Không có thảm-sát Tết Mậu-thân ở Huế?

Cách nh́n cuả nhà trí-thức đấu-tranh khuynh-tả
KimKhanh & NguyễnlêHiếu

Từ sau cuộc đánh-phá lật-lọng Tết Mậu-thân, ở trong nước, dân-chúng theo rơi trên màn truyền-h́nh, nghe trên đài phát-thanh, đọc qua bao-chí t́nh-h́nh Huế, cảnh chiến-tranh, cuộc tái-chiếm, công-việc cứu-trợ và cố-gắng t́m-kiếm khai-quật xác nạn-nhân hàng ngày. Sau khi chiếm lại Huế (1) th́ về phía chính-phủ bắt đầu việc cứu-trợ và tái ổn-định. Trong hoàn-cảnh xáo-trộn đổ-nát, công-tác đầu-tiên là khẩn-cấp cứu-trợ, chăm-sóc dân bị thương, tổ-chức chủng-ngưà, lo vệ-sinh pḥng bệnh; và gần như đồng-thời, lo tái ổn-định cho dân-chúng khi nhà-cưả trong vùng đă bị chiến-tranh phá-hoại tan-nát. Sau đó là lo kiểm-kê số dân c̣n lại, ước-lượng và lo t́m-kiếm ra số dân mất-tích. Lúc đó mới thấy sự tàn-bạo kinh-hoàng người Cộng-sản đă reo-rắc lên đầu dân Huế. Người ta đă dần-dần phát-hiện rất nhiều xác và mồ chôn tập-thể. Douglas Pike tổng-kết vào năm 1969 cho hay đă t́m thấy nhiều xác nạn-nhân và nhiều mồ chôn tập-thể.

Nơi đầu tiên t́m thấy các nạn nhân là sân trường Trung Học Gia Hội, tổng cộng có 170 xác người đă được t́m thấy ở đây. Mấy tháng sau, người ta t́m thấy thêm 18 nơi chôn tập thể ở gần chùa Tăng Quang, Băi dâu, khu lăng tẩm, Đồng Gi v.v.tất-cả khoảng 1.200 nạn-nhân mà một số có tay bị dây thép trói sau lưng, miệng bị nhét giẻ, thân xác không c̣n nguyên vẹn nhưng không có dấu vết bị thương, dáng chừng bị chôn sống. Số khác có thương-tích bị đạn bắn, không biết bị thủ-tiêu hay chết v́ tên bay đạn lạc.

Sang năm sau, 1969, lại t́m thấy một nhóm lớn xác khác tại quận Phú Thứ ở vùng đồi cát, khu làng Văn Ḥa, Xuân Dương và nhiều ngôi mộ tập thể ở quận Vinh Lộc và ở quận Nam Ḥa vào tháng Bảy. Hơn 800 xác t́m thấy ở khu nầy. Tại đây, thấy nạn nhân bị trói thành từng nhóm 10, 12 người, sắp hàng bên những cái hố đào trước rồi bị bắn và xô xuống hố, lớp trên lớp dưới khiến cuộc thâu-nhặt xác rất khó-khăn. (Người ta t́m được những vỏ đạn cuả loại vủ-khí Nga bên cạnh ngôi mộ).

Nơi t́m thấy lớn thứ ba là ở quận Nam Ḥa, chỗ gọi là khe Đá Mài, hay là nơi người dân Phú Cam bị giết, do một cán binh Cộng Sản chiêu-hồi từng chứng-kiến việc giết hàng trăm người ở khe Đá Mài nay ra hồi-chánh và chỉ-dẫn cho t́m thấy. Khu nầy hoang vu, không có dân cư, khó đến được. Trong ḍng suối có rất nhiều đống xương người chồng chất lên nhau, nước chảy diết nên nay xương trắng hếu.

Khu vực lớn thứ tư t́m được hồi cuối năm 1969, thuộc quận Phú Thứ, cách Huế 10 dặm, ở về phía đông, là vùng hoang vắng. Khoảng 20 tháng sau biến cố tàn sát, dân mới dám dẫn viên chức chính quyền đi t́m; phỏng đoán có khoảng trên 300 người bị giết ở đây. (2)

Phủ-nhận thảm-sát Huế 1968

Vào thời-điểm này, t́nh-h́nh chiến-tranh khác với những dự-đoán cuả các nhà chỉ-huy quân-sự và lại càng xa-cách với các báo-cáo tô-mầu-hồng có vẻ quá lạc-quan cuả chính-phủ Hoa-kỳ. Cho nên những ǵ chính-phủ Hoa-kỳ báo-cáo đều bị giới truyền-thông ở Mỹ nghi-ngờ, moi-bới ra mà mổ-xẻ t́m cái sai, cái khác để chỉ-trích, để bắt mắt bắt tai độc-giả khán-giả mang tâm-thần bi-quan phản-chiến.

