Văn học
Tạp Chủng
Đại Đông Á
Phùng Thái Ninh

I

Ḍng văn học tạp chủng là một ḍng mới trong văn học tiếng Anh. Tính tạp chủng, và mầu sắc văn hóa đa sắc tộc đă giúp những nhà văn tiền phong trong giới di dân thành công trong việc giành một chỗ đứng vững chắc trong truyền thống văn học tiếng Anh. Bài viết này đề cập tới tác phẩm của

Kazuo Ishiguro, nhà văn gốc Nhật Bản,
Catherine Lim, nhà văn gốc Trung Quốc,
Yung Krall, nhà văn Hoa Kỳ gốc Việt Nam,
Lê Nam, nhà văn Úc Châu gốc Việt Nam

để tiêu biểu cho ḍng văn học tạp chủng tiếng Anh tại Đại Đông Á.

Văn cảnh chung của cả năm nhà văn này là ḷng nhớ quê hương và tinh thần đại đồng, cosmopolitanism. Tuy nhiên mỗi người có một bút thuật khác biệt để kể lại những nếp sống riêng tư, giữa cuộc sống hiện tại của nhưng xă hội đa săc tộc, multiethnic đang sôi động trong trào lưu hoàn vũ hóa, globalization.

Kazuo Ishiguo với văn tài của một cây bút quốc tế kể lại những kinh nghiệm sống trong việc dấn thân của một người di dân để t́m ra cho ḿnh ư nghĩa của cuộc sống ở ngoài nưóc.

Catherine Lim, t́m hiểu những cơ cấu xă hội của một quốc gia đa sắc tộc, như nước Tân Gia Ba, trong việc phát triển những mục tiêu cá nhân, văn học trong trào lưu hoàn vũ hóa.

Cuốn A thousand Tears Falling [1] của Yung Krall tả lại bi kịch xẩy đến cho gia đ́nh nàng, trong hoàn cảnh hậu cộng thuộc, giữa cuộc sống đa sắc tộc tại Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, sôi động trong diễn biến của một truyện phản gián điệp.

Lê Nam, sinh tại Viêt Nam năm 1979, gia đ́nh ông vượt biển di tản sang Úc Châu, đi học tại Úc, tốt nghiệp hành nghề luật sư và ông đổi nghề thành nhà văn sau khi theo học tại Iowa Writer’s Workshop tại Hoa Kỳ. Với tập tuyển, gồm 7 truyện ngắn, The Boat [2] , Lê Nam đoạt giải văn học Dylan Thomas vào tháng 11 năm 2008 vừa qua. Đó là một trong những giải văn học lớn nhất thế giới, dành cho những nhà văn dưới 30 tuổi, viết tiếng Anh trên khắp thế giới. Tiếp theo đó ông được mời làm chủ bút phần tiểu thuyết cho Havard Review. Tập truyện ngắn The Boat mở đầu bằng truyện Love and Honor and Pity and Compassion and Sacrifice và truyện chót The Boat là hai truyện có t́nh tiết liên quan tới Việt Nam. Năm truyện kia th́ một là Meeting Elise với khung cảnh là thành phố New York Hoa Kỳ kể lại truyện một hoạ sĩ già đau ốm với người con gái trẻ đang trên đường tiến tới thành công nghề nghiệp; hai là Catagena với khung cảnh là xứ Columbia dựng quanh kiếp sống bụi đời của một thiếu niên mới 14 tuổi đă sa vào ṿng buôn lậu ma túy giết người; ba là Hiroshima truyện tại Nhật bản của nếp sống kinh hoàng người dân Hirosima đi về vùng quê tránh bom đạn; bốn là Halflead Bay truyện trong một làng đánh cá ở Úc Châu của một thiếu niên giữa cái chết gần kề của bà mẹ và những trận đấu bóng tṛn và việc chinh phục một cô bạn gái; năm là Teheran Call truyện của một thiếu phụ mới ly dị chồng, gặp lại một người bạn gái đồng tính luyến ái, trong việc tranh đấu cho nữ quyền tại nước Iran toàn trị.

Cả năm tác giả cùng thành công qua những tác phẩm viết bằng tiếng Anh. Nên không ai ngạc nhiên khi giới phê b́nh văn học tiếng Anh công nhận rằng văn học Anh hiện đại là nền văn học của mọi người nói tiếng Anh không phân biệt chủng tộc gốc.

