Tết
Mậu Thân
Bốn mươi
năm sau
(1968-2008)
Thắp nén hương cho Huế
Trần Giao Thủy

Mậu Thân – 1968, Thảm sát ở Huế, Tổng tiến công-Tổng nổi dậy, Tổng công kích-Tổng khởi nghĩa, tiêu đề của rất nhiều nhiều bài viết của nhiều tác giả khác nhau từ 1968 đến nay. Đă có rất nhiều trang giấy viết về Tết Mậu Thân. Bốn mươi năm sau, giới truyền thông có thông tin ǵ mới hay đă không c̣n quan tâm? Và các nhà nghiên cứu, các học giả, có nhận định phân tích nào khác, đáng chú ư? Tuổi trẻ Việt Nam hôm nay nhận định thế nào về sự kiện Tết Mậu Thân 1968 và cuộc thảm sát ở Huế?

Đại đa số tài liệu, nhận định thường có một số ghi nhận chung: cuộc tổng công kích Mậu Thân là cú đánh bất ngờ; phe cộng sản thiệt hại nặng, nhưng thắng về mặt tuyên truyền dù không đạt được mục đích toàn chiếm miền Nam bằng tổng nổi dậy của quần chúng; h́nh ảnh thảm khốc của chiến tranh vào tận pḥng khách của dân chúng Hoa Kỳ; Mỹ và miền Nam Việt Nam chưa thua nhưng tổn thất nặng nề; tài liệu về biến cố Mậu Thân của phía Cộng sản Việt Nam (Việt Cộng) vẫn c̣n nằm trong tủ hồ sơ kín.

Trong đa số các thư mục về cuộc tổng tấn công cách đây đúng 40 năm, hay về chiến tranh Việt Nam nói chung, thường liệt kê rất nhiều những tài liệu, bài viết, nhận định phân tích đă nổi tiếng và đă là những “sound bite” những h́nh ảnh được giới truyền thông chuyển đi như những h́nh ảnh tiêu biểu của về chiến tranh Việt Nam.

Cả thế giới đều đă biết đến những “thông tin” đó. Một là tấm h́nh của Eddie Adams chụp ảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn vào đầu cán binh Việt Cộng Nguyễn Văn Lém ở Chợ Lớn vào ngày mồng 2 Tết Mậu Thân (01/02/1968), hai là lời phát biểu cho là của một sĩ quan Không quân Mỹ ở Bến Tre, “We had to destroy the town in order to save it.”, ba là tấm ảnh một em bé gái trần truồng khóc thét chạy trốn Mỹ đánh bom napalm vào thường dân ở Trảng Bàng.

Bốn mươi năm đă qua, sự thật về biến cố lịch sử năm Mậu Thân đă được lần lượt đưa ra ánh sáng; Tuy thế, những ảnh hưởng tiêu cực v́ thất bại của giới truyền thông thế giới nói chung và Mỹ nói riêng về cuộc tổng công kích Mậu Thân (và cuộc chiến Việt Nam nói chung) vẫn c̣n vương vất, tồn đọng qua một số bài viết nhân dịp đảng cộng sản Việt Nam tổ chức kỷ niệm 40 năm cuộc Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa.

Giới truyền thông – những h́nh ảnh, thông tin không trung thực

Bé gái trần truồng, quân Mỹ thô bạo
– Trong chiến tranh Việt Nam, Tấm h́nh chụp Kim Phúc bị phỏng, trần truồng chạy tránh bom napalm do nhiếp ảnh gia Nick Út chụp năm 1972, khi quân đội Mỹ đă rút khỏi Việt Nam gần hết. Chính Nick Út cho hay cuộc đánh bom ở Trảng Bàng do Không quân thực hiện theo yêu cầu của đơn vị tại mặt trận. Những nhân chứng khác là phóng viên đài truyền h́nh UPI, Christoper Wain, và kư giả của Associated Press, Peter Arnett .

Sau chiến tranh, Hà Nội muốn dùng Kim Phúc để tiếp tục tuyên truyền với thế giới. Kim Phúc khước từ, sau đó thoát ly sang khối tự do và hiện sống tại Toronto, Canada.

Tội phạm chiến tranh – Tấm h́nh chiếm giải Pulitzer Ảnh về Tin ngắn và giải Nhiếp ảnh Báo chí Thế giới năm 1969, nhiếp ảnh gia Eddie Adams đă nói nhiều lần trong cuộc phỏng vấn với National Public Radio (NPR), trong điếu văn Tướng Loan trên Tạp chí Time, và ở cả cuộc phỏng vấn với David Culbert, một sử gia tại Louisiana State Univerity.

“Ông Tướng giết Việt Cộng. Tôi giết ông Tướng bằng máy ảnh của tôi… Ảnh là vũ khí mạnh nhất thế giới. Người đọc tin vào ảnh, nhưng ảnh cũng gian dối, ngay cả khi không bị cạo sửa.” (Eddie Adams, Time Magazine, 24/06/2001).

“Ảnh, chỉ là nửa sự thật, chỉ thấy một chiều” (Eddie Adams, NPR)

“Tướng Loan qua đời vào tháng 7, 1998, cũng như tấm h́nh đă hại đời ông, đa số những sơ lược tiểu sử người chết cũng chỉ là những tấm ảnh phiến diện, không khoan dung.”
(Jonah Goldberg, There Are Tears in My Eyes, 26/08/1999)

Trả lời David Culbert, Eddie Adams cho biết 3 người cùng Eddie vào Chợ Lớn săn tin ngày 1 tháng 2, 1968 là kư giả (Howard Tuckner), người quay phim (Vơ Sửu) và người thu thanh; cả ba là nhân viên của hăng truyền h́nh NBC.

Trên đường trở lại khách sạn sau khi chụp ảnh quay phim cuộc giao tranh nhỏ ở một ngôi chùa trong Chợ Lớn, đoàn kư giả, nhiếp ảnh viên chợt thấy Nguyễn Văn Lém (Trung uư Việt Cộng bí danh Bảy Lốp) bị bắt dẫn đi; Như thói quen của một nhiếp ảnh viên chuyên nghiệp, Eddie Adams chụp h́nh tù binh Bảy Lốp.

Khi xe của nhóm phóng viên sắp rẽ sang đường khác, bất chợt xuất hiện trên bên trái khung ảnh của Eddie Adams là Đại Tá Loan (trong bài phỏng vấn Eddie Adams nhớ lầm Chuẩn tướng Loan là Đại tá – TGT) bước đến trước mặt Bảy Lốp rút súng bắn vào đầu cán binh Nguyễn Văn Lém. Vài ngày sau đó Eddie Adams mới biết thêm Bảy Lốp bị bắt trên lầu 2 của toà nhà cao tầng tại mặt trận ở Chợ Lớn sau khi vừa giết chết một cảnh sát. Thật ra cả gia đ́nh của viên sĩ quan thân tín của Tướng Loan đă bị Bảy Lốp giết .

Khi bấm máy ảnh chụp h́nh Bảy Lốp và Tướng Loan, Eddie Adams vẫn ngỡ rằng cũng nhiều lần khác, đây chỉ là một cách doạ – kê súng vào đầu khi hỏi cung tù binh – thường xảy ra.

 Tướng Loan quay sang nói với Eddie “Họ giết nhiều người Mỹ các anh và nhiều lính của tôi rồi.”

Cảm tưởng của Eddie hôm mồng hai Tết Mậu Thân: một người bị bắn − Chuyện thường ngày ở chiến trường Việt Nam thời đó. Mỗi ngày nh́n thấy hàng hàng lớp lớp những bao xác người chồng chất lên nhau, măi rồi ai cũng xem thường và chấp nhận ḿnh có thể chết bất kỳ lúc nào tại Việt Nam.

H́nh của Eddie Adams chụp được AP chuyển đi; AFP đưa tin 8 cột báo và cả thế giới đồng loạt ca bản “chiến tranh tàn nhẫn”, “vi phạm công ước Geneva về tù binh”, “Tội phạm chiến tranh”, v.v... Khúc phim của NBC do cameraman Vơ Sửu thu h́nh cũng ngập tràn pḥng khách của người Mỹ.

“It became necessary to destroy the town in order to save it” – Nguồn gốc của câu tuyên bố “nổi tiếng” này là bài tường tŕnh từ Bến Tre của Peter Arnett (AP) ngày 7 tháng 2, 1968. Theo Mona Charen, đầu đuôi câu chuyện như sau .

Trong một trận đánh ở thị xă Bến Tre năm 1968, một đơn vị 12 lính Mỹ chỉ với vũ khí cá nhân phải chống cự với hoả lực của cộng sản Việt Nam trong suốt hai ngày hai đêm. Hoả lực của Việt Cộng đă giết nhiều thường dân và huỷ hoại một phần của thủ phủ tỉnh Kiến Hoà. Sau đó, các binh sĩ Mỹ đă được giang thuyền giải thoát khỏi ṿng vây. Vài ngày sau khi an ninh đă trở lại, Peter Arnett được phi cơ quân sự đưa vào thị xă.

Tại Bến Tre, Arnett đă phỏng vấn hai sĩ quan hiện diện là Thiếu tá lục quân Phil Cannela – sĩ quan cố vấn, trách nhiệm tại hiện trường – và Thiếu tá Không quân Chester L. Brown. Cannela tin rằng chính ông là sĩ quan mà Arnett đă trích lời trong bản tin về mặt trận Bến Tre. Tuy nhiên Thiếu tá Cannela tin rằng phát biểu của ông đă bị đưa ra khỏi ngữ cảnh. Cannela nhớ đă nói với Arnett rằng Việt Cộng đă phá huỷ thị xă và đó là điều đáng tiếc (“Vietcong had destroyed the town and that was a shame”). Nhưng phóng sự của Peter Arnett cho người đọc hiểu rằng Mỹ đă pháo nát Bến Tre và chỉ ghi người tuyên bố câu “It became necessary to destroy the town in order to save it” là một sĩ quan “không tên tuổi” (anonymous).

Năng nổ đưa những loại “tin” như quân lính Mỹ thô bạo đánh bom, rót pháo đốt làng giết dân, tướng VNCH là tội phạm chiến tranh, nhưng cả làng truyền thông Hoa Kỳ và thế giới không có đến một tấm ảnh, không một lời b́nh luận, không một thước phim về hàng trăm người miền Nam Việt Nam bị cán binh cộng sản bắn, giết ngay những ngày Tết ở Sài G̣n hay về những mồ chôn người tập thể ở Phú Cam, Gia Hội, …

Cân bằng, trung thực của báo giới truyền thanh và truyền h́nh về cuộc chiến và Mậu Thân 1968 là như thế.

