Từ ngày thành lập lại thế vận hội cho kỷ nguyên mới, những người sáng lập
nghĩ rằng đă b́nh đẳng hoá và giáo hóa được những người ưa chuộng thể thao.
Thực thế, trưóc đây trong Thế vận hội cổ đại, các cuộc thi đấu đều chỉ được dành
cho giai cấp quí phái, và sau này các mon thể thao mới theo Anh quốc, nhiều nước
chỉ dành các cuộc thi đấu cho giới sang giầu v́ cho rằng chỉ có giai cấp này mới
đủ phương tiện tài chánh và khả năng tham gia.
Nhưng từ khi Bá tước Pierre De Coubertin gốc Pháp qui tụ được 2000 nhân sĩ hội
họp và đồng thuận chấp nhận cho tất cả mọi lực sĩ đủ mọi thành phần trong xă hội
đều có quyền tham gia miễn là theo đúng qui luật của Ủy hội Thế vận và nhằm mục
tiêu cao cả thăng tiến mọi môn qua ba châm ngôn Cao hơn, Xa hơn và Mạnh hơn.
Nhưng từ ngàn xưa mỗi khi có cuộc thi đấu là tạo nên ganh đua và phải có người
thắng cuộc và người thắng cuộc nào cũng nhận phần thưởng tinh thần hay vật chất
nhờ, và từ tài trí và sức mạnh thiên nhiên v́ vậy con người đă bắt đầu t́m các
phương pháp để tăng cường sức mạnh nhằm đạt chiến thắng.
Lịch sử Thế vận hội đă cho biết từ cổ xưa các lực sĩ đă dùng các phương pháp
tăng cường mà ngày nay chúng ta dùng danh từ Doping thay thế chữ của đủ các nước
dùng để định nghĩa những phương pháp nhằm tăng sức khi tranh giải.
Từ năm 480 trước công nguyên đă có t́nh trạng doping khi lực sĩ chạy môn
Marathon đă cho biết anh thắng cuộc nhờ ăn toàn thịt trong khi đồ ăn thường dùng
ngày đó là bánh ḿ, rau, và cá. Như vậy lịch sử cho biết doping bắt đầu nhờ dinh
dưỡng qua việc dùng nhiều thịt trong các bữa ăn từ thời gian trước các cuộc thi
đấu.
Sau này các chuyên viên cung cấp các phương pháp doping đă dựa theo các cơ năng
của con người để dùng các phương pháp tăng cường các cơ năng đó và nhờ đó lực sĩ
đạt được các thành tích thực hiện đúng châm ngôn cuả Bá tước De Coubertin: MAU
HƠN, CAO HƠN và MẠNH HƠN.
Người Trung Hoa từ lâu đă dùng hai chất thảo dược là MA HOÀNG và MĂ TIỀN để tăng
sức.
Mă tiền có tinh chất là Strychnine do tinh chất của được thảo Strychnos vomica,
có tác dụng kích thích thần kinh hệ, khiến thở dễ và tâm thần tỉnh táo. Tuy
nhiên dùng quá liều sẽ gây tử vong v́ co rút các cơ. Strychnine một mặt dùng làm
thuốc kích thích khi liều nhẹ, nhung trở thành thuốc dùng trong các cuộc đầu độc
theo các truyện trinh thám cuả Agatha Christie.
Tinh chất hoá học của MA HOÀNG là éphédrine một chất thuốc ban đầu dùng để chữa
trị cảm cúm và áp huyết thấp. Ma Hoàng do cây họ Ephedra Sinica mà thảo dược học
gia Nhật Nagayosshi Nagai đă t́m ra năm 1885 và chứng minh được tinh chất
ephedrine có tác dụng trên hệ giao cảm trong năo bộ và tạo nên kích thích cũa
năo. Từ ephedrine biến chuyển qua AMPHETAMINE mà học sinh ngày xưa hay dùng để
thức học thi và kích thích trí nhớ. Amphetamine sau này qua các chế biến đă trở
thành dược liệu chữa trị bịnh thiếu chú ư của trẻ em, nhưng sau khi nghiên cứu
các chuyên gia Doping đă thấy Amphetamine có hiệu lực tăng mức độ nhịp tim và
dựa theo sự liên lạc giữa các chức năng: Trung tâm hô hấp tại năo bộ, bộ tuần
hoàn và hệ hô hấp gây ảnh hưỏng trên mức độ tăng cường sức mau và sức chịu đựng
của con người , những người phát sinh ra cách dùng amphetamine làm chất doping
lúc ban đầu nghĩ như sau:
Amphetamine làm tăng nhịp tim, tim đập mau đem theo lượng cao hồng huyết cầu
mang oxy tới phổi và nhờ phổi thải ra chất CO2 đồng thời trao đổi và mang lại
khối lượng Oxy lớn hơn cân thiết cho bắp thịt sử dụng, nhờ đó lực sĩ nhờ lượng
oxy cao hơn sẽ chạy, nhảy mau và cao hơn đồng thời bền bỉ hơn nhờ thải ra lượng
CO2 cao hơn.