Đối chiếu tác phẩm mang mầu tạp chủng của những tác giả kể trên cho thấy cảnh sống của một người di dân nói hai ngôn ngũ như Kazuo Ishiguro, tiếp tới hoàn cảnh của Catherine Lim, một thiếu nữ Mă Lai gốcTrung Quốc, trở thành một thiếu phụ Trung Quốc quốc tịch Tân Gia Ba đi t́m căn tính cho bản thân, và với cảnh sống sôi động của Yung Krall trong cảnh đất nước và gia đ́nh bị xé đôi v́ nạn Quốc Cộng, và thành nhân tại Hoa Kỳ trong thâp niên 60-70, rồi Dương Như Nguyện, người con gái Sông Hương thành một luật gia kiêm văn sĩ tại Hoa Kỳ, và Lê Nam một thuyền nhân thành đạt tại Úc Châu và Hoa Kỳ, cuộc sống của cả năm nhà văn này cho thấy những điểm dị đồng của những người Đông Á di dân/di tản trong những góc cạnh khác biệt về văn hóa cũng như về căn tính.

Kazuo Ishiguro, viết theo hán tự là 石 黑 一 雄 đọc theo âm Việt Nam là Thạch Hắc Nhất Hùng, sinh năm 1954 tại Nagasaki, Nhật Bản. Thân phụ là Shigeo Ishiguro, một chuyên viên hải dương học, năm 1960 đem gia đ́nh sang Anh Quốc làm việc cho chương tŕnh phát triển dầu hỏa tại Bắc Hải. Kazuo Ishiguro tốt nghiệp Cử nhân Văn Khoa, về Anh Ngữ và Triết Học, hạng danh dự, tại đại học Kent, Canterbury năm 1978, và tiếp tục lấy bằng Thạc Sĩ Văn khoa về Creating Writing tại Đại Học East Anglia. Ông nổi tiếng v́ hai cuốn The Remain of the Day (1989) và Never Let Me Go (2005). Ông đoạt nhiều giải văn học lớn: giải Granta Best of Young British Novelists vào năm 1983 và lần thứ nh́ vào năm 1993; giải Whitebread Prize năm 1986. Năm 1998 Bộ Văn Hóa Pháp trao giải Odre des Arts et des Lettres. Năm 2005 tạp chí Time liệt ông vào hang 100 nhà văn lớn nhất, viết bằng tiếng Anh, kể từ năm 1925, năm thành lập tạp chí này.

Tiểu thuyết của Kazuo Ishiguro cho người đọc thấy là, tác giả sáng tác trong ḷng nhớ quê hương và ông đào sâu vào kư văng cá nhân cùng lịch sử cộng đồng. Ông dùng lịch sử làm văn cảnh , nên tiểu thuyết của ông vượt khỏi giới hạn của một tự truyện của một cá nhân đi t́m căn tính cá nhân cùng căn tính quốc gia. Trong cuốn When We Were Orphan (2000), viết về những linh địa lịch sử, ông đă đưa mối t́nh hoài hương của ông lên mức một cuốn tiểu thuyết lịch sử lồng trong khung cảnh một cuốn tiểu thuyết trinh thám.

Catherine Lim thủa nhỏ sống tại Mă Lai Á, nay sinh hoạt tai Tân Gia Ba. Đậu Tiến Sĩ về Ngôn Ngữ Học Ứng Dụng, tác giả của 11 truyện ngắn và 3 cuốn tiểu thuyết, cùng viết bằng tiếng Anh, xuất bản tại Hoa Kỳ, Pháp, Đúc, Ư Hoà Lan và Tây Ban Nha. Chủ đề của Catherine Lim là Văn Học Trung Quốc, Vấn đề Nữ Quyền, Mối giao hảo Đông-Tây, Chính Trị, Văn Hóa và Lịch Sử Tân Gia Ba. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của Catherine Lim là cuốn The Bondmaid (1995), rồi cuốn thứ hai là The Teardrop Story Woman (1998) và gần đây nhất là cuốn Following The Wrong God Home, (2001). Cả ba cuốn đều có thể coi là tự truyện của tác giả, đồng thời vẫn nằm trong truyền thống văn học Anh Ngữ, khởi từ thời Sir Walter Scott, nói lên mối tương quan giữa ta và tha. Cả ba tác phẩm cùng dựng trong văn cảnh tạp chủng của một xă hội đa sắc tộc, trong đó kư ức tập thể, collective memory, được đề cao; tác giả mô tả những suy tư, dấy lên từ ḷng yêu cố hương, trước mối giằng co giữa tập tục cổ truyền và trào lưu cấp tiến ngoài xă hội. Ngoài ra tiểu thuyết của Catherine Lim c̣n cho ngựi đọc thấy mối tương quan liên sắc tộc, interracial relationship, dưới nhăn quan hậu ngoại thuộc tại Tân Gia Ba, giữa công đồng người Trung Quốc, người Mă Lai Á, người Ấn -Độ, và Tha Nhân, Otherness, như một vấn đề hậu ngoại thuộc , postcolonialism. Vấn đề bảo tồn tính đơn nhất của từng sắc tộc, tạo ra khuynh hướng bài ngoại nói trên là vấn đề mà giới nghiên cứu đă có nhiều người lưu ư, tuy nhiên đó vẫn là một vấn đề nan giải cho nhà nước Tân Gia Ba.

