T́m ra điểm tiếp giáp giữa ḍng văn học hậu ngoại thuộc tạp chủng Đại Đông Á với
toàn bộ văn học Anh Ngữ là một câu hỏi không dễ trả lời của giới nghiên cứu văn
học. Gần đây, Tamara S. Wagner[3] để nghị dùng t́nh hoài hương, nostalgia, một
chủ đề chính trong ḍng văn học tạp chủng Đại Đông Á, làm mạch nối tiếp với ḍng
văn học cổ điển Anh ngữ. Theo nhà nghiên cứu này, t́nh hoài hương trong ḍng văn
học tạp chủng Đại Đông Á gồm ba nhánh. Một là chuyển biến của t́nh hoài hương
thành cảm hứng thúc đẩy người nhớ quê hương cầm bút sáng tác; hai là ư muốn trở
về nguồn qua những truyện cổ tích truyện, truyền kỳ và ba là ư muốn thơ mộng hóa
cuộc dấn thân của cá nhân vào nếp sống tạp chủng ngoài xă hội. Theo từ nguyên,
t́nh hoài hương chỉ có nghĩa là nỗi nhớ quê hương bản quán; nhưng t́nh hoài
hương thường đi liền với ư chí đi t́m căn tính cá nhân. Theo nghĩa y học, nhớ
quê hương thựng là một mối buồn, một căn bệnh tưỏng, thường thấy trong giới
những binh sĩ đồn trú lâu ngày nơi biên ải hay nhưng người bị tù đầy biệt xứ lâu
năm. Với những người di dân xa quê lâu năm, t́nh hoài hương thường đem lại cho
người xa quê những h́nh ảnh huy hoàng của quá khứ vàng son ngày c̣n ở quê nhà,
khiến mọi sự việc liên quan tới quê nhà đều đáng trọng đáng quư.
Những chuyển biến của t́nh hoài hưong kể trên là những nét tiêu biểu cho tiểu
thuyết của Kazuo Ishiguro và Catherine Lim. Cả hai nhà văn này đều khéo đặt
những tự truyện của ḿnh trong khung cảnh lịch sử đất nưóc, hay xă hội bên ngoài.
Catherine Lim gợi lại những vấn đề nẩy sinh dưới chế độ thuộc địa, tiếp tới là
chế độ hậu thuộc địa rồi chế độ tân thuộc địa. Nhưng tất cả những sụ kiện đó chỉ
là khung cảnh cho những tự truyện của nàng, dường như để bày tỏ nếp sống của
nàng, hay để tŕnh bày thân phận con ngựi: thân phân con người không phải chỉ
riêng sống tại Tân Gia Ba mà là thân phận con người con người ở khắp mọi nơi
dưới ánh mặt trời. Tương tự Kazuo Ishiguro nhấn mạnh nét bút khi viết về nhưng
đề tài phổ quát và những đề tài chỉ trích lối sống sắc tộc sáo rỗng phô trương.
Ông phân tích rành mạch tỷ mỉ những ǵ đáng nhớ những ǵ đáng quên, để tự tha
thứ cho chính ḿnh những lầm lỗi không cách nào chuộc lại đưọc, và để sẵn sàng
chống trả với mọi tại họa tương lai. Đó là h́nh ảnh của Ono, một nghệ sĩ giữ vai chính trong cuốn The Floating Word, xuất bản năm 1986. Trong đường
hưóng tư duy này, Ono không chỉ gợi lại dĩ văng để vương mối buồn nhớ quê xưa,
mà là để rút tỉa từ những nhữ lỗi lẩm quá khứ ra những kinh nghiệm để sẵn sàng
đối phó với mọi chuyển biến bất lợi trong tương lai.
Trong cuốn The Remaining of the Day, Kazuo Ishiguro chú tâm tới vấn đề dùng ḷng
hoài hương để lèo lái cuộc sống. Theo ông thời đó là một nếp sống can đảm và
đáng trọng, nhưng thái độ này thường thường không thực dụng. Với một người cầm
bút, viết về t́nh hoài hương là một nẻo giúp họ t́m lại được nhân phẩm, giải tỏa
dưọc mọi ức chế, t́m được nguồn an ủi. T́nh hoài hương là phương thuốc hữu hiệu
nhất để tái lập căn tính. Tuy nhiên, Kazuo Ishiguro vẫn hoài nghi về kư ức cũng
như khả năng tương nhượng của con ngựi, trong việc t́m kiếm căn tính cho chính
ḿnh hay cho đất nước của ḿnh. Trong cuốn When We Were Orphan, hoàn tất năm
1996, Kazuro Ishiguro, tŕnh bày mối suy tư của ông trong việc hồi ức quá văng,
đối mặt với toàn bộ vấn đề thực tế, để t́m ra căn tính trong một xă hội đa sắc
tộc và đa văn hóa. Trọng tâm của cuốn truyện này là việc tái lập quá văng, nguồn
gốc và căn tính cá nhân. Những ǵ mà kư ức c̣n nhớ rơ và những ǵ kư ức đă lăng
quên, là những yếu tố tạo nên t́nh hoài hương, hiểu theo nghĩa nỗi nhớ nhà, và
đó là cảnh côi cút, orphanhood của kể sống tha hương. Đó là nẻo đi t́m lại những
mất mát trong quá khứ, trong việc lục soát kư ức và căn tính cá nhân, trong cảnh
sống tạp chủng, tỷ như những va đụng của niềm tự hào quốc gia trong một vụ tranh
chấp quốc tế.
