Trong thời gian mười năm kể từ 1956 đến 1965, Việt cộng đă phải tốn bao công sức
mới tiến được một bước quan trọng từ phi quy ước lên quy ước chiến. Trải qua
giai đoạn xây dựng hạ tầng cơ sở đưa tới Đồng Khởi 1959, Việt cộng đă dựng lên
b́nh phong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để có một cái “chính nghiă” giả mạo,
nhưng cũng đủ để làm sức đẩy cho h́nh thái chiến tranh phi quy ước lên thành một
cao trào với khí thế rung động khắp vùng nông thôn, đánh dấu bằng trận Ấp Bắc
đầu năm 1963. Từ 1963 tới 1965, lợi dụng đà chiến thắng tâm lư, Việt cộng đă
chuyển sang h́nh thái chiến tranh phối hợp phi quy ước với quy ước chiến nhằm
đánh dứt điểm qua những Chiến dịch Đồng Xoài, Bù Đốp, Dầu Tiếng và B́nh Giả.
Để tiến từ h́nh thái chiến tranh phi quy ước lên h́nh thái chiến tranh quy ước
với kỹ thuật vận động chiến và trận địa chiến, Việt cộng phải phát triển căn cứ
địa và an toàn khu, để làm chỗ dưỡng quân, nuôi quân, luyện quân, và để làm kho
chứa lương thực, vũ khí, đạn dược phối hợp với hậu cần sản xuất và hậu cần vận
tải.
Cũng trong cái đà chiến thắng tưởng là gần kề đó, Việt cộng phóng tay đẩy mạnh
chiến tranh, thâu vét thuế má, bắt lính, khủng bố với những hành động tàn ngược
thất nhân tâm.
Nhưng, tới giai đoạn 1965-1967, chiến tranh trở nên ác liệt do sự can thiệp ồ ạt
của Hoa Kỳ với hỏa lực khủng khiếp gây tổn thất nặng nề cho nhiều đơn vị lớn và
ưu tú của Việt cộng, đồng thời phá tan nhiều cơ sở hậu cần và an toàn khu. Đà
chiến thắng mà Việt cộng tưởng là gần kề đă bị mất trớn, nông dân bắt đầu từng
loạt trốn khỏi vùng Việt cộng. Cán binh Việt cộng ra hồi chánh lên tới 80 ngàn
người.
Mất thế chủ động trên phương diện quân sự, Việt cộng đứng trước nguy cơ bị tan
ră về chính trị tại nông thôn. Việt cộng làm ǵ để tự cứu và thoát khỏi t́nh
trạng bế tắc nghiêm trọng này? Đó là nội dung của bài này khảo cứu về biến cố
Tết Mậu Thân, một cố gắng vượt bực của Việt cộng nhằm tấn công vào các đô thị để
cứu văn t́nh h́nh nguy ngập ở nông thôn.
Để có một h́nh ảnh chính xác và đầy đủ về toàn bộ trận Tổng Công Kích Mậu Thân,
ta sẽ nghiên cứu ba khía cạnh chính sau đây:
- T́nh h́nh Việt cộng trong giai đoạn trước Mậu Thân.
- Diễn tiến của trận Tết Mậu Thân.
- Hậu quả chiến lược của trận Tết Mậu Thân.
T̀NH H̀NH VIỆT CỘNG TRONG GIAI ĐOẠN TRƯỚC TRẬN MẬU THÂN
Trong giai đoạn cao trào của Việt cộng tại Miền Nam, như ta đă thấy, sự phát
triển của hạ tầng cơ sở và các lực lượng vơ trang Việt cộng đặt căn bản trên thủ
đoạn tranh thủ và tổ chức khối quần chúng nông thôn, với sự hỗ trợ của một lực
lượng chính trị và quân sự hùng hậu gồm những cán bộ được gài lại sau hiệp định
Genève cũng như cán bộ được xâm nhập sau này.
Như ta cũng đă thấy trong thủ đoạn phát triển cơ sở hạ tầng của Việt cộng đă
phải phối hợp kỹ thuật tuyên truyền với khủng bố và được hỗ trợ bằng các hoạt
động vơ trang du kích cũng như chính quy. Những hoạt động tuyên truyền có tác
dụng chính trị, phỉnh gạt nhằm lôi kéo những người nhẹ dạ. Trong khi đó, những
hoạt động quân sự có tác dụng tâm lư nhằm phô trương sức mạnh của MTGPMN, tạo
một ấn tượng cho thấy Việt cộng ở thế ngang ngửa với chính quyền Quốc Gia.
Nhưng tuyên truyền và lừa bịp bằng những xảo thuật tâm lư không phải luôn luôn
phỉnh gạt hoặc lôi kéo được mọi người, và có nhiều người chống lại Việt cộng
ngay ở trong vùng chúng kiểm soát. Đó là những phần tử mà Việt cộng coi là cực
kỳ nguy hiểm cần phải tiêu diệt bằng chính sách khủng bố. Từ ngữ Việt cộng gọi
chính sách này là trấn áp phản cách mạng.
BIỆN PHÁP TRẤN ÁP PHẢN CÁCH MẠNG TRƯỚC TẾT MẬU THÂN
Theo định nghĩa của Việt cộng, từ ngữ phản cách mạng dùng để chỉ tất cả những ai
tích cực chống lại chủ trương thôn tính Miền Nam của chúng. Đường lối trấn áp
phản cách mạng kể từ giai đoạn Đồng khởi 1959 vốn gồm các biện pháp như giam
cầm, tải tạo tư tưởng, đe dọa giết, bắt cóc và cuối cùng là ám sát.
Chính sách đàn áp khủng bố mặc dầu kiềm chế được một số người trong một giai
đoạn nhất định khi những người này c̣n ở trong vùng Việt cộng kiểm soát và trong
khi khí thế chiến thắng c̣n cao. Nhưng chính sách khủng bố cũng là con dao hai
lưỡi.
Kể từ năm 1965 tới 1967, sau những thất bại quân sự liên tiếp, khả năng kiểm
soát của Việt cộng bị suy giảm rất nhiều, và ngay những vùng được gọi là “giải
phóng” cũng thường bị quân đội Đồng Minh càn quét và viếng thăm.
Mặt khác chính sách b́nh định và xây dựng nông thôn đă mở ra một cơ hội lớn cho
những người muốn lựa chọn một cuộc sống tự do và dễ thở hơn trong vùng Quốc Gia
kiểm soát. V́ thế biện pháp “trấn áp phản cách mạng” là cách tốt nhất để mất
dân, nghĩa là mất nguồn lương thực nuôi quân, mất lính, mất nguồn tin tức t́nh
báo, và nhất là mất sự bảo vệ của dân.
Đây là lư do chính yếu nhất v́ sao Việt cộng nh́n thấy chúng sắp mất nông thôn.
Nhưng chủ trương đàn áp khủng bố là một phần không thể thiếu được của đường lối
đấu tranh bạo lực của Việt cộng, đồng thời cũng là bản chất cố hữu của Cộng sản
Mác xít Lê nin nít. Để giảm bớt những hậu quả tai hại, Việt cộng đă phải tinh vi
hóa chính sách khủng bố và ấn định lại các biện pháp khủng bố qua nhiều tài liệu
học tập dành cho các cán bộ phụ trách về an ninh.
Một trong những tài liệu trên mà ta bắt được là Chỉ thị ngày 24-12-1965 của Bộ
Chỉ Huy Quân khu Năm Việt cộng (1) cho thấy một số vấn đề liên quan đến đường
lối chính sách khủng bố của chúng trong giai đoạn sau khi quân đội Đồng Minh đổ
vào Việt Nam.
Tài liệu trên mang tên “Về một số vấn đề cần nắm vững trong công tác trấn áp
phản cách mạng của Z” (Z là bí số của Bộ chỉ huy Quân khu Năm Việt cộng).
Tài liệu này thú nhận:
“ ... Tuy vậy, trong công tác trấn áp phản cách mạng, chúng ta vẫn phạm nhiều
sai lầm, thiếu sót nhất là từ khi vùng nông thôn đồng bằng được giải phóng thành
từng mảng rộng lớn, cuộc đấu tranh giữa ta và địch diễn ra ác liệt hơn, trước
những âm mưu ư đồ mới của địch th́ những sai lầm lại có tính chất nghiêm trọng,
phổ biến, kéo dài như:
- Bắt người một cách tùy tiện, có nhiều trường hợp, chưa rơ tội trạng, chưa đáng
tội bắt (nghi vấn, phạm ít khuyết điểm về sinh hoạt) hoặc có trường hợp lư do
bắt không công minh (trả thù cá nhân v.v ...)
- Tổ chức giam giữ c̣n lỏng lẻo, có nơi để can phạm đói, đau, rét. ..
- Việc sử lư thiếu nghiêm túc, thận trọng. Diện bắt giam, xử trí quá rộng: giữa
“bắt giam để xét xử” với “cưỡng bức cải tạo” tập trung cải tạo tại chỗ không có
ranh giới rơ ràng. Chưa cố gắng mở nhiều phiên ṭa xét xử công khai công bố mức
án, công bố thời gian quản chế, cải tạo. Hiện nay, tỷ lệ diệt bí mật trong vùng
giải phóng quá cao, có nhiều trường hợp diệt oan, diệt ẩu, diệt không đúng tội,
cá biệt có nơi hành quyết một cách thô bạo.”
Điểm đáng chú ư là tài liệu nêu lên những trường hợp “bắt người một cách tùy
tiện”, “lư do bắt không công minh”, “tỷ lệ diệt bí mật quá cao”, “diệt oan, diệt
ẩu, diệt không đúng tội” hoặc “hành quyết một cách thô bạo” và coi những hành
động trên là những sai lầm thiếu sót gây hậu quả bất lợi về chính trị, chứ không
coi đó là những tội ác đáng bị trừng trị và nghiêm cấm.
Điều đáng lưu ư là, trong bối cảnh trước Tết Mậu Thân, đứng trước nguy cơ bị mất
nông thôn v́ những chính sách tàn bạo thất nhân tâm, Việt cộng nhằm tinh vi hoá
chính sách khủng bố để củng cố bộ máy kềm kẹp chứ không nhằm sửa trị những sai
lầm.
Có thể có hai lư do chiến thuật khiến Việt cộng đă có sự lựa chọn ở trên. Thứ
nhất, Việt cộng không dám nới lỏng bộ máy kềm kẹp, sợ rằng nông dân sẽ có cơ hội
tốt để rủ nhau trốn hết về vùng Quốc Gia và như thế không có cách ǵ chuẩn bị
cho chiến dịch tổng công kích. Thứ hai, Hà nội hy vọng nếu trận Tết Mậu Thân đem
lại chiến thắng th́ cái đà chiến thắng sẽ giúp Việt cộng lướt qua được những khó
khăn đương gặp phải vào lúc đó.
TÂM TRẠNG CÁN BINH VIỆT CỘNG
Trên đây là những khó khăn không thể khắc phục nổi trên phương diện vận dụng
quần chúng cho chiến dịch Tết Mậu Thân. Những khó khăn này không có nghĩa làm
chặn đứng mọi khả năng quân sự của Việt cộng trong việc chuẩn bị trận đánh v́
hai lư do. Thứ nhất, vào lúc đó hạ tầng cơ sở của Việt cộng c̣n nguyên vẹn, mặc
dầu có bị suy yếu và nao núng. Thứ hai, vào giai đoạn trước Mậu Thân, mỗi tháng
Việt cộng có khả năng xâm nhập khoảng 4500 cán binh vào Nam với quân trang quân
dụng và lương thực đủ nuôi quân trong vùng chiến trường B-3, nghĩa là Mặt Trận
Tây Nguyên và vùng Ba Biên Giới. Đây là nơi tiếp giáp gần nhất với đường hậu cần
chiến lược 559 tức là đường Ṃn Hạ Lào, ngày xưa c̣n được gọi là đường ṃn
Thượng Đạo.
Khả năng xâm nhập nói trên của Việt cộng cho thấy sự thất bại của chiến lược
không tập Bắc Việt của Tổng Thống Johnson do Bộ Trưởng Quốc Pḥng MacNamara đích
thân đôn đốc mà ta sẽ có dịp phân tích rất kỹ trong tương lai. Điều này không có
nghĩa là cuộc chiến tranh bộ chiến ở Miền Nam thất bại theo như nhiều nhà b́nh
luận “xa lông” tại Hoa Kỳ chủ trương.
Mặc dầu cuộc chiến tranh không tập Bắc Việt của Hoa Kỳ là một thất bại, nhưng
không phải là nó không gây ra những khó khăn nghiêm trọng đối với tinh thần của
cán binh xâm nhập.
Một cuốn nhật kư do quân đội Đồng Minh bắt được (2) của cán binh Việt cộng xâm
nhập tên là Mai Văn Hùng cho thấy những thay đổi điển h́nh trong tâm tư của
những người cán binh Việt cộng xâm nhập Miền Nam với ḷng yêu nước bị Đảng lợi
dụng. Mai Văn Hùng là lính đi “nghĩa vụ” từ khoảng năm 1963, được huấn luyện tại
Vạn Bảo, Thanh Hóa tới năm 1965 th́ lên đường xâm nhập.
Cuốn nhật kư cho thấy anh Hùng rời Vạn Bảo vào lúc 12 giờ đêm ngày 24 tháng Tám
năm 1965, đi qua các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng B́nh và Quảng Trị rồi tới địa
điểm đầu tiên của Miền Nam vào ngày 16 tháng 11, nghĩa là mất hơn ba tháng đi
bộ.
Tưởng rằng được nghỉ ngơi ít ngày sau mấy tháng trường di chuyển cực khổ và vất
vả, nhưng đơn vị của anh Hùng đă phải cấp tốc di chuyển v́ bom đạn trút xuống
như mưa. Ngay từ giây phút này anh Hùng đă bắt đầu viết những cảm tưởng bi quan
trong nhật kư:
“Hậu cứ ngày 16-11-65.