Phe phản-chiến chủ-bại thường nhắc đến báo-cáo cuả Garett Porter. (3) Dùng phương -pháp mới, Porter so-sánh và đúc-kết các báo-cáo cuả các người khác và t́m nhặt ra những tin-tức khác-biệt do những giới-chức khác nhau đưa ra rồi từ đó, cho thấy sự bất-nhất cuả các tin-tức. Kư-giả #1 đến thăm làng A, một giới-chức tại chỗ cho hay có X xác tại mồ M và Y xác tại mồ N. Một kư giả khác #2 đến làng B th́ viên-chức tại đó lại nói khác, có Z xác tại mồ M chẳng hạn. Porter không xét hoàn-cảnh xáo-trộn sau chiến-trận, cơ-sở tan-nát, không có cả điện-thoại hay máy điện-tính để liên-lạc nên một “giới-chức” ở điạ-phương chỉ có các hiểu-biết giới-hạn và đưa ra các con số cũ, nghe thấy, không c̣n hoàn-toàn chính-xác nưă. Chỉ có ban chỉ-huy trung-ương mới có những con số tạm coi là “chính-thức”.

Porter cũng thấy những con số đưa ra mỗi ngày một khác tiền-hậu bất-nhất. Porter không nghĩ là những số nạn-nhân quá lớn-lao khiến cho cuộc t́m-kiếm khai-quật rất chậm-chạp và các con số có thể phải điều-chỉnh liên-tục.

Porter cũng phàn-nàn là những cuộc khai-quật mà không có các nhà báo Âu-tây quan-sát. Các cuộc khai-quật này có cả gia-đ́nh nạn-nhân đi t́m kiếm, có TV trực-tiếp truyền h́nh mà Porter cũng chưa hài ḷng c̣n đ̣i-hỏi có một người Âu-tây chứng-kiến!

Hay là những cách dịch mà Porter cho là không xác-thực, Porter chê là muốn thậm-xưng các sự-việc, khi Cộng-quân khoe là đă diệt được một số “quân địch”, Douglas Pike dịch là giết. Porter thường hănh-diện về khả-năng ngôn-ngự--nhất là biết nói tiếng Việt thông-thạo--nói “diệt” không phải là giết mà có thể là “bắt được” hay “vô-hiệu-hoá” (neutralize) mà thôi! (4)

Sau chiến-tranh, Stanley Karnow sang Việt-Nam lại để kiểm-chứng, thăm-hỏi nhiều người và xác-nhận có thảm-sát tại Huế, nhiều hơn là báo-cáo trong thời chiến. (5) Nhưng nhiều báo vẫn giữ vững những cảm-tưởng “lúc ban đầu” khiến cho Reed Irvine, người sáng-lập ra Tổ-chức Trung-thực trong báo-cáo truyền-thông (Accuracy in Media) đă có lần lên tiếng phản-đối. (6) Rồi bà Marylyn Young cũng xác-nhận là ngay từ khi mới chiếm Huế là đă xảy ra thảm-sát. (7)

Tin-tức phiá Cộng-sản Việt-Nam

Cái khôi-hài là trong khi phe Âu-tây c̣n phân-vân căi-cọ xem có thảm-sát hay không th́ chính các nguồn-tin cuả người Việt đều công-nhận là có thảm-sát. Chính-phủ Việt-Nam Cộng-hoà tŕnh-bày cho quốc-dân và quốc-tế qua đài truyền-h́nh và truyền-thanh. Về phiá dân-chúng trong Nam, đeo khăn tang, khóc bên xác mới khai-quật được, bên những quan-tài xếp chồng-chất, nhiều cái c̣n chưa có thân-nhân ra nhận, không ai đặt vấn-đề thảm-sát có hay không.

Phe cầm-quyền Cộng-sản dấu-diếm dân-chúng, chỉ khoe-khoang khoác-lác chiến-thắng Huế mà không nói lên thiệt-hại và sự tàn-sát dân Huế. Nhưng trong nội bộ, có đặt vấn-đề phê-phán.

Nói chuyện với BBC về cáo buộc rằng quân đội cộng sản thảm sát dân chúng trong cuộc tấn công vào Huế, Đại Tá Bùi Tín, người năm 1968 đă là Phó Tổng Biên tập báo Quân đội Nhân dân nói:

''Lúc bấy giờ cũng có thông tin ngay chứ. Tôi c̣n nhớ ông Trần Văn Quang, Tư lệnh Mặt trận Trị Thiên - Huế bị phê b́nh để xảy ra những cuộc như thế. ''Nhưng lúc bấy giờ tôi không biết quy mô nó lớn đến vậy, chỉ biết là có những cuộc thảm sát nhưng tôi nghĩ nó chỉ xảy ra ít thôi... chứ tôi không nghĩ về sau này người ta nói tới hàng ngh́n.'' (8)

Quang là tư-lệnh, Đại-tá Minh là phụ-tá—có người nói là chính-uỷ?—Minh đă nhận trách-nhiệm. Minh sau lên tướng rồi mất v́ ung-thư. Vơ Nguyên Giáp khi được hỏi, trả lời không biết, đó là việc cuả miền Nam, không phải cuả nhà nước Cộng-sản. Những Lê-Văn-Hảo, Nguyễn-Đức-Xuân, Hoàng-phủ Ngọc-Tường v.v. sau vài tuần nhảy bàn độc, đều chối chạy tội: người khai tôi bị kẹt trên núi, không có mặt ở Huế, người nói tên kia giết chứ tôi không. Trong cái cảnh chạy tội đó, có một điều không ai chối căi: có thảm-sát ở Huế, nhưng tôi không dính vào, không trách-nhiệm. (9)