Trên chiều hướng rất khoa học đó nảy sinh ra phương pháp đặc biệt cho rằng nếu
tăng lượng máu trong cơ thể, số hồng huyết cầu cũng tăng và cũng giúp cơ thể
trao đổi CO2 và dưỡng khí nhiều hơn và một loại doping bằng truyền máu ra đời.
Đồng thời quân đội Hoa kỳ năm 1993 tại Fort Bragg cũng sử dụng gián tiếp trong
một cuộc thao dượt, khi nhận thấy trước khi thao dượt khi truyền cho quân nhân
lực lượng đăc biệt hai, ba đơn vị máu, quân nhân thao dượt lâu hơn và khả năng
khi tác chiến cũng hữu hiệu hơn. Và từ đó việc doping bằng truyền máu ra đời.
Sau này khi khoa học tiến xa hơn, người ta t́m thấy ngay trong vỏ thận con người
có chất epo tên tắt của chất kích thích tố thiên nhiên erythropoteine nhằm cung
cấp hồng huyết cầu và sau khi chế biến kích thích tố này trở thành dược liệu để
chữa trị các bịnh thiếu máu. Các chuyên gia nhận thấy đây là cách thay thế
doping bằng truyền máu v́ không cần dùng các dụng cụ truyền máu rất phức tạp,
cồng kềnh và dễ bại lộ.
Doping tiến triển không ngừng và sau ba yếu tố kích thích năo bộ, tăng cường
việc trao đối CO2 và Oxy, người ta nghĩ tới phương pháp thứ ba: Tại sao không
tăng lưu lượng Oxy bằng cách làm răn nở cuống phổi và diện tích trao đổi C02 và
Oxy qua các thuôc dùng trong cách chữa trị suyễn. Salbutamol dùng để răn nở khí
quản và cortisone dùng để giảm sưng phế quản và phế nang được sử dụng và trong
vài cuộc thi đấu bỗng nhiên số lực sĩ tự dưng khai là suyễn tăng lên và các cơ
quan kiểm soát đă chú ư tới hiện tượng này.
Doping c̣n tiến xa hơn nữa và các chuyên viên khoa này cũng nghĩ tại sao không
nghĩ đên các phương pháp trực tiếp tăng cường chính các bắp thịt là bộ máy cần
thiết nhất để thành công trong mọi cuộc tranh đua.
Và thế là các loại thuốc kích thích tố dương có ảnh hưỏng tiến biến ( steroide
anabolisant ) được dùng để tăng trưởng chính các bắp thịt. Người lực sỉ dùng
anabolisant có những bắp thịt cuồn cuộn, trông hùng tráng và khi thi đấu đă đạt
được kết quả vượt mức. Năm 1988 tại Seoul khi Ben Johnson của Canada người dùng
anabolisant đă tạo nên một kỷ lục thế vận và thế giới khi chạy 100m trong ṿng 9
giây 74, một thời gian kỷ lục chưa một lực sĩ nào phá nổi cho tới nay nhưng
không may anh bị ban kiểm soát phát hiện và kỷ lục không được công nhận và anh
bị tước bỏ mọi danh vọng, mất hết tiếng tăm và tiền thưởng của các hăng thương
mại dành cho anh và từ anh hùng thể thao, tên tuổi anh rơi vào quên lăng và c̣n
mang tiếng xấu gian lận.
Ngoài chất kích tích tố anabolisant, các chuyên viên doping c̣n dùng hormone de
croissance hay growth hormone một loại thuốc để chữa trị trẻ em chậm lớn để dùng
kích thích tăng trưởng các bắp thịt cho lực sĩ.
Như vậy ta nhận thấy việc kích thích sức mạnh hay doping trở thành một kỹ nghệ
v́ mỗi ngày một phương pháp mới ra đời và hiệu quả hơn các phương pháp đó.
Để ngăn chặn các cuộc gian lận, một ủy ban kiểm soát các chất kích thích ra đời
chính thức năm 1996 tuy và ban đầu đă có những cuộc kiểm soát qua thử nước tiểu
các lực sĩ thắng giải.