“…. Tất cả là tuyệt vọng. Không biết ngày mai đời sẽ ra sao. Thật là phũ phàng
và phi lư nếu như ngày mai cũng như ngày hôm nay.
Thật là chán nản. Không biết than thở cùng ai? Không biết tâm sự với ai? Ai có
thể hiểu được nỗi niềm ray rứt trong tâm tư?”
Tiếp theo trong những hàng kế tiếp anh Hùng mô tả nỗi nhớ nhà, t́nh trạng đói
khát, tật bệnh, bom đạn giết nhiều đồng đội và để lại nhiều thương binh.
Cũng trong giai đoạn đầu tiên này anh Hùng viết một lá thư ngắn cho người anh ở
nhà nhưng lá thư không bao giờ được chuyển đi.
Tới đoạn cuối của cuốn nhật kư ngắn ngủi anh Hùng ghi những ngày ở Gia Lai (tức
tỉnh Pleiku), giẫy núi Chu Phong, t́nh h́nh ngày càng thê thảm, không có rau để
ăn, không có nước suối để tắm, ngoại trừ những vũng nước trâu đằm.
Và anh Hùng nêu một câu hỏi để lộ rơ tâm trạng hoang mang bất măn: Cuộc chiến
tranh này có lợi ǵ cho họ? Không biết anh Hùng dùng từ “họ” để chỉ cấp chỉ huy
trực tiếp hay giới lănh đạo Miền Bắc?
Ḍng chữ cuối cùng trên cuốn nhật kư ghi ngày 29-1-1967. Sau đó có lẽ anh Hùng
đă chết.
Một cuốn nhật kư thứ hai do quân đội Hoa Kỳ hành quân bắt được tại tỉnh B́nh
Định, thuộc về cán binh Hà xuân Đài (3), một cán bộ cứu thương của Tiểu đoàn 7,
Trung đoàn Quyết Tâm. Cuốn nhật kư cho thấy một khía cạnh khác của các cơ sở bị
tan vỡ do mức độ chiến tranh ác liệt. Đó là t́nh trạng thiếu thuốc men cho
thương bệnh binh, thiếu gạo, thiếu vũ khí và t́nh h́nh chiến tranh ác liệt.
Nhiều cuốn nhật kư khác của cán binh Bắc Việt xâm nhập và bị tịch thu qua các
cuộc hành quân của quân đội Việt Nam Cộng Ḥa hoặc đồng minh đều phản ảnh tâm
trạng vỡ mộng, chán nản, tuyệt vọng và điều kiện chiến đấu cực kỳ khó khăn, bi
quan.
Nhưng nếu nói về những tác phẩm văn chương xuất sắc diễn tả được đầy đủ tấm thảm
kịch của những cán binh Miền Bắc xâm nhập Miền Nam, người ta phải kể đến những
tác phẩm của nhà văn Xuân Vũ như cuốn Đường Đi Không Đến và Xương Trắng Trường
Sơn v.v…
T̀NH TRẠNG SA SÚT ĐIỂN H̀NH CỦA CÁC ĐƠN VỊ LỚN
Trở lại cuộc chiến tranh trên bộ ở Miền Nam trong giai đoạn trước Tết Mậu Thân,
để có một h́nh ảnh tương đối thực tế về t́nh h́nh quân sự, ta nên chú tâm vào
khu vực địa đầu của Miền Trung v́ hai lư do sau đây. Thứ nhất, đó là vùng mà các
lực lượng Bắc Việt xâm nhập tập trung khá đông đảo, lợi dụng địa thể hiểm trở
của núi rừng Trường Sơn để xây dựng căn cứ địa tiếp vận trước khi tràn xuống
Miền Đồng Bằng Cửu Long. Thứ hai đó cũng là vùng mà quân đội Hoa Kỳ tập trung
hỏa lực, cơ giới và lưu động tính để ăn thua đủ một cách thắng lợi và gây nhiều
tổn thất lớn cho Việt cộng.
Một cách cụ thể, những tài liệu dưới đây do quân đội Đồng Minh hành quân bắt
được (11) cho thấy t́nh trạng suy đồi mọi mặt của các đại đơn vị Bắc Việt hoạt
động tại chiến trường Miền Trung, nhất là những vùng trước đây vốn được coi là
căn cứ địa của Việt cộng như B́nh Định, Phú Yên, Quảng Ngăi.
Tài liệu thứ nhất là bản nghị quyết ngày 16-3-1967 của Đảng Ủy An Thái, bí danh
của Trung Đoàn 95 Bắc Việt (12), đánh giá t́nh h́nh “bạn và địch” kể từ sau năm
1965. Đây là một tài liệu tự phê rất gay gắt của Trung Đoàn, trong đó cán bộ cấp
uỷ của Đảng nói rằng Việt cộng sắp sửa chiến thắng hoàn toàn vào năm 1965 trước
khi Hoa Kỳ đổ quân vào Việt Nam.
Trung Đoàn 95 là một đơn vị của Sư Đoàn 5 Bắc Việt hoạt động trong tỉnh Phú Yên.
Trước năm 1965, những hoạt động của Trung Đoàn này đă biến tỉnh Phú Yên thành
một căn cứ địa mạnh của Việt cộng. Tài liệu này viết: … “Nếu t́nh h́nh quân sự
không có những biến chuyển mới, th́ ta đă tiêu diệt được lực lượng chi-khu (tức
là Tiểu Khu Phú Yên của Quốc Gia) và giải phóng hết quận này đến quận khác vào
năm 1966 ..”
Phần mở đầu của tài liệu nói đến quân số của lực lượng Quốc Gia trước khi Đồng
Minh đổ bộ quân vào Việt Nam. Vào mùa đông 1965, theo tài liệu này th́ lực lượng
Quốc Gia ở mức thấp nhất, gồm có Trung Đoàn 47 (phụ trách Tiểu Khu Phú Yên) cộng
với Tiểu Đoàn 23 và 16 Đại Đội Địa Phương Quân.
Nhưng kể từ mùa Đông 1966, quân đội Đồng Minh đă tăng cường một lữ đoàn bộ binh
Hoa Kỳ, một lữ đoàn bộ binh Đại Hàn giữ nhiệm vụ chiến đấu là chính yếu, c̣n
Trung Đoàn 47 VNCH th́ phụ trách công tác B́nh Định Nông Thôn.
Phía Việt cộng lúc đó có Sư Đoàn 5 và lực lượng chủ lực Tỉnh.
Tài liệu này thú nhận rằng lực lượng vơ trang Việt cộng đă bị bất ngờ không được
báo trước về sự chuyển biến từ h́nh thái chiến tranh đặc biệt sang h́nh thái
chiến tranh cục bộ (13).
Khi nói về h́nh thái chiến tranh đặc biệt, Việt cộng ám chỉ đường lối đánh giằng
co lâu dài, mượn danh nghĩa một cuộc chiến tranh nổi dậy trong nội bộ Miền Nam
và che dấu bàn tay xâm lược của Miền Bắc để ngăn cản hoặc tŕ hoăn một sự can
thiệp mạnh mẽ của Hoa Kỳ.
Khi quân đội Đồng Minh đổ vào Việt Nam với sự tham dự của Hoa Kỳ, Đại Hàn, Úc
Đại Lợi, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân và Thái Lan, Việt cộng dùng từ ngữ chiến
tranh cục bộ để mô tả một cuộc chiến tranh tuy có nhiều quốc gia tham chiến
nhưng c̣n ở mức độ hạn chế, chưa tới mức chiến tranh toàn cầu.
Theo như tài liệu này nhận định th́, do sự tấn công mạnh mẽ của quân đội Đồng
Minh, Trung Đoàn 95 đă không c̣n duy tŕ được thể chủ động như trước, và đă
không thể mở các cuộc tấn công vào quân đội Đồng Minh trong chiến dịch Thu Đông
1966, mặc dầu đă chuẩn bị sẵn sàng. Ta có thể hiểu ngầm rằng đứng trước hỏa lực
cực mạnh và lưu động tính của Đồng Minh, Trung Đoàn 95 đă bị khựng lại và không
dám đánh, mặc dầu đă chuẩn bị sẵn sàng.
Trung Đoàn này thật ra đă bị đặt trước hai sự lựa chọn: một là đánh để rồi bị
tiêu diệt và hai là không đánh và mất thế chủ động nghĩa là ở vào thế bị truy
lùng. Trung Đoàn này đă chọn cách thứ hai và sau suốt một năm vừa di động vừa đỡ
đ̣n, cấp đảng ủy thú nhận “các đơn vị đă chịu tổn thất về người, vũ khí, đạn
dược và lương thực thuốc men”.
Do ở những tổn thất trên, cán binh của Trung Đoàn này đă lâm vào t́nh trạng
khủng hoảng mất tinh thần, bi quan, cá nhân chủ nghĩa và buông thả. Tinh thần kỷ
luật sa sút đă đưa đến t́nh trạng hủ hoá, lè phè, bất cần và lừa dối (nguyên
văn). Cụ thể như: “Chúng ta đă sợ gian khổ và hy sinh và không c̣n tin tưởng vào
đường lối chính trị quân sự của Đảng. Một số cá nhân đă ngại chiến đấu. Họ không
dám nổ súng khi trông thấy địch, đă vất bỏ khí giới để chạy trốn hoặc rút lui
khi địch tới mặc dầu chưa có lệnh. Họ đă không thi hành đúng nghị quyết, sợ đánh
cận chiến, không dám bám sát địch, xâm nhập sâu để đánh tỉa. Một số khác c̣n đầu
hàng địch, hồi chánh theo địch, hoặc tiết lộ tất cả bí mật khi bị bắt .. ..”
Đi xa hơn nữa, tài liệu c̣n tiết lộ những khuyết điểm của nhiều đơn vị như:
không đoàn kết nội bộ, không tôn trọng của công, ăn cắp lương thực, quân trang,
đánh mất vũ khí đạn dược, quan liêu quân phiệt, vô kỷ luật. Đối với quần chúng
th́ chiếm đoạt bừa băi tài sản của dân, ăn cắp lương thực ngũ cốc, nhất là
thường hay doạ nạt dân.
Tài liệu trên tiết lộ tiếp là trong các buổi học tập phê b́nh và tự phê, các cán
binh tham dự đă không thành khẩn, không quyết tâm khắc phục những khuyết điểm
như: vi phạm đường lối chính sách và vi phạm kỷ luật.
V́ những thất bại quân sự và thiếu kỷ luật nên nhiều thành phần đồng bào có giao
dịch với đơn vị đă dần dần xa lánh, làm hư hỏng công tác tuyên truyền và dân vận
của Việt cộng.
Một tài liệu thứ hai (14), cũng của Trung Đoàn 95, là một chỉ thị đề ngày
13-5-1967 ấn định những nhiệm vụ chính trị của Trung Đoàn cho chiến dịch mùa hạ
1967.
Theo tài liệu này đánh giá th́ tại tỉnh Phú Yên Việt cộng đă mất khả năng kiểm
soát trên 90% dân số trước kia được coi là dưới ảnh hưởng của chúng. Cấp Đảng Ủy
Trung Đoàn 95 nhận định như sau: “... Trước kia ta đă kiểm soát được 220,000 dân
trong vùng giải phóng của Phú Yên và 40,000 trong vùng xôi đậu. Nghĩa là 260,000
trong tổng số 360,000 dân thuộc toàn Tỉnh. Hiện tại do dịch hành quân càn quét
và kế hoạch định cư dân chúng, ta chỉ kiểm soát có 20,000 dân, nghĩa là 1 phần
10 con số trước kia ...”
Mục tiêu chính ấn định trong chiến dịch Mùa Hè của Trung Đoàn 95 là để đánh phá
“kế hoạch b́nh định của địch ...Giải phóng dân định cư trong những vùng đông dân
của địch ....” Nhưng qua những cuộc đụng độ trong h́nh thái chiến tranh mới,
Trung Đoàn 95 đă hoàn toàn thất bại và bị vô hiệu hóa trong nhiệm vụ quân sự
được giao phó, kéo theo sự thất bại trong mục tiêu chống phá b́nh định.
T̀NH H̀NH SƯ ĐOÀN 3 BẮC VIỆT
Một tài liệu học tập (15) của Sư đoàn 3 Bắc Việt, đề ngày 19-11-1967, do Sư đoàn
Đệ nhất Không Vận Hoa Kỳ bắt được ngày 10-1-1968, cho thấy t́nh trạng hoang mang
giao động của một đại đơn vị Việt Cộng Miền Bắc.
Các thành phần của Sư đoàn 3 Bắc Việt bắt đầu xâm nhập vào Miền Nam từ năm 1964.
Kể từ đó Sư đoàn này hoạt động ở vùng đồng bằng duyên hải tỉnh Quảng Ngăi và
B́nh Định. Tài liệu kiểm thảo của sư đoàn 3 đă phê b́nh t́nh h́nh chiến đấu của
những đơn vị cấp tiểu đoàn có những khuyết điểm nghiêm trọng như “tinh thần kiên
cường chiến đấu bị giao động”, “thiếu tin tưởng vào sứ mạng và sự quyết tâm của
ban lănh đạo”, “thi hành mệnh lệnh không nghiêm”, “thiếu kỷ luật”, “thiếu đoàn
kết”, “sợ khó, sợ khổ”, “sợ phi pháo địch và sợ chiến đấu gian khổ . . .”
Tài liệu c̣n nêu lên những thí dụ như Trung đội Trưởng Tấn và Giàu, khi gặp địch
đă vứt cả vũ khí và cùng trung đội bỏ chạy. Trong một trường hợp khác, Trung đội
phó tên là Hiệp cũng bỏ chạy cùng đơn vị khi đụng địch. Đại đội 93, trong một
cuộc hành quân để phục kích một trung đội của Mỹ, đă bỏ chạy khi trung đội nói
trên tiến đến nơi phục kích.