Chuyển sang tiểu thuyết của Catherine Lim, giới nghiên cứu nhấn mạnh trên điểm
Catherine Lim đă dùng khung cảnh Tân Gia Ba thời chuyển đoạn từ chính thể thuộc
dịa sang hậu thuộc địa để làm hậu trường, background, cho tự truyện của bà.
Nhiều đọan trong truyện của Catherine Lim tả lại những sôi nổi của chính cuộc
tại Tân Gia Ba, mô tả những va đụng giữa truyền thống của những sắc tộc cùng
sống sát cánh nhau tại quốc gia này. Cuốn The Teardrop Story Woman tŕnh bày
những mẩu truyện tạo quanh một chủ ư. Chủ ư đó là thu thập rồi tŕnh bày một số
truyện vụn vặt, rồi kể lại cho nhau nghe để cho đời sống này thêm đáng sống. Vai
chính trong truyện, nàng Mei Kwei, từ thời c̣n là con gái, tiếp tới thời lấy
chồng rồi thời làm mẹ, nàng không ngừng thâu thập đủ mọi loại truyện nàng được
nghe được thấy, tựa như bà ngoại nàng góp những mảnh vải vụn, rồi sắp xết theo
mầu sắc, thiết trí thành h́nh vẽ, cuối cùng giáp nối những mảnh vụn đó, để khâu
thành một chiếc chăn patchwork cho riêng bà. Nhựng truyện Mei Kwei thu thập để
kể lại đều vô hại, nhưng mỗi lần nàng nhớ lại buổi gặp gỡ bạn bè để kể những
truyện đó là một lần nàng thấy vui trong ḷng. Mei Kwei cũng may một chiếc chăn
patchwork bằng những truyện thầm kín riêng của nàng: mỗi lần nàng gặp Francis là
nàng có thêm một truyện mà nàng không bao giờ quên, như thể có thêm vải để nối
dài chiếc chăn. Mei Kwei lấy cuôc t́nh bí mật của nàng với Francis làm truyện
của đời nàng. Nàng kết hợp những ước mơ, những linh cảm, những trùng hợp cùng
với những biến cố thực sự xẩy ra ngoài xă hội đa sắc tộc tạo nên một tấm chăn
patchword cho riêng nàng.
Trong cuốn Following the Wrong God Home, hoàn tất năm 2001, t́nh tiết trong
truyện trải dài suốt thập niên 80 sang nửa thập niên 90, tác giả kể lại những
sôi động dưới chế độ chính trị bảo thủ trong việc thiết lập căn tính quốc gia,
cùng những va chạm giữa những cộng đồng sắc tộc, bằng một bút pháp khiến người
đọc thấy những t́nh tiết đó vượt khỏi biên giới địa phương mà thành những nỗi
khổ làm người, le mal de vivre.
Tác phẩm viết bằng Anh ngữ của Yung Krall, và Lê Nam, mang lại cho người đọc
Việt Nam một ngạc nhiên thích thú. Đó là cả hai tác giả cùng khai triển chủ đề
chính của nền văn học Việt Nam. Chủ đề này là cái khổ làm người .
Cái khổ của cô Kiều trong Đoạn Truờng Tân Thanh, cái khổ làm vợ lính của người
thiếu phụ trong Chinh Phụ Ngâm, hay cái khổ làm người cung nữ trong Cung Oán
Ngâm Khúc là những cái khổ làm người trong văn học cổ điển Việt Nam. Cái khổ của
Yung Krall, là cái khổ làm người trong một gia đ́nh bị chia hai, trong một đất
nước bị xé đôi trong khúc cuối của thời ngoại thuộc chuyển sang thời cộng thuộc.
Sau hết cái khổ của nhân vật trong truyện ngắn của Lê Nam, ngoài cái khồ làm
người Việt Nam thời Tân Thực Dân, mà c̣n là cái khổ của con người tại Columbia,
tại Nữu Ước, tại Úc Châu, Nhật Bản hay tại Iran.