Giới phê b́nh văn học chú ư tới hai vai chính Ying Ling và Ben trong cuốn Following the Wrong God Home và cặp Mei Kwei và Francis trong tập The Teardrop Story Woman, qua mối t́nh quốc tế, của một bên là truyện buôn bán làm ăn, một bên là những tính toán để thỏa giấc mộng t́nh ái pha tạp, creolisation, dẫn đến hậu quả là đứa con trai bạch tạng của Mei Kwin, mà nàng tưởng nhầm là kết quả của cuộc t́nh của nàng với Francis, nhưng chính là đứa con bệnh hoạn của chồng nàng. Dưới mắt giới nghiên cứu văn học hậu ngoại thuộc, h́nh ảnh đứa con bạch tặng này là h́nh ảnh chữ tạp chủng theo nghĩa sinh lư, nhưng đồng thởi cũng là h́nh ảnh chử tạp chủng theo nghĩa văn hóa. Tiểu thuyết của Catherine Lim khai thác những chuyển biến chính trị về vấn đề căn tính của những cộng đồng sắc tộc, đằng khác Kazuo Ishiguro, qua cuốn When We Were Orphan, cho người đọc thấy chữ tạp chủng hiểu theo nghĩa văn hóa. Kazuo Ishiguro định nghĩa lại chữ nhà hay gia trang, home, và chữ nhớ nhà, homesickness, trong hai cảnh trí khác biệt: một trên lănh vực quốc nội, một trên mức quốc tế. Kazuo Ishiguo đă rọi hai ánh sáng khác nhau để giúp người đọc phân biệt được hai ư nghĩa của chữ tạp chủng.

Yung Krall kể lại những chuyển biến lịch sử gieo tại họa xuống gia đ́nh nàng. Thế hệ của cha mẹ nàng là thế hệ sống trong thời kỳ đất nước Việt Nam trải qua thời đại trong đó hậu Bắc thuộc và hậu Tây thuộc cùng ảnh hưởng trên nếp sống dân chúng . Đời sống của Yung Krall cũng biến đổi theo cuộc chiến tranh một vạn ngày trên đất nước. Sống trên quê hương mà nàng phải sống trong một cảnh chẳng khác ǵ đám dân tỵ nạn lẩn lút sống ngoài nước. Cha nàng là môt viên chức trong thành phần Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, mẹ nàng tự lực nuôi các con trong vùng Tự Do. Nàng chỉ được thỉnh thoảng bí mặt gặp cha trong sự sợ hăi bị công an hai miền bắt gặp. Để giữ an ninh cho cha và gia đ́nh, trên giấy khai sinh mẹ nàng khai nàng là con hoang. Lớn lên, nàng gặp John Krall, môt phi công hải quân không chiến Hoa Kỳ. Mối t́nh không biên cương này dẫn tới cuộc hôn nhân tạp chủng. Yung Krall dời bỏ vùng đồng bằng xanh mát vườn cây, theo chồng về Hao Kỳ. Cuộc chiến một vạn ngày chấm dứt. Đoàn người tỵ nan ào ạt vượt biển. Gia đ́nh Yung Krall c̣n bị kẹt lại trong nước. Cơ hội đưa đẩy Yung Krall thuận t́nh cộng tác với cơ quan t́nh báo Hoa Kỳ CIA, với hy vọng được nhà nước Hoa Kỳ bảo trợ cho gia đ́nh nàng sang tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Trong hoạt động này, Yung Krall trở thành chứng nhân của một cuộc so tài giũa hai cơ quan t́nh báo Hoa Kỳ và Hà Nội. Kết quả là một tổ chức chuyễn giao tài liệu t́nh báo của Cộng Sản quanh thế giới bị phá vỡ. Trong dịp này, Yung Krall được gặp lại cha nàng, nhưng nàng không thành công trong việc thuyết phục ông dời bỏ hàng ngũ về vói gia đ́nh cùng mẹ và anh nàng sống tại Hoa Kỳ.