HOẠT ĐỘNG B̀NH ĐỊNH NÔNG THÔN VÀ PHẢN ỨNG CỦA VIỆT CỘNG
T́nh h́nh quân sự bi quan của Việt cộng có ảnh hưởng rất tiêu cực đến khả năng
kiểm soát dân của chúng, nhất là nó lại giúp cho chính sách b́nh định và xây
dựng của Việt Nam Cộng Ḥa. Hay nói một cách khác, chính sách b́nh định xây dựng
làm cho khả năng khống chế dân của Việt Cộng ngày càng suy yếu và lâm nguy.
Tài liệu dưới đây là lá thư đề ngày 23-6-1967, của một cán bộ Việt cộng, kư tên
không rơ (16), viết cho một người bạn đồng thời là một cán bộ cấp cao hơn ở thuộc
tỉnh Phú Yên. Lá thư mô tả ảnh hưởng của chiến dịch B́nh Định Nông Thôn tại quận
Sông Cầu thuộc tỉnh Phú Yên. Đoạn trích dẫn dưới đây cho thấy nỗi lo ngại của
đương sự đối với t́nh h́nh B́nh Định:
“Kính gửi đồng chí Hoài Nam,
Vừa qua tôi có nhận được mấy cái thư của đồng chí, nhưng lúng túng quá không
biết nên viết thế nào để các đồng chí nắm t́nh h́nh của Sông Cầu. Thú thật với
đồng chí, tôi không trực tiếp trong công tác điệp báo nên không am hiểu ǵ về
mặt công tác này, viết báo cáo cho các đồng chí không khéo đâm ra thiếu thực tế
khách quan gây nên lệch lạc sau này.
Khi các đồng chí Phan và Khí c̣n sống các đồng chí ấy chuyên lo công tác này,
nhưng sau khi các đồng chí ấy đă hy sinh rồi th́ tất cả cũng đều mất theo, không
c̣n một tài liệu ǵ lưu lại nên chúng tôi hiện nay đang gặp nhiều khó khăn nhất
định. Vả lại t́nh h́nh Sông Cầu sau khi địch nống chiếm lại, cơ sở cách mạng nói
chung tan vỡ. Hiện nay c̣n một vài nơi hoạt động lẻ tẻ như Xuân Thọ, Xuân Phương
và Xuân Thịnh nhưng không thành một phong trào quần chúng như trước nữa. Mặt
khác kẻ địch đang ra sức ly gián giữa quần chúng và cách mạng, thực hiện b́nh
định nông thôn ở vùng chúng đă nống chiếm lại được.”
Trong phần kế tiếp, lá thư báo cáo về t́nh h́nh b́nh định nông thôn tại xă Xuân
Phương thuộc quận Sông Cầu, mô tả các hoạt động b́nh định gồm có công tác “lừa
mị dân” như nguyên tắc “tam cùng”, cũng quét nhà cho dân, thu dọn rác rến, xây
bệnh xá và trường học. Cán bộ b́nh định nông thôn c̣n xây chợ tại đây và bán gạo
cho dân với giá rẻ.
Mặt khác, cán bộ b́nh định tại đây cũng tuyên truyền kêu gọi hồi chánh tại những
vùng nghi là có cán bộ Việt cộng hoạt động. Những toán cán bộ b́nh định này được
yểm trợ vơ trang bởi lực lượng địa phương quân và nghĩa quân.
Mặc dầu lá thư báo cáo đă gọi các hành động của các cán bộ b́nh định là “lừa mị”
nhưng tiếp theo đó đă phải thú nhận rằng có 68 du kích xă, ấp và đảng viên đào
ngũ theo “địch”, mang theo vũ khí. Để đối phó với t́nh h́nh suy đồi tại quận
Sông Cầu, lá thư đề nghị những biện pháp ám sát để “tiêu diệt” những phần tử đi
theo chính quyền Quốc Gia.
T́nh h́nh như đă được mô tả ở trên tiêu biểu cho vùng địa bàn xung yếu của Miền
Trung, gồm các tỉnh tiếp giáp với Tây Nguyên như B́nh Định, Phú Yên, Quảng Nam,
Quảng Ngăi. Địa bàn này là điểm tập hợp của một số đại đơn vị của Bắc Việt xâm
nhập để phát triển và củng cố thành một vị trí đầu cầu tạo thế ỷ dốc với Mặt
Trận Tây Nguyên (Việt cộng c̣n gọi là Mặt Trận B-3).
Xét chung về mọi phương diện quân sự, chính trị, b́nh định xây dựng, t́nh trạng
đào ngũ của cán binh Việt cộng, t́nh trạng dân chúng bất măn trốn về vùng Quốc
Gia kiểm soát, t́nh trạng tổn thất người và vũ khí, giai đoạn trước Tết Mậu Thân
đă đánh dấu thoái trào nghiêm trọng của Cộng Sản tại Miền Nam. Chắc chắn cấp
lănh đạo Việt cộng tại Hà Nội đă nh́n thấy nguy cơ đang trên đà xuống dốc đó.
Trong PHẦN II, ta sẽ t́m hiểu xem Việt cộng làm cách nào để cứu văn t́nh thế.
DIỄN TIẾN TRẬN TẾT MẬU THÂN
CHÍNH BINH VÀ KỲ BINH
Những điểm tŕnh bày một cách sơ lược và đại cương từ trước tới giờ có thể làm
nhiều người hiểu lầm rằng lối đánh phi quy ước không bao giờ sử dụng đơn vị lớn
đánh trực diện trong trận địa chiến và vận động chiến.
Thực ra, những đơn vị chủ lực lớn đánh trực diện vận động chiến hay trận địa
chiến cũng được phối hợp sử dụng trong lối đánh phi quy ước, tuy rằng chỉ ở vai
tṛ phụ trợ. Và hạ tầng cơ sở, lực lượng hậu cần và quần chúng đóng vai tṛ
chính tuy không phải là vai tṛ duy nhất.
Điều này mới nghe có vẻ khó tin nhưng đúng, v́ mặc dầu có nhiều trường hợp cần
sử dụng một đơn vị chủ lực đánh vận động chiến và trận địa chiến để tạo chiến
thắng vang dội, nhưng, những yếu tố chính đem lại chiến thắng thường là do hạ
tầng cơ sở, lực lượng du kích và lực lượng dân công hậu cần lấy từ quần chúng.
Nhờ hạ tầng cơ sở mới có dân công làm hậu cần tải lương, tải đạn, tải thương.
Nhờ có hạ tầng cơ sở mới có giao liên, du kích, và tin tức t́nh báo cần thiết
cho các quyết định quân sự. Nhờ hạ tầng cơ sở mới có khả năng binh vận, nội
tuyến và nhất là khả năng ém quân trong nhà dân, và giúp cho các đơn vị chủ lực
phân tán mỏng trước và sau khi đánh một trận lớn mà không bị phát hiện, một điều
kiện tối cần thiết khi phải đối phó với lực lượng chính quy hiện đại của đối
phương sử dụng chiến tranh quy ước.
Vai tṛ chính và vai tṛ phụ trong mỗi h́nh thái chiến tranh phải được phối hợp
hết sức chặt chẽ để đạt kết quả tối đa. Đó là kinh nghiệm mà ta có thể học hỏi
được trong lịch sử đánh quân Nguyên, phá quân Minh và diệt quân Thanh, cũng như
trong những cuộc chiến gần đây nhất. Trong Thiên “Thế” của Tôn Ngô Binh Pháp,
Tôn Tử có viết:
“Phàm chiến đấu lấy đạo chính để hợp, lấy đạo kỳ để thắng. Cho nên người giỏi
đánh lối kỳ binh th́ vô cùng như trời đất, bất kiệt như sông nguồn . . .”
và Tôn Tử nói thêm: “Kỳ, chính, cái nọ đẻ ra cái kia, như cái ṿng xoay tṛn
không có đầu mối, chẳng thể cùng được . . .”.
Tào Tháo đă chú giải câu nói của Tôn Tử như sau: “Chính th́ chọi thẳng với quân
địch, kỳ th́ do bên cạnh mà đánh chỗ họ không pḥng bị”.
Áp dụng nguyên tắc chính và kỳ vào lối đánh phi quy ước th́ chính binh là hạ
tầng cơ sở và các lực lượng bán vơ trang, hậu cần; trong khi kỳ binh là các đơn
vị chủ lực. Nếu hiểu theo nghĩa rộng hơn th́ chính binh là các lực lượng chính
trị, và kỳ binh là các lực lượng đơn vị chủ lực vơ trang.
Mặt khác, áp dụng nguyên tắc chính và kỳ vào lối đánh quy ước, th́ chính binh là
các đơn vị chính quy đánh trực diện và kỳ binh là các đơn vị biệt kích, đặc
công, đánh bất ngờ vào cạnh sườn, sử dụng chiến thuật đặc biệt ví dụ địa đạo
chiến, hoặc sử dụng vơ khí đặc biệt như bộc pha, hoặc các đơn vị Nhảy Dù đánh
bằng lựu đạn chẳng hạn. V́ thế, các đơn vị biệt kích đặc công trong thời cổ cũng
được gọi là kỳ binh.(Việt cộng cũng sử dụng chiến thuật “Kỳ Tập”).
Người giỏi dùng binh chẳng những phải biết ứng biến giữa kỳ và chính, mà c̣n
phải biết lấy chính làm kỳ, lấy kỳ làm chính khi cần thiết, và phối hợp kỳ-chính
để đạt tối đa kết quả. Trong lịch sử từ xưa tới nay, những người không biết phối
hợp kỳ và chính thường thường bị thảm bại trong mọi cuộc chiến tranh.
Biết sử dụng vai tṛ chính và vai tṛ phụ trong mỗi h́nh thái chiến tranh tức là
biết sử dụng thế đánh đỡ, do đó, Tôn Tử đă bàn về kỳ và chính trong Thiên “Thế”.
1. Đâu Là Chính và Đâu Là Kỳ Trong Trận Tết Mậu Thân?
Trong phép dùng binh, thế đánh đỡ ở quy mô thấp được gọi là chiến thuật. Thế
đánh đỡ ở quy mô cao nhất gọi là chiến lược. Một câu hỏi được đặt ra là: “Mục
tiêu chiến lược của Trận Tết Mậu Thân là ǵ?”
Mục tiêu chiến lược của Trận Tết Mậu Thân gói ghém trong ám danh TCK-TKN có
nghĩa là Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa, c̣n có nghĩa là dùng mũi tấn công quân
sự để hậu thuẫn cho mũi tấn công chính trị nhằm giành toàn bộ chính quyền (“Tổng
Công Kích” là phần quân sự, “Tổng Khởi Nghĩa” là phần chính trị).
Nếu hiểu theo quan niệm trên th́ Tổng Khởi Nghĩa là chính binh và Tổng Công Kích
là kỳ binh. Tổng Công Kích là cái đ̣n bẩy cho Tổng Khởi Nghĩa. Tổng Công Kích có
thành công th́ Tổng Khởi Nghĩa mới thực hiện được. Mặt khác, riêng trong phương
diện Tổng Công Kích, các hoạt động quân sự là chính binh và các hoạt động binh
vận là kỳ binh.
Với tương quan lực lượng bấp bênh có lợi cho phía Quốc gia, Việt cộng đặt rất
nhiều hy vọng vào mũi binh vận làm đ̣n bẩy cho mũi tấn công quân sự như ta sẽ
thảo luận ở phần sau. Tóm lại, binh vận là đ̣n bẩy cho mũi tấn công quân sự và
mũi tấn công quân sự là đ̣n bẩy cho mũi tấn công chính trị. Đó chính là ư nghĩa
của câu “Kỳ, Chính, cái nọ đẻ ra cái kia như cái ṿng xoay tṛn”.
2. Đâu Là Diện và Đâu Là Điểm?
Diện và Điểm là hai từ ngữ thông dụng của Việt cộng. Diện có nghĩa là mục tiêu
phụ và Điểm là mục tiêu chính. Làm cho đối phương không nh́n ra ư đồ tấn công
mục tiêu chính bằng cách đánh dứ mục tiêu phụ c̣n được gọi là “Dương Đông Kích
Tây” (diversionary tactic) hay là kế nghi binh “lấy hư làm thực, lấy thực làm
hư”.
Hiểu theo nghĩa trên, trong Trận Tết Mậu Thân, Diện là trận tấn công Khe Sanh,
và Điểm là 28 tỉnh lỵ, thị xă lớn tại Miền Nam bị tấn công gần như đồng loạt.
Việt cộng đă đem ba sư đoàn chính quy Bắc Việt bao vây Khe Sanh, tạo nên ấn
tượng một trận Điện Biên Phủ thứ hai, để làm hỏa mù che dấu một trận Tổng Công
Kích bất ngờ ở toàn Miền Nam.

Ngoài kế nghi binh về quân sự, Việt cộng c̣n dựng lên một màn nghi binh về chính
trị bằng cách cho Ngoại trưởng Bắc Việt Nguyễn Duy Trinh ngỏ ư muốn mở ḥa đàm
với Hoa Kỳ. Ngày 18 tháng 11, 1967, “đài phát thanh Giải Phóng” của Việt cộng
cho đọc bản thông cáo của “Đoàn chủ tịch Ủy ban Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền
Nam Việt Nam” về việc hưu chiến 7 ngày nhân dịp Tết Mậu Thân từ 27 tháng 1 đến 3
tháng 2, 1968 (10). Bản thông cáo trên c̣n nói rơ “Các lực lượng vơ trang của Mặt
Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam có nhiệm vụ bảo vệ cho đồng bào được
ăn Tết b́nh yên vui vẻ, cũng như binh lính và nhân viên của ngụy quân, ngụy
quyền Sài G̣n được trở về xă sum họp với gia đ́nh, lễ gia tiên và thăm bà con họ
hàng . . .”.