Ḍng phủ-nhận thảm-sát

Những ư-kiến nghi-ngờ và phủ-nhận việc thảm-sát được các nhà khuynh-tả tiếp tay nhau nhắc đi nhắc lại. Herman và Porter cho rằng thảm-sát trong cả cuộc Cải-cách Ruộng-đất là một “huyền-thoại”. (10) Rồi Herman và Chomsky viết về các cuộc gọi là thảm-sát, cũng trích-dẫn Porter để quả-quyết rằng không có thảm-sát ở Huế năm 1968.(11) Năm 1984, G.S. Grover Furr ở Đại-học MontClair tại New Jersey, dạy về sử Việt-Nam, giảng rằng mật-vụ và CIA giả làm Việt-cộng để khủng-bố dân-chúng khiến cho họ sợ-hăi cộng-sản luôn. Kư-giả James O. Clifford Sr. hỏi về nguồn-gốc tin này th́ Furr nói là do Porter cung-cấp. (12) Năm 1987, tờ New York Times có viết một câu “nghe đâu có báo-cáo rằng hàng trăm, có thể hàng ngh́n người bị cộng-sản giết”. Reed Irvine, người đẻ ra chương-tŕnh Truyền-thông trung-thực Accuracy in media bèn viết thư cho người chủ-nhiệm, phản-biện rằng thảm-sát có thực, và cách hành-văn cuả New York Times không chỉnh, tưạ như là viết “nghe có báo-cáo là hàng ngàn có thể hàng triệu dân Do-thái có thể bị (Đức) Quốc-xă giết trong (đệ-nhị) chiến-tranh”. (13) Thế là Porter lại viết lời chống-đối Irvine, nói rằng chỉ lúc cuối cùng, mới có một số vụ thanh-toán, mà là do các phần-tử Phật-giáo quá-khích trả thù (chứ không phải quân Cộng-sản làm bậy). (14)

Garett Porter, nhà trí-thức đấu-tranh khuynh tả

Gareth Porter sanh năm 1942 tại miền Trung Hoa-kỳ (Kansas) là một kư-giả rồi sử-gia chuyên về Đông-Nam-Á và Trung-Đông. Ông chuyên chống-đối việc Hoa-kỳ tham-chiến tại hai nơi này. Gần đây, ông c̣n có viết cả một bài phác-hoạ chương-tŕnh tháo-lui khỏi Irak.

Hồi khoảng 25 – 30 tuổi, Porter là “trưởng đài Sài-g̣n cuả hăng Dispatch News Service International” (DNS là một hăng tin-tức thiên-tả ngả về phe phản-chiến mới thành-lập năm 1969 bởi hai chàng trẻ 23 tuổi, David Obst là quản-đốc và Michael Morrow là kư-giả toàn-thời-gian) ; sau Porter là đồng giám-đốc Trung-tâm Tài-liệu về Đông-dương Indochina Resource Center, một cơ-quan nghiên-cứu và giảng-dạy phản-chiến có trụ-sở tại Hoa-thịnh-đốn. Ông tốt-nghiệp Đại-học Illinois, bằng Cao-hoc về môn chính-trị tại Đại-học Chicago và bằng Tiến-sỹ ở Đại-học Cornell. Ông giảng-dạy môn học quốc-tế tại trường Đại-học thành-phố Nữu-ước City College of New York và Đại-học Hoa-kỳ American University khoảng 1982-90.

Năm 1973, Porter viết rằng cuộc Cải-cách ruộng-đất miến Bắc không có “thảm-sát” hàng trăm ngàn nạn-nhân mà chỉ có tối-đa vài trăm người. (15) Theo Porter, những người nói có thảm-sát đă bị Bernard Fall và Hoàng-Văn-Chí lưà-gạt. Năm sau, 1974, Porter viết rằng Tết Mậu-thân tại Huế cũng không có thảm-sát. Có chăng là những Douglas Pike và Don Oberdorfer thậm-xưng. Về sau, vào năm 1987, Porter nhận là chỉ có ít vụ thảm-sát vào lúc cuối ở Huế, mà chính là do các phần-tử Phật-giáo thanh-toán nhau. Năm 1977, ông viết rằng không có việc Khmer-đỏ thảm-sát dân Căm-pu-chia, những khó-khăn cuả nước này và cuả Khmer-đỏ là do hậu-quả cuả chiến-tranh do Hoa-kỳ mang vào. (16)

V́ những quan-điểm khác thường này, Porter bị nhiều người chỉ-trích. Liên-hệ tới chúng ta, tôi giới-hạn vào hai (trong số nhiều) trường-hợp Porter đề-cập đến: Hoàng-Văn-Chí và Nguyễn-Mạnh-Tường.