Không phải giới truyền thông chỉ mù và điếc trong giai đoạn “Tổng tiến công, tổng nổi dậy” hay thời gian sau đó; Cả thế giới dường như đều không muốn biết đến Thảm sát Mậu Thân v́ biết mà không lên tiếng lên án thủ phạm th́ thẹn với lương tâm. Và nếu phải nói sự thật th́ c̣n ǵ là “thời thượng” nữa. Đó là thời đại của “flower child” cởi truồng nghe nhạc ngoài trời, thời của phản chiến, của “make love, not war”, v.v...

The Big Story

Chín năm sau Tết Mậu Thân, hai năm sau khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt, “The Big Story” ra mắt độc giả Hoa Kỳ. Cuốn sách mang tựa đề “The Big Story: How the American Press and Television Reported and Interpreted the Crisis of Tet 1968 in Vietnam and Washington” do Westview Press xuất bản lần đầu năm 1977, và Yale University Press tái bản lần thứ 2, và thứ 3 năm 1983 và 1986. Ấn bản sau cùng, 632 trang, do Presidio Press phát hành năm 1994.

The Big Story góp một phần không nhỏ làm sáng tỏ trang lịch sử Mậu Thân lấy dữ kiện thay cho ấn tượng, thay lời phỏng đoán bằng những phân tích không thiên vị. Cuốn sách là một nghiên cứu đồ sộ về vai tṛ của giới truyền thông trong sự kiện quân sử quan trọng của Việt Nam.

Công việc sau cùng của Peter Braestrup (1929-1997), tác giả “The Big Story”, là Biên tập viên thâm niên và Giám đốc Truyền thông của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ. Trước đó Braestrup là sĩ quan Thủy quân lục chiến Mỹ tại Korea, là phóng viên kinh nghiệm ở chiến trường Algeria và Việt Nam.

Trong tập sử liệu truyền khẩu “Oral Histories – Peter Braestrup” , tại thư viện và viện bảo tàng Lyndon Baines Johnson, tác giả The Big Story trả lời phỏng vấn (67 trang) với Ted Gittinger đă nói về kinh nghiệm của ḿnh khi là phóng viên chiến trường tại Việt Nam. Sau đây là một vài điểm liên quan đến cuộc tổng tấn công của Việt Cộng vào dịp Tết Mậu Thân, 1968.

Tại Việt Nam, Peter Braestrup là trưởng pḥng thông tấn ở Sài G̣n của tờ Washington Post từ 15 tháng Giêng, 1968, hai tuần truớc khi Việt Cộng mở chiến dịch Tổng Tiến Công Tổng Nổi Dậy. Trước khi Braestrup sang làm trưởng pḥng, tại Sài G̣n, Washington Post chỉ có một nhân viên Việt Nam và một phóng viên trẻ nguời Mỹ, 29 tuổi lần đầu đi công tác hải ngoại, vừa sang Việt Nam khoảng 6 tháng trước đó là Lee Lescaze . Lư do Executive Editor, Benjamin Bradlee, của Washington Post tăng cường thêm nhân viên tại Sài G̣n, theo Braestrup, v́ phàn nàn của Joe Alsop , một columnist có ảnh hưởng lớn tại Washington, D.C. – bài cuả Joe Alsop đăng tải trên hơn 300 tờ báo ở Mỹ. Braestrup được Joe Alsop “phỏng vấn” tại Bangkok trước khi gặp Bradlee. Trách nhiệm của Braestrup tại Sài G̣n với tờ Washington Post rất đơn giản, Bradlee chỉ thị: “Tôi chỉ muốn một phóng viên viết thẳng và anh viết những ǵ anh thấy.”

Một trong những “vấn đề” của giới truyền thông Mỹ tại Việt Nam khi cộng sản mở cuộc tổng tấn công Mậu Thân là nhân lực. Số kư giả tại chiến trường quá ít, nhân sự không được như cuộc tấn công mùa hè 1972, do đó thông tin, phân tích, nhận định không phong phú như tin tức chiến trường hè 1972. Về biến cố Mậu Thân, tạp chí Time là cơ sở truyền thông có cố gắng lớn nhất, thực hiện những phân tích dựa theo thông tin từ chiến trường khắp miền Nam Việt Nam. Cả tháng trời sau ngày Việt Cộng mở cuộc tổng tấn công, kư giả Hoa Kỳ vẫn không có đủ dữ liệu về kết quả thực sự của chiến trường để xác định “Tổng tiến công, tổng nổi dậy” là thất bại lớn của quân cộng sản Việt Nam về mặt quân sự. Trong thời gian đó, người duy nhất cho rằng Việt Cộng đă thất bại quân sự là Đại sứ Bunker; ngay cả Tướng Westmoreland cũng chỉ xác định quân cộng sản thua lớn (như Đức thua ở mặt trận Ardennes, năm 1944) trong một cuộc trả lời phỏng vấn với AP vào 22 tháng 2, 1968. Cùng lúc, đa số kư giả Mỹ, dù không đủ thông tin, đă đưa tin và nhận định về t́nh h́nh chiến sự Mậu Thân rất bi quan và bất lợi cho Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) và đồng minh.

Một “vấn đề” khác của truyền thông Mỹ tại Sài G̣n, theo Braestrup, là giới truyền h́nh. Braestrup cho rằng trong nhóm truyền h́nh Mỹ tại Việt Nam chỉ có vài người đáng được gọi là kư giả. Giới truyền h́nh Mỹ, nói chung, chỉ muốn làm “phim chiến tranh” với giọng thuyết minh đầy kịch tính. Cuộc chiến Việt Nam trên màn h́nh TV Mỹ là sản phẩm như của Holywood; Đồng lương to, studio mới, ngoại h́nh bắt mắt quan trọng hơn sự thực ở chiến trường.

Giới truyền thông Mỹ thất bại trong trách nhiệm thông tin về cuộc “Tổng tiến công, Tổng nổi dậy” v́ cách sử dụng thông tin đă có, do thiếu thông tin cần phải có lúc đó, và do không có thông tin nhưng vẫn làm như đă có, v.v…

Sự thật Mậu Thân là quân đội VNCH và đồng minh đă thành công bảo vệ miền Nam Việt Nam, tiêu diệt lực lượng cán binh cộng sản nằm vùng – không thể gượng dậy là một lực lượng quân sự tham chiến như trước – sau đó quân đội chính quy Bắc Việt phải trực tiếp thay thế ở chiến trường và họ cũng đă phải đợi 4 năm sau mới mở được một cuộc tấn công lớn khác vào mùa hè 1972.

Dù đă không thành công trên chính trường và trong cuộc vận động với thế giới, dù bị báo chí, truyền h́nh Mỹ đă thông tin thiếu sót, thiên vị và bất lợi nhưng quân đội VNCH và đồng minh chắc chắn đă thắng ở chiến trường Mậu Thân. Đây là điều đă được minh xác trong các tài liệu quân sử của nhiều học giả nước ngoài nhưng cũng cần được xác định trong lịch sử Việt Nam, đối với nhân dân Việt Nam hôm nay và mai sau.
Những bất cập trong cách thông tin của giới truyền thông Mỹ năm 1968 không chỉ gây ảnh hưởng bất lợi cho Việt Nam trong biến cố Mậu Thân mà đă góp phần không ít vào kết quả cuộc chiến, t́nh h́nh chính trị, xu hướng phản đối Mỹ tham chiến tại Việt Nam dẫn đến sự sụp đổ của vào tháng 4, 1975.

Huế – Mậu Thân

Thế giới có thể quên Mậu Thân 1968 nhưng không ai có thể xoá trang Mậu Thân 1968 trong lịch sử Việt Nam thế kỷ thứ 20. Nhiều người Việt Nam trẻ tuổi chưa biết đang t́m biết. Người Việt Nam đă biết lại càng không thể quên khi thủ phạm tay vấy máu đồng bào vẫn c̣n chưa trả lời trước toà án lương tâm và thế giới.

Vài điểm cần được nhắc lại về cuộc thảm sát Mậu Thân tại Huế.

Thứ nhất, những h́nh ảnh kinh hoàng của cuộc giết người hàng loạt trong tháng 2, 1968 tại Huế chưa khi nào xuất hiện trên màn h́nh TV tại Mỹ trong suốt cuộc chiến Việt Nam. Tuy nhiên, khi nhắc đến chiến tranh Việt Nam người ta thích nhớ và hay nói về Mỹ Lai về Tướng Loan Bắn Bảy Lốp, về Bến Tre, về bé Kim Phúc ở Trảng bàng, v.v.... Đó là hội chứng “vô t́nh có lựa chọn”.

Thông tin trên báo chí về sự kiện này có nhiều cách nh́n khác nhau nhưng tựu chung không ai phủ nhận cuộc thảm sát Mậu Thân đă xẩy ra, và hàng ngàn người bị giết một cách thảm khốc.

Trong bài “Tet Offensive” đăng trên the Vietnam Experience, Boston Publishing Company, tác giả John Colvin – một nhà ngoại giao Anh, là Tổng lănh sự tại Hà Nội trong những năm 1965-7, viết:

Cuối tháng 2, 1968 khi quân đội VNCH đă tái chiếm Huế, chính quyền miền Nam đă t́m thấy trên 1200 xác người bị giết và chôn tập thể và sau đó, ở những mồ chôn tập thể khác trong tỉnh. Tổng số xác t́m được khoảng 2500 nhưng con số thường dân mất tích lên đến 6000 người. Nhiều người bị giết hại là tín đồn Công giáo đang tị nạn trong nhà thờ, một số khác bị quân cộng sản Việt Nam bắt đi “cải tạo” nhưng trên đường di chuyển cũng bị giết hại v́ quân VNCH và đồng minh đă đuổi theo quá sát.

Nạn nhân ở các mồ chôn tập thể tại Huế là những người đă bị bắt đi và bị giết v́ là “kẻ thù của nhân dân”, “kẻ thù của cách mạng”.