Viết A Thousand Tears Falling, Yung Krall đă cho thấy mầu sắc tạp chủng chuyển biến qua ba vụ ngoại thuộc của đất nước Việt Nam. Cha nàng hai lần từ bỏ mẹ con nàng để theo đuổi chí hướng riêng của ḿnh. Lấn thứ nhất năm 1954 khi ông theo đoàn người tập kết về Bắc, lần thứ hai khi ông từ chối không về sống với gia đ́nh khi hai cha con gặp nhau lần cuối. Thái độ của ông chẳng khác ǵ thái độ của một nhà nho: niềm công coi nặng t́nh riêng xá ǵ. Ông quyết tâm ǵn giữ bốn chữ trai trung một chúa, dầu biết là đoàn thể của ông đang bị chính đồng minh tiêu diệt, ông cũng không dời bỏ hàng ngũ. Tóm lại tư tưởng của ông là một sản phẩm hậu Bắc thuộc. Trái lại, bà mẹ Yung Krall là một người đă hấp thụ được văn hóa Tây phương: bỏ qua chữ ṭng của đạo Khổng, bà không theo ông ra Bắc tập kết, bà sang Hoa Kỳ tỵ nạn, suốt đời bà nuôi con không nhờ tới ông. Thái độ độc lâp này cho thấy bà là một người phụ nữ Việt Nam biết bảo vệ nữ quyền theo truyền thống của bộ luật Hồng Đức và đi hàng đầu trào lưu hậu Tây thuộc. Yung Krall lớn lên trong cảnh miền Nam Việt Nam chuyển biến theo trào lưu hậu Cộng thuộc. Căn tính cá nhân của nàng, trên giấy khai sinh cũng bị xóa bỏ v́ lư do an ninh. Cuộc sống ngoài xă hội là một cuộc sống tạp chủng, tiếng Pháp c̣n giảng dậy trong các trựng học, tiếng Mỹ trở thành một phương tiện kiếm sống hữu hiệu; gần nửa triệu binh sĩ Hoa Kỳ đổ vào miền Nam. Từ đó nẩy nở mối lương duyên giữa nàng và John Krall mà kết quả là cuộc hôn nhân tạp chủng. Trong cuộc sống tạp chủng đó, Jung Krall không quên người cha đă bỏ mẹ con nàng để đi trả nợ nước. C̣n nhỏ nàng vượt hàng rào công an đi gặp cha, lớn lên nàng chen chân vào giới t́nh báo quốc tế với mục đích đón cha về với gia đ́nh. Nàng không quên câu công cha như núi Thái Sơn, trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Những truyện Yung Krall kể trong A Thousand Tears Falling là những h́nh ảnh tạo nên bởi ba trào lưu: hậu Bắc thuộc, hậu Tây thuôc và hậu Công thuộc. Đó là phản ảnh của nếp sống người Việt Nam, trong chiều hướng tạp chủng, theo nghĩa thực tế cũng như theo nghĩa văn học, không chỉ riêng có trong các cộng đồng di tản mà ngay chính tại quốc nội.

Lê Nam mở đầu tuyển tập truyện ngắn The Boat bằng truyện Love and Honor and Pity and Pride and Compassion and Sacrifice. Truyện ngắn này dường như là tự truyện của tác giả. Vai chính cũng tên là Nam. Truyên cuối cùng, The Boat là truyện của một chiếc thuyền chở thuyền nhân gặp băo ngoài khơi, một cảnh bi thảm của người Việt Nam đi t́m tự do. Nhưng Lê Nam như ông viết trong truyện Love and Honor and Pity and Prode and Compassion and Sacrifice là ông không muốn viết truyện về những sắc tộc. Nhưng nghe thầy, nghe bạn ông đă khai triển những truyễn về những sắc dân, không chỉ riêng tại Việt Nam mà ở trên ba lục địa: Đông Á và Tây Á rồi Bắc Mỷ và Nam Mỹ và Úc Châu. Thay đổi khung cảnh như vậy, Lê Nam đă nh́n thấy rồi kể lại nhưng cái khổ làm người quanh trái đất. Nét tạp chủng trong truyện ngắn của Lê Nam do đó dường như mang mầu sắc tạp chủng nhưng khách quan v́ không nhiễm tự ái quốc gia hay chủng tộc.

