phụ-nữ Việt biết cảm-thông với cái đau chung của đất-nước và của
dân-tộc, trong đó có gia-đ́nh của Lan; hiểu hoàn-cảnh của Nam và chấp-nhận những
cuộc xa-cách hay mất-mát qua lẽ vô-thường Mono no aware. Hay có những thế-giới
song-hành và các cây cầu đặc-biệt khiến cho một thành-phần bên này lạc sang bên
kia trong chốc-lát, như Từ-Thức nhập Thiên-thai, rồi trở lại bên này; nhưng Lan
không c̣n ra-riết đ̣i-hỏi hay thương-tiếc mà chỉ nhớ loáng-thoáng với một thoáng
bâng-khuâng.
Qu’il est possible de s’affranchir du réel, qu’il existe des univers parallèles
et des passerelles qui permettent de circuler, de glisser de l’un à l’autre; et
que c’est ce qui arrive à certaines personnes dont on a été indiciblement proche
avant qu’elles s’évanouissent de votre existence. (tr. 187)
Lúc này cô đă thực-sự trưởng-thành: kết-quả của một giai-đoạn đời ḿnh nhiều năm
về trước.
Plusieurs années se sont écoulées. (tr. 185)
Bản-sắc và ly-hương
Mươi năm trước đă bàn về việc đi t́m bản-sắc trong giới Việt viết văn Pháp. Ba
mười năm sau ly-hương, vẫn thấy các ray-rứt t́m-kiếm bản-sắc đó. Nên cũng nên
so-sánh La princesse et le pêcheur trong mảng văn-học ngoại-ngữ ly-hương.
So với Kim Lefèvre, đặc-biệt trong La Métisse Blanche, thấy cùng một cuộc gặp-gỡ
ngẫu-nhiên đă gợi cho hai tác-giả đi t́m cội-nguồn. Cuộc gặp-gỡ của Kim với số
đông người Việt tại khu Á-đông Ba-lê, c̣n về Huy-Minh, đó là một thuyền-nhân
trong câu-truyện t́nh-cảm lăng-mạn. Kim có hai sự tạp-chủng chồng-chất:
ḍng-giống và văn-hóa; Huy-Minh thuần văn-hóa. Kim đă lớn, có địa-vị, ḷng
ổn-định, ung-dung trở về t́m kỷ-niệm cá-nhân, đóng-góp làm cây-cầu văn-hóa
giới-thiệu các tác-phẩm tiềng Việt cho thế-giới Pháp-thoại qua việc chuyển-ngữ
các truyện cận-đại; Huy-Minh ở lớp tuổi ô-mai đă dần trưởng-thành và thanh-thản
chấp-nhận sự đời.
Linda Lê qua Calomnies và Voix có chung với Kim Lefèvre sự tạp-chủng kép nhưng
truyện kể cùng vào lớp tuổi trong La Princesse với những kinh-nghiệm xây-dựng
cá-tính. Linda ít thay đổi, gay-gắt hơn, và kết thúc một truyện với điệp-khúc Je
m’en vais…J’e m’en vais. Và truyện kia cũng với một cuộc ra đi Je dois
repartir…Je m’enfonce dans le chemin de la neige. Linda cũng cho ra nhiều
đầu-sách có vẻ “ít hậu” hơn như Fuir và In memoriam. Trái lại, Lan lấy lại được
thăng-bằng trong cuộc đời, “triết-lư” hơn và thanh-thản hơn qua châm-ngôn Mono
no aware. Cùng cuốn cổ-tích tươi-sáng.