Một tác giả khác, Douglas Pike, trong “The Viet Cong Strategy of Terror” ghi nhận:

Ngày 26 tháng 2, những nạn nhân của Tổng tiến công tổng nổi dậy được t́m thấy đầu tiên là 170 xác người chôn ở sân trường trung học Gia Hội.

Trong vài tháng sau đó gần 1200 xác người khác t́m thấy ở 18 mồ chôn tập thể rải rác trong tỉnh.

Bẩy tháng đầu năm 1969, chính quyền miền Nam lại t́m thêm được 800 xác người chôn ở đồi các quận Phú Thứ, Hương Thuỷ, Vĩnh Lộc, Nam Hoà.

19 tháng 9, số nạn nhân bị thảm sát tăng cao khi chính quyền phát hiện thêm mồ chôn tập thể dân Phú Cam ở khe Đá Mài. Ngày mồng 5 Tết, khoảng 400 dân đang tị nạn tại nhà thờ đă bị Việt Cộng đem đem đi gọi là “cải tạo” nhưng đă bị thảm sát sau đó.

Tháng 11, 1969 một mồ chôn tập thể khác được t́m thấy ở Phú Thứ có ít nhất 300 nạn nhân và con số có thể lên đến cả ngàn người.

Ở một góc riêng ḿnh, Gareth Porter trong bài “The 1968 ‘Hue massacre’” đăng trên “Indochina Chronicle,” số 33 ngày 24 tháng 6, 1974, phủ nhận những con số của Douglas Pike và nguyên nhân của những mồ chôn tập thể t́m thấy ở Huế và vùng phụ cận. Bằng lời chứng của Alje Vennema , một bác sĩ làm việc với toán Y khoa Canada ở bệnh viện Quảng Ngăi có mặt tại các cuộc kiểm tra mồ chôn tập thể, Porter cho rằng số xác người chôn ở sân trường Gia Hội ít hơn số liệu của chính quyền miền Nam.

Porter, vẫn dựa theo lời của Vennema, cho rằng trong 4 phát hiện ngay sau Tết Mậu Thân chỉ có 68 nạn nhân chứ không phải 407 như con số của chính phủ miền Nam đưa ra. Hơn nữa, đây là những người chết v́ đạn lạc trong vùng giao chiến chứ không phải bị hành quyết v́ chính trị.

Cùng lư luận, những phát hiện mồ chôn tập thể trong năm 1969, Porter đều cho là thành tích của sĩ quan chiến tranh tâm lư . Nạn nhân ở Vĩnh Lưu, Phú Mỹ và Tuỳ Vân, ... đều là nạn nhân của các cuộc đánh bom của máy bay Mỹ, kể cả 250 xác người (không phải 400 theo Douglas Pike) ỏ khe Đá Mài.

Lư luận và dẫn chứng về con số nạn nhân trong cuộc thảm sát Mậu Thân này cũng không khác như bài “The Myth of the Bloodbath: North Vietnam’s Land Reform Reconsidered”, tháng 9, 1973, pp2-15, đăng trên Bulletin of Concerned Asian Scholars – Gareth Porter đă viết về những cái chết của chỉ vài trăm người (thay v́ hàng chục ngàn người) trong cuộc cải cách ruộng đất của cộng sản Việt Nam.

Có lẽ, Gareth Porter là học giả Mỹ duy nhất với những lư luận bênh vực cho các thủ phạm thảm sát dân Việt Nam ở Huế.

Đó là lư luận ngày xưa, cách đây đă 34 năm. Đến năm 2008, Gareth Porter có thêm đồng minh mới: Đại tá quân đội nhân dân, Phó Tổng biên Tập Báo Nhân Dân, phụ trách Nhân Dân Chủ Nhật, người thoát ly với chế độ cộng sản từ năm 1990 – Bùi Tín.

Trong cuộc phỏng vấn với Nguyễn Hùng của BBC Tiếng Việt, “Mậu Thân 68: Chuyển bại thành thắng”, ngày 24 tháng Giêng 2008 ), Đại tá Bùi Tín nói:

… tôi biết có một kỷ luật chiến trường rất chặt chẽ, nghiêm cấm đánh đập, nghiêm cấm đối xử xấu với tù binh. Tù binh được giữ để đưa lên núi; những lượng nào (mà) những người nào (mà) gọi là phản động, nguy hiểm (th́) phải đưa ra miền Bắc; sau này được biết là anh em họ cũng có một (cái) lệnh thêm nữa là giải lên núi, lên căn cứ đó nhưng không được để cho tù binh trốn thoát. Và nếu (họ) trốn thoát là để lộ bí mật, rất là nguy hiểm; thế cho anh em mới không cho tù binh trốn thoát cho nên khi quân Mỹ, nhất là TQLC Mỹ đổ bộ lại từ Phủ Bài trở ra để lấy lại Huế, anh em họ trói (tù) hàng mấy trăm, hàng ngh́n người, rồi do bị vướng chân là một, rồi lại bị (hải) pháo ở ngoài biển bắn vào rất dữ dội, cho nên phần lớn là do tự động các chỉ huy tiểu đoàn, đại đội, trung đội, cho đến trung đoàn cùng đồng lơa với nhau để thủ tiêu không cho cấp trên biết. (TGT viết nghiêng)

Trước đó là việc bắt tràn lan, và đưa ra thông tin là ở Huế rất nhiều người phản động, dân vệ cũng phản động, họ hàng tôn thất cũ của hoàng gia cũng phản động, đảng Dân chủ cũng phản động, chính quyền cấp xă, cấp huyện, cấp tỉnh, đều bị coi là những phần tử nguy hiểm, phản động cả. Cho nên là trong danh sách những người không được để bỏ chạy, không được để thoát thân, rất là nguy hiểm mà cũng không đưa lên núi được v́ rất vướng chân, rất khó khăn; đến khi bị truy kích theo, pháo kích theo, rồi bị bom B52 nữa, do đó phần lớn những anh em đó đă bị anh em thủ tiêu.

Tuy nhiên ở một tài liệu ‘Tuyệt Mật’ , khác mang tựa đề “Thông tin về chiến thắng của quân ta tại Huế từ 31 tháng 1 đến 23 tháng 2 1968”, cộng sản Việt Nam đă xác nhận:

Ở quận Hương Thủy, … khi ta tấn công trại tự vệ, quân địch v́ quá sợ hăi đă lội qua sông dù không biết bơi và 20 trong bọn chúng đă chết đuối. Tổng cộng ta diệt 1.938 quân địch; 774 đầu hàng kể cả 670 tên thuộc chính quyền bù nh́n. Ta cũng giết một đảng viên trung ương của Đại Việt, một thượng nghị sĩ Việt Nam, 50 đảng viên Quốc Dân đảng, 6 đảng viên Đại Việt, 13 đảng viên đảng Cần Lao Nhân Vị, 3 đại uư, 4 trung uư, …

Phú Vang …Ta đă diệt 1.892 nhân viên hành chánh, 38 cảnh sát, 790 cường hào, sáu đại uư, 1 trung uư, 20 thiếu uư và nhiều sĩ quan trừ bị…”

(Trích bản dịch tài liệu “Tuyệt Mật” của cộng sản Việt Nam bị tịch thu vào tháng Tư, 1968)

Tài liệu kể thành thích chiến thắng trên đây không đồng ư chút nào với cả hai ông học giả Porter (ta tiêu diệt dân Huế thay v́ Mỹ đánh bom chết người) và Đại tá Việt Cộng, nhà báo Bùi Tín (báo cáo thành tích diệt “kẻ thù của cách mạng” như trên chắc chắn không phải là cách “không cho cấp trên biết”).

Vài trong nhiều nhận thức sai về biến cố Mậu Thân

Yếu tố bất ngờ
– Không có dấu hiệu cho biết trước sẽ có cuộc Tổng tiến công, tổng nổi dậy của Việt cộng vào Tết Mậu Thận. Thực ra, ngày 20 tháng 12, 1967 Tướng Westmoreland gởi điện cho Washington cho hay ông tin rằng quân cộng sản “sẽ có những cố gắng trên toàn quốc, có thể là cố gắng tối đa, trong một khoảng thời gian tương đối ngắn.”

Hơn nữa, quân báo của phe đồng minh đă thu được nhiều tài liệu, thông tin về các di chuyển quân sự đáng kể của quân cộng sản vào Nam. Nghị quyết 13 “Đồng loạt nổi dậy (ở miền Nam) đẻ đi đến thắng lợi quyết định trong thời gian ngắn nhất” là một tài liệu phe đồng minh đă có từ tháng đầu tháng 10, 1967. Nghị quyết này đă được thông qua từ tháng 4, 1967 trong hội nghị Trung Ương đảng Cộng sản lần thứ 13.

Đă có thông tin trước sao vẫn c̣n bất ngờ? Đại tá Hoàng Ngọc Lung, cựu Trưởng Pḥng 2, Bộ Tổng Tham Mưu, trong “Tổng tấn công 1968-69” , cũng xác định t́nh báo quân đội VNCH đă có bản “nghị quyết 13 của bộ chính trị cộng sản Việt Nam” và ngày 25/10/1967 có thêm một tài liệu cộng sản khác (“Tài liệu hướng dẫn để hiểu rơ t́nh h́nh mới và công tác mới của ta.”) thu được ở Tây Ninh: chấm dứt sự có mặt của Hoa Kỳ tại Việt Nam bằng cách thành lập chính phủ liên hiệp và Mặt trận Giải Phóng Miễn Nam sẽ đóng vai tṛn trọng yếu. Mục đính cuộc tấn công để: đánh bại quân đội VNCH, phá huỷ mọi cơ sở chính trị, quân sự Mỹ và thứ ba là kích động dân chúng tổng khởi nghĩa. Văn bản này có mă số TCK-TKN (Tổng công kích-Tổng khởi nghĩa).

