Chữ song là tiêu biểu cho một ngày trọng đại trong đời con ngưòi: ngày thành hôn, lấy vợ hoặc lấy chồng. Chữ song hỷ vì vậy thường liên kết với lời cầu chúc hạnh phúc cho đôi vợ chồng trẻ và rồi ra sẽ có con đàn cháu đống. Chữ song hỷ thường là hình ảnh trang trí trên các vật dụng hàng ngày như bát đĩa, bình hoa, và thông thưòng nhất là in trên giấy hồng điều, mang ý nghỉa những câu chúc tụng thông thường trong tiếng Trung Quốc như 白 頭 偕 老, bạch đầu giai lão đồng nghĩa với câu bách niên giai lão trong tiếng Việt Nam; hoặc 百 子 千 孫, bách tử thiên tôn, nghĩa là trăm con ngàn cháu. Hình tượng đôi vịt Bắc Kinh, bông hoa sen, trái lựu và Hỷ Thần cũng là những hình tượng tiêu biểu cho hạnh phúc lứa đôi, ước mong đông con nhiều cháu.

Hình 28. Song Hỷ.
Người Trung Quốc vả cả người Đông Á thường dùng mầu đỏ và chữ song hỷ để trang hoàng phòng cô dâu, với tin tưỏng rằng mầu đỏ mang lại yên vui cho cô dâu. Vậy nên từ đời Tống áo cưới cô dâu cũng dùng mầu đỏ. Chữ song hỷ cũng đi vào tập tục người từ đời Tống. Tục truyền là Vương An Thạch, khi ấy là một thanh niên đại tài, sau đó trở thành một vị thừa tướng lỗi lạc, đang trên đuờng về kinh đô thi hội. Gần tới kinh đô chàng thấy một đám đông tụ tập trưóc cửa nhà Mã đại gia. Hỏi ra mới hay là Mã ông hứa sẽ gã tiểu thư cho ai đối được vế câu đối treo trước cổng.
Vế câu đối đó như sau: [1]
tẩu mã đăng, đăng
mã tẩu, đăng tức mã đình bộ
Vương An Thạch đọc vế câu đối, buột miệng khen hay. Nữ tỳ nhà họ Mã cung kính mời chàng vào gặp chủ nhân, vì đã sáu tháng qua chưa có người nào đối được Nhưng Vương An Thạch phải vào kinh thi không trì hoãn được.
Kỳ thi dường như dễ hơn là Vương An Thạch hằng lo lắng. Quan giám khảo thấy chàng đặc biệt thông minh xuất sắc, muốn thử tài đối đáp của chàng, bèn ra một vế câu đối:
phi hổ kỳ, kỳ hổ
phi, kỳ quyển hổ tàng thân
So với vế câu đối của Mã đại gia, Vương An Thạch thấy hai câu đối nhau từng chữ. Chàng bèn đọc ra để đối câu của quan giám khảo. Quan giám khảo rất hài lòng.
Ra khỏi trường thi, Vương An Thạch lại đi qua nhà Mã đại gia, xin ra mắt để trình vế đối. Chàng đọc vế mà quan giám khảo đã ra cho chàng. Mã đại gia khâm phục, y lời gả con gái cho Vương An Thạch. Liền lúc đó, triều đình yết bảng vàng, Vương An Thạch đậu trạng nguyên. Hai tin vui đến cùng một lúc, người Trung quốc gọi là 雙 喜 臨 門, song hỷ lâm môn. Vương An Thạch cầm bút biết hai chữ hỷ liền nhau trên một tấm giấy hồng điều. Từ đó, có chữ song hỷ dùng biểu thị niềm vui mừng của hai họ trong ngày đám cưới. Cảnh Vương An Thạch, thi đỗ cưói vợ, trong tiếng Việt Nam là truyện mừng: đại đăng khoa liền tiểu đang khoa.