Porter và Hoàng-Văn-Chí

Hoàng-Văn-Chí là một học-giả, đă viết cuốn Từ Thực-dân đến Cộng-sản trong đó Chí tả về chương-tŕnh Cải-cách Ruộng-đất gây ra bao oan-trái, điạ-chủ bị tố-khổ rồi tàn-sát, gia-đ́nh bị cô-lập. (17) Ngoài bià cuốn sách, có ghi là Chí làm việc với Việt-minh trong thời “kháng-chiến” (sau này bên Âu-tây thường gọi là chiến-tranh Việt-Nam #1);(18) đến năm 1954, Chí vào Nam, có biên-khảo cuốn Trăm-hoa đua-nở trên đất Bắc do chính-phủ miền Nam bảo-trợ. (19) Sau đó, viết cuốn Từ Thực-dân.. nxb Praeger (viết trong sáu năm và xb năm 1964). Cuốn sách gồm năm phần và 18 chương. Phần III có nói đến khủng-bố và việc thành-lập các danh-sách “Việt-gian”. Phần V nói tới Cải-cách Ruộng-đất , những tàn-ác, sai-lầm, sưả-chưă, những chống-đối và đàn-áp.

Porter chí-trích Chí về nhiều mặt.

a- Thứ nhất: những sự-việc Chí kể ở ngoài Bắc, lúc đó Chí không có chức-vụ hay quyền-hành ǵ, Chí nói về các vấn-đề ḿnh không tường-tận; (20)
b- Thứ hai: Chí ăn lương cuả CIA qua các cơ-quan Thông-tin Hoa-kỳ (USIS) hay học-bổng (grant) qua các cơ-quan trung-gian; do đó sách viết được CIA bảo-trợ, vận-động cho nxb Preager phát-hành; sau sang Hoa-kỳ, lại được cho việc làm ở USIA. Cho nên sách không được trung-thực; (21)
c- Thứ ba: Chí phân-tách dữ-kiện sai;
d- Thứ tư: Chí phiên-dịch sai, cố ư sai và thậm-xưng.

Ngày 5-1-1973, Daniel Teodoru, một học-giả khác đă điều-trần trước tiểu-ban Tư-pháp Thượng-Viện Hoa-kỳ để đả-phá lư-luận cuả Porter, chứng-minh các sai-lầm cố-ư hay các thiếu hiểu-biết cuả Porter. (22) Hoàng-Văn-Chí cũng có một văn-thư dài vạch ra những sai-lầm cuả người chỉ-trích ḿnh, chỉ-dẫn các nguồn-gốc sự-kiện ḿnh viết và giải-thích vài từ Hán-việt mà một người bạn Việt-Nam đă dịch sai-lầm cho Porter.

Chí dẫn ra một vài thí-dụ. Hănh-diện v́ nghĩ ḿnh rành tiếng Việt, Porter đă yêu-cầu dàn-xếp cho phỏng-vấn một cán-bộ mới về chiêu-hồi và nhấn mạnh không cần người thông-ngôn. Sau chốc lát, chính người cán-bộ chiêu-hồi này yêu-cầu sắp-xếp một phiên họp khác có thông-dịch-viên v́ Việt-ngữ cuả Porter không đủ để nói về vấn-đề chính-trị. Người ta phải sắp-xếp một phiên họp mặt khác. (Mặt khac, chúng ta cũng có thể tin là bây-giờ, khả-năng ngoại-ngữ cuả Porter cao hơn trước)

Sau này Porter hay dẫn một người Việt-Nam khác (như là ngươi giúp, góp ư hay diễn-dịch). Chí kể vài câu chuyện để chứng-tỏ khả-năng tiếng Việt cuả người giúp Porter này. Người này viết trên tờ Washingtonian, giới-thiệu truyện Kiều, có viết rằng “Kim-Vân-Kiều bị cướp bắt cóc”, v́ hiểu nhầm rằng tên cuả nhân-vật nữ là Kim-Vân-Kiều, tên Kiều, đệm Vân, họ Kim như người Đại-hàn vậy! Người này cũng c̣n dịch “trọc-phú” là “balded rich man” và Nguyễn-Du miễn-cưỡng theo “hoạn-lộ”, dịch ra là “the road of misfortune”! (23)

Porter và Nguyễn-Mạnh-Tường

Một trong những điều khác Porter trách Chí là dùng bài diễn-thuyết cuả Nguyễn-Mạnh-Tường đọc trước đại-hội cuả Mặt-trận Tổ-quốc họp tại Hà-nội ngày 30-10-1956 Qua nhựng sai-lầm trong cải-cách Ruộng-đất, xây-dựng quan-điểm lănh-đạo.