II

T́m ra điểm tiếp giáp giữa ḍng văn học hậu ngoại thuộc tạp chủng Đại Đông Á với toàn bộ văn học Anh Ngữ là một câu hỏi không dễ trả lời của giới nghiên cứu văn học. Gần đây, Tamara S. Wagner[3] để nghị dùng t́nh hoài hương, nostalgia, một chủ đề chính trong ḍng văn học tạp chủng Đại Đông Á, làm mạch nối tiếp với ḍng văn học cổ điển Anh ngữ. Theo nhà nghiên cứu này, t́nh hoài hương trong ḍng văn học tạp chủng Đại Đông Á gồm ba nhánh. Một là chuyển biến của t́nh hoài hương thành cảm hứng thúc đẩy người nhớ quê hương cầm bút sáng tác; hai là ư muốn trở về nguồn qua những truyện cổ tích truyện, truyền kỳ và ba là ư muốn thơ mộng hóa cuộc dấn thân của cá nhân vào nếp sống tạp chủng ngoài xă hội. Theo từ nguyên, t́nh hoài hương chỉ có nghĩa là nỗi nhớ quê hương bản quán; nhưng t́nh hoài hương thường đi liền với ư chí đi t́m căn tính cá nhân. Theo nghĩa y học, nhớ quê hương thựng là một mối buồn, một căn bệnh tưỏng, thường thấy trong giới những binh sĩ đồn trú lâu ngày nơi biên ải hay nhưng người bị tù đầy biệt xứ lâu năm. Với những người di dân xa quê lâu năm, t́nh hoài hương thường đem lại cho người xa quê những h́nh ảnh huy hoàng của quá khứ vàng son ngày c̣n ở quê nhà, khiến mọi sự việc liên quan tới quê nhà đều đáng trọng đáng quư.

Những chuyển biến của t́nh hoài hưong kể trên là những nét tiêu biểu cho tiểu thuyết của Kazuo Ishiguro và Catherine Lim. Cả hai nhà văn này đều khéo đặt những tự truyện của ḿnh trong khung cảnh lịch sử đất nưóc, hay xă hội bên ngoài. Catherine Lim gợi lại những vấn đề nẩy sinh dưới chế độ thuộc địa, tiếp tới là chế độ hậu thuộc địa rồi chế độ tân thuộc địa. Nhưng tất cả những sụ kiện đó chỉ là khung cảnh cho những tự truyện của nàng, dường như để bày tỏ nếp sống của nàng, hay để tŕnh bày thân phận con ngựi: thân phân con người không phải chỉ riêng sống tại Tân Gia Ba mà là thân phận con người con người ở khắp mọi nơi dưới ánh mặt trời. Tương tự Kazuo Ishiguro nhấn mạnh nét bút khi viết về nhưng đề tài phổ quát và những đề tài chỉ trích lối sống sắc tộc sáo rỗng phô trương. Ông phân tích rành mạch tỷ mỉ những ǵ đáng nhớ những ǵ đáng quên, để tự tha thứ cho chính ḿnh những lầm lỗi không cách nào chuộc lại đưọc, và để sẵn sàng chống trả với mọi tại họa tương lai. Đó là h́nh ảnh của Ono, một nghệ sĩ giữ vai chính trong cuốn The Floating Word, xuất bản năm 1986. Trong đường hưóng tư duy này, Ono không chỉ gợi lại dĩ văng để vương mối buồn nhớ quê xưa, mà là để rút tỉa từ những nhữ lỗi lẩm quá khứ ra những kinh nghiệm để sẵn sàng đối phó với mọi chuyển biến bất lợi trong tương lai.

Trong cuốn The Remaining of the Day, Kazuo Ishiguro chú tâm tới vấn đề dùng ḷng hoài hương để lèo lái cuộc sống. Theo ông thời đó là một nếp sống can đảm và đáng trọng, nhưng thái độ này thường thường không thực dụng. Với một người cầm bút, viết về t́nh hoài hương là một nẻo giúp họ t́m lại được nhân phẩm, giải tỏa dưọc mọi ức chế, t́m được nguồn an ủi. T́nh hoài hương là phương thuốc hữu hiệu nhất để tái lập căn tính. Tuy nhiên, Kazuo Ishiguro vẫn hoài nghi về kư ức cũng như khả năng tương nhượng của con ngựi, trong việc t́m kiếm căn tính cho chính ḿnh hay cho đất nước của ḿnh. Trong cuốn When We Were Orphan, hoàn tất năm 1996, Kazuro Ishiguro, tŕnh bày mối suy tư của ông trong việc hồi ức quá văng, đối mặt với toàn bộ vấn đề thực tế, để t́m ra căn tính trong một xă hội đa sắc tộc và đa văn hóa. Trọng tâm của cuốn truyện này là việc tái lập quá văng, nguồn gốc và căn tính cá nhân. Những ǵ mà kư ức c̣n nhớ rơ và những ǵ kư ức đă lăng quên, là những yếu tố tạo nên t́nh hoài hương, hiểu theo nghĩa nỗi nhớ nhà, và đó là cảnh côi cút, orphanhood của kể sống tha hương. Đó là nẻo đi t́m lại những mất mát trong quá khứ, trong việc lục soát kư ức và căn tính cá nhân, trong cảnh sống tạp chủng, tỷ như những va đụng của niềm tự hào quốc gia trong một vụ tranh chấp quốc tế.

