Từ sau cuộc đánh-phá lật-lọng Tết Mậu-thân, ở trong nước, dân-chúng theo rơi
trên màn truyền-h́nh, nghe trên đài phát-thanh, đọc qua bao-chí t́nh-h́nh Huế,
cảnh chiến-tranh, cuộc tái-chiếm, công-việc cứu-trợ và cố-gắng t́m-kiếm
khai-quật xác nạn-nhân hàng ngày. Sau khi chiếm lại Huế (1) th́ về phía
chính-phủ bắt đầu việc cứu-trợ và tái ổn-định. Trong hoàn-cảnh xáo-trộn đổ-nát,
công-tác đầu-tiên là khẩn-cấp cứu-trợ, chăm-sóc dân bị thương, tổ-chức
chủng-ngưà, lo vệ-sinh pḥng bệnh; và gần như đồng-thời, lo tái ổn-định cho
dân-chúng khi nhà-cưả trong vùng đă bị chiến-tranh phá-hoại tan-nát. Sau đó là
lo kiểm-kê số dân c̣n lại, ước-lượng và lo t́m-kiếm ra số dân mất-tích. Lúc đó
mới thấy sự tàn-bạo kinh-hoàng người Cộng-sản đă reo-rắc lên đầu dân Huế. Người
ta đă dần-dần phát-hiện rất nhiều xác và mồ chôn tập-thể. Douglas Pike tổng-kết
vào năm 1969 cho hay đă t́m thấy nhiều xác nạn-nhân và nhiều mồ chôn tập-thể.
Nơi đầu tiên t́m thấy các nạn nhân là sân trường Trung Học Gia Hội, tổng cộng có
170 xác người đă được t́m thấy ở đây. Mấy tháng sau, người ta t́m thấy thêm 18
nơi chôn tập thể ở gần chùa Tăng Quang, Băi dâu, khu lăng tẩm, Đồng Gi
v.v.tất-cả khoảng 1.200 nạn-nhân mà một số có tay bị dây thép trói sau lưng,
miệng bị nhét giẻ, thân xác không c̣n nguyên vẹn nhưng không có dấu vết bị
thương, dáng chừng bị chôn sống. Số khác có thương-tích bị đạn bắn, không biết
bị thủ-tiêu hay chết v́ tên bay đạn lạc.
Sang năm sau, 1969, lại t́m thấy một nhóm lớn xác khác tại quận Phú Thứ ở vùng
đồi cát, khu làng Văn Ḥa, Xuân Dương và nhiều ngôi mộ tập thể ở quận Vinh Lộc
và ở quận Nam Ḥa vào tháng Bảy. Hơn 800 xác t́m thấy ở khu nầy. Tại đây, thấy
nạn nhân bị trói thành từng nhóm 10, 12 người, sắp hàng bên những cái hố đào
trước rồi bị bắn và xô xuống hố, lớp trên lớp dưới khiến cuộc thâu-nhặt xác rất
khó-khăn. (Người ta t́m được những vỏ đạn cuả loại vủ-khí Nga bên cạnh ngôi mộ).
Nơi t́m thấy lớn thứ ba là ở quận Nam Ḥa, chỗ gọi là khe Đá Mài, hay là nơi
người dân Phú Cam bị giết, do một cán binh Cộng Sản chiêu-hồi từng chứng-kiến
việc giết hàng trăm người ở khe Đá Mài nay ra hồi-chánh và chỉ-dẫn cho t́m thấy.
Khu nầy hoang vu, không có dân cư, khó đến được. Trong ḍng suối có rất nhiều
đống xương người chồng chất lên nhau, nước chảy diết nên nay xương trắng hếu.