Chí có dịch bài này đăng trong cuốn The New Class in North Vietnam. Chí cũng đăng trọn bài này trong cuốn Trăm hoa đua nở trên đất bắc. Đầu năm 1958, khoảng tháng 2, Hồ-Chí-Minh dự-định viếng-thăm chính-thức Miến-điện một tuần-lễ. Toà tổng-lănh-sự Việt-Nam Cộng-hoà gửi mua khẩn đầu sách cuả Hoàng-Văn-Chí và phân-phối gấp cho báo-chí điạ-phương. Khi Minh đến, giới báo-chí mang các tài-liệu này ra hỏi--kể cả bài diễn-thuyết cuả Tường—Minh kẹt, nổi quạu, hôm sau bỏ về, rút ngắn cuốc thăm-viếng c̣n bốn ngày. Trong khi bài diễn-thuyết này được nhiều nơi trên thế-giới chú-ư th́ tại quê nhà, Tường bắt đầu bị chỉ-trích, phê-b́nh, kiểm-thảo rồi sau đó, mất hết các chức-vụ, bị cô-kập và bao-vây kinh-tế v.v. (24)

Porter chỉ-trích rằng Chí đă dùng một bản văn ngụy-tạo. Porter dưạ vào ư-kiến cuả Trần-Văn-Đính là Tổng-lănh-sự Việt-Nam cộng-hoà ở Miến-điện, nói rằng bản văn này do sở nghiên-cứu chính-trị cuả Bs Trần-Kim-Tuyến giả viết ra. (25) Lại cũng được sự phụ-hoạ cuả Đại-tá Nguyễn-Văn-Châu, cựu Giám-đốc Chiến-tranh Tâm-lư Quân-lực Việt-Nam Cộng-hoà khoảng 1956-1962 sau làm tuỳ-viên quân-sự tại Hoa-thịnh-đốn xác-nhận rằng bản văn này được phe Bs Trần-Kim-Tuyến viết vào cuối năm 1956 và Chí mang ra phổ-biến trong mưu-đồ chiến-tranh chính-trị. (26) Thơ cuả Châu ghi nhầm là diễn-thyết vào ngày 30-6-1956, họ cuả Tường đánh máy là Guyên và tên cuả Chí viết là Trí!)

Porter đặc-biệt phủ-nhận khẩu-hiệu: “thà chết mười người oan con hơn là để thoát một địch”. Porter cho hay không t́m thấy tài-liệu nào cuả Đảng và Chính-phủ nhắc đến khẩu-hiệu này, trong các giấy-tờ chính-thức hay trên báo Nhân-dân, cơ-quan chính-thức cuả Đảng! Porter bèn kết-luận Tường không thể viết câu đó trong bài diễn-thyết. Tóm lại, Porter quả-quyết câu đó và cả bài diễn-thuyết đều là ngụy-tạo.

Người viết xin thưa rằng Tường có biết bản văn lưu-hành này, có bàn và không hề phủ-nhận không phải bản ḿnh đă đọc ba-mươi năm trước. Các nhà nghiên-cứu về Tường cũng như những người quen với cách viết và suy-nghĩ cuả Tường dễ-dàng nhận ra văn-phong đặc-biệt cuả ông. Lại nưă, khi đuợc nghiên-cứu các giấy-tờ tài-liệu Tường để lại cũng như đọc cuốn tự-kư và tiểu-sử do gia-đ́nh soạn (cụ bà Tường và con trai) ngựi viết cũng thấy lại bản văn này và xác-nhận có khẩu-hiệu “thà chết mười người oan c̣n hơn để thoát một địch”. Người viết chắc-chắn về vụ Nguyễn-Mạnh-Tường, Porter vơ-đoán nhầm-lẫn. (27)

Tóm lại, do quyền tự-do ngôn-luận, ỏ Hoa-kỳ, ai cũng có quyền phát-biểu, tŕnh-bày ư-kiến cuả ḿnh. Kể cả các nhà trí-thức, các kư-giả đă bước ra ngoài vị-thế cuả ḿnh, biến thành nhà tranh-đấu, mà bên ta thường phê là nói-láo-ăn-tiền. V́ đó mà Reed Irvine ra tổ-chức Accuracy in media Truyền-thông trung-thực để theo-rơi các nhà báo thiên-vị hay các nhà tranh-đấu lạm-dụng phương-tiện truyền-thông.(28) Cũng v́ đó mà bên Âu-châu, trên tờ Le Monde Diplomatique năm 2003, Ignacio Ramonet đă đề-nghị có thể phải cần đến một cơ-chế khác để kiểm-soát báo-chí, tạm gọi là Đệ-ngũ-quyền. (29)