Diễn Tiến Của Trận Tết Mậu Thân
1. Cơ Hội Ngàn Năm Một Thuở.
a. Kế nghi binh của Việt cộng quả nhiên đă đánh lừa được Việt Nam Cộng Ḥa. Việt
cộng hoàn toàn đạt được yếu tố bất ngờ. Quân lực Việc Nam Cộng Ḥa hoàn toàn ở
trong t́nh trạng xả hơi để ăn Tết. Trung b́nh, khoảng 50% quân nhân đă nghĩ phép
về thăm gia đ́nh. Trong nhiều đơn vị, số quân nhân vắng mặt lên tới tỷ số hai
phần ba. Do áp lực của các sư đoàn chính quy Việt cộng ở vùng phi quân sự, vùng
Khe Sanh và Kontum, các lực lượng tinh nhuệ của Việt Nam Cộng Ḥa được trải ra
vùng tiền phương và bỏ trống các đô thị ở hậu phương. Năm ngàn Thủy quân Lục
chiến Hoa Kỳ bị cầm chân ở Khe Sanh.
b. Thời cơ chính trị có tính cách thuận lợi về mặt chiến lược cho Việt cộng: Năm
1968 là năm tranh cử Tổng Thống tại Hoa Kỳ, trong đó, đường lối tiến hành chiến
tranh của Tổng Thống Johnson bị chỉ trích kịch liệt bởi các phe ứng cử viên Dân
Chủ và Cộng Ḥa. Trong năm 1967, nhiều cuộc biểu t́nh phản chiến lớn diễn ra tại
Hoa Kỳ.
Ngày 15 tháng 4, trên 100 ngàn người Hoa Kỳ phản chiến biểu t́nh trước ṭa nhà
Liên Hiệp Quốc tại Nữu Ước (3), dẫn đầu bởi Mục sư Martin Luther King, ca sĩ
Harry Belafonte, và bác sĩ Benjamin Spock. Ngày 29 tháng 10, 50 ngàn người Hoa
Kỳ phản chiến lại biểu t́nh trước Ngũ Giác Đài và Đài Kỷ Niệm Memorial (4), dẫn
đầu bởi Benjamin Spock, nhà văn Norman Miller và Mục sư Boyles, Tuyên úy tại Đại
học Yale. Những người biểu t́nh phản chiến đă chửi thề, ăn nói tục tĩu, bạo động
và xé thẻ quân dịch.
Dư luận chính trị và quần chúng Tây Âu cũng nổi lên công kích chính sách can
thiệp của Hoa Kỳ nhất là sau khi kư giả Harrison Salisbury, phụ tá chủ nhiệm báo
The New York Times, viết những bài báo xuyên tạc về cuộc chiến tranh không tập
tại Bắc Việt và được loan tải trên khắp thế giới.
Việt cộng đă đánh giá là thời cơ chiến lược có những thuận lợi rất căn bản. Các
cán binh trong Nam được học tập rằng đây là cơ hội ngàn năm một thuở, một lần hy
sinh cuối cùng để đạt chiến thắng và sau đó sẽ măi măi hưởng ḥa b́nh. Các cán
binh này c̣n được hứa hẹn rằng cứ tiến vào thành là nhân dân sẽ nổi lên đón
tiếp, nếu đánh nhau bị thương th́ nhân dân sẽ đưa vào bệnh viện Cộng Ḥa ....
Ngoài ra, các cán binh này c̣n được hứa hẹn là có đại quân từ Bắc với vũ khí
hiện đại tiến vào tiếp viện.
Các cán binh Bắc Việt xâm nhập th́ lại được học tập rằng nhiệm vụ của họ chỉ là
gấp rút vào Nam tiếp thu v́ phần lớn Miền Nam được “giải phóng”.
Đối với dân chúng trong vùng Việt cộng kiểm soát, Việt cộng cũng lừa dối tuyên
truyền cho cơ hội ngàn năm một thuở để vay tiền của dân. Mỗi gia đ́nh nghèo nhất
tối thiểu cũng phải nộp cho Việt cộng 2 ngàn đồng, các gia đ́nh bậc trung th́ từ
10 tới 20 ngàn đồng, c̣n giàu có th́ từ 30 tới 50 ngàn. Riêng tại một xă Thuận
Hưng, huyện Đầm Dơi (tỉnh Cà Mau) chẳng hạn, Việt cộng thâu được trên một triệu
đồng.
Hoạt động hậu cần của Việt cộng cũng lên tới mức độ rất cao để chuẩn bị cho Trận
Tết Mậu Thân. Riêng Trung đoàn Hậu cần 83 phụ trách vùng B́nh Dương, Tây Ninh,
Gia Định thu mua khoảng trên 13 tấn gạo mỗi ngày cho cao điểm Mậu Thân. (Mỗi
Quân khu Việt cộng có một hệ thống hậu cần riêng).
Mặt khác, trước áp lực phản chiến, Tổng Thống Johnson đă cho ngưng oanh tạc Bắc
Việt vào nhiều dịp: tháng 9, tháng 10 năm 1967 (5) cũng như trong dịp Tết, khiến
cho Việt cộng có thể xâm nhập cán binh và hàng trăm ngàn tấn vũ khí cùng đồ
trang bị vào Nam.
Với tất cả các yếu tố thuận lợi về thời cơ, chiến thuật và chiến lược, cùng các
kế hoạch nghi binh lừa địch, cũng như những sự chuẩn bị cực kỳ công phu và tỉ
mỉ, Việt cộng đă tung ra cuộc Tổng Công Kích trên ba mặt chính trị, quân sự và
binh vận.
2. Mũi Tấn Công Chính Trị.
Chính trị là mục tiêu tối hậu của cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân. Nhưng mức
yêu cầu chính trị cao tới đâu là điều mà Việt cộng đă ấn định trong kế hoạch mà
không đủ khả năng đạt được trên thực tế. Nói khác đi, yêu cầu tối đa của Việt
cộng là dành toàn bộ chính quyền bằng những cuộc nổi dậy trong thành phố, chiếm
lĩnh và tiêu diệt cơ chế chính quyền Quốc Gia ngay tại nơi đầu năo là thủ đô,
các thị xă và tỉnh lỵ lớn.
Nếu không đạt được yêu cầu trên, th́ ít nhất Việt cộng cũng nhằm đạt tới một
h́nh thức Chính phủ Liên Hiệp, tức là một bước trung qian để có tư thế pháp lư
yêu cầu Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam, trước khi chiếm lĩnh toàn bộ chính quyền.
Một câu hỏi quan trọng được đặt ra là: “Việt cộng dựa vào căn bản nào để đề ra
những yêu cầu quá lố như trên?”.
Theo những tài liệu học tập của cán binh Việt cộng th́ chúng nhận định rằng t́nh
h́nh chính trị đă chín mùi, chính quyền Việt nam Cộng Ḥa đang trên đà tan ră,
cán bộ Việt cộng đă xâm nhập vào các tổ chức sinh viên tranh đấu, các nhóm Phật
giáo quá khích, cán bộ binh vận của chúng sẵn sàng vận động binh lính Việt Nam
Cộng Ḥa làm binh biến hoặc ră ngũ từng mảng lớn ở nhiều nơi, và do ảnh hưởng
của những cuộc tranh đấu tại những đô thị đầu năo nhất là Sài G̣n và Huế, dân
chúng đô thị sẵn sàng nhất tề đứng lên nếu Việt cộng tấn công vào thành phố.
Những nhận định ở trên có thể phát xuất từ những sự đánh giá chủ quan quá lố,
hoặc có thể là những chỉ thị học tập cố t́nh lừa bịp để gây niềm tin tưởng trong
hàng ngũ cán binh và nông dân trong vùng Việt cộng kiểm soát.
Để đạt được yêu cầu chính trị ở trên, Việt cộng phải đề ra một kế hoạch quy mô
và khá tinh vi. Trước hết ta phải định nghĩa một vài từ ngữ khá quan trọng như
chính lược và sách lược của Việt cộng trong trận Tết Mậu Thân.
A. Chính Lược và Sách Lược
Chính lược là toàn bộ một kế hoạch chính trị nhằm đáp ứng những nhu cầu giai
đoạn nhất định.
Trong giai đoạn Đồng Khởi 1959, Việt cộng có nhu cầu dựng một chiêu bài “nhân
dân bản xứ đứng lên chống Mỹ-Diệm”. Vậy, việc thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam là một chính lược để đáp ứng nhu cầu giai đoạn của Đồng Khởi 1959.
Chính lược không nhất thiết có mục đích lừa địch và dụ khị địch, mà chỉ bao gồm
thuần túy kế hoạch chính trị.
Mặt khác, sách lược (stratagem) tự căn bản là để lừa địch, và sách lược có thể
bao gồm nhiều lănh vực khác ngoài chính trị.
Đối với Việt cộng, chính lược thường thường có tính chất sách lược, v́ phần lớn
nhằm lừa bịp những phần tử ngây thơ, nhẹ dạ và những phần tử mà Lênin gọi là ngu
xuẩn hữu ích (useful idiots) (hữu ích cho kế hoạch thôn tính và thống trị của
Việt cộng nhờ ảnh hưởng tên tuổi, bằng cấp của họ; ngu xuẩn v́ có học mà vô ư
thức và trở thành công cụ của chúng mà có khi không biết).
Một câu hỏi kế tiếp được đặt ra là: “Chính lược của Việt cộng trong Trận Tết Mậu
Thân là ǵ?”
- Nó khác với chính lược trong giai đoạn Đồng Khởi 1959. Trong giai đoạn Đồng
Khởi, nhu cầu căn bản của Việt cộng là tạo một danh nghĩa, một tiếng nói chống
đối trong nội bộ Miền Nam, dù là một tiếng nói nhũn nhặn v́ không có nội lực
quân sự. Nhưng tiếng nói nhũn nhặn đó cũng đủ đáp ứng nhu cầu giai đoạn là ngăn
cản sự tham chiến của Hoa Kỳ và câu thời giờ tạo sức hấp dẫn chính trị trong
nước đưa lên một cao trào lớn. Tóm lại, chính lược trong giai đoạn Đồng Khởi là
chấp nhận làm tiếng nói của kẻ yếu, của “kẻ bị đàn áp”.
Trái lại, trong giai đoạn Mậu Thân, chính lược của Việt cộng nhằm đáp ứng nhu
cầu chứng tỏ khả năng đè bẹp chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa, hay ít nhất khả năng
ngang ngửa trên thế mạnh để tạo cái trớn chính trị chiến lược tiến tới một Chính
phủ Liên hiệp và đẩy quân đội Hoa Kỳ ra khỏi VIệt Nam bằng pháp lư của Công pháp
Quốc tế.
Để thực hiện chính lược nói trên, bước kế tiếp là Việt cộng phải chuẩn bị nhân
sự và cơ cấu tổ chức cho kế hoạch chính trị.
B. Chuẩn Bị Nhân Sự và Cơ Cấu Tổ Chức
Trong giai đoạn cuối năm 1967, để chuẩn bị cho Trận Mậu Thân, Việt cộng đă gấp
rút gửi vào trong Nam trên 300 cán bộ chuyên môn đủ mọi ngành (6) như giáo sư
Đại học, các chuyên viên kỹ thuật, văn nghệ sĩ, y sĩ, cán bộ hành chánh, y tế .
. . để làm cái khung tiếp thu chính quyền, hoặc ít nhất để làm cái khung cho
cuộc đấu tranh văn hóa trong trường hợp có Chính phủ Liên Hiệp.
Con số 300 cán bộ mới nghe có vẻ nhiều, nhưng so với con số 100 ngàn công chức
các cấp tại Miền Nam, th́ con số cán bộ Việt cộng mang vào Nam chỉ như muối bỏ
biển. Nhưng, mối lo lớn nhất của Việt cộng là nhân sự chính trị làm bề mặt cho
chúng ở mọi cấp chính quyền từ Trung ương xuống đến xă, ấp.
Mặc dù cái khung Mặt Trận Giải Phóng đă có một số thành phần trí thức, thân hào
nhân sĩ, nhưng con số này rất ít được biết tới tại Miền Nam. Nếu so với con số
thân hào nhân sĩ và trí thức của Việt Nam Cộng Ḥa th́ 300 cán bộ Việt cộng dự
trù c̣n tệ hơn là muốn bỏ biển. Điều này cho thấy hoặc là Hà Nội không hiểu ǵ
về t́nh h́nh Miền Nam, hoặc là Hà Nội không có đủ cán bộ dự trù cho công tác.
Trên thực tế có lẽ cả hai giả thuyết trên đều đúng.
Mặt khác, rất nhiều thành phần chạy theo Mặt Trận Giải Phóng và kể cả những
thành phần sinh viên tranh đấu và các thành phần Phật giáo tranh đấu tuy bị cán
bộ Việt cộng nằm vùng giật dây, nhưng không chấp nhận chủ nghĩa Cộng sản mà chỉ
“chống Mỹ cứu nước” v́ hiểu lầm rằng Mỹ xâm lược Miền Nam (một đặc điểm khác của
yếu tố “ngu xuẩn hữu ích”). Việt cộng gọi thành phần này là phần tử dân tộc tư
sản.
Một điểm đáng lưu ư là Hồ Chí Minh gọi cuộc chiến tranh Miền Nam là cuộc Cách
mạng Dân tộc tư sản, nhưng chính Hồ Chí Minh và bộ hạ coi các phần tử “Dân tộc
tư sản” là cái gai trước mắt, chỉ lợi dụng trong giai đoạn để rồi sau đó loại
trừ. Trong vai tṛ bị “lợi dụng giai đoạn” như vậy, các phần tử “Dân tộc” nói
trên không hề biết họ được gọi là thành phần ngu xuẩn hữu ích theo ngôn từ miệt
thị của Lênin.