Phe đồng minh tiếp tục lấy được thông tin về cuộc tổng công kích sắp xảy ra: ngày 03/11/1967, tại Dakto, tài liệu của Chiến trường B-3 nhằm tấn công vào cao nguyên; ngày 04/01/1968, quân báo Mỹ lại bắt được tài liệu “Lệnh hành quân số 1”: tấn công Pleiku trước Tết. Giữa tháng Giêng 1968, một tài liệu khác của Trung đoàn 273, Sư đoàn 9 cộng sản thu được ở vùng III chiến thuật: Kế hoạch tấn công Phú Cường, B́nh Dương, v.v…

Theo Đại Tá Lung, lư do cuộc Tổng công kích Mậu Thân là một cú đánh bất ngờ của cộng sản v́ cách phân tích thông tin t́nh báo của phe đồng minh: lượng định hướng đi của địch quân chủ yếu dựa trên khả năng, lực lượng của quân địch chứ không đặt nặng xu hướng hay dự tính của địch . Dựa vào thông tin đă có (về lực lượng địch), không tin rằng quân cộng sản có khả năng làm một cuộc “tổng tấn công”. V́ thế, Mậu Thân đă trở thành cú đánh bất ngờ. Một thiếu sót khác của quân đội VNCH là không có tổ chức phụ trách t́nh báo, không có phối hợp thông tin t́nh báo cho đến năm 1968 dù đă có Tổ chức T́nh báo Trung ương (CIO) trực tiếp dưới quyền chỉ huy của Tổng thống.

Vẫn theo “Tổng tấn công 1968-69”, chiều ngày 29 tháng 1, 1968, Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, cho gọi tư lệnh các vùng chiến thuật, cảnh báo cuộc tấn công sắp đến của địch và ra lệnh có biện pháp pḥng thủ thích nghi với t́nh thế .

Tuy nhiên, lư do chính dẫn đến sự từ-không-đến-thiếu chuẩn bị của quân đội VNCH và đồng minh chính là cơn băo tuyên truyền “tin chiến thắng” vào cuối năm 1967 dưới sự đạo diễn của phù thủy Walt W. Rostow, Cố vấn An ninh của Tổng thống Lyndon B. Johnson. Tràn ngập màn h́nh TV cũng như báo đài Mỹ là những tuyên bố hồ hởi của giới lănh đạo Hoa Kỳ.

“Chúng ta bắt đầu thắng cuộc đấu tranh này; Chúng ta đang ở thế tấn công, đang giành được đất, đang tiến vững chắc.” – Phó Tổng thống Hubert Humphrey, giữa tháng 11, 1967 trên đài truyền h́nh NBC ;

“Việt cộng đă bị đánh bại; địch không có đủ lương thực; địch không có quân mới. Ddối phương phải đổi chiến lược từ kiểm soát quần chúng ở miền duyên hải chuyển sang sống lây lất ở vùng miền núi.” – Bruce Palmer, một trong các Tướng tư lệnh chiến trường dưới quyền Tướng Westmoreland ;

Tại Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia, ngày 21 tháng 11, 1967, Tướng Westmoreland đăng đàn tuyên bố, “…Tôi tuyệt đối tin rằng nếu địch đă ở thế thắng trong năm 1965 th́ bây giờ địch chắc chắn đang thua…”

Trong một cuộc nói chuyện khác với tạp chí Time, Tướng Westmoreland thách thức cộng sản mở cuộc tấn công, “Tôi mong địch giở tṛ, v́ tôi đang muốn đánh.”

Quân đội “lè phè”, không thiện chiến, thiếu trách nhiệm, v.v… – Người ta quên rằng hơn ½ quân lực VNCH đang nghỉ phép, xum họp gia đ́nh trong dịp Tết Mậu Thân, ngày lễ truyền thống của dân tộc; Tết cũng là dịp hưu chiến chính thức. Giới truyền thông c̣n cho rằng cuộc tổng tấn công đă làm chính phủ VNCH mất hẳn kiểm soát ở nông thôn và làm tổn hại đến ḷng trung thành của quần chúng.

Những nhận định thiên vị và bất lợi cho và đồng minh không phải chỉ đến từ cánh trái, ngày cả nhà báo uy tín nhất nước Mỹ, được tiếng là “cân bằng và trung thực” thời đó cũng có những nhận định hoàn toàn bất lợi cho phe đồng minh. Trong hồi kư của ḿnh, Walter Cronkites cô đọng cái nh́n của báo giới Mỹ về chiến tranh Việt Nam trong một đoạn ngắn và nói quân lực VNCH là “Một quân đội đồng minh thường không thích chiến đấu.”

Sự thật, không như thế. Chỉ một thời gian ngắn sau khi cuộc tổng tấn công bắt đầu, quân đội VNCH đă phản công, nhanh chóng giành lại sự kiểm soát lănh thổ và đem an ninh lại cho quần chúng.

Thô bạo của quân đội Mỹ – Lính Mỹ thường dùng hoả lực tối đa để tiêu huỷ quận lỵ xóm làng t́nh nghi có Việt Cộng. Nhận thức sai lầm này lại được “bồi dưỡng” thêm bằng vài báo của Peter Arnett về tuyên bố của một sĩ quan Không quân (không cả tên tuổi), người Mỹ, ở Bến Tre, “Chúng tôi phải tiêu diệt cả thị xă để cứu nó.” Lời tuyên bố này đă được báo chí và phe phản chiến Hoa Kỳ, nặn, vắt, bóp tả tơi, truyền thông thiên vị, gây bất lợi cho phe đồng minh, làm nản ḷng dân chúng Mỹ.

Thật ra câu tuyên bố của viên Thiếu tá Mỹ không tên tuổi, trong bản tin của Peter Arnett, không chỉ được xào nấu suốt cuộc chiến Việt Nam. Đến 32 năm sau biến cố Thảm sát Tết Mậu Thân, sư ông Nhất Hạnh vẫn chưa chịu thôi không sử dụng bản “tin” trên để (tuyên) truyền đạo như lần nói pháp ở nhà thờ Riverside, New York, sau cuộc khủng bố 911. Sư ông lại nhắc đến vụ đánh bom huỷ cả thị xă Bến Tre với “300.000 người”. Nói đi như thế nhưng sau đó, khi trả lời Anne A. Simpkinson, sư ông nói lại Mỹ đánh bom huỷ cả Bến Tre với “300.000 nóc gia”. Chưa đến 1 tháng, sư ông Nhất Hạnh đă đổi giọng hai lần.

Bốn mươi năm sau, có ǵ mới?

Đảng Cộng sản Việt Nam “Kỷ niệm 40 năm Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968
.

Cũng như những thập niên trước năm trước, đúng 40 năm sau Tết Mậu Thân, Cộng sản Việt Nam mở chiến dịch “Kỷ niệm” cuộc tổng tấn công 1968 bằng một loạt bài viết tuyên truyền, ca ngợi chiến thắng và dĩ nhiên không thể thiếu phần tuyên dương “công trạng” Hồ Chí Minh.

Vai tṛ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến dịch “Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân - 1968” được xác định rơ rệt, trong bài “Nhớ về Tết Mậu Thân năm 1968” , đăng trên VietnamNnet, ngày 31/01/2008, tác giả TS Trần Viết Hoàn viết:

Kỷ niệm 40 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân – 1968 – một lần nữa khẳng định sự lănh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng và Bác Hồ, ...

Ngày 28/12/1967, tại căn pḥng ở khu nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đă cùng Bộ Chính trị (Khóa III) quyết định một chủ trương hết sức quan trọng: Mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân 1968 nhằm giáng đ̣n quyết liệt vào ư chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

Đại tá Bùi Tín, trong phỏng vấn với BBC Tiếng Việt ngày Thứ Năm 24/01/2008, trả lời câu hỏi của phóng viên Nguyễn Hùng, “Khi đó chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam vẫn c̣n, và có lẽ cũng có bàn bạc về những diễn biến của suốt một năm 1968; phải không ạ?” như sau:

Lúc ấy ông Hồ Chí Minh vẫn c̣n, nhưng sức ông ấy cũng đă yếu lắm rồi; lúc xẩy ra những cuộc tiến công, ông ấy đang ở Quảng Châu, và ông ấy nghỉ ở Bắc Kinh; ông ấy đau phổi cũng kha khá, nằng nặng, ông ấy phải sang dưỡng bệnh ở bên ấy.

Có thể nói ông ấy làm bài thơ, mấy câu thơ về Tết Mậu Thân, … xong một cái là ông ấy đi dưỡng bệnh đấy.

Khác với Bùi Tín, Trần Viết Hoàn viết tiếp,

Để động viên quân, dân miền Nam trong cuộc Tổng tiến công này, Bác Hồ đă có ư định vào thăm miền Nam, ư định đó Bác đă viết trong thư gửi đồng chí Lê Duẩn ngày 10/3/1968: “Chú Duẩn thân mến, Nhớ lại hồi Noel năm ngoái, Chú có ư khuyên Bác đi thăm miền Nam sau ngày ta thắng lợi hoàn toàn. Bác rất tán thành. Nhưng nay chỉ đổi chữ “sau” thành chữ trước ngày thắng lợi hoàn toàn, tức là đi thăm khi anh em trỏng đang chuẩn bị mở màn thứ 3. Đi thăm đúng lúc đó mới có tác dụng khuyến khích thêm anh em”.

Vẫn theo Trần Viết Hoàn, ngoài bức thư (tháng 3, 1968) gởi Lê Duẩn trên đây, Hồ Chí Minh vốn sính thơ, đă sáng tác một bài thơ bằng tiếng Tầu:

Vô đề
Tam niên bất ngật tửu xuy yên,
Nhân sinh vô bệnh thị chân tiên.
Hỷ kiến Nam phương liên đại thắng,
Nhất niên tứ quư đổ xuân thiên.
Dịch thơ:
Thuốc kiêng, rượu cũ đă ba năm,
Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần (TGT nhấn mạnh)
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn
Một năm là cả bốn mùa Xuân.

Theo bài viết của Trần Viết Hoàn và h́nh minh hoạ – “Bác Hồ cùng các uỷ viên Bộ Chính trị họp bàn chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu” – trước và ngay sau cuộc tổng công kích và thảm sát Mậu Thân, Hồ Chí Minh không có vẻ ǵ là “đă yếu lắm rồi”. Chính Hồ Chí Minh nói (bằng thơ) là “Không bệnh” và đang “sướng tuyệt trần” và nhất định muốn vào Nam “đi thăm khi anh em trỏng đang chuẩn bị mở màn thứ 3” trong thư gởi Lê Duẩn.

Tuyên truyền bằng báo chí 1968 thế nào th́ tuyên truyền ở năm 2008 cũng không khác. Tuy nhiên, người ta quên một khác biệt khá quan trọng: công nghệ thông tin thế kỷ 21 cho phép người đọc thu thập dữ kiện nhanh hơn, nhiều hơn để có thể đi đến nhận định tốt hơn. Trong trường hợp điển h́nh trên đây, sự thật về vai tṛ và sức khoẻ của Hồ Chí Minh trong chiến dịch “Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân – 1968” nằm ở đâu? Với Trần Viết Hoàn, với chính thơ của Hồ Chí Minh hay với Bùi Tín? Một câu hỏi không khó trả lời.