Chuyển sang tiểu thuyết của Catherine Lim, giới nghiên cứu nhấn mạnh trên điểm Catherine Lim đă dùng khung cảnh Tân Gia Ba thời chuyển đoạn từ chính thể thuộc dịa sang hậu thuộc địa để làm hậu trường, background, cho tự truyện của bà. Nhiều đọan trong truyện của Catherine Lim tả lại những sôi nổi của chính cuộc tại Tân Gia Ba, mô tả những va đụng giữa truyền thống của những sắc tộc cùng sống sát cánh nhau tại quốc gia này. Cuốn The Teardrop Story Woman tŕnh bày những mẩu truyện tạo quanh một chủ ư. Chủ ư đó là thu thập rồi tŕnh bày một số truyện vụn vặt, rồi kể lại cho nhau nghe để cho đời sống này thêm đáng sống. Vai chính trong truyện, nàng Mei Kwei, từ thời c̣n là con gái, tiếp tới thời lấy chồng rồi thời làm mẹ, nàng không ngừng thâu thập đủ mọi loại truyện nàng được nghe được thấy, tựa như bà ngoại nàng góp những mảnh vải vụn, rồi sắp xết theo mầu sắc, thiết trí thành h́nh vẽ, cuối cùng giáp nối những mảnh vụn đó, để khâu thành một chiếc chăn patchwork cho riêng bà. Nhựng truyện Mei Kwei thu thập để kể lại đều vô hại, nhưng mỗi lần nàng nhớ lại buổi gặp gỡ bạn bè để kể những truyện đó là một lần nàng thấy vui trong ḷng. Mei Kwei cũng may một chiếc chăn patchwork bằng những truyện thầm kín riêng của nàng: mỗi lần nàng gặp Francis là nàng có thêm một truyện mà nàng không bao giờ quên, như thể có thêm vải để nối dài chiếc chăn. Mei Kwei lấy cuôc t́nh bí mật của nàng với Francis làm truyện của đời nàng. Nàng kết hợp những ước mơ, những linh cảm, những trùng hợp cùng với những biến cố thực sự xẩy ra ngoài xă hội đa sắc tộc tạo nên một tấm chăn patchword cho riêng nàng.

Trong cuốn Following the Wrong God Home, hoàn tất năm 2001, t́nh tiết trong truyện trải dài suốt thập niên 80 sang nửa thập niên 90, tác giả kể lại những sôi động dưới chế độ chính trị bảo thủ trong việc thiết lập căn tính quốc gia, cùng những va chạm giữa những cộng đồng sắc tộc, bằng một bút pháp khiến người đọc thấy những t́nh tiết đó vượt khỏi biên giới địa phương mà thành những nỗi khổ làm người, le mal de vivre.

III

Tác phẩm viết bằng Anh ngữ của Yung Krall, và Lê Nam, mang lại cho người đọc Việt Nam một ngạc nhiên thích thú. Đó là cả hai tác giả cùng khai triển chủ đề chính của nền văn học Việt Nam. Chủ đề này là cái khổ làm người .

Cái khổ của cô Kiều trong Đoạn Truờng Tân Thanh, cái khổ làm vợ lính của người thiếu phụ trong Chinh Phụ Ngâm, hay cái khổ làm người cung nữ trong Cung Oán Ngâm Khúc là những cái khổ làm người trong văn học cổ điển Việt Nam. Cái khổ của Yung Krall, là cái khổ làm người trong một gia đ́nh bị chia hai, trong một đất nước bị xé đôi trong khúc cuối của thời ngoại thuộc chuyển sang thời cộng thuộc. Sau hết cái khổ của nhân vật trong truyện ngắn của Lê Nam, ngoài cái khồ làm người Việt Nam thời Tân Thực Dân, mà c̣n là cái khổ của con người tại Columbia, tại Nữu Ước, tại Úc Châu, Nhật Bản hay tại Iran.

Tạm gác những truyện của Lê Nam viết về cái khổ làm người ở ngoài Việt Nam, điểm tương đồng thứ hai giũa ba nhà văn Việt Nam viết tiếng Anh này là cả ba cùng viết về tự truyện của ḿnh hay đúng hơn là của gia đ́nh ḿnh. Viết tự truyện là một vấn đề mà Kazuo Ishiguro cũng như Catherine Lim, Jung Krall, và Lê Nam đều phải đối mặt, cũng như mọi tác giả khác, viết truyện với vai chính tự xưng là tôi hay viết về cộng đồng hoặc sắc tộc của ḿnh. Đó là cái khó trong việc t́m ra những điều đáng nhớ, những ǵ đáng quên trước cái đúng sai của khung cảnh lịch sử của câu truyện. Người đọc Kazuo Ishiguro, cũng như Catherine Lim, nhận thấy những điều c̣n nhớ những điều đă quên, những cái đúng sai này đă giúp nhà văn Nhật Bản rút tỉa đươc những kinh nghiệm để tiếp tục cuộc sống ngoài nước, để giúp Catherine Lim tŕnh bày những va chạm giữa các cộng đồng sắc tộc, giữa nếp sống cũ và mới.