Hơn nữa, chính lược Mặt Trận Giải Phóng lúc đó đang bắt đầu trở thành một vấn đề
không c̣n thuận lợi v́ ba lư do:
Thứ nhất: Nhu cầu giai đoạn của Đồng Khởi 1959 không c̣n thích hợp nữa.
Thứ hai: Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đă dần dần để lộ bản chất làm tay sai cho
Việt cộng Miền Bắc và đa số nhân dân Miền Nam trong vùng tự do không có cảm
t́nh, đồng thời nghi ngờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (năm 1967, danh xưng Mặt
Trận Dân Tộc Giái Phóng Miền Nam đă bất ngờ bị cắt bớt danh từ Dân Tộc và được
rút ngắn thành Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam).
Thứ ba: Việt cộng ngoài Bắc không muốn để công cụ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam
có một cơ hội và có danh nghĩa trở thành một thực thể độc lập của Miền Nam theo
như danh xưng của nó. Nhất là khi thấy Trung Cộng càng ngày càng chú ư và yểm
trợ những thành phần này ngoài những dự trù của Việt cộng.
V́ thế, một b́nh phong thứ hai được dựng lên, và cán binh Việt cộng được học tập
là một “Mặt Trận 2” được thành lập với danh xưng là Mặt Trận Liên Minh Các Lực
Lượng Dân Tộc Dân chủ và Ḥa B́nh.
Mặt Trận 2 này sử dụng các phần tử trí thức và thân hào nhân sĩ tranh đấu có cảm
t́nh với Việt cộng nhằm vận động thu hút giới trí thức và thân hào nhân sĩ
thương gia, công kỹ nghệ gia, đại diện các đảng phái và tôn giáo c̣n đứng bên
ngoài, để tạo một b́nh phong có uy thế tại đô thị và các thành thị lớn là nơi có
tai mắt quốc tế.
Mục tiêu của việc sử dụng Liên Minh là để tăng thêm bề thế cho chiêu bài đại
diện toàn dân trong một giai đoạn nhất định (tức là giai đoạn Tổng Khởi Nghĩa
cướp chính quyền), bằng cách cho Liên Minh này ra đời trong lúc tấn công vào
thành phố.
Tại Huế, trong hai ngày mùng 1 và mùng 2 Tết, khi Việt cộng xâm nhập thị xă và
tạm thời làm chủ t́nh h́nh, chúng đă tuyên truyền cho Mặt Trận Liên Minh Các Lực
Lượng Dân Tộc Dân Chủ và Hoà B́nh và đặt giáo sư Lê Văn Hảo (một giáo sư thiên
cộng học từ bên Pháp về) làm chủ tịch Mặt Trận Trị Thiên. Cũng trong Mặt Trận
này c̣n có các sinh viên Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, một số sinh
viên tranh đấu, một số phần tử Phật giáo tranh đấu, Thượng tọa Thích Đôn Hậu và
Hội đồng Cứu Quốc.
Cũng nhân dịp này, Việt cộng cho ra đời chính quyền cách mạng và thi hành ngay
“bạo lực cách mạng” bằng cách tàn sát tập thể những người vô tội không theo
chúng. Riêng ở vùng thị xă Huế và vùng ngoại ô, có trên hai ngàn tám trăm người
bị Việt cộng giết hoặc chôn sống và sau này người ta đă t́m thấy xác họ trong
những mồ chôn tập thể. Ba giáo sư đại học người Tây Đức cũng ở trong số những
nạn nhân bạc phước này.
Tại Thủ đô Sài G̣n, măi tới ngày 5 tháng 5, 1968, trong cuộc tấn công đợt 2, các
toán vơ trang tuyên truyền mới xâm nhập được qua ngả B́nh Thới, Chợ Lớn và xuất
hiện ở mấy con đường Nguyễn Trăi, Phó Cơ Điều, Trần B́nh Trọng, Phan Văn Trị, v.
v. . . bắc loa và rải truyền đơn tuyên truyền cho Mặt Trận Liên Minh Các Lực
Lượng Dân Tộc Dân Chủ và Ḥa B́nh.
C. Thổi Phồng H́nh Nộm
Ở một số nơi trên toàn quốc, Việt cộng cũng sử dụng đặc công để đe dọa và cưỡng
ép dân chúng phải biểu t́nh để ủng hộ “cách mạng”, nhưng cuối cùng chúng không
thực hiện nổi một cuộc biểu t́nh nào.
Những nhân vật của “Liên Minh” cũng không hề có khả năng xuất hiện trước công
chúng mà chỉ được nhắc tới trên đài phát thanh Việt cộng (đài “Giải Phóng” và
nhất là đài Hà Nội). Bắt đầu từ tháng 1 và tháng 2, 1968, đài “Giải Phóng của
Việt cộng loan tin về những phiên họp của Liên Minh gồm “nhiều thân hào nhân sĩ,
trí thức, thương gia và kỹ nghệ gia, cũng như đại biểu của nhiều đảng phái và
tôn giáo” mà không nhắc đến tên tuổi, ngoại trừ một vài nhân vật ít người biết
tên, hoặc một số khuôn mặt đă cũ hay ít được quan tâm như Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh
Đ́nh Thảo, Tôn Thất Dương Kỵ, Dương Quỳnh Hoa, Trương Như Tảng, v. v . …
Sau đó, cũng đài phát tranh của Mặt Trận Giải Phóng loan tin là Liên Minh chủ
trương rằng: “Phải đối thoại và hợp tác với Mặt Trận để tranh thủ độc lập, văn
hồi ḥa b́nh và xây dựng đất nước” với lư do Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là
“lực lượng yêu nước đang lănh đạo cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước”.
Tới cuối tháng 8, 1968, đài phát thanh của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lại
thông báo “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đồng ư hợp tác với Liên Minh trong giải
pháp chính trị chấm dứt chiến tranh tại Miền Nam và chấp thuận đề nghị “Hội Nghị
4 Bên” tại Paris”.
Nói tóm lại, chính Bắc Việt tạo ra hai h́nh nộm ở trong Nam, giật dây cho hai
h́nh nộm nói chuyện với nhau, thổi phồng lẫn nhau và cuối cùng hợp tác với nhau
để làm nền tảng cho cái h́nh nộm thứ ba là Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời, được
loan báo thành lập qua đài “Giải Phóng” ngày 10 tháng 6, 1969, tức là hơn một
năm sau Trận Mậu Thân. Nhưng, đó là những chuyện về sau.
Màn kịch của Việt cộng nhắm nhiều vào giới truyền thông quốc tế và nhất là giới
học giả Tây Phương chỉ có khả năng nghiên cứu t́nh h́nh Việt Nam qua ống kính
thiên văn. Và màn kịch trên chắc chắn có tạo được ấn tượng sâu đậm đối với giới
truyền thông thiên tả và nhiều học giả Tây Phương.
Trên thực tế, ngay trong giai đoạn “Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa”, đợt 1 và
đợt 2, dân chúng thành thị không có một cơ hội nào để “chiêm ngưỡng dung nhan”
những nhân vật của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, của Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ
(viết tắt của Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ và Ḥa B́nh) và nhất là
của chính quyền “Cách Mạng”. Người ta chỉ nghe thấy tiếng súng nổ, nhưng t́nh
h́nh chính trị vẫn êm rơ. Người ta chỉ trông thấy và nghe thấy Mỹ-Thiệu-Kỳ mà
không thấy bóng dáng của Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Lê Văn Hảo (Lê Văn Hảo
đă trốn khỏi Huế trước khi được chính thức phong chức chủ tịch Mặt Trận Trị
Thiên).
Nói khác đi, người ta chỉ nh́n thấy Tổng Công Kích mà không hề nh́n thấy Tổng
Khởi Nghĩa. Cuộc Tổng Khởi Nghĩa mà Việt cộng hứa hẹn ngàn năm một thuở với cán
binh và nông dân trong vùng Việt cộng kiểm soát đă hoàn toàn không thấy tăm hơi.
Có bốn lư do khiến cho cuộc Tổng Khởi Nghĩa bị thất bại:
Lư do thứ nhất: V́ hạ tầng cơ sở của Việt cộng ở thành thị quá yếu, nhất là ở
Thủ đô Sài G̣n.
Lư do thứ hai: V́ sự phối hợp giữa hạ tầng chính trị với các lực lượng quân sự
hoàn toàn găy đổ.
Lư do thứ ba: V́ mũi tấn công quân sự thất bại, và đây là lư do chính về phía
Việt cộng, v́ như ta đă nói, mũi tấn công quân sự là đ̣n bẩy cho mũi tấn công
chính trị.
Lư do thứ tư: V́ dân chúng trong Nam dù chán ghét chiến tranh hay không hoàn
toàn ủng hộ chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa nhưng đồng thời họ ghét và sợ Cộng sản
như một bóng ma. Đây là lư do căn bản nhất nói lên sự kiện là cả hai bên đều
không vận động được ḷng dân, dù Việt cộng có kế hoạch, phương pháp và có nỗ lực
xây dựng hạ tầng cơ sở trong quần chúng.
3. Mũi Tấn Công Quân Sự
Về phương diện quân sự, Trận Tết Mậu Thân là một trong những trận đánh đặc biệt
nhất trong lịch sử, đồng thời cũng là một trong những thất bại quân sự chua cay
nhất của Việt cộng.
Mặt khác, trận Tết Mậu Thân cũng đánh dấu một chuyển hướng chiến lược căn bản
của Việt cộng, bỏ hẳn quan niệm chiếm giữ nông thôn, bao vây thành thị mà Việt
cộng học của Mao Trạch Đông, v́ Việt cộng nhận định rằng chiến lược trên đă thất
bại, do đó, phải tấn công thành thị để giải phóng nông thôn (7). Với đường hướng
chiến lược mới, Việt cộng đă lấy quân từ những địa phương kém quan trọng, tập
trung cường lực chỉ đánh vào những tỉnh lỵ lớn và những cứ điểm quan trọng mà
không hề đụng đến các tỉnh lỵ nhỏ, các quận lỵ và đồn bót.
Điểm đặc biệt đáng lưu ư là khi Việt cộng chủ trương tấn công thành thị để giải
phóng nông thôn, chúng đă gián tiếp công nhận đang mất nông thôn, v́ nếu không
mất nông thôn th́ cần ǵ phải giải phóng nông thôn. Thật ra, vào thời điểm Tết
Mậu Thân, mặc dầu hạ tầng cơ sở của Việt cộng tại nông thôn c̣n nguyên vẹn,
nhưng cấp lănh đạo Trung ương Cục Miền Nam cũng nh́n thấy đà đi xuống của nông
thôn (tức là địa bàn hoạt động của chi bộ xă, huyện ủy và tỉnh ủy), v́ những lư
do rất quan trọng mà ta sẽ phân tích trong Chương sau.
Ở đây, ta sẽ lần lượt xét các đặc điểm chính của mũi tấn công quân sự:
- Tập trung cường lực trong thời gian ngắn.
- Đánh bôn tập.
- Đánh đặc công trong thành phố.
- Đánh cài răng lược.
A. Tập Trung Cường Lực Trong Thời Gian Ngắn
Để đánh Trận Mậu Thân, Việt cộng đă chuẩn bị một quân số lớn chưa từng thấy, 97
tiểu đoàn độc lập, nhiều đơn vị đặc công, cộng thêm các Trung đoàn Đồng Nai,
Thép, Đồng Xoài, Quyết Thắng, Đồng Tháp, Phú Lợi, các thành phần của Công trường
5, 7 và 9 được xé lẻ.
Vào thời gian chuẩn bị Trận Mậu Thân, quân số tối đa của một tiểu đoàn Việt cộng
ở trong Nam là 400 người. Rất nhiều đơn vị Việt cộng có phân nửa là bộ đội từ
Miền Bắc v́ không kịp bổ sung bằng lực lượng địa phương.
Ngoài ra, Việt cộng c̣n tập trung khoảng từ 40 đến 50 ngàn quân Bắc Việt bao vây
Khe Sanh làm kế “dương Đông kích Tây” nhằm cầm chân một số lực lượng tinh nhuệ
của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Ḥa tại vùng tiền phương. Khe Sanh là một vùng đất
cao, phía Bắc có ba ngọn đồi 881 Bắc, 881 Nam và 861; phía chính Bắc có ngọn đồi
1015 (8). Căn cứ Khe Sanh nằm cạnh quốc lộ 9 chạy từ Lào qua đèo Lao Bảo ở biên
giới, tới làng Vei, một căn cứ dân sự chiến đấu và biệt kích Hoa Kỳ, rồi tới Khe
Sanh, căn cứ hỏa lực Carrol, rồi tới Cam Lộ, Đông Hà.
Việt cộng đă đem đến vùng Khe Sanh 5 sư đoàn (c̣n gọi là Công trường), gồm có
Công trường 324, Công trường 325-C (năm 1953 đánh Mặt Trận Lào) là đơn vị đầu
tiên của Việt cộng đụng trận với quân đội Hoa Kỳ năm 1965; Công trường 304 (c̣n
gọi là Công trường Nam Định) đă từng tham dự trận Điện Biên Phủ; Công trường 341
(được thành lập từ thời kháng Pháp). Năm sư đoàn này tấn công các căn cứ hỏa lực
của Hoa Kỳ ở vùng giới tuyến, và Sư đoàn 320 ứng chiến cách Khe Sanh 25 cây số
để tăng viện.
Một sư đoàn Bắc Việt có quân số gấp đôi một sư đoàn Việt Nam Cộng Ḥa, đồng thời
có nhiều vũ khí nặng hơn (một tiểu đoàn Bắc Việt có 800 người trong khi một tiểu
đoàn Việt Nam Cộng Ḥa có khoảng 400 chiến binh). Lực lượng bảo vệ Khe Sanh gồm
có khoảng 5000 người kể cả Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ và một số đơn vị Biệt động
Quân Việt Nam Cộng Ḥa.