Tiếp tục chiến dịch “kỷ niệm 40 năm”, đúng ngày 1 tháng 2 (ngày giỗ của rất nhiều gia đ́nh đồng bào đă từng sinh sống ở Huế) VietnamNet đi tiếp bài “Gần 10.000 người tham gia mittinh kỷ niệm Xuân Mậu Thân” . Bản tin cho biết:

Gần 10.000 người gồm khoảng 4.000 quần chúng, 1.500 dân quân tự vệ, hơn 2.300 người tham gia diễu binh, 1.700 người diễu hành nghệ thuật quần chúng tham gia mitting kỷ niệm 40 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, sáng ngày 2/1 tại TP.HCM.

...

Phóng viên P. Cường cũng cho biết thêm lời tuyên bố chắc nịch của Bí thư Thành Uỷ Tp. Hồ Chí Minh, Lê Thanh Hải,

Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân là một biểu tượng sáng ngời về ư chí và sức mạnh quật cường của quân và dân VN, biểu thị tinh thần độc lập, sáng tạo, tài trí mưu lược trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh

Tuy hùng hồn trước hàn vạn người như thế, nhưng Lê Thanh Hải phải được phóng viên P. Cường nhắc giùm nhóm chữ “đánh cho nguỵ nhào”.

Thắng lợi đó làm cơ sở thực hiện chiến lược “đánh cho Mỹ cút” để tiến tới “đánh cho Nguỵ nhào” với đại thắng mùa xuân 1975.

Cũng như bài viết khác về Mậu Thân, kỷ niệm 20 năm, 30 năm, các tác giả Việt Cộng chỉ mải mê bốc thơm chiến thắng, suốt bài báo cả Lê Thanh Hải và phóng viên không hề nhắc tới hàng ngàn tên “nguỵ” (đồng bào ruột thịt Việt Nam) đă được quân đội Nhân dân và được Việt Cộng nằm vùng, bắn, đâm, đập, đạp, đẩy “nhào” xuống những mồ chôn tập thể ở Huế.

Báo chí thế giới 40 năm sau “Tet Offensive”

Viết về Mậu Thân 40 năm sau dường như không phải là đề tài nóng hổi, giựt gân, thu hút bạn đọc nên các bài viết về Mậu Thân 1968 ở báo chí thế giới năm 2008 là điều hiếm có. The Lies of Tet , của Arthur Herman, đăng ngày February 6, 2008 trên Wall Street Journal Online là một thí dụ.

“Vietnam Syndrome” (Hội chứng Việt Nam) của David Warren, một columnist của tờ Ottawa Citizen – Ottawa, Ontario, Canada – viết ngày 3 tháng 2, 2008 là một bài khác. Trong bài Hội chứng Việt Nam, Warren đă nhắc lại cuộc tổng công kích Mậu Thân của Việt Cộng:

Cộng sản tuyên bố Tổng khởi nghĩa, nhưng việc đó đă không xẩy ra. Chỉ vài ngày sau quân và đồng minh đă chuyển sang phản công. Khi tái chiếm lại các thị xă, và thành phố họ phát hiện những cuộc thảm sát do quân cộng sản thực hiện. Mục tiêu chính của cuộc tổng công kích của địch là tiêu diệt cả xă hội (nguyên văn “decapitate a whole society”)

Warren viết tiếp, thuật lại lời một người bạn là kư giả, mục sư Lút-ti người Đức Uwe Siemon-Netto:

Tôi đi vào khu kư túc xá đại học (Huế) để thăm hỏi tin tức bạn bè, những giáo sư người Đức của trường Y khoa. Tôi được cho biết tên của những người bạn tôi cùng nằm trong danh sách 1.800 người sống tại Huế được chọn để thủ tiêu.

Sáu tuần sau, người ta t́m thấy xác của các bác sĩ Alois Altekoester, Raimund Discher, Horst-Guenther Krainick, và Elisabeth, vợ của Krainick, trong một mồ chôn chung mà Việt Cộng đă bắt họ tự đào lấy.

Sau đó người ta tiếp tục t́m được những mồ chôn tập thể đây xác phụ nữ và trẻ em. Đa số đă bị đập chết, một số khác bị chôn sống. Người ta có thể biết được thế qua những bàn tay phụ nữ cố cào đất thoát khỏi mồ chôn họ.

Tại một mồ chôn tập thể, kư giả Peter Braestrup của tờ Washington Post quay sang hỏi một người quay phim của hăng truyền h́nh Mỹ, ‘Sao anh không quay phim cảnh này đi?’ Người quay phim trả lời, ‘Tôi đến đây không phải để phát tán tuyên truyền chống cộng.’

Warren viết tiếp:

Cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân chấm dứt không những chỉ bằng một chiến thắng vĩ đại ở chiến trường – khoảng 45.000 Việt Cộng chết ở mặt trận, hạ tầng cơ sở của cộng sản ở miền Nam bị tiêu huỷ toàn bộ. Mà, sau sự kiện, đây c̣n là một chiến thắng để cho những người miền Nam Việt nam c̣n ngờ vực – và đáng lư phải cho cả thế giới – thấy rơ bản chất của đối phương mà quân đồng minh phải chống trả.

...

David Warren cũng nhắc đến nhận định chủ hoà của nhà báo được tin cậy nhất nước Mỹ, Walter Cronkite, kêu gọi hoà đàm với cộng sản chỉ sau một chuyến viếng thăm rất ngắn tại Sài G̣n sau Mậu Thân. Waren viết:

“Giới truyền thông đă chuyển một chiến thắng vĩ đại thành một chiến bại khổng lồ.”

Một phân tích mới về quyết định “Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa”

Trong một khảo cứu tương đối mới, “The War Politburo: North Vietnam's Diplomatic and Political Road to the Têt Offensive” , tác giả Nguyễn Thị Liên-Hằng cho biết, theo tài liệu chính thức của Đảng cộng sản Việt Nam th́ những nguyên nhân chính đưa đến quyết định “Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa” là: một, thấy rằng Mỹ không đủ khả năng kết thúc cuộc chiến (thắng trận) nhanh chóng, hai là Mỹ đă thất bại trong chiến dịch thả bom miền Bắc (Operation Rolling Thunder, bắt đầu từ 2 tháng 3, 1965), và ba là phong trào phản chiến đang lan rộng và ảnh hưởng lớn trong quần chúng tại Mỹ . Tiến tŕnh đi đến quyết định Tổng công kích năm Mậu Thân, thực sự phức tạp hơn nhiều.

Cuộc đấu đá trong nội bộ đảng Lao Động (Cộng sản) Việt Nam đă kéo dài cả 10 năm giữa hai phe, sau đó thành ba, trong ban lănh đạo Việt Cộng. Phe ôn hoà chủ trương phát triển miền Bắc, tiến lên xă hội chủ nghĩa bằng viện trợ của các nước cộng sản anh em trước khi hỗ trợ cho cuộc chiến tranh quy ước ở miền Nam. Nhóm này đa số chịu ảnh hưởng của Liên Xô, tin tưởng vào chủ trương “sống chung hoà b́nh” và thống nhất đất nước bằng đường lối chính trị. Đứng đầu nhóm ôn hoà này có Bộ trưởng Quốc pḥng Vơ Nguyên Giáp, và ban đầu có cả Trường Chinh Đặng Xuân Khu, lư thuyết gia của Đảng.

Phía chủ chiến, ảnh hưởng đường lối ngoại giao của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa (Cộng sản Trung Hoa, Trung Cộng), chủ trương tự lực kinh tế và nhất trí vận động việc thống nhất Việt Nam bằng chiến tranh vũ trang, nhất quyết không chấp nhận hoàn đàm với Mỹ. Đứng đầu phe diều hâu cộng sản này là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Từ đầu đến giữa thập niên 60 nhóm diều hâu thực sự quyết định hướng đi của cuộc chiến tranh ở miền Nam .

Tướng Nguyễn Chí Thanh, Chính Uỷ Trung ương Cục, Tổng Tư lệnh lực lượng Việt Cộng miền Nam, một thành viên nặng kư của nhóm diều hâu chủ chiến, là người đề xuất chiến dịch Tổng công kích, Tổng khởi Nghĩa . Năm 1963, Nguyễn Chí Thanh và Phạm Hùng đi B trực tiếp chỉ huy cuộc chiến tại Miền Nam theo ư của Đảng ở miền Bắc.

Dù ảnh hưởng Trung Cộng nhưng phe diều hâu đă không dùng chiến tranh du kích như Mao. Thư Lê Duẩn gởi Nguyễn Chí Thanh đă xác định cả đă hai đồng ư dùng chiến tranh quy ước để đối đầu với Mỹ .

Tới khoảng 1966-67, phe đồng minh đă gây thiệt hại khổng lồ cho quân Việt Cộng bằng chiến dịch lùng-và-diệt ở miền Nam và phá huỷ cơ sở kinh tế miền Bắc bằng Operation Rolling Thunder. Đó cũng là thời cơ để phe chủ hoà vận động hoà đàm với Mỹ và xét lại chiến lược đấu tranh, chuyển sang du kích chiến, tại miền Nam. Nhóm cộng sản này chủ trương “vừa đánh vừa đàm” mới có cơ hội làm Mỹ mệt mỏi và bỏ cuộc.

Cũng trong giai đoạn này, nhóm thứ ba trong tập đoàn lănh đạo cộng sản thành h́nh với Hồ Chí Minh, Lê Đức Thọ (Trưởng ban Tổ chức Đảng), và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh. Nhóm thứ ba này vận động chấm dứt chiến tranh bằng hoà đàm.

Từ tháng 10, 1966 đến tháng 4, 1967, đáng kể tới là cuộc tranh căi lớn trên báo đài ở Hà Nội giữa hai phe diều hâu và chủ hoà mà đại diện là Nguyễn Chí Thanh và Vơ Nguyên Giáp về chiến dịch Đông Xuân 1965-66. Giáp lên án Thanh đă phung phí làm hao tổn lực lượng chính quy trong những trận đụng độ lớn với quân đồng minh. Thanh khẳng định, chỉ trực diện đánh Mỹ bằng chiến tranh quy ước mới đi đến thành công, và phê b́nh phe Giáp là xa rời thực tế, chỉ bàn về cuộc chiến ở hậu cứ b́nh yên ở Hà Nội. Tới 1967, t́nh h́nh đă quá xấu, Lê Duẩn ra lệnh cho Nguyễn Chí Thanh đưa chiến tranh du kích trở lại mặt trận .