Tạm gác những truyện của Lê Nam viết về cái khổ làm người ở ngoài Việt Nam, điểm
tương đồng thứ hai giũa ba nhà văn Việt Nam viết tiếng Anh này là cả ba cùng
viết về tự truyện của ḿnh hay đúng hơn là của gia đ́nh ḿnh. Viết tự truyện là
một vấn đề mà Kazuo Ishiguro cũng như Catherine Lim, Jung Krall, và Lê Nam đều
phải đối mặt, cũng như mọi tác giả khác, viết truyện với vai chính tự xưng là
tôi hay viết về cộng đồng hoặc sắc tộc của ḿnh. Đó là cái khó trong việc t́m ra
những điều đáng nhớ, những ǵ đáng quên trước cái đúng sai của khung cảnh lịch
sử của câu truyện. Người đọc Kazuo Ishiguro, cũng như Catherine Lim, nhận thấy
những điều c̣n nhớ những điều đă quên, những cái đúng sai này đă giúp nhà văn
Nhật Bản rút tỉa đươc những kinh nghiệm để tiếp tục cuộc sống ngoài nước, để
giúp Catherine Lim tŕnh bày những va chạm giữa các cộng đồng sắc tộc, giữa nếp
sống cũ và mới.
Trong cuốn A thousand Tears Falling, Jung Krall viết về hai tai họa xé đôi gia
đ́nh bà trong hai khung cảnh lịch sử quan trong của đất nước. Lấn thứ nhất là
cảnh đất nước bị chia đôi năm 1954, và một miền Bắc sa vào cảnh Cộng thuộc, và
một nửa triệu người Bắc di cư vào Nam; lần thứ hai là cảnh cả miển Bắc và miền
Nam Việt Nam sa vào ṿng Cộng thuộc năm 1975 và vụ vượt biển kéo dài hơn mười
năm của trong ngoài hai triệu thuyền nhân. Điểm đặc biệt trong cuốn A Thousand
Tears Falling là t́nh tiết Yung Krall cộng tác vớu CIA. Đây là một bức họa tạp
chủng mà nếu người đọc muốn t́m thấy mầu sắc Việt Nam, phải đọc ư ngoài lời của
cuốn truyện. Cộng tác với cơ quan phản gián này, trên thực tế, đứng trên quan
điểm của một công dân Hoa Kỳ, Jung Krall đă hoàn tất bổn phận của một công dân
Hiệp Chủng Quốc, và ngược lại, t́nh tiết bà đ̣i chính phủ Hoa Kỳ chấp nhận cho
gia đ́nh bà di tản vào Hoa Kỳ là một quyền lợi của người công dân Hoa Kỳ. Đối
với những người c̣n đứng đối mặt với chính quyền toàn trị Hà Nội, th́ việc cộng
tác này là một hành động của một người c̣n tiếp tục tranh đấu. Sau hết với đồng
minh của thân phụ bà th́ đó là một hành động chống đối khó có thể tha thứ được.
Nh́n trên mặt truyền thống văn học, việc cộng tác với CIA của Yung Krall gợi cho
ngựi đọc truyện Ngô Phu Nhân Quy Thục trong Tam Quốc Chí. Câu truyện đó đi văn
học Việt Nam trong thơ Phan Văn Trị với câu:
Đứng về phe đồng minh của thân phụ Yung Krall, việc bà cộng tác với CIA có thể
coi như việc Mỵ Châu lấy móng thần Kim Quy cho vua cha đưa cho chồng. Việc bà
gặp lại thân phụ lần cuối chẳng khác ǵ h́nh ảnh Mỵ Châu ngồi sau lưng ngựa cùng
vua cha chạy giặc. Biết đâu cuộc gặp gỡ này đă chấm dứt sự nghiệp của nhà ngoại
giao này.
Lê Nam, như ông kể trong truyện Love and Honor and Pity and Pride and Compassion
and Sacrifice, mở đầu tập tuyển truyện ngắn The Boat, đă cho biết là để cho tác
phẩm khác với tác phẩn của những tác giả khác, ông phải viết vể quá khứ,
background, và kinh ngiệm sống, life experience của ông. Ông chọn một câu 11 chữ
trên đây của William Faulkner trong bài diễn văn nhận giải văn chương Nobel, năm
1950, làm đầu đề cho truyện vào sách, phải chăng là ông muốn tự đặt cho ḿnh một
giáo lư, ethic, trong việc viết lại những sự thật lịch sử, theo đúng lời cảnh
tỉnh của William Faulkner? Như vậy, phải chăng là Lê Nam đă gặp nhà văn Nhật Bản
Kazuo Ishiguro và nhà văn nữ Catherine Lim trong việc viết về sắc tộc hay cộng
đồng của ḿnh? Điểm giáo lư này không phải là một điểm chưa từng có trong lịch
sử văn học Việt Nam. Thật vậy, vua Trần Minh Tông (1300-1357), khi lâm chung đă
sai người đốt hết thơ văn, nhưng ngày nay vẫn c̣n giữ lại được một số nhỏ. Quốc
sử c̣n chép rằng về cuốu đời vua Minh Tông, trong triểu có nhiều mâu thuẫn gay
gắt đưa tới nhiều vụ thanh toán nhau đẫm máu, nhà vua cũng bị lôi cuốn vào một
vài vụ này, khiến sau đó phải hối hận. Không ai được biết nột dung của những văn
thơ vua Minh Tông đă sai đốt đi, nhưng thơ đời xưa là để giăi ḷng. Phải chăng
v́ trọng sự thực mà nhà vua đă sai đốt đi những bài làm nhà vua phải hối hận.