Trong năm phúc thần, song hỷ thần là vị phúc thần độc nhất không có hình tượng biểu thị cụ thể. Trong cổ tục Trung Quốc, hỷ thần là vị thần ban phát niềm vui cho cuộc sống, và thưòng xuất hiện nhân những dịp cưới hỏi. Trong lễ đón dâu, kiệu cô dâu, tùy theo tuổi tác và ngày cưới thường ra khỏi nhà gái, theo hướng do một thầy địa lý định trước, để đón hỷ thần. Đó là tục nghênh hỷ thần. Từ đời nhà Thanh, hướng nghênh hỷ thần ngày đám cưới thường in sẵn trong lịch hàng năm, tựa như tục xuất hành ngày tết Nguyên Đán tại Việt Nam. Tục nghênh hỷ thần ngày tết Nguyên Đán, đến gần nay vẫn còn tồn tại trong những xóm yên hoa tại Trung Quốc. Giới kỹ nữ là giới bị xã hội coi thường, nên ngày tết nhiều người không dám về gia đình chúc mừng cha mẹ găp gỡ anh em. Chị em kỹ nữ nhờ người đưa đi đón hỷ thần. Thường coi như gặp được hỹ thần nếu buổi xuất hành gặp đưọc gà gáy, như vậy hy vọng suốt năm gặp may mắn, sức khỏe rồi rào. Tranh dân gian vẽ hỷ thần như một vị văn quan, một tay nâng một khay trên có chữ song hỷ một tay cầm hốt theo sau có một gã tiểu đồng.

Hình 29. Hỷ Thần.
Ngoài ra người Trung Quốc lấy nhiều vật khác để tiêu biểu phúc thần này. Trong tứ linh: long ly quy phương, con rồng là tiêu biểu cho chữ phúc, con rùa cho chữ thọ, còn lại con lân và con phượng, cả hai cùng kết hợp với chữ hỷ.
Hình tượng kỳ lân 麒 麟, hay nôm na hình tượng con lân thường có mình là mình con hươu, đuôi tựa như đuôi bò, có vẩy như vẩy cá, đầu có một sừng, chân năm ngón. Kỳ麒 chỉ con đực, lân 麟 là con cái. Hình tượng kỳ lân xuất hiện vào thòi Tần Thủy Hoàng (221-206 trước công nguyên). Tại cửa chính nhiều nơi có trưng tương kỳ lân. Trong dân gian có bức tranh kỳ lân, mang danh là tranh 麒 麟 送 子 kỳ lân tông tử, vẽ hình một hài đồng kháu khỉnh, tay cầm một cành hoa sen, tiêu biểu cho ưóc vọng hay lời chúc tụng có con đàn cháu đống. Cành hoa sen trong tay hài đồng tương trưng cho sự liên tục của dòng họ. Tranh kỳ lân tống tử vì vậy còn gọi là tranh 連 生 貴 子, liên sinh qúy tử .

Hình 30. Kỳ Lân.
Tiếp theo viẽc dùng hình tượng kỳ lân để tiêu biểu chữ hỷ, người Trung quốc dùng tới hình tượng song phụng. Phượng là vua mọi loài chim. Trên các món quà cưới thường có hình một cặp phượng hoàng: phương là biểu tuợng cho phái nữ và hoàng cho phái nam. Dùng cặp phương hoàng trong việc trang trí cung điện nhà vua, người thấy giường vua gọi là long sàng; xe của`hoàng hậu gọi là phượng liễn.
Người Trung quốc có truyện truyền kỳ về chim phượng như sau. Về thời Xuân Thu (770-221 trước công nguyên) có người Tiêu Sử có tài thổi sáo. Tiếng sao của chàng có khả năng thu hút cả đàn công cả đàn hạc trắng tới nghe trong sân nhà. Lộng Ngọc là con gái Tần Mục Công, nghe tiếng sáo cũng mê chàng. Được cha cho thành hôn cùng Tiêu Sữ, Lộng Ngọc được chồng dậy thổi sáo và nhại tiếng chim. Rồi một hôm có một con phưọng lón tói đậu trước nhà Tiêu Sử và Lộng Ngọc. Cặp vợ chồng cỡi trên lưng phượng bay biệt tích. Từ đó hình ảnh chim phượng, kèm người thổi sáo tiêu biểu cho truyện vợ chồng hoà hợp.