Trong cuốn A thousand Tears Falling, Jung Krall viết về hai tai họa xé đôi gia đ́nh bà trong hai khung cảnh lịch sử quan trong của đất nước. Lấn thứ nhất là cảnh đất nước bị chia đôi năm 1954, và một miền Bắc sa vào cảnh Cộng thuộc, và một nửa triệu người Bắc di cư vào Nam; lần thứ hai là cảnh cả miển Bắc và miền Nam Việt Nam sa vào ṿng Cộng thuộc năm 1975 và vụ vượt biển kéo dài hơn mười năm của trong ngoài hai triệu thuyền nhân. Điểm đặc biệt trong cuốn A Thousand Tears Falling là t́nh tiết Yung Krall cộng tác vớu CIA. Đây là một bức họa tạp chủng mà nếu người đọc muốn t́m thấy mầu sắc Việt Nam, phải đọc ư ngoài lời của cuốn truyện. Cộng tác với cơ quan phản gián này, trên thực tế, đứng trên quan điểm của một công dân Hoa Kỳ, Jung Krall đă hoàn tất bổn phận của một công dân Hiệp Chủng Quốc, và ngược lại, t́nh tiết bà đ̣i chính phủ Hoa Kỳ chấp nhận cho gia đ́nh bà di tản vào Hoa Kỳ là một quyền lợi của người công dân Hoa Kỳ. Đối với những người c̣n đứng đối mặt với chính quyền toàn trị Hà Nội, th́ việc cộng tác này là một hành động của một người c̣n tiếp tục tranh đấu. Sau hết với đồng minh của thân phụ bà th́ đó là một hành động chống đối khó có thể tha thứ được.

Nh́n trên mặt truyền thống văn học, việc cộng tác với CIA của Yung Krall gợi cho ngựi đọc truyện Ngô Phu Nhân Quy Thục trong Tam Quốc Chí. Câu truyện đó đi văn học Việt Nam trong thơ Phan Văn Trị với câu:

Thà mất ḷng anh được bụng chồng

Đứng về phe đồng minh của thân phụ Yung Krall, việc bà cộng tác với CIA có thể coi như việc Mỵ Châu lấy móng thần Kim Quy cho vua cha đưa cho chồng. Việc bà gặp lại thân phụ lần cuối chẳng khác ǵ h́nh ảnh Mỵ Châu ngồi sau lưng ngựa cùng vua cha chạy giặc. Biết đâu cuộc gặp gỡ này đă chấm dứt sự nghiệp của nhà ngoại giao này.

Lê Nam, như ông kể trong truyện Love and Honor and Pity and Pride and Compassion and Sacrifice, mở đầu tập tuyển truyện ngắn The Boat, đă cho biết là để cho tác phẩm khác với tác phẩn của những tác giả khác, ông phải viết vể quá khứ, background, và kinh ngiệm sống, life experience của ông. Ông chọn một câu 11 chữ trên đây của William Faulkner trong bài diễn văn nhận giải văn chương Nobel, năm 1950, làm đầu đề cho truyện vào sách, phải chăng là ông muốn tự đặt cho ḿnh một giáo lư, ethic, trong việc viết lại những sự thật lịch sử, theo đúng lời cảnh tỉnh của William Faulkner? Như vậy, phải chăng là Lê Nam đă gặp nhà văn Nhật Bản Kazuo Ishiguro và nhà văn nữ Catherine Lim trong việc viết về sắc tộc hay cộng đồng của ḿnh? Điểm giáo lư này không phải là một điểm chưa từng có trong lịch sử văn học Việt Nam. Thật vậy, vua Trần Minh Tông (1300-1357), khi lâm chung đă sai người đốt hết thơ văn, nhưng ngày nay vẫn c̣n giữ lại được một số nhỏ. Quốc sử c̣n chép rằng về cuốu đời vua Minh Tông, trong triểu có nhiều mâu thuẫn gay gắt đưa tới nhiều vụ thanh toán nhau đẫm máu, nhà vua cũng bị lôi cuốn vào một vài vụ này, khiến sau đó phải hối hận. Không ai được biết nột dung của những văn thơ vua Minh Tông đă sai đốt đi, nhưng thơ đời xưa là để giăi ḷng. Phải chăng v́ trọng sự thực mà nhà vua đă sai đốt đi những bài làm nhà vua phải hối hận. Phải chăng đó chính là giáo lư cho người cầm bút ? Phải chăng giáo lư đó là truyền thống văn học của ngựi Việt?