Phụ Chú
[1]- Sau một tuần-lễ, chiến-thuật cuả ta và đồng-minh đă rơ-rệt: vây cộng-quân trong Huế rồi bằng du-kích trong thành-phố, loại giặc từng khu một. Đến giai-đoạn cuối, để toán Hắc-báo hạ cờ cộng-sản thượng cờ vàng. Đó là ngày 24-2-1968. Ba nhóm quân phiá ta là quân-lực Việt-Nam, bộ-binh Hoa-kỳ và Thuỷ-quân lục-chiến Hoa-kỳ. Theo Wikipedia và Stanley Karnow: Vietnam, a History, Wiking Press, 1983: 534, đă có một lúc, Đại-uư Myron Harrington thuộc TQLC-HK đă nhái lại, hỏi: “Có cần phải huỷ-diệt thành-phố để chiếm lại không?” V́ tầm quan-trọng về lịch-sử và văn-hoá, bên Việt-Nam không đồng-ư dội bom bắn súng lớn mà phải cố-gắng tối-đa bảo-vệ các di-tích lịch-sử và văn-hoá. Do đó, phải dùng chiến-thuật chiến-tranh du-kích trong thành-phố.
Nên phân-biệt yếu-tố tâm-lư tinh-thần cuả các phe lâm-chiến: Phe Hoa-kỳ và Đồng-minh, hành quân tại một nước bạn, tôn-trọng tài-sản và tính-mạng nhân-dân trong khuôn-khổ giữ an-ninh cho họ; nếu cần, họ dễ-dàng “bạo tay súng”. Phe Cộng-sản là một đoàn quân viễn-chinh đi chiếm miền Nam, “đánh nước ngoài” nên dễ-dàng ra oai, sử xự “bạo tay thường-xuyên”. Quân-lực Việt-Nam bảo-vệ đất nước nhân-dân ḿnh nên thường phải lo-lắng nhiều hơn về tài-sản tính-mạng nhân-dân. Khi so-sánh phương-cách đánh nhau, cần lứu-ư đến ba hoàn-cảnh khác nhau này.

[2]- Douglas Pike: Viet Cong Strategy of Terror. http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/231/2310402003a.pdf
Douglas Pike (1924-2002): có hồi là Giám-đốc chương-tŕnh học về Đông-dương ở Đại-học Cali tại Berkeley (1982-1996); sau đó Pike chuyển toàn-bộ thư-viện riêng khổng-lồ về Thư-viện (về) Việt-Nam thuộc trường Texas ở Lubbock. Viện này có nhiều năm trước khi Douglas Pike về. Toàn-bộ tài-liệu cuả Pike là một kho-tàng quư-giá trong thư-viện.
[3]- Gareth Porter: The 1968 “Hue massacre”; http://vietfacts.com/VF_1968/1968HueMassage_GarethPorter.htm

[4]- Nguyên-văn lời sưả tiếng Việt cuả Porter khi chỉ-trích Hoàng-Văn-Chí:
It is the next sentence which reads, "We eliminate 1,892 administrative personnel" in the official translation. But the word _diet_, translated as "eliminate" here, must be understood to mean "destroy" or "neutralize" in a military sense, rather than to "kill" or "liquidate," as Pike and the press reports claimed. As used in communist military communiques, the term had previously been used to include killed, wounded or captured among enemy forces. For example, the Third Special Communique of the People's Liberation Armed Forces, issued at the end of the Tet Offensive, said, "We have destroyed [_diet_] a large part of the enemy's force; according to initial statistics, we have killed, wounded and captured more than 90,000 enemy...." It should be noted that _diet_ does not mean to "kill" in any ordinary Vietnamese usage, and that the official translation is highly irregular.

[5]- Stanley Karnow: sđd: 530-535

[6]- Reed Irvine: (1922-2004). Thiếp-lập tổ-chức Accuracy in Media Truyền-thông trung-thực năm 1969 để vạch ra những cái sai-ẩu cuả truyền-thông báo-chí. Tổ-chức này viết các bản tin tố-cáo các báo loan tin dật-gân sai-lạc hay lư-luận một chiều. Ông hay viết “thư cho chủ-nhiệm” để chỉ-trích, sưả đổi các tin này.
[7]- Marylin G. Young: The Vietnam Wars: 1945-¬1990. New York: HarperPerennial, 1991.
In the early days of the occupation, there were indeed summary executions ... and as the occupation ended in the firestorm of artillery and aerial bombardment, retreating NLF troops executed many of those they held in custody (rather than either releasing them or keeping them prisoner), not in the numbers Saigon and Washington charged, but certainly enough to have posed troubling questions for the people of Huế who survived
Young viết nhiều điều lợi cho phiá Cộng-sản và không tốt cho Việt-Nam cộng-hoà, (qua bài From the overthrow of Diem to the Tet Offensive Vietnam: The war the U.S. lost do Joe Allen viết trên International Socialist Review#23, 1-2 2004) nhưng về vụ Tết, xác
-nhận có thảm-sát tại Huế.

[8]- Phỏng-vấn Bùi-Tín trên đài BBC ngày 24-1-2008: Mậu-thân 68: Chuyển bại thành thắng

[9]- Được phỏng-vấn trên đài RFA (tiếng nói Á-châu Tự-do ngày 2-2-2008), Lê-Văn-Hảo phân-trần:

Trong tất cả khi nổ ra Mậu Thân tức là trong 26 ngày đêm CS chiếm thành phố Huế th́ tôi ngồi trên núi để nghe đài phát thanh suốt ngày, tất cả những ǵ xảy ra dưới Huế tôi chỉ biết qua đài phát thanh của Hà Nội và đài phát thanh giải phóng.
Theo lời ghi cuả Bs Elje Vannema, cầm đầu các toà-án nhân-dân ra lệnh giết người tại Tiểu-chủng-viện là Hoàng-Phủ Ngọc-T ường và ở Gia-hội là Nguyễn- Đắc-Xuân.( Elje Vannema - The Vietcong Massacre at Hue. Vintage Press, New York, 1976)