Khu vực lớn thứ tư t́m được hồi cuối năm 1969, thuộc quận Phú Thứ, cách Huế 10
dặm, ở về phía đông, là vùng hoang vắng. Khoảng 20 tháng sau biến cố tàn sát,
dân mới dám dẫn viên chức chính quyền đi t́m; phỏng đoán có khoảng trên 300
người bị giết ở đây. (2)
Phủ-nhận thảm-sát Huế 1968
Vào thời-điểm này, t́nh-h́nh chiến-tranh khác với những dự-đoán cuả các nhà
chỉ-huy quân-sự và lại càng xa-cách với các báo-cáo tô-mầu-hồng có vẻ quá
lạc-quan cuả chính-phủ Hoa-kỳ. Cho nên những ǵ chính-phủ Hoa-kỳ báo-cáo đều bị
giới truyền-thông ở Mỹ nghi-ngờ, moi-bới ra mà mổ-xẻ t́m cái sai, cái khác để
chỉ-trích, để bắt mắt bắt tai độc-giả khán-giả mang tâm-thần bi-quan phản-chiến.
Phe phản-chiến chủ-bại thường nhắc đến báo-cáo cuả Garett Porter. (3) Dùng
phương -pháp mới, Porter so-sánh và đúc-kết các báo-cáo cuả các người khác và
t́m nhặt ra những tin-tức khác-biệt do những giới-chức khác nhau đưa ra rồi từ
đó, cho thấy sự bất-nhất cuả các tin-tức. Kư-giả #1 đến thăm làng A, một
giới-chức tại chỗ cho hay có X xác tại mồ M và Y xác tại mồ N. Một kư giả khác
#2 đến làng B th́ viên-chức tại đó lại nói khác, có Z xác tại mồ M chẳng hạn.
Porter không xét hoàn-cảnh xáo-trộn sau chiến-trận, cơ-sở tan-nát, không có cả
điện-thoại hay máy điện-tính để liên-lạc nên một “giới-chức” ở điạ-phương chỉ có
các hiểu-biết giới-hạn và đưa ra các con số cũ, nghe thấy, không c̣n hoàn-toàn
chính-xác nưă. Chỉ có ban chỉ-huy trung-ương mới có những con số tạm coi là “chính-thức”.
Porter cũng thấy những con số đưa ra mỗi ngày một khác tiền-hậu bất-nhất. Porter
không nghĩ là những số nạn-nhân quá lớn-lao khiến cho cuộc t́m-kiếm khai-quật
rất chậm-chạp và các con số có thể phải điều-chỉnh liên-tục.
Porter cũng phàn-nàn là những cuộc khai-quật mà không có các nhà báo Âu-tây
quan-sát. Các cuộc khai-quật này có cả gia-đ́nh nạn-nhân đi t́m kiếm, có TV
trực-tiếp truyền h́nh mà Porter cũng chưa hài ḷng c̣n đ̣i-hỏi có một người
Âu-tây chứng-kiến!
Hay là những cách dịch mà Porter cho là không xác-thực, Porter chê là muốn
thậm-xưng các sự-việc, khi Cộng-quân khoe là đă diệt được một số “quân địch”,
Douglas Pike dịch là giết. Porter thường hănh-diện về khả-năng ngôn-ngự--nhất là
biết nói tiếng Việt thông-thạo--nói “diệt” không phải là giết mà có thể là “bắt
được” hay “vô-hiệu-hoá” (neutralize) mà thôi! (4)
Sau chiến-tranh, Stanley Karnow sang Việt-Nam lại để kiểm-chứng, thăm-hỏi nhiều
người và xác-nhận có thảm-sát tại Huế, nhiều hơn là báo-cáo trong thời chiến.
(5) Nhưng nhiều báo vẫn giữ vững những cảm-tưởng “lúc ban đầu” khiến cho Reed
Irvine, người sáng-lập ra Tổ-chức Trung-thực trong báo-cáo truyền-thông
(Accuracy in Media) đă có lần lên tiếng phản-đối. (6) Rồi bà Marylyn Young cũng
xác-nhận là ngay từ khi mới chiếm Huế là đă xảy ra thảm-sát. (7)
Tin-tức phiá Cộng-sản Việt-Nam
Cái khôi-hài là trong khi phe Âu-tây c̣n phân-vân căi-cọ xem có thảm-sát hay
không th́ chính các nguồn-tin cuả người Việt đều công-nhận là có thảm-sát.