Mùa hè 1967 cuộc tranh căi im bặt, không phải v́ Nguyễn Chí Thanh đă thay đổi khuynh hướng, đă thua trong cuộc tranh căi với phe Vơ Nguyên Giáp, hay quân đội cộng sản đă nhất thống và hoà hợp. Một nguồn tin nội bộ của đảng cộng sản cho rằng sự bế tắc ở chiến trường miền Nam đă đưa các phe phái trong hàng ngũ quân đội cộng sản lại gần nhau hơn.

T́nh h́nh phức tạp hơn như thế. Hai đàn anh của cộng sản Việt Nam đang trong cuộc tranh giành ảnh hưởng quyết định cuộc chiến Việt Nam. Liên Xô là nguồn vũ khí nặng và pháo pḥng không chống máy bay Mỹ ở mặt trận trong khi Trung Cộng kiểm soát mặt vận chuyển hậu cần với 320.000 binh sĩ đóng quân ở miền Bắc, chủ yếu là công binh và pḥng không. Liên Xô thúc dục Việt Nam tiến đến hoà đàm cùng lúc viện trợ những vũ khí (hạng nặng) cho một cuộc chiến tranh quy ước; Cùng lúc, Trung Cộng thúc đẩy Việt Nam kéo dài cuộc chiến tranh du kích kiểu Mao Trạch Đông và không chấp nhận nói chuyện với Washington .

Trước sức ép từ ngoài của Liên Xô và sức ép bên trong của nhóm chủ hoà, Lê Duẩn tiến công. Bắt đầu từ ngày 27 tháng 7, 1967 hàng trăm đảng viên, sĩ quan quân đội, trí thức theo khuynh hướng “sống chung hoà b́nh” của Liên Xô đồng loạt bị bắt giam vào nhà tù Hoả Ḷ trong vụ án (không xử) có tên là “Xét lại chống đảng” . Hoàng Minh Chính bị bắt giam trong đợt đầu tiên này. Loạt bắt giam kế tiếp vào ngày 18 tháng 10, 1967 có cả nhân viên của Vơ Nguyên Giáp là Đặng Kim Giang và Lê Liêm, cựu thư kư của Hồ Chí Minh là Vũ Đ́nh Huỳnh và Đại tá Lê Trọng Nghĩa, Giám đốc Cơ quan T́nh báo Trung ương. Loạt tấn công thứ 3 của phe Lê Duẩn vào nhóm chủ hoà là cuộc bắt giam hàng loạt và nhiều nhất nhắm vào đảng viên cũng như những chuyên viên không đảng tịch như Vũ Thư Hiên, tác giả Đêm Giữa Ban Ngày – cuốn sách kể lại kinh nghiệm của tác giả trong vụ “Xét lại chống đảng”.

Phe cộng sản diều hâu lư luận nếu dẹp được phe chủ hoà và cưỡng lại sức ép hoà đàm từ Liên Xô đồng thời tổng tấn công miền Nam vào năm Mỹ đang có bầu cử Tổng thống, Hà nội có khả năng sẽ đạt được một chiến thắng quân sự quyết định và cuộc tổng khởi nghĩa sẽ lật đổ chính quyền Sài G̣n. Nếu không được thế th́ ít nhất cuộc tổng công kích cũng giúp Việt Cộng ngồi vào bàn hoà đàm ở vị trí thuận lợi hơn.

Cuối năm 1967, nhóm chỉ trích Nguyễn Chí Thanh và cả Trung Cộng đều bất ngờ ngă ngửa v́ Bộ Chính trị Đảng Lao Động Việt Nam quyết định chọn sách lược chiến tranh quy ước, dùng quân đội chính quy và quân của MTDTGPMN đè bẹp quân đội VNCH cùng lúc kích động dân chúng nổi dậy lật đổ chính phủ VNCH. Đầu năm 1968 Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam thông qua Nghị quyết 14, bí số cho quyết định “Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa”

Bốn mươi năm sau ‏– Tuổi trẻ Việt Nam

Tuổi trẻ Việt Nam hôm nay, dù đang sống trong nước dưới sự cai trị độc tài, độc đảng hay đang ở nước ngoài, có nhiều cơ hội, phương tiện kỹ thuật và nhất là không nặng gánh gồng, hệ luỵ với quá khứ để tự đi t́m và hiểu rơ hơn về lịch sử cận đại về cuộc nội chiến mà thế hệ cha anh đă trải qua.

Trong một loạt bài mang tiêu đề Đánh giá ‘Tổng tiến công, Tổng nổi dậy’ , Thảm sát Tết Mậu Thân Tại Huế, Trần Trung Thực, sinh viên khoa Sử và nhóm T&X (Thảo & Xuân) đă có những cố gắng nhất định thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để t́m hiểu và tự đánh giá những sự kiện lịch sử chung quanh biến cố Tết Mậu Thân, 1968.

Đây là những thanh niên Việt Nam rất trẻ, Trần Trung thực viết: “Khi nổ ra cuộc tổng tấn công Mậu Thân (1968) th́ thế hệ cha mẹ chúng tôi đang mang khăn quàng đỏ ngồi ở các lớp tiểu học.”

Không chỉ thế hệ cha mẹ của tác giả, là những người sinh sống ở miền Bắc, hẳn không biết ǵ về Tết Mậu Thân, mà ngay cả thế hệ ông bà của Trần Trung Thực cũng chưa khi nào nghe đến cuộc “Thảm sát Mậu Thân” ở Huế. Tác giả viết: “Cho đến tận hôm nay (2008) cha mẹ (và cả ông bà chúng tôi) không ai biết ǵ về vụ ‘Thảm sát Mậu Thân ở Huế’. Nếu vụ này là có thật, th́ quả là nó bị che dấu rất cố ư từ 40 năm nay.”

Tuy thế nhưng thế hệ ông cha của Thực lại nhớ rất rơ, “cái tin: khi Mặt trận Giải phóng chiếm được Huế th́ các vị như GS Lê Văn Hảo, hoà thượng Thích Đôn Hậu… vốn từ lâu là người của Mặt trận Giải phóng, hoạt động bí mật ở Huế rồi được đưa ra công khai để đứng đầu một tổ chức gọi “Liên Minh dân tộc” và kêu gọi dân chúng khởi nghĩa.”

Về con số nạn nhân bị thảm sát ở Huế, Trần Trung Thực viết:

Tóm lại, thế hệ chúng tôi nếu ṭ ṃ muốn biết những điều c̣n bị che dấu hoặc bịa đặt, cần tốn công t́m hiểu nhiều hơn nữa. Dễ nhất là hỏi các thế hệ trước và tự gạn lọc; đồng thời t́m những tài liệu tin cậy, khách quan.

Ví dụ, trong tổng số 30 bài có cụm từ “thảm sát” “mậu thân” lấy được trên internet th́ có 3 tài liệu của người nước ngoài; nhưng chúng tôi chưa hoàn toàn tin vào những con số của ông Pike (viên chức của cơ quan Thông Tin Mỹ) v́ – qua văn phong – rơ ràng ông chỉ một chiều lên án với các số liệu có vẻ bị “đội” lên. C̣n bài phản bác của ông Porter (tiến sĩ, nhà nghiên cứu) nhằm “lật tẩy” sự tuyên truyền quá mức, nhưng ông đă quá đà; đọc xong, chúng tôi thấy dường như ông dám chối bỏ cả những bức ảnh mà không ai giả tạo chúng được. Chúng tôi cho rằng bài của bác sĩ Vennema một người đă đến tận nơi, tự quan sát và hỏi chuyện nhiều người dân… là sát với sự thật hơn.

Một đoạn trích trong The Vietcong Massacre at Hue , Alje Vennema, Vintage Press, New York, 1976.

Mồ tập thể được khám phá đầu tiên ở trường trung học quận Gia Hội, nằm bên cạnh khu dân cư. Sở dĩ cư dân gần đó biết được là v́ họ nghe tiếng súng và biết ở đó có mở ṭa án nhân dân. Một số người sau khi tham dự phiên ṭa đầu tiên đă liều trốn và may mắn thoát. Một số khác nhờ bơi qua sông. Trước ngôi trường có tất cả 14 hố gồm 101 tử thi. Sau ba ngày t́m kiếm, người ta khám phá thêm một số hố rải rác trước, sau và bên hông trường, nâng tổng số tử thi lên 203, gồm xác thanh niên, người già và phụ nữ.

Trong một bài viết khác tựa đề “Thanh niên năm 2008 với Mậu Thân 1968” của hai sinh viên khoa sư phạm, Đào Thắng và Lê Vĩnh Nghiêm. Hai tác giả mở đầu:

Thanh niên chúng ta nói riêng và thế hệ U40 nói chung hiện nay chiếm tới 2/3 dân số nhưng không biết tư ǵ về cuộc “tổng tấn công và tổng khởi nghĩa - Mậu Thân 1968” (c̣n có tên là “tổng công kích và tổng nổi dậy - Mậu thân 1968”). Nhưng tất thảy chúng ta đều được học ở trường về sự kiện này. Dù học nhiều hay học ít, th́ kết luận cuối cùng vẫn là đại thắng lợi của “chiến tranh nhân dân” dưới sự lănh đạo tài t́nh và sáng suốt của “đảng ta” (dĩ nhiên là “đảng tây” th́ không dính dáng).

Đào Thắng và Lê Vĩnh Nghiêm viết tiếp:

Dù sao, chúng tôi cũng tỏ ḷng biết ơn bạn Trần Trung Thực đă bỏ công đọc nhiều bài rồi viết ra một “thu hoạch” và so sánh thảm sát Mậu thân với vụ thảm sát Katyn mà đảng CS Liên Xô là thủ phạm, nay những người kế thừa đảng này đă phải nhận tội. (TGT viết nghiêng)

Sau khi đọc các bài từ cả hai phía, chúng tôi có thêm những hiểu biết mới mẻ (nay c̣n bị che dấu) trong đó ít nhiều có sự đóng góp của bạn Trần Trung Thực.