[10]- Edward v à Gareth Porter: The myth of the Hue Massacre, Rampart, 13:8, 5-6, 1975; http://www.chss.montclair.edu/english/furr/Vietnam/huemyth/mythofhuemassacre.pdf

[11]- The Washington Connection and Third World Fascism, an excerpt from the 1979 classic book by Noam Chomsky and Edward S. Herman. http://www.zmag.org, April 2006

[12]- James O. Clifford Sr.: The forgotten massacre at Huê, bản-dịch cuả Từ-Uyên: Truyền-Thông: muà đông 2003, 10: 37-41. Cũng có thể thấy ở trên internet

http://www.highbeam.com/doc/1P2-13141757.html

Không phải chỉ ḿnh nhà trí thức Porter có thái độ đó, Grover Furr, nhân viên ban Anh ngữ Đại học Montclair tại New Jercey cũng lầm lẫn khi dạy Sử Việt Nam. Qua một bài phỏng vấn với báo Sinh viên trường này năm 1984 ông cho rằng kẻ thủ tiêu người tại Huế chính là mật vụ VNCH và T́nh báo CIA giả rạng để đổ lỗi cho Việt Cộng…

Tôi đọc được bài báo đó và tôi điện thoại cho Furr yêu cầu cho biết xuất xứ của các in nàỵ Furr xác nhận tất cả do Porter đưa rạ Câu hỏi của ngày hôm nay: Liệu những lời tố cáo của Porter có thể được báo giới Hoa kỳ chấp nhận không?

[13]- Reed Irvine: Sau đây là thư gửi cho chủ-nhiệm báo The New York Times vào tháng 9 năm 1987
To the Editor:
An Aug. 26 story from Hue, Vietnam, where some of the fiercest
fighting of the Vietnam War took place in the 1968 Tet offensive,
states, ''Hundreds, possibly thousands, of people were reportedly
killed by Communist forces during the Tet offensive because they
refused to cooperate, or had been singled out earlier as potential
obstructions. Officials here deny the charge, or refuse to discuss it,
as do ordinary Vietnamese, who say only: 'The people know what
happened.' ''
This is like a story from Auschwitz saying that ''thousands, possibly
millions, of Jews were reportedly killed by the Nazis during the
war.''

[14]- Thơ phản-biện do Gareth Porter viết:

Reed Irvine suggests it is ''well established'' that 2,810 bodies found in mass graves and 1,946 people missing from Hue after the 1968 Tet Offensive were victims of Communist ''massacre'' (letter, Sept. 22).
There is evidence of several hundred political executions carried out by the Communists toward the end of the occupation in Hue. Many of these were apparently revenge killings by Buddhist activists and the former Hue police chief, who fled from the military suppression of the Buddhist struggle movement in 1966 and returned with Communist forces at Tet.

[15]- Gareth Porter: The Myth of the Bloodbath: North Vietnam’s Land Reform revisited
http://chss.montclair.edu/english/furr/Vietnam/portermyth73.pdf
Trong bài này, Porter cũng cho rằng khẩu-hiệu “Thà giết oan 10 người c̣n hơn để sót một kẻ thù” là một ngụy-tạo chứ GS Nguyễn-Mạnh-Tường không có nói câu đó. Điều này, Porter viết sai.

[16]- Thuyết-tŕnh trước một uỷ-ban Thượng-viện Hoa-kỳ, Porter dẫn bài viết cuả ḿnh nói rằng dưới chính-quyền Khmer đỏ, không có thảm-sát mà cũng chẳng có toà-án buộc tội những người thuộc chế-độ cũ. Hơn nưă, Porter nhiệt-thành ngợi-khen Khmer đỏ đă nâng cao mức sống cuả dân-chúng, lo-lắng về tinh-thần, thể-xác và bệnh-tật, v.v;.dân-chúng nay được hưởng nhiều điều tốt-lành do Khmer đỏ mang tới. Thượng-nghị-sỹ Solarz đă miả-mai rằng

“So với Khiêu Samphan th́ các nhà độc-tài mà uỷ-ban này (cuả Thượng-viện Hoa-kỳ) đă điều-tra có thể sẽ là ứng-viên để nhận-lănh Giải-thưởng dân-quyền cuả Hoa-kỳ”.
Compared to Khieu Samphan, General Pinochet, President Park, President Suharto, and some of the other national leaderswhom your committee has investigated, are candidates for the man of the year award of the American Civil Liberties Union.