Hình 31. Phượng Hoàng.
Hình ảnh quen thuộc nhất tiêu biểu cho chữ song hỷ là hình ảnh một đôi chim thước鵲 鳥, nhiều tự điển dịch là chim khách. Tiếng hót của chim khách báo trưóc có khách tới chơi, hoặc có tin vui, hoặc có tiền vào. Bức tranh vẽ một con chim khách đậu trên một cành mai thường gọi là 喜上 眉 梢, đọc theo tiếng Trung quốc là xi shang mei sha vì chữ 眉 và mei chữ 梅 người Trung Quốc cùng đọc là mei nên chữ này có thể hiểu là truyện vui trước mặt. Theo truyền thuyết, chim khách bảo vệ cảnh yên vui gia đình. Thế nên, nếu vì một lý do bất khả kháng, hai vợ chồng phải tạm xa nhau, họ thưòng đập một tấm gương vỡ làm hai mảnh, mỗi người giữ một nửa. Nếu ngưòi vợ phản bội, tức thì mảnh gương vỡ biến thành con chim thước đi báo cho người chồng. Thế nên mặt sau của những tấm gương thường có vẽ hình chim khách.

Hình 32. Đôi Chim Khách.
Về chim thước còn có tryện truyền kỳ sau đây. Nguyên Chúc Nữ, con gái Ngọc Hoàng Thưọng Đế, có việc dệt cửu trên thiên đình. Nàng sống bên bờ Đông sông Ngân, năm này qua năm khác dệt lua cho cha. Ngọc Hoàng gả nàng cho Ngưu Lang ở bên bờ Tây sông Ngân. Thành đôi vợ chồng, nàng trễ nải việc dệt lụa, khiến vua cha bất bình. Ra hình phạt nàng phải trở về bờ Đông sông ngân, và chỉ cho Ngưu Lang sang thăm, mỗi năm một lần, vào dịp tháng bẩy âm lịch. Và chỉ trong dịp này có đàn chim thưóc bay về sắp hàng thành nhịp cầu cho Ngưu Lang sang thăm Chúc Nữ. Thế nên giống chim thước con nào cũng trụi lông đầu đó là vết chân Ngưu Lang qua cầu chim thước. Gặp nhau, Chúc Nữ Ngưu Lang khóc lóc than khở nỗi nhớ thương xa cách, thế nên dưới hạ giới xuốt tháng bẩy trời mưa Ngâu không ngớt.

Hình 33. Ngưu Lang Chức Nữ.
Tiêu biểu cho chữ song hỷ, người Trung Quốc còn dùng hình ảnh một đôi uyên ưong. Uyên ương là một giống chim hình dáng giống như con vịt, con đực gọi là uyên cổ có lông trắng và dài, con cái gọi là ương, không có lông mã, thường sống chung suốt đời, đi đâu cũng có nhau, nên người Đông Á lấy làm tiêu biểu cho cảnh vợ chồng hòa hợp. Trong nhưng bắc tranh dân gian vẽ cặp uyên uơng thưòng kèm theo một bông sen, tiêu biểu cho ước mong sự hòa hợp lứa đôi được bền bỉ, vì hoa sen tiếng Việt Âm là liên 蓮, đồng âm với 連 có nghĩa là liền nhau. Thế nên nhưng tranh uyên ương kèm theo cành sen thường gọi là tranh uyên ương phúc lộc, tượng trưng lời chúc vợ chồng hoà hợp trong một tưong lai đầy phúc lộc. Hình tượng uyên ương xuất hiện từ đời nhà Hán (-220 – 220) Ngày nay nhưng cặp gối thêu, nhưng khăn hồng ngày cưới vẫn thường có thêu hình uyên ương.

Hình 34. Đôi Uyên Ương.