Chính-phủ Việt-Nam Cộng-hoà tŕnh-bày cho quốc-dân và quốc-tế qua đài
truyền-h́nh và truyền-thanh. Về phiá dân-chúng trong Nam, đeo khăn tang, khóc
bên xác mới khai-quật được, bên những quan-tài xếp chồng-chất, nhiều cái c̣n
chưa có thân-nhân ra nhận, không ai đặt vấn-đề thảm-sát có hay không.
Phe cầm-quyền Cộng-sản dấu-diếm dân-chúng, chỉ khoe-khoang khoác-lác chiến-thắng
Huế mà không nói lên thiệt-hại và sự tàn-sát dân Huế. Nhưng trong nội bộ, có đặt
vấn-đề phê-phán.
Nói chuyện với BBC về cáo buộc rằng quân đội cộng sản thảm sát dân chúng
trong cuộc tấn công vào Huế, Đại Tá Bùi Tín, người năm 1968 đă là Phó Tổng Biên
tập báo Quân đội Nhân dân nói:
''Lúc bấy giờ cũng có thông tin ngay chứ. Tôi c̣n nhớ ông Trần Văn Quang, Tư
lệnh Mặt trận Trị Thiên - Huế bị phê b́nh để xảy ra những cuộc như thế. ''Nhưng
lúc bấy giờ tôi không biết quy mô nó lớn đến vậy, chỉ biết là có những cuộc thảm
sát nhưng tôi nghĩ nó chỉ xảy ra ít thôi... chứ tôi không nghĩ về sau này người
ta nói tới hàng ngh́n.'' (8)
Quang là tư-lệnh, Đại-tá Minh là phụ-tá—có người nói là chính-uỷ?—Minh đă nhận
trách-nhiệm. Minh sau lên tướng rồi mất v́ ung-thư. Vơ Nguyên Giáp khi được hỏi,
trả lời không biết, đó là việc cuả miền Nam, không phải cuả nhà nước Cộng-sản.
Những Lê-Văn-Hảo, Nguyễn-Đức-Xuân, Hoàng-phủ Ngọc-Tường v.v. sau vài tuần nhảy
bàn độc, đều chối chạy tội: người khai tôi bị kẹt trên núi, không có mặt ở Huế,
người nói tên kia giết chứ tôi không. Trong cái cảnh chạy tội đó, có một điều
không ai chối căi: có thảm-sát ở Huế, nhưng tôi không dính vào, không
trách-nhiệm. (9)
Ḍng phủ-nhận thảm-sát
Những ư-kiến nghi-ngờ và phủ-nhận việc thảm-sát được các nhà khuynh-tả tiếp tay
nhau nhắc đi nhắc lại. Herman và Porter cho rằng thảm-sát trong cả cuộc Cải-cách
Ruộng-đất là một “huyền-thoại”. (10) Rồi Herman và Chomsky viết về các cuộc gọi
là thảm-sát, cũng trích-dẫn Porter để quả-quyết rằng không có thảm-sát ở Huế năm
1968.(11) Năm 1984, G.S. Grover Furr ở Đại-học MontClair tại New Jersey, dạy về
sử Việt-Nam, giảng rằng mật-vụ và CIA giả làm Việt-cộng để khủng-bố dân-chúng
khiến cho họ sợ-hăi cộng-sản luôn. Kư-giả James O. Clifford Sr. hỏi về nguồn-gốc
tin này th́ Furr nói là do Porter cung-cấp. (12) Năm 1987, tờ New York Times có
viết một câu “nghe đâu có báo-cáo rằng hàng trăm, có thể hàng ngh́n người bị
cộng-sản giết”. Reed Irvine, người đẻ ra chương-tŕnh Truyền-thông trung-thực
Accuracy in media bèn viết thư cho người chủ-nhiệm, phản-biện rằng thảm-sát có
thực, và cách hành-văn cuả New York Times không chỉnh, tưạ như là viết “nghe có
báo-cáo là hàng ngàn có thể hàng triệu dân Do-thái có thể bị (Đức) Quốc-xă giết
trong (đệ-nhị) chiến-tranh”. (13) Thế là Porter lại viết lời chống-đối Irvine,
nói rằng chỉ lúc cuối cùng, mới có một số vụ thanh-toán, mà là do các phần-tử
Phật-giáo quá-khích trả thù (chứ không phải quân Cộng-sản làm bậy). (14)
Garett Porter, nhà trí-thức đấu-tranh khuynh tả
Gareth Porter sanh năm 1942 tại miền Trung Hoa-kỳ (Kansas) là một kư-giả rồi
sử-gia chuyên về Đông-Nam-Á và Trung-Đông. Ông chuyên chống-đối việc Hoa-kỳ
tham-chiến tại hai nơi này. Gần đây, ông c̣n có viết cả một bài phác-hoạ
chương-tŕnh tháo-lui khỏi Irak.