[17]- Hoàng-Văn-Ch í (1913-1988): Học-giả, trước theo kháng-chiến, đến 1954 th́ về khu Quốc-gia; năm 1955 vào Sài-g̣n, làm việc trong bộ Thông-tin, (1955) h́nh như không lương; sau sang làm ở toà lănh-sự Việt-Nam tại Ấn-độ (1959-60). Bỏ nhiệm-sở sau vài năm, sang Ba-lê (1960-65), rồi sau sang Hoa-kỳ (1965), dạy học và mất tại đây (1988) Viết các tác-phẩm có khuynh-hướng chê Cộng-sản như The new Class in North Vietnam (1957), Trăm hoa đua nở trên đất Bắc (1959), và các tác-phẩm nhân-văn Phật Rơi Lệ (1956) và Duy-Văn Sử-quan (viết dở-dang, xuất-bản sau khi mất, 1990)
Ông chủ-trương viết những từ kép vần Quốc-ngữ liền nhau như “nhânvăn”, “thịnhhành” “tạisao”. Ông cũng là một người sớm đưa ra giả-thuyết là chữ “Lạc” trong Lạc-Việt là luá, chỉ người Việt giồng luá chứ không có nghiă bộ-lạc Lạc như thuyết cổ giải-thích (ít nhất là từ năm 1976). Sau này, suy-nghĩ riêng-rẽ, Trần-Gia-Phụng bên Gia-nă-đại cũng đưa ra giải-thích tương-tự.

[18]- Bên Âu-tây thường coi là có ba chiến-tranh Việt-Nam: số 1: 1946-54: Việt-Pháp Quốc-Cộng; số 2: Miền Bắc cộng-sản và Miền Nam chống Cộng, có các đồng-minh yểm-trợ giúp-đỡ; số 3: Việt-Nam bị Trung-quốc đánh-phá miền Bắc.

[19]- Trăm Hoa đua nở trên đất Bắc, nxb. 1959. Mặt trận Bảo-vễ Tự-do Văn-hoá, Miền Nam
Việt-Nam.

[20]- Lúc đầu kháng-chiến, Chí phụ-trách đúc tiền, làm giấy in bạc, chế-tạo hoá-chất cho quốc-pḥng. Lúc khởi-xướng phong-trào Cải-cách Ruộng- đất, 1953-54 th́ Chí làm giáo-viên.

[21]- Theo Chí giải-thích, ông liên-lạc điều-đ́nh nhà Preager xuất-bản. Lâu về sau, chính-phủ Mỹ mới đặt mua 1,000 cuốn. Ông xin ngân-khoản trợ-cấp (grant) cuả một cơ-quan văn-hoá để viết sách, không dính-líu ǵ với CIA.

[22]- Biên-bản về điều-trần có bản lưu ở Vietnam Center. http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/072/0720213019A.pdf

[23]- Trích-dẫn thư cuả Hoàng-Văn-Chí đọc trong phiên thuyết-tŕnh cuả Daniel E. Teodoru tŕnh-bày khả-năng (yếu-kém) cuả nguồn giảng-dịch Việt-ngữ mà Porter sử-dụng. Nhầm lẫn trọc trong trọc-phú có nghiă là ô-trọc chứ không phải trọc-đầu và hoạn có nghiă quan-hoạn (officialdom hay carrière mandarinale) chứ không phải nghiă hoạn-nạn. Những nhầm-lẫn này dễ xảy ta khi học theo cách phát-âm ghép-vần chứ chưa đi xa hơn về hiểu nghiă và gốc-gác các từ.

[24]- Bảng diễn-thuyết cuả Tường in ở báo Sài-g̣n được Chí ghi lại trong cuốn Trăm Hoa Đua Nở và dịch sang Anh-ngữ, in trong cuốn The New Class. Sau khi bị cô-lập và bị Đảng và nhà nước Cộng-sản xách-nhiễu hành-hạ,Tường có kể lại quăng đời đau-khổ bị cô-lập này trong cuốn Un Excommunié, nxb Quê-hương, Bỉ,1992. Trong khoảng thời-gian này, Tường cũng viết thêm bốn đầu sách tiếng Việt về nền giáo-dục Âu-châu thời Phục-hưng, về văn-minh Cổ-Hy-lạp.

[25]- Tổng-lănh-sự Việt-Nam tại Rangoon, Miến-điện khoảng 1957, sau khi bài diễn-thuyết cuả Tường bị lộ ra ngoài nước.

[26]- Đại-tá Nguyễn-Văn-Châu, cựu Giám-đốc Chiến-tranh Chính-trị trong quân-lực Việt-Nam Cộng-hoà. Sau làm tuỳ-viên quân-sự toà Đại-sứ Việt-Nam tại Hoa-kỳ. Thư cuả Châu làm tài-liệu trong buổi thuyết-tŕnh phản-biện cuả Porter chứa nhiều chi-tiết sai-lầm.

[27]- Hồi-kư về Giáo-Sư Luật-Sư Nguyễn-Mạnh-Tường và Gia-đ́nh, I: Con người và Cuộc đời - Trích Hồi-kư, 2004, tr.121-46. Khẩu-hiệu “Thà chết 10 người oan…” ở trang 126.
[28]- N ăm 1985, Reed Irvine thiết lập thêm Accuracy in Academia Hàn-lâm trung-thực.
It's appropriate that Accuracy In Academia was founded by Reed Irvine during Reagan's presidency. Accuracy In Academia stands for the same things that Reagan did—truth, freedom, hope (Remarcks at Acuracy In Academia, 20th Anniversary Dinner. Washington, D.C., Friday, July 22, 2005)
[29]- Dẫn bởi Phạm-Hữu-Trác trong Đệ-ngũ-quyền, Truyền-Thông, Muà đông 2003, Gia-nă-đại, 56-8.