Một h́nh ảnh cuối truyện Love and Honor and Pity and Pride and Compassion and Sacifice đă khiến người đọc này đọc một mạch hết cuốn truyện. Đó là h́nh ảnh thân phụ của Nam đốt tập bản thảo của Nam để cùng người bạn Hoa Kỳ mới làm quen bên bờ sông sưởi ấm bàn tay lạnh. Theo truyện của Nam, thân phụ ông là một nạn nhân, khi đó mới 14 tuổi, trong vụ thảm sát Mỹ Lai, nhưng sau đó ông trở thành quân nhân chiến đấu cùng với quân đội Hoa Kỳ. Nam không nói rơ đă viết ǵ trong tập bản thảo mà cha ông đă đốt đi. Đó là một điểm khiến chuỗi h́nh ảnh này nhắc tới truyện vua Trần Minh Tông sai đốt thơ văn của Người, khi lâm chung. Phải chăng cũng v́ giáo lư tôn trọng sự thật lịch sử của người cầm bút?

C̣n một điểm nữa khiến người đọc này thích đọc truyện Love and Honor and Pity and Pride and Compassion and Sacrifice của Lê Nam. Điểm này cũng nẩy sinh từ h́nh ảnh thân phụ Lê Nam đốt tập bản thảo của Lê Nam. H́nh ảnh này gợi cho người đọc h́nh ảnh người phạm thánh tượng, iconoclaste. Thiền sư Đơn Hà (738-824) đời nhà Đường đi vân du qua chùa Huệ Lâm, tại kinh đô. Gặp tiết đại hàn giá buốt, thiền sư rinh một trong ba bức tượng Phật bằng gỗ xuống bửa ra đốt để sưởi. Khi vị sư chủ tŕ hỏi, th́ ông trả lời là để t́m ngọc xá lợi. Sư chủ tŕ hỏi lại là: ‘đốt tượng gỗ th́ sao có ngọc xá lợi’. Thiền sư Đơn Hà trả lời: ‘nếu tượng gỗ đốt không thành xá lợi, thời xin cho tôi đốt nốt hai bức tưong kia mà sưởi cho ấm’[4] . Người phạm thánh tượng là người không coi trọng truyền thống, muốn dứt khoát với dĩ văng để đi t́m những cái mới mẻ thay thế. Trong địa hạt mỹ thuật, tiêu biểu cho giới phạm thánh tượng này là Marcel Duchamp (1887-1968), ông đă dùng đường lối phạm thánh tưọng đễ mong thay đổi chiều hướng của ngành hội họa mỷ thuật. Viết về cái khỗ làm người, dùng h́nh ảnh thân phụ ông đốt tập bản thảo của ông, phải chăng Lê Nam cũng nghĩ tới việc định hướng văn học cho riêng ông, như ông nói [5] :

“The question of suffering is really interesting, the question of appropriation of suffering is very interesting, the question of authority to represent trauma – whether it’s is a legacy of historical trauma that you inherit or a national cultural trauma that somehow you’re expected to write about because you happen to be born in a particular place or happen to reside on a particular place – I think those questions are really interesting, and I don’t really have an answer to them. What separates extraordinary writing from really good writing is that often it comes from writers that have talent but also have a wound. They hurt … In some way it’s mashochistic, because you keep rubbing yourself into that wound, to try to feel something at all.”

Đó cũng là điều khiến người đọc này thấy hứng khởi đọc lại mấy cuốn truyện của những tác giả Việt Nam viết tiếng Anh trong ḍng văn học tạp chủng này. Và đó cũng là lư do khiến người viết bài này, tin rằng trong tương lai, số người Việt Nam viết tiếng Anh sẻ đông đảo hơn, và sẽ góp được tiếng nói của người Việt Nam trên văn đàn hoàn vũ.




 [1] Yung Krall, AThousand Tears Falling, Longstreet Press, Atlanta Georgia, 1995.
[2] Lê Nam, The Boat, Bond Street Books, Double Day Canada, 2008.
[3] T.S. Wagner, Nostalgia, Historicity, Hybridity: Representations of Asian identities in the historial novels of Kazuo, Ishiguto and Catherine Lim, Atlantic Literary Review, vol.2, # 4 (2001), p. 154-165.
[4] Suzuki, Thiền Luận, bản dịch của Trúc Thiên, Đại Nam tái bản tại Hoa Kỳ, tr. 545-546.
[5] David Ravensbergen, Nam Lê, Defender of Fiction, http://thetye e.ca/Books/2008/11/27/NamLe/