Hồi khoảng 25 – 30 tuổi, Porter là “trưởng đài Sài-g̣n cuả hăng Dispatch News
Service International” (DNS là một hăng tin-tức thiên-tả ngả về phe phản-chiến
mới thành-lập năm 1969 bởi hai chàng trẻ 23 tuổi, David Obst là quản-đốc và
Michael Morrow là kư-giả toàn-thời-gian) ; sau Porter là đồng giám-đốc Trung-tâm
Tài-liệu về Đông-dương Indochina Resource Center, một cơ-quan nghiên-cứu và
giảng-dạy phản-chiến có trụ-sở tại Hoa-thịnh-đốn. Ông tốt-nghiệp Đại-học
Illinois, bằng Cao-hoc về môn chính-trị tại Đại-học Chicago và bằng Tiến-sỹ ở
Đại-học Cornell. Ông giảng-dạy môn học quốc-tế tại trường Đại-học thành-phố
Nữu-ước City College of New York và Đại-học Hoa-kỳ American University khoảng
1982-90.
Năm 1973, Porter viết rằng cuộc Cải-cách ruộng-đất miến Bắc không có “thảm-sát”
hàng trăm ngàn nạn-nhân mà chỉ có tối-đa vài trăm người. (15) Theo Porter, những
người nói có thảm-sát đă bị Bernard Fall và Hoàng-Văn-Chí lưà-gạt. Năm sau,
1974, Porter viết rằng Tết Mậu-thân tại Huế cũng không có thảm-sát. Có chăng là
những Douglas Pike và Don Oberdorfer thậm-xưng. Về sau, vào năm 1987, Porter
nhận là chỉ có ít vụ thảm-sát vào lúc cuối ở Huế, mà chính là do các phần-tử
Phật-giáo thanh-toán nhau. Năm 1977, ông viết rằng không có việc Khmer-đỏ
thảm-sát dân Căm-pu-chia, những khó-khăn cuả nước này và cuả Khmer-đỏ là do
hậu-quả cuả chiến-tranh do Hoa-kỳ mang vào. (16)
V́ những quan-điểm khác thường này, Porter bị nhiều người chỉ-trích. Liên-hệ tới
chúng ta, tôi giới-hạn vào hai (trong số nhiều) trường-hợp Porter đề-cập đến:
Hoàng-Văn-Chí và Nguyễn-Mạnh-Tường.
Porter và Hoàng-Văn-Chí
Hoàng-Văn-Chí là một học-giả, đă viết cuốn Từ Thực-dân đến Cộng-sản trong đó Chí
tả về chương-tŕnh Cải-cách Ruộng-đất gây ra bao oan-trái, điạ-chủ bị tố-khổ rồi
tàn-sát, gia-đ́nh bị cô-lập. (17) Ngoài bià cuốn sách, có ghi là Chí làm việc
với Việt-minh trong thời “kháng-chiến” (sau này bên Âu-tây thường gọi là
chiến-tranh Việt-Nam #1);(18) đến năm 1954, Chí vào Nam, có biên-khảo cuốn
Trăm-hoa đua-nở trên đất Bắc do chính-phủ miền Nam bảo-trợ. (19) Sau đó, viết
cuốn Từ Thực-dân.. nxb Praeger (viết trong sáu năm và xb năm 1964). Cuốn sách
gồm năm phần và 18 chương. Phần III có nói đến khủng-bố và việc thành-lập các
danh-sách “Việt-gian”. Phần V nói tới Cải-cách Ruộng-đất , những tàn-ác, sai-lầm,
sưả-chưă, những chống-đối và đàn-áp.