Hai tác giả đă thẳng thắn đưa ra nhận định trên dữ kiện thu lượm được.

Trước hết, đó là thất bại rất lớn về quân sự của “đảng ta”

Sau “tổng công kích” (3 đợt) là “tổng tháo chạy” – Hàng trăm ngàn sinh mạng của thanh niên (chủ yếu là ở miền bắc) đă bị nướng vào cuộc chiến chỉ trong ṿng một tháng. Chúng tôi đă tự kiểm tra bằng cách xem mộ chí trong một số nghĩa trang liệt sĩ: số người chết vào thời điểm “tổng tấn công và tổng khởi nghĩa - Mậu Thân 1968” quả là rất nhiều so với số chết trước đó và sau đó.

Và gần đây nhất, là bài trả lời phỏng vấn của cụ Lê Khả Phiêu đối với báo Nông thôn ngày nay. Năm 1968 chính cụ Phiêu là trung đoàn trưởng một trung đoàn tấn công vào Huế. Do tổn thất quá nặng nề, cụ muốn… tháo chạy để bảo toàn tính mạng c̣n sót lại của đám tàn quân, nhưng cấp trên của cụ cứ bắt cụ “cố thủ”. Rốt cuộc, cụ cứ bỏ chạy. Ấy thế mà cụ đă không bị bắt tội th́ chớ; ngược lại, cụ cứ leo lên tận cấp Thượng tướng, rồi cấp Tổng bí thư.

Tóm lại, cấp cao nhất trong đảng phải công nhận cuộc tháo chạy của cụ Phiêu là “đúng”, để khỏi bị tiêu diệt toàn bộ.

Có thể kết luận rằng sau khi “tổng công kích” (3 đợt) là cuộc “tổng tháo chạy”. Thất bại về quân sự là hết sức to lớn.

...

Thứ hai, đó là không có chuyện “khởi nghĩa” hay “nổi dậy” của quần chúng, nhân dân.

Mục tiêu “phát động dân nổi dậy” là mục tiêu rất lớn, nhưng mục tiêu này hoàn toàn thất bại. Không có chuyện đông đảo nhân dân nổi dậy khởi nghĩa.

....

Thứ ba, chuyện thảm sát ở Huế. Đối với chúng tôi hôm nay th́ đă rơ “như ban ngày. Vấn đề là đảng ta (đang mê mải xây dựng CNXH) liệu sẽ đến lúc buộc phải công nhận hay không mà thôi. Có lẽ các bước công nhận cũng giống như đảng CS và chính quyền Nga công nhận “từng bước” vụ Katyn chăng?

...

Thứ tư, một thắng lợi bất ngờ, chưa dự kiến trước: phong trào phản chiến ở Mỹ dâng cao.

Đọc lại các nghị quyết về “tổng tấn công và tổng khởi nghĩa” tuyệt nhiên không thấy đảng ta đặt ra mục tiêu về phong trào phản chiến ở Mỹ.

Cuối cùng, một câu hỏi chưa được trả lời dứt khoát:

Đảng ta có vi phạm thoả thuận tạm ngừng bắn trong ngày tết hay không? Nếu vi phạm, th́ đừng ḥng chúng tôi “tuyệt đối tin tưởng” vào sự lănh đạo “anh minh và thiên tài”.

Hỏi han nhưng vị cao tuổi, các vị cho biết: trước 1968 (Mậu Thân) năm nào cũng có sự tạm ngừng bắn giữa hai bên. Dân miền bắc yên ổn ăn tết (không lo máy bay Mỹ ném bom). C̣n năm tết Mậu Thân 1968, các vị không biết có thoả thuận ngừng bắn hay không; nếu có thoả thuận th́ “có lẽ” đảng ta vi phạm. Năm 1968 sự tuyên truyền quá rùm beng, cho nên dân miền bắc quên hẳn câu hỏi “ai vi phạm thoả thuận ngừng bắn”.

Tuổi trẻ Việt Nam hôm nay đă dám tự đặt cho ḿnh những câu hỏi về Tết Mậu Thân và từ đó đi t́m câu trả lời.

Nh́n về tương lai

Tổng công kích Mậu Thân đă chấm dứt từ 40 năm trước; Chiến tranh Việt Nam cũng kết thúc từ gần 33 năm qua. Dù lần lượt nhiều sự kiện về cuộc tổng tấn công kích này đă được tŕnh bày dưới dưới ánh sáng sự thật, việc nghiên cứu thâm sâu để đánh giá đúng đắn về Thảm sát Mậu Thân vẫn là điều cần thiết và cũng là trách nhiệm của thế hệ trẻ Việt Nam và nhất là những nhà nghiên cứu sử.

Sự thật về Thảm sát Mậu Thân ở Huế phải được đưa vào lịch sử thế giới; Hiện nay ở các tổ chức đ̣i công lư chi nạn nhân chiến tranh, người ta liệt kê tội ác ở năm châu, từ Rwanda ở châu Phi, Colombia ở Nam Mỹ, vùng Balkans ở châu Âu, ở Nga, ở Mỹ, nhưng ở Á châu, không ai kể, không biết đến Thảm sát Mậu Thân là một tội ác chiến tranh cần phải đưa ra ánh sáng công lư. Đây cũng là một trách nhiệm của thế hệ tuổi trẻ Việt Nam hôm nay và mai sau.

Công lư cho nạn nhân của vụ thảm sát ở Huế không có nghĩa là “xử lư nội bộ”, không thể chỉ là “Tướng Trần Văn Quang, Tư lệnh Mặt trận Trị Thiên - Huế bị phê b́nh” hay Đảng khiển trách các ông Lê Minh, Lê Chưởng các sĩ quan trực tiếp chỉ huy và lănh đạo mặt trận Huế là đủ. Ai trực tiếp ngồi xử tử đồng bào ở các toà án “nhân dân”, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Đọc? Ai bắn, ai đạp, ai đập, ai giết đồng bào Huế – Việt cộng nằm vùng hay Việt cộng chính quy? Tất cả chỉ là chi tiết. Tranh căi những điểm này chỉ là nguỵ biện, chỉ là bao che cho tội ác.

Trong một Việt Nam dân chủ mai sau, những chính phạm có chủ trương, có tính toán trước việc thảm sát đồng bào Huế một cách hệ thống, dù c̣n sống hay đă chết, đều phải trả lời trước toà án dân tộc. Lịch sử Việt nam sẽ ghi rơ trang Mậu Thân đẫm máu một cách công minh, ṣng phẳng.

Nói cho cả thế giới biết rơ về cuộc Tổng công kích Xuân Mậu Thân 1968; Đem công lư xét xử phạm nhân gây tội ác ở Huế, ghi rơ sự kiện vào lịch sử Việt Nam, tất cả không phải để trả thù. Đó chỉ là một phần đền bù nhỏ, rất nhỏ, cho những thiệt hại, mất mát, đau thương của hàng ngàn nạn nhân và gia đ́nh liên hệ.

Những di sản xă hội bi đát từ cuộc Thảm sát Mậu Thân làm vẩn đục ḍng phát triển văn minh nước Việt là những thiệt hại, những đổ vỡ không thế hệ nào có thể hàn gắn hay đền bù được.

Những bài học về cuộc Tổng-công-kích-không-có-tổng-khởi-nghĩa đă biến thành cuộc Thảm sát Mậu Thân không những là cơ hội để thế hệ trẻ hôm nay bắt đầu những bức phá mới về tư duy lịch sử và ư thức dân chủ mà c̣n là điểm bắt đầu để nhận trách nhiệm góp phần xây dựng và phát triển một xă hội dân sự Việt Nam văn minh và bền vững.