Trận Khe Sanh được báo chí Tây phương thổi phồng lên như một trận Điện Biên Phủ
thứ hai sắp xảy ra tới nơi. Có tin đồn Vơ Nguyên Giáp đích thân đến gần vùng Khe
Sanh để tham quan và chỉ huy trận đánh. Nhưng, Khe Sanh không giống Điện Biên
Phủ. Lực lượng đồn trú ở Khe Sanh được yểm trợ bởi nhiều ngàn quân ở vùng chung
quanh, cùng với phi pháo và một Chiến đoàn Dù Việt Nam Cộng Ḥa.
Việt cộng lại đem Sư đoàn 2 Bắc Việt tấn công lực lượng Hoa Kỳ ở Kontum và Ban
Mê Thuột nhằm phân tán lực lượng yểm trợ quanh Khe Sanh. Nhưng ngược lại, Hoa Kỳ
vẫn đứng vững ở Kontum mà vẫn bảo vệ được Khe Sanh và cũng “tương kế tựu kế” cầm
chân khoảng 50 ngàn quân Việt cộng. Với hỏa lực cực kỳ ác liệt và sự sử dụng
loại khí nổ nặng hơn không khí len lỏi xuống khe đất để phá nổ các địa đạo do
quân Việt cộng đào chung quanh căn cứ. Sau cùng, Hoa Kỳ đă tiêu diệt ít nhất 10
ngàn quân Việt cộng. Lực lượng Việt cộng cuối cùng đă phải rút lui khỏi Khe Sanh
v́ đụng phải một chỗ khó chơi và người ta không thấy Vơ Nguyên Giáp viết sách kể
lại các chiến công ở Khe Sanh. Có nguồn tin khác cho rằng Vơ Nguyên Giáp không
chỉ huy trận Tết Mậu Thân.
Trong khi Việt cộng thực hiện kế “dương Đông kích Tây” ở Khe Sanh và trả một cái
giá hơi hớ (thực sự là một vố rất đau), th́ tại Miền Nam, chúng tung ra gần như
đồng loạt các trận đánh vào Sài G̣n, Huế, và các thị xă lớn của các tỉnh Quảng
Trị, Quảng Nam, Quảng Tín, Kontum, Pleiku, B́nh Định, Đắc Lắc, Khánh Ḥa, Vĩnh
B́nh, Vĩnh Long, Phong Dinh, Bạc Liêu, Kiên Giang.
Tại Mặt Trận Sài G̣n:
Trong đợt 1, Việt cộng đă sử dụng tới 15 tiểu đoàn và 2 đơn vị đặc công có quân
số trên một tiểu đoàn để tấn công vào bốn mặt Đông, Tây, Nam, Bắc. Trong đợt 2,
Việt cộng đem Trung đoàn Đồng Nai xé lẻ ra và xâm nhập từ An Phú Đông vào khu
Đồng Ông Cộ, ấp Bác Ái, ngă ba Cây Quéo; đồng thời, Trung đoàn Quyết Thắng từ
vùng Bến Cát xâm nhập vào vùng Cây Thị, Trung đoàn 101 cũng xâm nhập từ phía Bắc
Gia Định.
Trong đợt 1, Việt cộng xâm nhập sâu vào trung tâm Sài G̣n, tấn công Ṭa Đại sứ
Hoa Kỳ và đánh phá nhiều cơ sở quân sự và Cảnh sát của Việt Nam Cộng Ḥa như Bộ
Tổng Tham Mưu, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, trại Thiết Giáp Phù Đổng, trại Pháo Binh Cổ
Loa, trại Pháo Binh Nỏ Thần, đài phát thanh, sân bay Tân Sơn Nhất, cổng sau Dinh
Độc Lập, gây nhiều thiệt hại vật chất cho thường dân, đốt cháy nhà cửa. Người ta
ghi nhận trong đợt này có 19 ngàn căn nhà bị phá hủy, 6 ngàn 300 thường dân
chết, 11 ngàn bị thương. Nhưng, Việt cộng đă trả một cái giá rất cao: 5300 tên
bị giết, 415 bị bắt sống với gần 2 ngàn vũ khí cá nhân và cộng đồng bị tịch thu.
Số thương vong của Việt cộng gấp 16 lần số thương vong của Việt Nam Cộng Ḥa.
Trong đợt 2, lực lượng Việt cộng khoảng 7 ngàn quân, bị tổn thất trên 3 ngàn
rưỡi; Trung đoàn Trưởng Trung đoàn Quyết Thắng là Ba Vinh bị chết, Trung đoàn
Phó là Phan Văn Xướng ra hàng, 152 cán binh Trung đoàn Quyết Thắng ra hàng tập
thể; Đại đội 2 của tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn Quyết Thắng chỉ c̣n có 4 người.
Trung đoàn Đồng Nai có thể c̣n bị tổn thất nặng hơn; riêng Đại đội Trinh sát Đặc
công của Trung đoàn này, sau đợt 2, chỉ c̣n có 30 mạng. Trung đoàn 101 chuyên
đánh du kích trong thành phố đă bị lực lượng Nhảy Dù đánh tan.
Ngoài ra, Trung tá Việt cộng Phan Viết Dũng, Trung đoàn Trưởng Trung đoàn 165
thuộc Công trường 7, và Trung tá Tám Hà, Phó Chính ủy Phân khu I, cũng ra hồi
chánh đem theo nhiều tin tức quan trọng về t́nh báo quân sự của phía Việt cộng.
Tại Các Thị Xă C̣n lại:
Việt cộng cũng bị tổn thất nặng và bị đẩy lui trong một thời gian ngắn tại các
thị xă c̣n lại, trừ thị xă Huế là nơi Việt cộng đă xâm nhập vào Thành Nội và lợi
dụng thành quách kiên cố để tử thủ.
Lực lượng Việt cộng tấn công Huế có khoảng trên 7 ngàn gồm Đoàn 5 và Đoàn 6 chủ
công, c̣n Đoàn 9 dùng để tăng viện. Tại vùng Trị Thiên, Huế, trước khi đánh Trận
Mậu Thân, Việt cộng đă giải thể các Bộ chỉ huy, Bộ tư lệnh Sư đoàn 324-B, v.v…
và tổ chức lại các đơn vị thành Đoàn, tương đương với một trung đoàn.
Một Đoàn gồm có: 3 tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn đặc công, một tiểu đoàn
pháo, một tiểu đoàn yểm trợ, 8 hoặc 9 đại đội chuyên môn và một số đội tăng
cường. Do đó, một đoàn có khoảng trên 2 ngàn người. Nhờ cố thủ được trong Thành
Nội Huế, Việt cộng đă cầm cự từ 31 tháng 1 đến 25 tháng 2 mới bị đánh bật ra.
Số thương vong của Việt cộng tại khu vực Huế vào khoảng 3500 người, gần gấp 10
lần số thương vong của các lực lượng Việt-Mỹ trong khu vực này.
Tổng số thương vong của Việt cộng trong suốt Trận Tết Mậu Thân là trên 60 ngàn
quân tại các chiến trường Miền Nam, không kể Khe Sanh.
Tập trung cường lực là một đặc điểm chính yếu về chiến thuật nhằm lấy số đông để
tràn ngập và đè bẹp một lực lượng nhỏ.
Nhưng, tập trung cường lực đi đôi với Tổng Công Kích, nghĩa là đánh đều khắp, là
hai đều mâu thuẫn nhau, v́ đ̣i hỏi sự phân tán và mất hẳn tính chất tập trung
sức mạnh. Đây là một nguyên nhân chính đưa đến sự thất bại.
Ví dụ, trong trận Ấp Bắc, Việt cộng đem ba Tiểu đoàn 261, 263 và 514 để tràn
ngập và đè bẹp Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù, như thế mới có ư nghĩa tập trung cường lực,
dùng ưu thế quân số.
Trong trận công kích Sài G̣n đợt 1, Việt cộng dùng 15 tiểu đoàn đánh vào một
thành phố mênh mông bát ngát với bao nhiêu mục tiêu khác nhau ở xa lắc xa lơ,
khiến ưu thế chiến thuật không c̣n nữa.
B. Chiến Thuật Bôn Tập
Hành quân bôn tập là một ưu điểm chiến thuật trong Trận Mậu Thân. Hành quân bôn
tập có nghĩa là chuyển quân từ xa đến để đánh ngay một chập thay v́ tập trung
quân số tại trận địa, chuẩn bị trận địa, trí quân, trí súng, v.v… dễ bị lộ h́nh
tích và mất tính chất bất ngờ.
Ví dụ, trong trận tấn công Sài G̣n, Việt cộng xé lẻ các đơn vị, cho đi bộ gấp từ
các điểm xa như Trung An, B́nh Mỹ, B́nh Ḥa ở phía Bắc; Hữu Thanh, Lương Ḥa,
Trảng Bàng ở phía Tây; An Phú, Tân An ở phía Nam và Tây-Nam; và Giồng Ông Tố,
Vườn Tràu ở phía Đông và Đông-Nam. Nhưng, hậu quả tai hại của hành quân bôn tập
là các đơn vị không đến đồng loạt, lỡ hẹn với nhau, thất lạc tứ tán trong Đô
Thành, mất giao liên, không liên lạc được với cấp chỉ huy, lạc đường giữa thành
phố, đánh lầm mục tiêu hoặc không t́m ra mục tiêu, đói khát phải ra hàng từng
loạt . . .. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng đem lại thất bại cho
mũi tấn công quân sự.
C. Chiến Thuật Đặc Công
Chiến thuật đặc công là một lợi điểm đặc biệt của Việt cộng. Đa số những tổn
thất nặng gây ra cho dân chúng, nhà cửa, cơ sở là do các đơn vị đặc công gây
nên. Việt cộng đă sử dụng các đơn vị đặc công làm mũi xuyên phá cho các đơn vị
chủ lực xâm nhập nội thành. Đặc công cũng được dùng làm mũi nội ứng để gây hỗn
loạn, giúp cho các đơn vị chủ lực mở rộng trận địa. V́ các ưu điểm của chiến
thuật đặc công, trong đợt 2, Việt cộng đă tăng cường sử dụng đặc công với vũ khí
được cải tiến tối tân hơn và nhẹ hơn. Cũng v́ tận dụng chiến thuật đặc công mà
sau Trận Tết Mậu Thân, các đơn vị đặc công của Việt cộng bị tiêu diệt gần hết.
D. Đánh Cài Răng Lược:
Đánh cài răng lược ở đây có nghĩa là lực lượng Việt cộng lẩn vào nhà dân chúng,
giữ dân chúng làm con tin, rồi từ nhà dân phóng ra các trận tấn công. Mục đích
của chúng là khiến quân đội Việt Nam Cộng Ḥa không thể sử dụng phi pháo một
cách hữu hiệu. Việt cộng đă thành công trong mục đích này, khiến cho các cuộc
hành quân giải toả áp lực địch trở nên cực kỳ khó khăn và khiến cho nhiều khu
vực trong Đô thành Sài G̣n, Chợ Lớn và Gia Định biến thành một biển lửa.
Nói tóm lại, mũi tấn công quân sự của Việt cộng trong Trận Mậu Thân, mặc dù dựa
vào thời cơ chiến thuật, chiến lược cực kỳ thuận lợi và những chuẩn bị kỹ lưỡng,
công phu, đă hoàn toàn thất bại.
Ngoài những nguyên nhân chiến thuật khiến Mũi Tấn Công Quân Sự của Việt cộng
thất bại như ta vừa nói ở trên, c̣n một nguyên nhân rất quan trọng khác mà ta sẽ
nói tới dưới đây: đó là Mũi Binh vận của Việt cộng đă không làm được nhiệm vụ
của nó trong chiến lược Ba Mũi Giáp Công.
4. Mũi Tấn Công Binh Vận
Như ta đă có dịp nhắc tới ở trên, mũi binh vận là đ̣n bẩy cho mũi quân sự. Trong
lối đánh của Trận Mậu Thân, nếu mũi binh vận thất bại th́ có nhiều phần chắc
chắn mũi quân sự cũng phải thất bại. Nhân đây, ta cũng nên t́m hiểu sơ qua về tổ
chức và nguyên tắc hoạt động binh vận của Việt cộng.
Về tổ chức, trước hết, trên hệ thống dọc có các Ban binh vận từ Khu xuống Tỉnh,
xuống Huyện, rồi Xă. Trên hệ thống ngang th́ quan trọng nhất là cấp tỉnh. Ở mỗi
tỉnh có một đơn vị binh vận. Ví dụ tại Mỹ Tho, Việt cộng có đơn vị 115, gồm
chừng 30 hoặc 40 cán bộ binh vận được chia thành các phân đội, mỗi phân đội có
từ hai, ba người tới năm, sáu người phụ trách công tác binh vận cho một trung
đoàn. Công trường 7 của Việt cộng chẳng hạn, có các Trung đoàn 10, 11, 12 th́ có
ba phân đội binh vận cho ba trung đoàn này. Các phân đội có nhiệm vụ điều nghiên
dựa vào những cơ sở hoạt động hợp pháp trong khu Quốc gia kiểm soát, để chuẩn bị
cho mỗi cuộc tấn công của các trung đoàn đó.

Mỗi phân đội do một Khu ủy viên xuống chỉ đạo, phối hợp trực tiếp với Tỉnh ủy để
nắm vững t́nh h́nh chủ trương toàn bộ. Một phân đội c̣n có tên gọi là “phân đội
phía trước” hay “phân đội phía sau”. Phân đội phía trước gồm các cán bộ hợp pháp
phụ trách liên lạc tiếp xúc, vận động các đối tượng trong hàng ngũ quân đội Việt
Nam Cộng Ḥa rồi về báo cáo t́nh h́nh cho phân đội phía sau. Phân đội phía sau
nhận định t́nh h́nh, phác họa kế hoạch, rồi chỉ đạo cho phân đội phía trước hành
động.