Phải chăng đó chính là giáo lư cho người cầm bút ? Phải chăng giáo lư đó là
truyền thống văn học của ngựi Việt?
Một h́nh ảnh cuối truyện Love and Honor and Pity and Pride and Compassion and
Sacifice đă khiến người đọc này đọc một mạch hết cuốn truyện. Đó là h́nh ảnh
thân phụ của Nam đốt tập bản thảo của Nam để cùng người bạn Hoa Kỳ mới làm quen
bên bờ sông sưởi ấm bàn tay lạnh. Theo truyện của Nam, thân phụ ông là một nạn
nhân, khi đó mới 14 tuổi, trong vụ thảm sát Mỹ Lai, nhưng sau đó ông trở thành
quân nhân chiến đấu cùng với quân đội Hoa Kỳ. Nam không nói rơ đă viết ǵ trong
tập bản thảo mà cha ông đă đốt đi. Đó là một điểm khiến chuỗi h́nh ảnh này nhắc
tới truyện vua Trần Minh Tông sai đốt thơ văn của Người, khi lâm chung. Phải
chăng cũng v́ giáo lư tôn trọng sự thật lịch sử của người cầm bút?
C̣n một điểm nữa khiến người đọc này thích đọc truyện Love and Honor and Pity
and Pride and Compassion and Sacrifice của Lê Nam. Điểm này cũng nẩy sinh từ
h́nh ảnh thân phụ Lê Nam đốt tập bản thảo của Lê Nam. H́nh ảnh này gợi cho người
đọc h́nh ảnh người phạm thánh tượng, iconoclaste. Thiền sư Đơn Hà (738-824) đời
nhà Đường đi vân du qua chùa Huệ Lâm, tại kinh đô. Gặp tiết đại hàn giá buốt,
thiền sư rinh một trong ba bức tượng Phật bằng gỗ xuống bửa ra đốt để sưởi. Khi
vị sư chủ tŕ hỏi, th́ ông trả lời là để t́m ngọc xá lợi. Sư chủ tŕ hỏi lại là:
‘đốt tượng gỗ th́ sao có ngọc xá lợi’. Thiền sư Đơn Hà trả lời: ‘nếu tượng gỗ
đốt không thành xá lợi, thời xin cho tôi đốt nốt hai bức tưong kia mà sưởi cho
ấm’[4] . Người phạm thánh tượng là người không coi trọng truyền thống, muốn dứt
khoát với dĩ văng để đi t́m những cái mới mẻ thay thế. Trong địa hạt mỹ thuật,
tiêu biểu cho giới phạm thánh tượng này là Marcel Duchamp (1887-1968), ông đă
dùng đường lối phạm thánh tưọng đễ mong thay đổi chiều hướng của ngành hội họa
mỷ thuật. Viết về cái khỗ làm người, dùng h́nh ảnh thân phụ ông đốt tập bản thảo
của ông, phải chăng Lê Nam cũng nghĩ tới việc định hướng văn học cho riêng ông,
như ông nói [5] :
“The question of suffering is really interesting, the question of appropriation
of suffering is very interesting, the question of authority to represent trauma
– whether it’s is a legacy of historical trauma that you inherit or a national
cultural trauma that somehow you’re expected to write about because you happen
to be born in a particular place or happen to reside on a particular place – I
think those questions are really interesting, and I don’t really have an answer
to them. What separates extraordinary writing from really good writing is that
often it comes from writers that have talent but also have a wound. They hurt …
In some way it’s mashochistic, because you keep rubbing yourself into that
wound, to try to feel something at all.”
Đó cũng là điều khiến người đọc này thấy hứng khởi đọc lại mấy cuốn truyện của
những tác giả Việt Nam viết tiếng Anh trong ḍng văn học tạp chủng này. Và đó
cũng là lư do khiến người viết bài này, tin rằng trong tương lai, số người Việt
Nam viết tiếng Anh sẻ đông đảo hơn, và sẽ góp được tiếng nói của người Việt Nam
trên văn đàn hoàn vũ.