Cùng sinh-trưởng ở Pháp, không trực-tiếp với thực-cảnh ở nước nhà, hoàn-toàn
thành-công trong văn-hóa tại-chỗ, Huy-Minh có những điểm đó giống
Trần-Quốc-Trung trong La barque và Pigeons: mode d’emploi. Khác ở môi-trường
gia-đ́nh. Huy-Minh bị giằng-co giữa gia-đ́nh nửa-vời: bà truyền văn-hóa Việt qua
cổ-tích, cha mẹ đưa đi học cách phát âm o, ó, ̣, ỏ , ơ và ọ; nhưng họ lại
bao-bọc che-chở cô bằng cách né-tránh kể thảm-cảnh thật trong đời họ. Ngược lại,
Trung được hưởng truyền-thống anh-hùng đấu-tranh của dân-tộc qua lịch-sử dân-tộc
và của gia-đ́nh qua người chú, nạn-nhân thực của nhóm nắm-quyền chuyên-chế. Do
đó, trong Adrien có hai nhân-vật: cậu bé “bổn-xứ” trong lớp tuổi hun-đúc cá-tính
và một người Việt trưởng-thành, đóng-khung trong niềm hănh-diện dân-tộc. Cậu bé
bổn-xứ tiếp-tục tiến-lên c̣n “ông-cụ-non” Việt đông-đặc không biến-chuyển. Lan
có một tiến-triển hài-ḥa hơn trong lúc trưởng-thành, lúc hiểu-biết cội-nguồn và
lúc tiếp-nhận triết-lư Mono no aware.
Nicole Uyên Dương trong Daughters of the River Hương kể về lịch-sử tiến-triển
của phụ-nữ trong nhiều thế-hệ liên-tiếp trong hơn một thế-kỷ; những thảm-kịch
chiến-tranh dẫn đến cảnh ly-hương chỉ chiếm một phần nhỏ trong toàn-bộ. Anna Moï
trong Riz noir chỉ tạo một truyện hư-cấu dựa vào mấy bài viết hay h́nh-ảnh trên
báo; câu truyện như một kiểu làm dáng cho người ở “văn-hóa ngoài” đi t́m vài
chi-tiết ly-kỳ không thấy chút kinh-nghiệm sống. Monkey Bridge của Lan Cao c̣n
có kinh-nghiệm sống, vẽ lên sự khác-biệc về bản-sắc theo hai thế-hệ ly-hương; và
sự hội-nhập tương-đối nhanh-chóng của thế-hệ trẻ, có bản-sắc và tài-năng
tạp-chủng.
So với Laurette Heger trong Saigon is burning, Laurette thiệt-tḥi hơn nhiều: bà
mất cả nguồn-gốc và trách-móc gia-đ́nh, bà ngoại và mẹ, v́ mặc-cảm mà đă bao-bọc
tác-giả và giết đi khả-năng ngôn-ngữ và tính-chất văn-hóa Việt. Bà viết
tự-truyện như là một phương-cách điều-trị, một loại “thuốc-sổ” phế-thải cơn
đau-tiếc ray-riết, một sự bù-trừ cho mất-mát. Trái lại, Huy-Minh thanh-thản viết
để sống lại trong kỷ-niệm một thời mất-mát trân-trọng, chia-sẻ với độc-giả một
phong-phú của riêng ḿnh.
Truyện Kim-Đoan cũng nói về cuộc trở về đi t́m bản-sắc nhưng có lẽ xoáy vào mặt
không thoải-mái kém thành-công: cô gái trở về tại-chỗ mà không thấy h́nh-bóng
xưa, lăo-ông trở về t́m các h́nh-ảnh và bóng-dáng thuở trước rút cuộc cũng bỏ
cuộc. Đọc mấy câu truyện của Kim-Đoan thấy thương-hại cho thân-phận con người.
Đọc Huy-Minh thấy phấn-khởi và tin-tưởng hơn ở nhân-loại.
Nền văn-học hệ-quả của chính-sách thuộc-địa
Trước thế-chiến thứ hai, trong khoảng hai thế-kỷ, một số lớn các nước ở châu Á
và Phi bị một thiểu-số nước Âu-châu cai-trị và khai-thác. Sau thế-chiến thứ hai,
một số lớn quốc-gia dần-dần lấy lại chủ-quyền. Một nền văn-học đối-kháng nẩy-nở
khác với văn-học “chính-thức” thời thuộc-địa trong đó người da trắng đă viết về
dân bản-xứ bị-trị dưới cánh nh́n kỳ-thị, khinh-khi, thậm chí coi như là
loài-vật. Hăy nghe l’Abbé Prévost, tác-giả Manon Lescaut viết về dân Việt, mặc
dù ông ta không có đến thăm nghiên-cứu kỹ-lưỡng đất-nuớc này mà chỉ dựa theo sự
diễn-tả của một người khác hai-mươi năm trước
Les deux sexes ont la taille bien proportionnée, mais petite plutôt que grande.