Truyền thoại về cặp uyên ương là một truyền thoại rất cổ, xuất phát từ thời Trung Quốc còn dưới chế độ phong kiến. Quan đại phu Hồng Phụ nước Tấn từ quan trở về bản quán. Vốn thích mở mang, quan đại phu khởi công cho lập một khu lâm viên, và triệu Uẩn Ca tới cai quản công tác nay. Tới Thanh Minh năm sau, Uyển Ca nghe thấy tiếng người kêu cứu từ phía hồ sen. Chính là Ánh Muội tiểu thư con gái Hồng Phụ ngã xuống hồ. Không ngần ngại Uyển Ca nhấy xuống cứu. Nhưng không những không cám ơn Uyển Ca đã cứu con, Hồng Phụ còn buộc tội Uyển Ca đã là xúc phạm tới Ánh Muội mà tống giam chàng. Tới đêm, Ánh Muội tới ngục thất thăm ân nhân và tặng một tấm áo bào thêu tuyệt đẹp. Khi Hồng Phụ biết truyện, ông sai người xé tan tấm áo bào của Uyển Ca, chói chặt chàng vào một tảng đá năng ném xuống hồ. Ánh Muội nghe tin này, nàng cũng lao mình xuống hồ. Sáng mai, người thấy một cặp chim lạ trên mặt hồ sen. Con đực có bộ lông rực rỡ con cái cũng rất xinh đẹp. Rồi đôi chim bay bổng lên trời. Ngưòi ta bảo đó là hồn Uyển Ca và Ánh Muội.
Ngoài đôi uyên ương người Trung Quốc còn dùng hình tượng một cặp cá chép để tiêu biểu cho tình yêu sự hòa hợp của một cặp vợ chồng. Đôi cá chép cũng là hình ảnh dùng làm quà đám cưới. Cá chép đẻ rất nhiều trứng, nên cũng là hình tượng tiêu biểu cho ước vọng có đông con nhiều cháu. Ngưòi Trung Quốc có thành ngữ: như ngư đác thủy, giống như tục ngữ như cá gặp nước của ngưòi Việt Nam, để mô tả cảnh thong dong gặp may mắn trong đời sống. Hình ảnh cặp cá chép tiêu biểu cảnh sống hạnh phúc đó.

Hình 35. Đôi Cá.
Thay thế cho Song Hỷ Thần, người Trung Quốc có Hoà Hợp Thần, hai vị thần bảo trợ cho sự hòa hợp trong gia đình. Trên các bức tranh dân gian, có hình tượng Hàn Sơn tươi cười, trong tay có một chiếc hộp tròn, và hình tưọng Thiệp Đắc tay cầm một cành hoa sen. Chữ 盒, chỉ cái hộp, tiếng Trung Quốc đọc là hé, và chữ 荷 chỉ bông hoa sen, cũng đọc là hé. Gồm cả hai hình ảnh thành từ ngữ 和 諧 (hoà hài) hay 和 好 (hoà hảo).

Hình 36. Hòa Hợp Nhị Tiên.
Bức tranh dân gian trên đây minh họa truyền thuyết về hai vị Hoà Hợp Thần. Cả hai cùng là người đời nhà Đường. Hàn Sơn và Thiệp Đắc là hai vị hoà thượng. người cùng làng, quê quán tại một làng nhỏ ở miệt Bắc Trung Quốc, và thủa trẻ là một đôi bạn thân, như hai anh em. Hai người cùng yêu một cô gái cùng làng.Khi Hàn Sơn nghe tin bạn sắp cưới cô gái, liền tức thời bở làng đi Tô Châu xin xuống tóc đi tu. Biết đươc tin đó, Thiệp Đắc, bỏ vụ cưới vợ, mang một cành hoa sen đi tìm Hàn Sơn. Gặp lại bạn, Hàn Sơn vui mừng, đưa biếu Thiệp Đác cái hộp tròn trong có bữa cơm chay. Hai người mừng rỡ ôm lấy nhau. Thiệp Đắc cũng xuống tóc. Sau đó hai người cùng tu lên tới bậc hoà thượng.
Tranh dân gian có bức Tứ Hỷ Oa, tương truyền xuất phát từ đời nhà Minh (1368-1644). Tranh vẽ hai hài đồng tươi cười dính liền vói nhau bằng lưng, nhưng nhìn kỹ thấy như có bốn hài đồng. Bức họa tương trưng niềm ước mong một cuộc sống lứa đôi hoà hợp hạnh phúc có con đàn cháu đống, và thường dùng làm quà đám cưới hay quà tạng nhân dịp lễ ăn đầy ntháng trè sơ sinh. Bức tranh minh họa truyền thuyết sau đây.