Montréal, tháng 2, 2008




[1] The Myth Of The Girl In The Photo, Ronald N. Timberlake, November 1997
[2] Transcript, Eddie Adams Interview, by David Culbert (theo Ed Moïse). Virtual Vietnam Archive, of the Vietnam Project, at Texas Tech University. Online: http://star.vietnam.ttu.edu/starweb/vva/servlet.starweb
[3] Tấm ảnh đó “kết tinh sự tàn nhẫn của chiến tranh nhưng không hề cho biết hoàn cảnh để hiểu rơ sự kiện.” Bùi Diễm, In the Jaws of History. Bloomington IN: Indiana University Press, 1999.
[4] Useful Idiots, How liberals get it wrong in the cold war and still blame America first, Mona Charen, Regnery Publishing, February 2003, p33
[5] Trích đoạn New York Times, February 8, 1968: “The Vietcong had people all over this town,” said majoy Phillip Cannela. ... “Christ, they were everywhere.... They had apparently infiltrated most of the town; they were probably living with the people. It was Tet and there were plenty of strangers in town.”
[6]Trích đoạn New York Times, February 8, 1968: “Bến Tre was pulverized by U.S. firepowere. “It became necessary to destroy the town in order to save it,” an unidentified U.S. Major explained...”
[7] Peter Braestrup (1929-1997)
Journalist; Time magazine 1953-1957; New York Herald-Tribune, 1957-1959; Nieman Fellow at Harvard University 1959-1960; New York Times, 1960-1968; Saigon bureau chief, Washington Post, 1968-1973; Woodrow Wilson International Center for Scholars, 1973-1989; founded the Wilson Quarterly, 1976; Senior Editor and Director of Communications, Library of Congress, 1989-1997. (Source: http://www.lbjlib.utexas.edu/johnson/archives.hom/oralhistory.hom/Braestrup/Braestrup.asp)
[8] Transcript, Peter Braestrup Interview, March 1, 1982, by Ted Gittingerr, 64 pages, LBJ Library. Online: http://www.lbjlib.utexas.edu/johnson/archives.hom/oralhistory.hom/Braestrup/Braestrup.PDF
(Last Updated November 26, 2007).
[9] Lee Lescaze, Editor And a Reporter, 57 (http://query.nytimes.com/gst/fullpage.html?res=980CE6D61739F93BA15754C0A960958260)
[10] Joseph Alsop (http://en.wikipedia.org/wiki/Joseph_Alsop). Chính Joe Alsop là kư gỉa đầu tiên phát hiện và đưa tin về việc quân đội cộng sản chính quy miền Bắc đă phải thay thế nhiều đơn vị Việt Cộng miền Nam sau Tết Mậu Thân. Joe Alsop sang Việt Nam trong khoảng 1966-68, mỗi năm hai lần, mỗi lần khoảng 1 tháng. Joe Alsop thuờng ở nhà của Đại sứ Bunker hay khách sạn Majestic; Nhưng thay v́ chỉ ngồi nhậu và tán phét ở Sài G̣n, Joe Alsop thực sự là một kư gỉa xông xáo ở hiện trường, đi lấy thông tin từ sát mặt trận, đến nhiều nơi, phỏng vấn dân chúng sau Tết Mậu Thân, đi trực thăng ra Khe Sanh trước khi có cuộc tấn công, uống thuốc ngủ ở chiến truờng để khỏi phải nghe pháo đêm của quân CSVN ở đây.(Transcript, Peter Braestrup Interview)
[11] Tet Offensive, John Colvin, The Vietnam Experience
Boston Publishing Company. Online: http://www.vwam.com/vets/tet/tet.html
[12] The Viet Cong Strategy of Terror, Douglas Pike. Saigon: US Mission, 1970. 88 pp. Online: in the Virtual Vietnam Archive of the Vietnam Project, at Texas Tech University, in two parts:
http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/231/2310402003a.pdf (part 1) and http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/231/2310402003b.pdf (part 2)
[13] The 1968 ‘Hue massacre’, Gareth Porter. Indochina Chronicle, số 33 ngày 24 tháng 6, 1974. Online: http://www.chss.montclair.edu/english/furr/porterhue1.html
[14] The Viet Cong Massacre at Hue,Alje Vennema. New York: Vantage Press, 1976. 212 pp
[15] Nghe phỏng vấn ông Bùi Tín. Online: http://www.bbc.co.uk/mediaselector/check/vietnamese/meta/dps/2008/01/080124_bui_tin_tet?size=au&bgc=003399&lang=vi&nbram=1&nbwm=1&bbram=1&bbwm=1
[16] “Information on the victory of our armed forces in Huê from 31 January to 23 March 1968” (CDEC Doc Log No. 05-1131-68) Online: http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/213/2131108001.pdf
[17] Nineteen Sixty-Eight (Vietnam Experience), Stephen Weiss, Clark Dougan , Boston Publishing Company, p11
[18] General Offensive 1968-69, Hoang Ngoc Lung, General Research Corporation, Mclean Virginia, 27 June 1978, p33. Online: http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/239/2390318001A.pdf, http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/239/2390318001B.pdf; http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/239/2390318001C.pdf
[19] Sđd, p38
[20] Sđd, p43
[21] Nineteen Sixty-Eight (Vietnam Experience), p66
[22]The Tet Offensive: Politics, War, and Public Opinion. Schmitz, David F, Westport CT: Praeger, 2004. p 58
[23] Nineteen Sixty-Eight (Vietnam Experience), p66
[24] Vietnam: A History, Karnow, Stanley. New York: Penguin, 1991. ISBN 0-670-84218-4hc, p514
[25] Useful Idiots, How liberals get it wrong in the cold war and still blame America first, Mona Charen, Regnery Publishing, February 2003, p33-4.
Lược dịch: “Máy thu h́nh TV của chúng ta đă ghi lại một số – không phải là tất cả, chỉ một số – thảm cảnh mà chiến tranh đă đem đến Việt Nam. Tôi cũng nhớ, chúng ta cũng đă tường tŕnh về một số h́nh ảnh làm vỡ tan ảo tưởng chiến tranh...
Một chính quyền tham nhũng, bất lực, không được ủng hộ mà chúng ta đă cam kết ủng hộ.
Một quân đội đồng minh thường không thích chiến đấu.
Một kẻ địch thủ đoạn, quyết tâm hiến dâng tất cả cho cuộc đấu tranh bất kể thiệt hại.
Và những dối trá, sai phạm của chính các nhà lănh đạo của chúng ta v́ sự sinh tồn trong chính trường đă phải tô son cho cuộc chiến ngay cả lúc tinh thế đă quá bi đát.”
[26]Từ Bush đến Nhất Hạnh và Lê Dũng, Trần Giao Thủy, DCVOnline, 09/05/2007.
“... I heard about the bombing of Ben Tre city. The city of 300,000 was destroyed. The city of 300,000 was destroyed because seven guerrillas shot several rounds of unsuccessful anti-aircraft gunfire and then left...” Trích Embracing Anger, an evening of peace and healing with Thich Nhat Hanh at the Riverside Church, New York, September 25th, 2001 7 p.m. Riverside Church, 91 Claremont Ave., New York City.
“...we learned of the bombing of the Bentre village in Vietnam, where 300,000 homes were destroyed, and the pilots told journalists that they had destroyed the village in order to save it...” Trích What I Would Say to Osama bin Laden?, Zen monk Thich Nhat Hanh talks about how listening is the first step towards peace; Interview by Anne A. Simpkinson Beliefnet.com October 2001.
Về cuộc tấn công của Việt Cộng vào Bến Tre rạng ngày 31 tháng giêng 1968, Dan Southerland, viết cho UPI đăng ở tờ “The Guardian”, London: Khoảng 1000 thường dân, kẹt giữa hai lằn đạn, thiệt mạng trong cuộc chiến giữa Việt Cộng và Mỹ, gấp đôi số thương vong của quân lính hai bên – “About a thousand civilians caught in the fighting between the Viet Cong and Americans were killed – twice the number of dead suffered by both the armies combined” (Trích Vietnam Diary 7: Return to Ben Tre, 26/08/2005.) Online: http://www.rfa.org/english/features/blogs/vietnamblog/2005/08/26/blog6_vietnam_southerland/
Theo Peter Brush, trong bài “Significance of local communist forces in post-Tet Vietnam, The Journal of Third World Studies”, Mùa Thu 1998: Thị xă Bến Tre (tỉnh Kiến Hoà) có khoảng 140.000 dân trong cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân. Online: http://www.library.vanderbilt.edu/central/brush/LocalForces.htm
[27] Nhớ về Tết Mậu Thân năm 1968, Trần Viết Hoàn, Vietnam.Net, 31/01/2008. Online: http://vietnamnet.vn/chinhtri/2008/01/766884/
[28] Gần 10.000 người tham gia mittinh kỷ niệm Xuân Mậu Thân, P. Cường, VietnamNet, 01/02/2008. Online: http://vietnamnet.vn/chinhtri/2008/02/767128/
[29] The Lies of Tet, By Arthur Herman, February 6, 2008; Page A19. Online: http://online.wsj.com/public/article_print/SB120226056767646059.html
[30] The ‘Vietnam Syndrome’, David Warren, Ottawa Citizen, Sunday, February 03, 2008. Online: http://www.canada.com/ottawacitizen/news/business/story.html?id=2dff9de0-a123-4f6f-818d-16d3ea347a6b
[31] The War Politburo: North Vietnam's Diplomatic and Political Road to the Têt Offensive, Nguyen T. Lien-Hang, Journal of Vietnamese Studies, February/August 2006, Vol. 1, No. 1-2, Pages 4–58. Online: http://caliber.ucpress.net/doi/pdfplus/10.1525/vs.2006.1.1-2.4
[32] The War Politburo, Nguyen T. Lien-Hang, p4
[33] The War Politburo, Nguyen T. Lien-Hang, p14-15
[34] Bùi Tín, Phỏng vấn do Nguyễn Hùng, BBC Tiếng Việt Ngữ, thực hiện ngày 24 tháng 1, 2008. Online: Online: http://www.bbc.co.uk/mediaselector/check/vietnamese/meta/dps/2008/01/080124_bui_tin_tet?size=au&bgc=003399&lang=vi&nbram=1&nbwm=1&bbram=1&bbwm=1
[35] The War Politburo, Nguyen T. Lien-Hang, p20
[36] The War Politburo, Nguyen T. Lien-Hang, p22
[37] USSR ‘secret’ Vietnam soldiers speak out, Russia Today (RT), February 16, 2008: 3000 cựu chiến binh Liên Xô tham chiến tại Việt Nam họp mặt tại Moscow kỷ niệm 35 năm ngày quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam. Đây là các binh sĩ Nga tham dự chiến trận tại Việt Nam nhưng không nào được chính phủ (cả Liên Xô và Việt Nam) thừa nhận. Với cộng sản Việt Nam, những chiến binh Liên Xô này chỉ là các “chuyên viên” (expert). Online: http://www.russiatoday.ru/news/news/21019
[38] The War Politburo, Nguyen T. Lien-Hang, p23
[39] The War Politburo, Nguyen T. Lien-Hang, p25-26
[40] Online: http://mangykien.wordpress.com/2008/01/18/danh-gia-%e2%80%9ct%e1%bb%95ng-ti%e1%ba%bfn-cong-t%e1%bb%95ng-n%e1%bb%95i-d%e1%ba%ady%e2%80%9d-5/
[41] Tên của tổ chức có Lê Văn Hảo và sư ông Đôn Hậu là “Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hoà B́nh tại Huế”. Trong bản dịch tiếng Anh tài liệu ‘Tuyệt Mật’ mang tựa đề “Thông tin về chiến thắng của quân ta tại Huế từ 31 tháng 1 đến 23 tháng 2 1968” ghi “Ngày 18 tháng Hai, “Mặt trận Liên Hiệp cho Hoà b́nh” ra đời với các thành viên sau đây: Giáo sư Lê Văn Hảo, 34; Bà Luân Chi, 60; Thượng toạ Thích Đôn Hậu và hai đồng chí đảng viên cộng sản. (trang 6 của nguyên bản). Theo “Thảm sát Mậu Thân”, Lữ Giang, DCVOnline, 08/02/2008, bà Luân Chi là bà Tuần Chi, tên thật là Đào Thị Xuân Yến, hiệu trưởng nữ Trung học Đồng Khánh, Huế.
[42] Online: http://tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=Content&pa=showpage&pid=38
[43] Online: http://mangykien.wordpress.com/2008/02/05/thanh-nien-nam-2008-v%e1%bb%9bi-m%e1%ba%adu-than-1968/
[44] Rút khỏi Huế là quyết định khó khăn nhất trong đời binh nghiệp của tôi, Lê Khả Phiêu, Phỏng vấn của Việt báo.vn, Thứ năm, 31 Tháng một 2008. Online: http://vietbao.vn/Chinh-Tri/Rut-khoi-Hue-la-quyet-dinh-kho-khan-nhat-trong-doi-binh-nghiep-cua-toi/65120167/96/