En général, ils sont d’une constitution faible, ce qui vient peut-être de leur
intempérance et de l’excès avec lesquel ils se livrent au sommeil. (Abbé
Prévost, 1751).
Nguyễn-Văn-Trung, trong Chủ-nghĩa Thực-dân Pháp ở Việt-Nam (Nam-sơn, Sài-g̣n,
1963) trích-dẫn và chuyển-ngữ cách nh́n lệch-lạc của một quan-ṭa Pháp
Người An-nam ở bẩn kinh-khủng; người họ đầy rận-chấy và bị các bệnh ngoài da
tàn-phá, làm mụn nhọt mủ khắp ḿnh; khi nào cũng gần-gũi với các súc-vật ở ngay
trong nhà họ…đàn-bà đúng là thứ giống cái (femelle) của những người đó (tr.65)
Dân bị-trị viết phản-đối kiểu hài-hước như Đi Tây của Nhất-Linh. Đặc-biệt, một
số tác-giả gốc Phi-châu ở Pháp phản-ứng bằng cách đề ra phong-trào Négritude để
tŕnh-bày sự-thực và cách nh́n trung-thực về Phi-châu da-đen. Trong phong-trào
cũng có nhiều khuynh-hướng khác nhau. Một Camara Laye thanh-thản tŕnh-bày trong
L’enfant noir, một xă-hội nông-nghiệp an-lành và tổ-chức học-đường nghiêm-chỉnh
ở Haute-Guinée. Một Senghor rộng-lượng làm thơ vinh-danh Chúa cầu xin ơn-lành
cho Pháp mặc-dù nước này đă bất-công với dân da-đen. Một Aimé Césaire gay-gắt
kêu gọi một cuộc trở-về, Cahier d’un retour au pays natal, hồi-hương băng qua
không-gian, ngược thời-gian và trong ḷng văn-hóa với ḍng văn bộp-chộp như
tiếng trống cổ-truyền nghe thấy lẫn với những hơi-thở hổn-hển của dân-tộc da-đen
vừa nhảy-múa ca-hát vào lúc b́nh-minh của nền độc-lập mới.
Au bout du petit matin…Va-t-en, lui disais-je, gueule de flic, gueule de vache,
va-t-en, je te déteste, les larbins de l’ordre et les hannetons de l’espérance…
Au bout du petit matin bourgeonnant d’anses frêles les Antilles qui ont faim,
les Antilles grêlées de petite vérole, les Antilles dynamites d’alcool, échouées
dans la boue de cette baie, dans la poussière de cette ville sinistrement
échouées.
Au bout du petit matin, …
Mảng văn-học ly-hương hậu-chiến Việt-Nam bằng ngoại-ngữ
Việt-Nam không may-mắn gặp cảnh chiến-tranh triền-miên từ khi độc-lập nẩy mầm
vào tháng ba năm 1945, văn-học quốc-gia hậu-ngoại-thuộc mang nặng dấu-ấn của
mảng văn-học chiến-tranh, nội và ngoại. Văn-học ngoại-ngữ sản-xuất rất hạn-chế
kể cả ở miền Nam tự-do. Phải chờ đến sau 1975, dân Việt tỵ-nạn định-cư tại
hải-ngoại, nhất là bắt đầu ở thế-hệ một-rưỡi hay hai, mới thấy văn-học ngoại-ngữ
tái-sinh, nhất là Pháp-văn. Mảng văn-học này có tính-cách ly-hương, hậu-quả gần
của chiến-tranh; và nếu muốn nói một cách rộng-răi, có chút tính-cách xa-xôi
hậu-ngoại-thuộc.