Hình 37. Tứ Hỷ Oa.
Dưới thời đầu triều Minh, có một thần đồng ra đời tại Cát Thủy, tỉnh Giang Tây, tên là Giải Tấn. Mới tròn năm tuổi đã thuộc lầu Tứ Thư và Ngũ Kinh. Hoàng đế biết tiếng, bèn triệu vào hoàng cung để khảo hạch. Giải Tấn vượt qua cuộc khảo thí chẳng chút khó khăn, và được đặc biệt cho đỗ tú tài, và trở về Cát Thủy theo học thêm tại Huyện Học Niệm Thư. Một trong những giáo luận tại trường coi Giải Tấn còn quá trẻ nên ông muốn thử tài. Một hôm ông đòi học sinh vẽ một cảnh tiêu biểu cho viêc được mùa năm đó. Giải Tấn nộp bức vẽ kèm thêm bốc chữ: 如 意 靈 芝, như ý linh chi.thầy giáo luận không vừa ý, Giải Tấn vẽ một bức khác và đề bốn chữ 迎 福 納 吉, nghênh phúc nạp cát, thầy giáo luận vẫn coi là thiếu ý mới. Giải Tấn cảm thấy thầy giáo luận như cố ý làm khó, chàng liền vẽ bức 四 喜 合 局, tứ hỷ hợp cụ , gồm bốn hài đồng liền lưng với nhau. Thầy giáo thụ hỏi: tứ hỷ gồm nhưng gì? Giải Tấn thưa:
Cửu tảo phùng cam
vũ
他 鄉 遇 估 知
Tha hương ngộ cố
tri
洞 房 花 燭 夜
Động phòng hoa
chúc dạ
金 榜 題 名 時
Kim bảng đề danh
thì.
nghĩa là:
Xa quê gặp người quen
Đuốc hoa đêm động phòng
Bảng vàng ngày đề tên
là bốn điều vui trong đời người. Đó chính là giấc mộng của mọi người nam Trung Quốc. Từ đó thầy giáo luận không thử thách Giải Tấn nữa.
Người Trung Quốc còn dùng nhiều hoa quả để tiêu biểu cho hỷ thần. Thông dụng nhất là trái táo, đọc theo tiếng Trung Quốc đồng âm với chữ đáo, nghĩa là tới. Người Trung Quốc thời xưa, người làm nghề nông luôn luôn ước mong được đông con nhiều cháu, hay cháu con sớm thành đạt; người buôn bán ước mong phát tài, nên quả táo, tiêu biểu cho ước vọng: 早 生 子, tảo sinh tử, nghĩa là sớm sinh con; hoặc 早 發 財, tảo phát tài, nghĩa là sớm phát tài. Trái táo bày chung với trái long nhãn tiêu biểu cho câu 早 生 貴 子, tảo sinh qúy từ, nghĩa là sớm sinh quý tử, sau này làm quan, vì trái long nhãn biểu hiệu cho chữ quý.
Sau trái táo, người ta thuờng dùng trái hạt giẻ. Hạt giẻ trong tiếng Trung quốc là 栗 子, lật tử, đồng âm với hai chữ 立 子, lập tử, ước vọng của những ai muốn lập gia đình. Kết hợp trái táo với trái hạt giẻ, biểu thị lời chúc tụng sớm có con, vì chữ táo, như trên đã nbói đồng âm với chữ tảo, nghĩa là sớm. Ngoài ra chữ lật 栗 trong tiếng Trung Quốc đồng âm với chữ 禮 lễ, một đức tính mà người Trung Quốc coi trọng trong việc cư xử.