Các phương pháp né tránh kiểm soát cũng không thiếu. Có lực sĩ đem theo nước
tiểu của người khác khi tŕnh cho ban kiểm soát, có lực sĩ dùng các thứ thuốc
che dấu như dùng furosemide một loại thuốc lợi tiểu có tên thương mại là Laxix
để che dấu. Nhưng sau này không những thử nước tiểu một lần, ban kiểm soát c̣n
thử lại lần thứ hai và c̣n thử máu và từ đó t́m thấy đủ thứ gian lận. Chất
probenecide cũng được dùng để che dấu vết các thuốc kích thích.
Thử nước tiểu thường có thể thấy ngay các dược liệu, và nếu thêm cả thử máu,
ngoàicác dược liệu c̣n phát hiện được cách kích thích nhờ truyền máu qua sự ghi
nhận của số hồng huyết cầu quá cao cũng như khi khối lượng đậm đặc của huyết cầu
đỏ cũng cao hơn 52 o/o .Và từ đó một bản danh sách các dược liệu và các phương
pháp doping đă ra đời và trừng phạt nặng nề các lực sỉ phạm lỗi.
Tuy nhiên các chuyên viên trong kỹ nghệ doping vẫn c̣n thi đua qua mặt các cơ
quan kiểm soát. Mới đây người ta vừa phát hiện việc dùng Insuline thuốc trị tiểu
đường trong việc doping v́ khi chích insuline, một mặt lượng đường xuống, mặt
khác lại tăng sức mạnh lên gấp bội nhờ khi lượng đường trong máu hạ thấp, chất
kích thích tố hormone de croissance tự động tiết ra.i.
Vá tân kỳ hơn nữa việc dùng khoa di truyền học với những gene đặc biệt dùng tăng
độ phát triển của bắp thịt đang là một đề tài thời sự.
Viết về doping và phản doping cần cả ngàn trang giấy cũng chưa hết v́ hiện nay
cơ quan chống doping do Dick Pound và B.S. Ayotte của Canada đề ra c̣n đang hoạt
động và cũng gặp nhiều chống đối và trong tương lai vẫn c̣n là một đề tài hấp
dẫn.
Trong khuôn khổ và tôn chỉ của Truyền Thông chúng tôi chỉ dám giới hạn việc
tŕnh bày vấn đề này một cách khái quát.
Thế nhưng tại sao các lực sĩ và các hăng bào chế đua nhau t́m kiếm và sử dụng
các loại doping. Ngoài việc tạo danh vọng mỗi khi tạo kỷ lục Thế vận các lực sĩ
vô địch có thêm được ǵ. Hỏi tức là trả lời. Lực sĩ vô địch đều được các cơ sở
thương mại trả một số tiền lớn để dùng làm biểu tượng thương mại cho họ,
Các hăng dụng cụ thể thao như Nike. Rebok. Adidas, các hăng truyền h́nh và điện
tử, các hăng xe hơi đă trả những ngân khoản hàng chục triệu cho người thắng giải
và một sớm một chiều người tài tử từ chốn vô danh đă trở nên triệu phú. Các ông
bầu, các huấn luyện viên dĩ nhiên cũng lănh huê hồng chừng 10% số tiền quảng cáo
dành cho các lực sĩ. Ủy hội Thế vận cũng làm giàu nhờ các cuộc thịnh diễn với
những cuộc thi tài được truyền h́nh đấu giá trả phí khoản tối đa, các hăng
thương mại quảng cáo qua truyền h́nh và ngay trên các thao trường, và các nước
được tuyển chọn đă chiều đăi các nhân viên tuyển chọn như thế nào, báo chí đă tố
cáo. Và từ ư nghĩa cao cả dân chủ hóa nền thể dục thể thao và giáo hóa tính cách
tranh đua qua ba mục tiêu Mau hơn , Xa hơn và Mạnh hơn trong thành tích thể
thao, ba châm ngôn ấy nay được áp dụng vào cách kiếm tiền mau hơn và mạnh hơn
nhờ Thế vận
Để đạt mục tiêu đó các quốc gia cũng tài trợ cho nhiều lực sĩ có khả năng bằng
cách cấp học bổng cho các mầm non nhiều triển vọng, các huấn luyện viên và các
người hành nghề đại diện đă săn đón các mầm non, cha mẹ lực sĩ tài tử có triển
vọng cũng đóng vai tṛ khai thác tài thiên phú và thỏa thuận chia lời với các
nhà đại diện hay hăng thưong mại để biết đâu lực sĩ mầm non này thành đạt và trở
thành kho kiếm tiền của tất cả những ai biết khai thác.