Một khía cạnh của mảng văn-học ly-hương này là vấn-đề hội-nhập, được coi là có
phần nào đi ngược với việc bảo-tồn Việt-tính. Lâu dài, các thế-hệ sau có
triển-vọng thành tạp-chủng, lai-Pháp, lai-Mỹ hay lai-Đức v.v. Họ lớn lên và
phân-vân về bản-sắc, kể cả nhưng lớp thuần Việt-chủng. Nhân-vật Lan của Huy-Minh
là một thí-dụ điển-h́nh. Lúc rất trẻ, cô hăy c̣n một cảm-tưởng chưa trọn-vẹn
nhưng đè-nén ư-muốn “định-nghĩa” bản-sắc cội-nguồn, cái căn-tính cho đến khi gặp
Nam; trước đó, ḷng cô không ổn-định khi đi học tiếng Việt.
Tout me semblait factice, comme si j’évoluais dans un monde parallèle. La craie
martelait le tableau à coups légers, tout comme à l’école dont j’avais
l’habitude, mais la maîtresse n’était pas vraiment une maîtresse, pas plus que
les élèves n’étaient réellement des élèves, et je n’aurais pas dû être là, à
apprendre une langue qui n’était pas la mienne. Je parlais vietnamien, certes,
avec mes parents…mais ma langue, c’était le français. J’appréhendais le monde en
français, lisait en français, pensais en français…Pouvait-on parler de “racines”
quand celles-ci avaient été tranchées dès ma venue au monde à Clamart,
Hauts-de-Seine? Ces idées restaient cependant confuses… (tr. 34-5)
Sau khi gặp Nam, cô lần-lần t́m-ṭi thêm trong các cổ-tích những giá-trị
cổ-truyền; rồi trở về xứ-xở t́m dấu-vết thương-tích lằn trên đất-nước; và
chứng-kiến các cuộc gặp-gỡ mừng-tủi của người xưa, chứng-nhân của các cuộc
đổi-đời trên quê-hương.
Muốn hiểu bản-sắc ḿnh, thường phải hiểu người khác (altérité), người
chung-quanh để mà đối-chiếu, thấy cái ngă qua việc biết rơ hơn gia-đ́nh (bà,
cha, mẹ và Nam) và các người thấp-thoáng ở ṿng ngoài, gia-đ́nh Nam, ông chú họ,
người láng-giềng tên Th́n thương-yêu mẹ của Lan thuở trước. Về bà, Lan đă học để
hiểu bà cụ và viết về bà với ḷng đầy cảm-tính:
“Quand ma soeur est morte, ma mère n’a rien dit mais elle n’a fait que pleurer
durant un mois” m’a-t-il (le père de Lan) un jour confié. Il n’aurait pas cru
qu’il était possible de pleurer autant...Elle avait pleuré en cachette et devant
mon père, essuyant ses yeux entre deux travaux sans pouvoir les assécher, pleuré
jusqu’à manquer de larmes pour toutes les années qui suivraient. Il est vrai que
je ne l’avais jamais vue ne serait que se plaindre. Peut-être la réserve
s’est-elle effectivement tarie, peut-être qu’il existe un quota de larmes pour
une vie et que ma grand-mère l’a épuisé. (tr. 64)
Về bố mẹ, Lan ngạc-nhiên thấy họ cũng khác người Việt-nam thông-thường trong
nước, và khác xưa, thành một loại tạp-chủng tha-hương (hybridité) không Việt mà
cũng chẳng Pháp, lạc-lơng bơ-vơ (perdus) không phải là gương-mẫu Việt cho Lan
J’observe mes parents et je me rends compte qu’ils ne sont ni Vietnamiens, ni
Français…On parle de double culture, de raciness transplantées dans un autre
sol, d’héritage à conserver tout en s’intégrant, mais on oublie qu’en réalité,
les êtres nés ici et vivant là ne sont de nulle part. Leur identité oscille
entre deux poles qui tantôt cohabitent, tantôt s’affrontent, plaques tectoniques
qui se heurtent et créent séismes, montagnes et ravins, une recomposition du
décor que l’on aurait crue impossible quelques instants plus tôt; alors on
avance sur cette terre nouvelle sans trop savoir où l’on va, espérant toujours
qu’à la fin, on trouvera une voie qui nous révélera notre place ici-bas…
Những đường ṿng cá-tính của những người chung-quanh lần-lần ấn-định cá-tính
cội-nguồn, một phần quan-trọng của bản-sắc của Lan.