Đậu phọng hay lạc tiếng Trung Quốc viết là 花 生. Cũng như trong tiếng Việt Nam, chữ sinh còn có nghĩa là sinh con đẻ cái, nên lạc biểu thị lời cầu chúc đông con nhiều cháu. Trái dưa, 瓜 vốn nhiều hạt, tiêu biểu cho ước mong đông con nhiều cháu, và cũng bởi trong tiếng Trung Quốc chữ 瓜, qua, đồng âm với chữ 娃, oa hay còn đọc là uyên nghĩa là đứa hài đồng. Để tăng phần hạnh phúc, người ta thường nhuộm đỏ hạt dưa. Cùng một ý nghĩa, trái lựu, có nhiều hạt, cũng tiêu biểu cho ước mong con đàn cháu đống. Mâm quả gồm trái đào trái phật thủ và trái lựu, thường gọi là mâm quả tam đa: đa phúc, đa thọ và đa tử.
Thời xưa, sau tiệc cưới, tiễn khách ra về, người ta thương lại quả cho khách vài trái trứng nhuộm đỏ, gọi là 紅 蛋, hồng đản. Tục này, theo truyền thuyết phát xuất từ thời Tam Quốc, trong thời gian hai nước Ngô và Thục liên kết chống lại nước Ngụy. Tuy nhiên nước Thục chiếm một phần đất Kinh Châu không chịu trả lại cho nước Ngô. Chu Du, tướng nước Ngô lập mưu chiếm lại Kinh Châu, hứa gả công chúa Đông Ngô là Tôn Thượng Hương cho Lưu Bị, và mời Lưu Bị sang Đông Ngô, rồi giữ Lưu Bị làm con tin để ép trả lại Kinh Châu. Nhưng Gia Cát Lượng, thừa tướng nhà Thục, đoán được kế của Chu Du, dùng kế hồng đán. Lưu Bị sang Đông Ngô, mang theo rất nhiều trứng nhuộm đỏ để tặng cho mọi người mà ông gặp bên Đông Ngô. Tin Lưu Bị thành phò mã Đông Ngô lan truyền nhanh chóng, khiến Chu Du không dám thi hành quỷ kế bắt Lưu Bị làm con tin để ép Lưu Bị trả lại Kinh Châu được. Lưu Bị lấy được vợ, không mất đất Kinh Châu. Từ đó việc dùng hồng đán lại quả sau tiệc cưới thành thông dụng trong dân gian.
Theo truyền thống Á Đông, người thường đốt pháo, để xua đuổi tà ma, để đón chào năm mới, để biểu lộ niềm vui, nên thường đốt pháo vào dịp đầu năm, để đón mừng một năm mới, một niềm hy vọng mới, cũng như trong dịp đám cưới khi cô dâu về tới nhà chồng. hay khi khai trương một cơ sở buôn bán làm ăn mới. Tục đốt pháo bắt đầu từ đời nhà Đường: người ta nhồi thuốc nổ vào trong ống tre để làm pháo. Sang đời Tống, người quấn thuốc nồ trong nhưng lớp giấy, thay thế cho đốt tre thành một cái pháo. Kết nhiều cái pháo thành tràng pháo hay bánh pháo. Giấy làm pháo thường nhuộm đỏ, mầu hy vọng, mầu tết Nguyên Đán của người Đông Á. Hình ảnh một người đốt pháo từ lâu vẫn là hình ảnh niềm vui đón xuân.
Truyện xưa kể rằng, tại một vùng núi xa xôi, có một con quỷ tên là niên 年, cũng là chữ để chỉ thời gian: năm tháng. Con quỷ này chỉ hiện ra dọa nạt dân chúng vào buổi chiều ngày mùng một Tết. Người ta tìm cách xua đuôi mà không được. Lâu dần người ta nhận ra là quỷ, sợ tiếng nổ, sợ ánh lửa và sợ mầu đỏ. Đằng khác, người ta lại nhận ra là mang đốt nhưng đốt trúc khi gây ra được tiếng nổ lớn. Từ đó người ta phát minh ra cái pháo và đốt pháo để xua đuổi tà ma, đồng thời để biểu lộ niềm vui người ta thích gây ra tiếng động, thí dụ khi hài lòng người ta thường vỗ tay. Từ đó có tục đốt pháo để bày tỏ niềm vui.