Porter chí-trích Chí về nhiều mặt.
a- Thứ nhất: những sự-việc Chí kể ở ngoài Bắc, lúc đó Chí không có chức-vụ hay
quyền-hành ǵ, Chí nói về các vấn-đề ḿnh không tường-tận; (20)
b- Thứ hai: Chí ăn lương cuả CIA qua các cơ-quan Thông-tin Hoa-kỳ (USIS) hay
học-bổng (grant) qua các cơ-quan trung-gian; do đó sách viết được CIA bảo-trợ,
vận-động cho nxb Preager phát-hành; sau sang Hoa-kỳ, lại được cho việc làm ở
USIA. Cho nên sách không được trung-thực; (21)
c- Thứ ba: Chí phân-tách dữ-kiện sai;
d- Thứ tư: Chí phiên-dịch sai, cố ư sai và thậm-xưng.
Ngày 5-1-1973, Daniel Teodoru, một học-giả khác đă điều-trần trước tiểu-ban
Tư-pháp Thượng-Viện Hoa-kỳ để đả-phá lư-luận cuả Porter, chứng-minh các sai-lầm
cố-ư hay các thiếu hiểu-biết cuả Porter. (22) Hoàng-Văn-Chí cũng có một văn-thư
dài vạch ra những sai-lầm cuả người chỉ-trích ḿnh, chỉ-dẫn các nguồn-gốc
sự-kiện ḿnh viết và giải-thích vài từ Hán-việt mà một người bạn Việt-Nam đă
dịch sai-lầm cho Porter.
Chí dẫn ra một vài thí-dụ. Hănh-diện v́ nghĩ ḿnh rành tiếng Việt, Porter đă
yêu-cầu dàn-xếp cho phỏng-vấn một cán-bộ mới về chiêu-hồi và nhấn mạnh không cần
người thông-ngôn. Sau chốc lát, chính người cán-bộ chiêu-hồi này yêu-cầu sắp-xếp
một phiên họp khác có thông-dịch-viên v́ Việt-ngữ cuả Porter không đủ để nói về
vấn-đề chính-trị. Người ta phải sắp-xếp một phiên họp mặt khác. (Mặt khac, chúng
ta cũng có thể tin là bây-giờ, khả-năng ngoại-ngữ cuả Porter cao hơn trước)
Sau này Porter hay dẫn một người Việt-Nam khác (như là ngươi giúp, góp ư hay
diễn-dịch). Chí kể vài câu chuyện để chứng-tỏ khả-năng tiếng Việt cuả người giúp
Porter này. Người này viết trên tờ Washingtonian, giới-thiệu truyện Kiều, có
viết rằng “Kim-Vân-Kiều bị cướp bắt cóc”, v́ hiểu nhầm rằng tên cuả nhân-vật nữ
là Kim-Vân-Kiều, tên Kiều, đệm Vân, họ Kim như người Đại-hàn vậy! Người này cũng
c̣n dịch “trọc-phú” là “balded rich man” và Nguyễn-Du miễn-cưỡng theo “hoạn-lộ”,
dịch ra là “the road of misfortune”! (23)
Porter và Nguyễn-Mạnh-Tường
Một trong những điều khác Porter trách Chí là dùng bài diễn-thuyết cuả
Nguyễn-Mạnh-Tường đọc trước đại-hội cuả Mặt-trận Tổ-quốc họp tại Hà-nội ngày
30-10-1956 Qua nhựng sai-lầm trong cải-cách Ruộng-đất, xây-dựng quan-điểm
lănh-đạo.