Nói là một phần mà thôi v́ bản-sắc không chỉ gồm những các “gien” chủng-tộc mà
c̣n cả môi-trường giáo-dục và sinh-sống. Mặc-dù cha mẹ cùng là người Việt, nghĩa
là Lan là một cô gái thuần chủng-tộc Việt có Pháp-tịch cô hưởng một nền giáo-dục
trung-tính phi-tôn-giáo (laïque) nặng nhân-bản (humaniste): cô là sản-phẩm
đa-văn-hóa, được chứng-minh bởi sự đọc-rộng biết-nhiều và cách xử-thế tế-nhị và
bao-dung.
Nam a été une exception, mais d’habitude, les histories, à défaut de finir bien,
ne finissent pas toujours mal…Quels qu’aient été les malheurs, tout s’apaise.
Les blessés guérissent, quand bien même ils gardent une cicatrice de vingt
centimètres de long. L’herbe reverdit, le soleil sèche la pluie et on balaie les
ruines pour rebâtir sinon un palais, du moins une chaumière…Rien n’est ni ne
redeviendra come avant. (tr.163)
Từ đó, Lan trở về với văn-hóa chủng-tộc có chủ-ư, không phải là t́nh-cờ. Gặp Nam
là một ngẫu-nhiên; nhưng v́ cô có ôm-ấp thầm-kín trước th́ cuộc gặp-gỡ mới
gơi-dậy được giấc mơ. Cô trở về học-hỏi ở quê-hương với chủ-quan, quyết ư
t́m-ṭi khác với những tiếp-nhận sách-vở một cách thụ-động vô-tư. Cái chủ-quan
đó nằm trong t́nh sắc-tộc mà cô dễ-dàng thu-nhận vào bản-sắc đa-văn-hóa,
phong-phú đả có. Không phải cái lai-căng tạp-chủng lơ-lửng không thuộc về đâu
hay là lạc-lơng của bố mẹ. Lan yêu thành-phố Hà-nội
J’adorais ses parcs, ses lacs surplombés de petits ponts, ses allées bordées de
flamboyants où des amoureux se donnaient rendez-vous. J’adorais me promener le
long des stèles en forme de tortues du temple de la Littérature, édifié au XIe
siècle en l’honneur de Confucius—les mandarins y envoyaient leurs enfants pour
qu’ils apprennent les valeurs du grand penseur chinois, et je m’imaginais sans
peine parmi eux, profitant du calme du parc, des toits enforme de pagoda et des
sentiers ombragés pour étudier en paix, loin de la cacophonie urbaine. (tr.
164-5)
T́nh sắc-tộc không phải chỉ là một phần tầm-thường của bản-sắc mà được cảm-nhận
đặc-biệt hơn nữa do t́nh-trạng ly-hương của các nhân-vật; xa-cách thiếu-vắng
tô-đậm t́nh-cảm và khiến kỷ-niệm bén-nhạy hơn; nhất là đối với gia-đ́nh Lan, bởi
v́ bố mẹ Lan h́nh như chỉ thấy—và sống với— ảo-tưởng hơn là sự-thực.
…l’âge d’or demeure une idée, une chimère, un mensonge, la nostalgie, une
impasse. Rien n’est ni redeviendra comme avant. Mais l’illusion est douce, qui
surgit parfois lorsqu’on ne s’y attend pas, ou plus. (tr. 163)
Lời cuối
Với thời-gian, các thế-hệ tỵ-nạn tiếp-sau lớn lên hay sinh-trưởng ở hải-ngoại ít
c̣n vấn-đề hội-nhập; nhưng hoàn-cảnh ly-hương, t́nh-trạng tạp-chủng và “tạp
(đa)-văn-hóa” khơi rộng ra vấn-đề truy-tầm căn-tính Việt mà nhiều tác-giả đă
đề-cập đến. Gần đây, Trần-Huy-Minh đă khai-thác đề-tài một cách sâu-sắc, đa-diện
và dẫn đến một thái-độ thanh-thản bao-dung tuyệt-vời.