Phân đội phía trước điều khiển các ổ nội tuyến, tức là những phần tử nằm vùng
trong hàng ngũ Quốc gia. Có ba loại nội tuyến:
Thứ nhất là loại nội tuyến mai phục trường kỳ gồm các đảng viên, các thanh lao
(thuộc Đoàn Thanh Niên Lao Động), hoặc các thanh niên “tốt” theo tiêu chuẩn Việt
cộng, có đủ điều kiện hợp pháp theo luật lệ chính quyền Quốc Gia, được “đảng”
tài trợ cho đi học, thi đỗ có bằng cấp để gia nhập vào các quân binh chủng của
Việt Nam Cộng Ḥa.
Loại nội tuyến thứ hai là các cảm t́nh viên hoặc các đồng t́nh viên, gồm các
binh sĩ đă bị Việt cộng mua chuộc hay thuyết phục để hoạt động cho chúng. Cảm
t́nh viên là những phần tử chỉ ủng hộ tinh thần, hoặc phục vụ ở mức độ thấp như
cho tin tức, cho mấy quả lựu đạn, cho mấy chục viên đạn…. Các đồng t́nh viên
tích cực hơn, có thể có những hành động để tạo phản, gây binh biến, nội ứng đánh
đồn, cướp đồn, giết cấp chỉ huy theo chỉ thị của cán bộ binh vận.
Loại nội tuyến thứ ba kém hữu hiệu hơn, đó là thân nhân gia đ́nh binh sĩ, nghĩa
là chỉ có tác dụng trung gian.
Công tác binh vận của Việt cộng rất hữu hiệu trong giai đoạn kháng chiến chống
thực dân Pháp và tương đối hữu hiệu trong giai đoạn Đồng Khởi 1959 tới 1965.
Kể từ 1965, công tác binh vận đă phạm phải hai khuyết điểm rất nặng: cấp trên
cho chỉ tiêu quá cao và cấp dưới cho báo cáo mầu hường để thoả măn những đ̣i hỏi
do cấp trên đề ra. Trong một phần phân tích sắp tới, ta sẽ có dịp đề cập kỹ hơn
tới vấn đề binh vận. Ở đây, ta muốn nói tóm lược rằng công tác binh vận của Việt
cộng trong dịp Tết Mậu Thân đă hoàn toàn găy đổ, đến nỗi không đưa tới một cuộc
binh biến nào, không có đơn vị nhỏ nào của Việt Nam Cộng Ḥa đào ngũ theo giặc.
Tại nhiều cơ sở của ta, chỉ cần một số Cảnh sát viên, tức là bán quân sự, hoặc
một số lính hành chánh, lính cậu, lính kiểng có nhiệm vụ trực nhật để chống giữ,
mà Việt cộng cũng không chiếm được.

Trái lại, chính Việt cộng đă bị ta binh vận ngược qua chương tŕnh chiêu hồi,
khiến Việt cộng mất khá nhiều cán bộ quan trọng và nhiều cán binh trong Trận Tết
Mậu Thân. Chương tŕnh chiêu hồi bắt đầu từ năm 1963. Tới cuối năm 1967 con số
hồi chánh viên tổng cộng là 80 ngàn người. Kể từ Trận Mậu Thân tới năm 1969, có
thêm 70 ngàn hồi chánh viên, nâng tổng số lên 150 ngàn người, trong đó có 10% là
cán bộ. Hạ tầng cơ sở bị bể, nông thôn dần dần vuột khỏi khả năng kiểm soát của
Việt cộng. Đó là điều ta sẽ phân tích kỹ hơn trong Chương sau.
Trận Tết Mậu Thân là trận đánh thí quân chưa từng thấy, tiếp theo là sự tan vỡ
của hạ tầng cơ sở. Điều kiện cho phép Việt cộng có thể đánh thí quân như vậy mà
vẫn tồn tại là nhờ chúng có lực lượng trừ bị ở miền Bắc và bởi v́ có sự chi viện
của cộng sản quốc tế. Mặt khác, với hạ tầng cơ sở bị tan ră, Việt cộng chỉ có
thể tiếp tục tiến hành h́nh thái chiến tranh quy ước mà thôi với sự tiếp viện
của Miền Bắc.
Thêm nữa, Trận Tết Mậu Thân đă đem lại một thắng lợi tâm lư rất lớn cho Việt
cộng tại Hoa Thịnh Đốn, một điều mà chúng không đạt được ngay trên đất Việt Nam.
Các cố vấn chính trị của Tổng Thống Johnson, v́ không nắm vững t́nh h́nh thực
tế, đă bị ngỡ ngàng và cực kỳ nao núng. Nhiều người bảo rằng: “Thôi, chẳng ăn
th́ đừng, mau mau t́m cách rút khỏi Việt Nam”. Tổng Thống Johnson bỏ ư định tái
tranh cử Tổng Thống, quyết định ngưng oanh tạc Bắc Việt, và đề nghị Bắc Việt
ngồi vào bàn ḥa đàm.
Mặc dầu đạt được thắng lợi tâm lư quan trọng tại Hoa Thịnh Đốn, sức mạnh của
Việt cộng tại Miền Nam càng ngày càng suy sụp theo chiều hướng không thể văn
hồi. Chiến dịch Đông-Xuân 1969 bị băi bỏ v́ không tạo được trớn. Chiến dịch
Đông-Xuân 1970 cũng không thành v́ căn cứ địa bị đẩy xa.
HẬU QUẢ CHIẾN LƯỢC CỦA TRẬN TẾT MẬU THÂN
Trận Tết Mậu Thân là một trận đánh thí quân chưa từng thấy trong lịch sử đấu
tranh Quốc-Cộng tại Việt Nam. Số thương vong của Việt cộng lên quá 60.000 người,
vào khoảng gấp 10 lần số thương vong của quân lực Việt Nam Cộng Ḥa. Mặc dầu bị
thất bại một cách thê thảm, Việt cộng vẫn không từ bỏ mưu đồ thôn tính Miền Nam
v́ 2 lư do chính:
Thứ nhất: Việt cộng c̣n lực lượng tiếp viện từ Miền Bắc và được khối cộng sản
quốc tế tiếp tục chi viện vũ khí đạn dược và quân cụ một cách ồ ạt.
Thứ hai: Việt Nam Cộng Ḥa có những nhược điểm căn bản về chính trị và chiến
lược khiến Việt cộng c̣n nuôi hy vọng khai thác những nhược điểm của ta để đánh
bại ta vào một thời cơ thuận tiện nhất.
Nhưng trong ngắn hạn, Trận Tết Mậu Thân dẫn đến một số hậu quả chiến lược quan
trọng rất bất lợi cho Việt cộng. H́nh thái chiến tranh quy ước mà Việt cộng sử
dụng trong Nam đă dứt khoát đi vào một thoái trào v́ ba lư do chính yếu:
- Mất các khu an toàn chiến lược.
- Mất thế hỗ trợ của nhân dân do hậu quả của những hành động tàn bạo công khai
và hành động thất tín trắng trợn.
- Mất hạ tầng cơ sở sau giai đoạn Tết Mậu Thân.
Để t́m hiều về hậu quả chiến lược của Trận Tết Mậu Thân, trong phạm vi chương
này, ta sẽ t́m hiểu về “T́nh h́nh của Việt cộng ở trong Nam” liên quan đến 4 vấn
đề căn bản là căn cứ địa, tổ chức hậu cần, hạ tầng cơ sở và lực lượng vũ trang
chủ lực của Việt cộng.
Như ta đă có dịp phân tích trước đây, nhiều dấu hiệu suy thoái của Việt cộng đă
xuất hiện từ trước năm 1968, buộc Hà Nội đi đến quyết định đánh Trận Tết Mậu
Thân. Vấn đề quan trọng đầu tiên mà ta sẽ t́m hiểu ở đây là các căn cứ an toàn
của Việt cộng ở Miền Nam.

I. SỰ TAN VỠ CỦA CÁC KHU AN TOÀN
Chiến tranh phi quy ước là loại chiến tranh nhằm chiếm dân chứ không nhằm chiếm
đất. Nói như thế không có nghĩa là đất đai không phải là vấn đề thiết yếu, trái
lại có một loại đất đai có tính cách sinh tử đối với chiến tranh phi quy ước, đó
là các chiến khu, các mật khu, các vùng bất khả xâm phạm.
Tầm quan trọng của các mật khu tùy theo mức độ phát triển của các lực lượng vũ
trang. Khi lực lượng vũ trang của Việt cộng c̣n ở mức độ du kích, các “mật khu”
tương đối nhỏ và không quan trọng lắm. Ví dụ vào giai đoạn trước Đồng Khởi 1959,
tại vùng Châu thành Mỹ Tho, Việt cộng chỉ có 18 du kích với 5 khẩu súng cũ, và ở
các địa phương khác, lực lượng du kích c̣n ít ỏi hơn, th́ “mật khu Việt cộng” là
những vùng ở phía sau các bờ sông, bờ rạch, các khu rừng chàm, nơi ẩn náu của du
kích và giao liên.
Trong khi chính quyền địa phương thời Ngô Đ́nh Diệm chỉ chú trọng kiểm soát các
thị trấn, thị xă, và xă ấp ở phía ngoài các bờ sông rạch, th́ các vùng ở sâu
phía trong là khu vực riêng của Việt cộng, Quốc Gia không hề lui tới (1). Vào
giai đoạn này, những khu rừng như U Minh, Năm Căn, Cái Nước ... đă được coi là
những mật khu tương đối hiểm yếu hơn những bờ sông, bờ rạch. Trong giai đoạn
kháng Pháp, U Minh thượng và U Minh hạ (thuộc tỉnh Rạch Giá và Bạc Liêu) được
dùng làm căn cứ địa cho Trung Ương Cục Miền Nam, Bộ Tư Lệnh Nam Bộ, Ủy Ban Kháng
Chiến Hành Chánh Nam Bộ, v.v…. Nhưng, qua giai đoạn chiến tranh ác liệt từ khi
Hoa Kỳ đổ quân vào Việt Nam, những vùng U Minh, Năm Căn, Cái Nước không c̣n là
những vùng an toàn tuyệt đối, và Trung Ương Cục Miền Nam đă phải chuyển căn cứ
địa tới vùng biên giới phía Bắc Tây Ninh, giáp đất Miên (2). Sự di chuyển căn cứ
địa của Trung Ương Cục Miền Nam có ba nguyên nhân chính yếu.
Trước hết, nó giúp cho cấp đầu năo Việt cộng có một chiến khu an toàn hơn, bao
quanh bởi rừng núi hiểm trở và bao la ở Miền Đông Nam Bộ.
Thứ hai, nó bảo đảm một đường rút lui an toàn sang đất Miên nếu gặp biến, đồng
thời vị trí căn cứ địa cũng không xa trung tâm đầu năo của chính quyền Việt Nam
Cộng Ḥa tại Sài G̣n.
Thứ ba, căn cứ địa mới của Trung Ương Cục Miền Nam là nơi trung điểm tiếp nhận
thuận tiện các tiếp viện từ Miền Bắc.
Ngoài căn cứ địa sào quyệt của Trung Ương Cục Miền Nam, Việt cộng c̣n có căn cứ
địa dành riêng cho Ban Chấp Hành Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) tại vùng
Xóm Giữa, Tà Nọt thuộc Tây Ninh. Có hai lư do căn cứ Trung Ương Cục không ở cùng
chỗ với căn cứ MTGPMN. Thứ nhất là muốn tránh bị dính chùm một chỗ trong trường
hợp bị Quốc Gia đột kích. Lư do thứ hai là lư do chính yếu nhưng thầm kín: Đó
là, Ban chấp hành MTGPMN, kể cả chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, chỉ là những cán bộ
ṿng ngoài, không được phép ở chung với Trung Ương Cục là thành phần cao cấp của
Đảng.
Các mật khu khác của Việt cộng họp thành một phần cực kỳ quan trọng của h́nh
thái chiến tranh phi quy ước, gồm nhiều vùng ít được biết tới và một số chiến
khu nổi tiếng như U Minh, Năm Căn, Đồng Tháp, Đỗ Xá, Lưỡi Câu, Ba Thu, Dương
Minh Châu, Chiến Khu C (Việt cộng gọi là Khu B), Bời Lời, Rừng Sát.
Căn cứ địa là vùng để đóng quân, dấu quân, dưỡng quân, tích trữ lương thực, vũ
khí đạn dược, là nơi xuất phát các chiến dịch quân sự, và cũng là nơi rút lui
về, sau một chiến dịch, để bổ sung quân số, để học tập chính sách, học tập chiến
thuật.
Trong giai đoạn xây dựng lực lượng chủ lực, các căn cứ địa c̣n là nơi hoạt động
của các đơn vị hậu cần sản xuất, tạo ra lương thực nuôi quân, là nơi cơ quan
kinh tài khai thác các tài nguyên lâm sản bằng cách đánh thuế các người làm rừng
làm rẫy, đánh thuế các xe đ̣ qua lại trên khu vực do Việt cộng “kiểm soát” và
vắng bóng các lực lượng Quốc Gia.
Trong thời kỳ cao trào của Cộng Sản ở Miền Nam, các căn cứ địa Việt cộng được
coi như vùng bất khả xâm phạm. Nhưng, kể từ 1965 trở đi, chiến tranh không c̣n
giống như thời kỳ kháng chiến chống Pháp nữa. Thời xưa, khí giới công phá mạnh
nhất là bom Napalm. Khí giới này không có nghĩa lư ǵ đối với các chiến khu như
Dương Minh Châu, Chiến khu D, v. v. . . một phần v́ diện tích chiến khu quá bao
la, một phần v́ các công sự và địa đạo của cộng quân đào sâu hơn 12 thước ở dưới
đất, dài mấy trăm thước, có đường hành lang khúc khuỷu để giảm bớt sức công phá
của bom.