Chí có dịch bài này đăng trong cuốn The New Class in North Vietnam. Chí cũng
đăng trọn bài này trong cuốn Trăm hoa đua nở trên đất bắc. Đầu năm 1958, khoảng
tháng 2, Hồ-Chí-Minh dự-định viếng-thăm chính-thức Miến-điện một tuần-lễ. Toà
tổng-lănh-sự Việt-Nam Cộng-hoà gửi mua khẩn đầu sách cuả Hoàng-Văn-Chí và
phân-phối gấp cho báo-chí điạ-phương. Khi Minh đến, giới báo-chí mang các
tài-liệu này ra hỏi--kể cả bài diễn-thuyết cuả Tường—Minh kẹt, nổi quạu, hôm sau
bỏ về, rút ngắn cuốc thăm-viếng c̣n bốn ngày. Trong khi bài diễn-thuyết này được
nhiều nơi trên thế-giới chú-ư th́ tại quê nhà, Tường bắt đầu bị chỉ-trích,
phê-b́nh, kiểm-thảo rồi sau đó, mất hết các chức-vụ, bị cô-kập và bao-vây
kinh-tế v.v. (24)
Porter chỉ-trích rằng Chí đă dùng một bản văn ngụy-tạo. Porter dưạ vào ư-kiến
cuả Trần-Văn-Đính là Tổng-lănh-sự Việt-Nam cộng-hoà ở Miến-điện, nói rằng bản
văn này do sở nghiên-cứu chính-trị cuả Bs Trần-Kim-Tuyến giả viết ra. (25) Lại
cũng được sự phụ-hoạ cuả Đại-tá Nguyễn-Văn-Châu, cựu Giám-đốc Chiến-tranh Tâm-lư
Quân-lực Việt-Nam Cộng-hoà khoảng 1956-1962 sau làm tuỳ-viên quân-sự tại
Hoa-thịnh-đốn xác-nhận rằng bản văn này được phe Bs Trần-Kim-Tuyến viết vào cuối
năm 1956 và Chí mang ra phổ-biến trong mưu-đồ chiến-tranh chính-trị. (26) Thơ
cuả Châu ghi nhầm là diễn-thyết vào ngày 30-6-1956, họ cuả Tường đánh máy là
Guyên và tên cuả Chí viết là Trí!)
Porter đặc-biệt phủ-nhận khẩu-hiệu: “thà chết mười người oan con hơn là để thoát
một địch”. Porter cho hay không t́m thấy tài-liệu nào cuả Đảng và Chính-phủ nhắc
đến khẩu-hiệu này, trong các giấy-tờ chính-thức hay trên báo Nhân-dân, cơ-quan
chính-thức cuả Đảng! Porter bèn kết-luận Tường không thể viết câu đó trong bài
diễn-thyết. Tóm lại, Porter quả-quyết câu đó và cả bài diễn-thuyết đều là
ngụy-tạo.
Người viết xin thưa rằng Tường có biết bản văn lưu-hành này, có bàn và không hề
phủ-nhận không phải bản ḿnh đă đọc ba-mươi năm trước. Các nhà nghiên-cứu về
Tường cũng như những người quen với cách viết và suy-nghĩ cuả Tường dễ-dàng nhận
ra văn-phong đặc-biệt cuả ông. Lại nưă, khi đuợc nghiên-cứu các giấy-tờ tài-liệu
Tường để lại cũng như đọc cuốn tự-kư và tiểu-sử do gia-đ́nh soạn (cụ bà Tường và
con trai) ngựi viết cũng thấy lại bản văn này và xác-nhận có khẩu-hiệu “thà
chết mười người oan c̣n hơn để thoát một địch”. Người viết chắc-chắn về vụ
Nguyễn-Mạnh-Tường, Porter vơ-đoán nhầm-lẫn. (27)
Tóm lại, do quyền tự-do ngôn-luận, ỏ Hoa-kỳ, ai cũng có quyền phát-biểu,
tŕnh-bày ư-kiến cuả ḿnh. Kể cả các nhà trí-thức, các kư-giả đă bước ra ngoài
vị-thế cuả ḿnh, biến thành nhà tranh-đấu, mà bên ta thường phê là
nói-láo-ăn-tiền. V́ đó mà Reed Irvine ra tổ-chức Accuracy in media Truyền-thông
trung-thực để theo-rơi các nhà báo thiên-vị hay các nhà tranh-đấu lạm-dụng
phương-tiện truyền-thông.(28) Cũng v́ đó mà bên Âu-châu, trên tờ Le Monde
Diplomatique năm 2003, Ignacio Ramonet đă đề-nghị có thể phải cần đến một cơ-chế
khác để kiểm-soát báo-chí, tạm gọi là Đệ-ngũ-quyền. (29)
Phụ Chú