Nhưng, đối với chiến tranh hiện đại được đưa vào chiến trường Việt Nam, mật khu
không c̣n là thánh địa an toàn. Những địa đạo sâu nhất của cộng quân cũng không
chống nổi bom của B-52, v́ sức công phá của nó đă từng bạt cả núi của đèo Mụ
Già. Từ tháng 6-1965, chiến khu D đă 18 lần bị B-52 trải thảm bom, chiến khu C
(theo tác giả Kim Nhật trong cuốn Về R th́ Việt cộng gọi là Khu B) bị 6 lần, và
mật khu Đỗ Xá bị 7 lần.
Sau những trận mưa bom B-52 là những trận hành quân lùng và diệt địch. Đó là
những trận hành quân đại quy mô với hỏa lực khủng khiếp và ưu thế của cơ giới
lưu động mà Việt cộng không có sức nào chịu nổi nếu đứng lại chiến đấu. Những
cuộc hành quân đại quy mô như Attleboro, Cedar Falls, Junction City, bề ngoài có
vẻ vô bổ v́ không gây được tổn thất nhân mạng cho Cộng quân (Việt cộng luôn luôn
phân tán mỏng và biến mất) khiến cho nhiều người nghi ngờ giá trị chiến thuật
chiến lược của nó. Thực ra trên phương diện dài hạn, các chiến dịch lùng và diệt
địch có tác dụng chiến lược v́ đă tràn ngập các căn cứ địa hiểm yếu của Việt
cộng, khiến Cộng quân luôn luôn bỏ chạy, mất ăn mất ngủ, không có thời giờ tập
hợp để học tập, thao luyện, cũng như để chuẩn bị đánh lớn. Nhất là mỗi lần bỏ
chạy khỏi mật khu, Việt cộng để lại những kho lương thực đủ nuôi một trung đoàn
cả nhiều tháng trời.

Chính v́ các căn cứ địa mất an toàn mà ngay từ năm 1965, chiến dịch “Mùa Mưa”
của Việt cộng đă buông trôi. Chiến dịch mùa mưa 1966 cũng không thành, và Việt
cộng nh́n thấy chiến lược “chiếm nông thôn để bao vây thành thị” có nguy cơ găy
đổ nên đă quyết định đánh Trận Tết Mậu Thân.
Sau trận thảm bại của Việt cộng, quân lực Việt Nam Cộng Ḥa trở nên tự tin hơn,
đă phóng ra nhiều cuộc hành quân truy kích khiến Việt cộng luôn luôn bị mất
trớn. Cao điểm Đông-Xuân 1969 và tiếp theo đó là cao điểm Đông-Xuân 1970 được
Việt cộng học tập và chuẩn bị, nhưng rút cục cả hai cao điểm đều bị bỏ rơi. Ngày
18 tháng 3 năm 1970, ông Hoàng Sihanouk bị truất phế trong khi đang nghỉ mát tại
Pháp và tháng 5 năm 1970, với sự phối hợp của quân đội Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Ḥa
đă vượt biên tấn công qua Cao Miên (3). Sư đoàn 9 và sư đoàn 21 đă tới Kép,
Takeo; Sư đoàn 25 đánh qua vùng Mỏ Vẹt, đồn điền cao su Mimot, và các cuộc hành
quân B́nh Tây I, B́nh Tây II và B́nh Tây III đánh vào vùng đông Bắc Cao Miên.
Tổn thất của cộng quân khá nặng, mặc dầu Việt cộng đă nhận được nhiều dấu hiệu
báo trước một cuộc tấn công từ đầu năm 1970:
Tổn thất nhân mạng: 9500
Súng cộng đồng bị ta chiếm: 2000
Súng cá nhân: 13.700
Đạn dược: 1700 tấn
Gạo: 5400 tấn
Dược phẩm: 15 tấn
Các cuộc hành quân vừa kể đă đẩy lùi căn cứ địa Việt cộng ra khỏi vùng biên giới
cách xa hàng trăm cây số, khiến cho khả năng đánh bôn tập của các lực lượng Việt
cộng không c̣n nữa v́ con đường tiến về Sài G̣n từ các nơi tập trung quân và
dường quân trở nên quá xa.
Hậu quả là Việt cộng đă không thực hiện được một cao điểm nào suốt cho tới năm
1972, ngoại trừ những vụ pháo kích và đánh đặc công rời rạc. Ngay cuộc tấn công
1972 cũng là hậu quả của t́nh trạng mất căn cứ địa, khiến Việt cộng phải mang
các đại đơn vị vượt Bến Hải đánh theo lối quy ước chiến.
II. SỰ TAN RĂ CỦA LỰC LƯỢNG HẬU CẦN
Trong h́nh thái chiến tranh đặc biệt của Việt cộng ở Miền Nam, vấn đề hậu cần là
vấn đề sinh tử. Suốt trong giai đoạn đánh giằng co lâu dài lên đến giai đoạn
đánh dứt điểm, nhu cầu hậu cần càng ngày càng gia tăng chứ không có giảm. Những
nhu cầu chính của hậu cần trong h́nh thái chiến tranh phi quy ước của Việt cộng
là: Lương thực, vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng và thuốc men. Đối với
Việt cộng, nhiên liệu là vấn đề ít cấp bách trong nội địa Miền Nam v́ 95% các
hoạt động vận tải đường bộ cũng như đường thủy là dùng sức người và trâu ḅ,
hoặc các phương tiện thuê mướn của dân. Riêng các hoạt động hậu cần của Việt
cộng dọc theo đường ṃn Hạ Lào từ Bắc vào tới biên giới Kontum hoàn toàn sử dụng
xe vận tải.
Sau năm 1967, công tác vận chuyển vũ khí quân trang quân dụng từ biển vào đă
được Sihanouk tận t́nh giúp đỡ bằng cách cho Việt cộng mượn hàng trăm quân xa rỡ
hàng từ hải cảng Sihanoukville, đi tới tận căn cứ Mimot và các căn cứ khác dọc
theo biên giới (4). Trước năm 1967, đường tiếp vận của Việt cộng từ biển vào đă
phải đi qua các ngả Cà Mau, hoặc Rạch Giá, rồi đi dọc lên phía Châu Đốc, men
theo biên giới, tới vùng Mỏ Vẹt, Lưỡi Câu, tới Trung Ương Cục.
Mỗi Quân khu, Phân khu của Việt cộng có một hệ thống hậu cần riêng, lớn nhỏ mạnh
yếu tùy theo t́nh h́nh an ninh, điều kiện di chuyển, ví dụ tại chiến trường
Quảng-Đà (Quảng Nam-Đà Nẵng), tổ chức hậu cần rất mạnh v́ phạm vi hoạt động nằm
trong rừng sâu. Tại vùng B́nh Long, Phước Long, Ban Mê Thuột, Trung đoàn Hậu cần
86 phụ trách Khu H, tức là đoạn cuối của gịng hậu cần chiến lược 559, do Tư Vơ
là Cục Phó Cục Hậu Cần làm Thủ Trưởng và trực tiếp đôn đốc.
Cục Trưởng Cục Hậu Cần trước kia là Tư Thắng. Cuối tháng 12 năm 1965, Tư Thắng
chết v́ bom B-52 và Năm Hoà đă lên thay. Lực lượng hậu cần của Việt cộng trong
nội địa Miền Nam có những trung đoàn quan trọng như Trung đoàn 83, Trung đoàn 85
(5), Trung đoàn 86, v.v…. Ở bên ngoài biên giới, riêng vùng Mật khu Ba Thu, Việt
cộng đă xây dựng tới 11 trung đoàn hậu cần để phục vụ cho công tác vận tải.
Những hoạt động trọng yếu của hậu cần Việt cộng trong giai đoạn 1960-1963 là hậu
cần sản xuất, gồm công tác phá rừng trồng khoai ḿ, trồng bắp lấy lương thực
nuôi quân (6). Tới năm 1965, t́nh h́nh chiến cuộc trở nên rất nặng. Một phần v́
nhu cầu quân số chiến đấu gia tăng, một phần v́ kinh tài Việt cộng đă có dư giả
tiền bạc để thu mua lương thực, nên công tác hậu cần sản xuất của nhiều đơn vị
đă chấm dứt, để lấy thanh niên xung vào đơn vị chiến đấu, c̣n phụ nữ th́ chuyển
sang làm hậu cần vận tải và thu mua.

Ban quân nhu của Trung đoàn 83 Hậu cần có nhiệm vụ thu mua lúa gạo của dân, lo
việc tồn trữ lương thực, lo nơi ăn chốn ở của các đơn vị, phân phối phiếu gạo,
phiếu quân trang cho bộ đội. Bộ đội đem những phiếu này tới xuất tŕnh tại các
Đại đội C139, C212, và C136 để lănh gạo. Đại đội C335 có nhiệm vụ săn sóc thương
bệnh binh từ các nơi khác mang tới.
Phạm vi hoạt động của Trung đoàn 83 Hậu cần là các tỉnh Tây Ninh, B́nh Dương và
Gia Định. Trong thời kỳ c̣n hoạt động mạnh, việc thu mua lúa gạo rất dễ dàng và
tự do. Ban kinh tài của Bộ Tư Lệnh Trung đoàn sang Miên lănh tiền của Trung Ương
Cục Miền Nam, sau đó phân phối tiền cho các đại đội mua gạo. Cán bộ trung đoàn
và đại diện các đơn vị chiến đấu họp thành một “Ủy Ban Thu Mua” để quyết định về
giá cả do dân cung cấp. Gạo mua được sẽ được chở về hậu cứ bằng xe đ̣, xe hơi
hoặc xuồng máy.
Những phương tiện vận tải có thể được thuê của dân chúng. Ví dụ, mỗi xe ḅ được
trả 50 đồng cho mỗi bao gạo trên quăng đường 4 cây số. Những nông dân chuyên chở
gạo cho trung đoàn phải là những người được Việt cộng gọi là phần tử tốt, do Ủy
Ban Nhân Công giới thiệu. Trong Trung đoàn 83 có chừng 40 đôi ḅ do tư nhân cho
thuê, ngoài ra c̣n thiết lập những đơn vị cơ động, hay là những đoàn xe ḅ riêng
của trung đoàn. Ở bến Chùa, Trung đoàn 83 có 12 đôi ḅ, ở Long Uyên có 7 đôi.
Lúa gạo c̣n được chuyên chở bằng xuồng máy và con đường vận chuyển từ Phú Ḥa
Đông tới Thanh An, bến Chùa. Giá chuyên chở bằng thuyền máy là 100 đồng mỗi bao.
Tư nhân tại B́nh Dương có 9 thuyền máy lớn. Riêng trung đoàn cũng có độ một chục
chiếc.
Nguyễn Văn Hoài, một cán bộ tập kết xâm nhập và hồi chánh, cho biết khả năng thu
mua gạo của Trung đoàn 83 lên tới 300 bao gạo mỗi ngày trong giai đoạn chuẩn bị
Trận Tết Mậu Thân (mỗi bao là 45kg). Gạo từ các nơi đem về như An Nhơn Tây, An
Nhơn Thành, Phú Ḥa Đông, Bến Súc, Thanh Tuyền. Số lượng gạo thu mua được, lại
do một số dân công vận tải từ Chợ Rồng, Đất Đỏ tới Núi cậu, Kiên An nằm giữa
Thanh Tuyền và Long Uyên. Từ xă Thanh Tuyền đi bộ tới Núi Cậu mất một ngày
đường.
Phần gạo thu mua về Núi Cậu được phân tán trong vùng Bến Cát. Riêng tại Bến Cát
có tới hơn 150 nơi chứa gạo, nước mắm và muối.
Trung đoàn 83 cũng thu mua dầu lửa nhưng với số lượng rất nhỏ để dùng trong nội
địa, v́ trên thực tế, tại nội địa Miền Nam Việt cộng không có hệ thống vận tải
bằng xe hơi. Ngoài ra Trung đoàn này c̣n phụ trách vận tải súng đạn khí giới từ
Miên sang Việt Nam bằng những đoàn xe ḅ; từ Kà Tum tới Rạch Băi Chim, Rạch Đồi,
qua sông Hán Hảo tới Rạch Ông Hưng và Bến Củi.
Cũng như các cơ sở và tổ chức khác của Việt cộng, tổ chức hậu cần ở nội địa và
tại Cao Miên bị tan ră v́ cường độ chiến tranh ác liệt. Nhất là từ sau Tết Mậu
Thân, hoạt động hậu cần bị tê liệt trên toàn thể Miền Nam v́ những nguyên nhân
chính sau đây:
- Dân chúng bỏ vùng Việt cộng chạy ra vùng an ninh, khiến không có ai bán gạo
cho hậu cần và không ai dám đi dân công chở mướn sợ chết oan.
- Những trận phục kích do hồi chánh viên hướng dẫn giúp ta bắt hết ḅ dùng để
chuyên chở.
- Các cửa khẩu bị chặn.
- Chiến dịch B́nh Định đă tiêu diệt nhiều cán bộ hậu cần.
- Thuốc khai quang làm mất nơi trú ẩn thiên nhiên trên đường chuyển vận.
- Phi pháo phá hủy các ghe máy, xe vận tải. Trong cuộc hành quân sang Miên, ta
chiếm và phá hủy tới hơn 400 xe vận tải của Việt cộng.
III. HẠ TẦNG CƠ SỞ BỊ TIÊU DIỆT
Ngay từ năm 1965, mặc dầu các cơ sở vật chất, các căn cứ địa của Việt cộng bị
các cuộc hành quân càn quét phá vỡ tan hoang, nhưng hạ tầng cơ sở của chúng hầu
như c̣n nguyên vẹn. Măi tới sau Trận Tết Mậu Thân, hạ tầng cơ sở Việt cộng mới
bị đánh phá và dần dần bị tiêu diệt, đánh dấu một tổn thất có tính cách chiến
lược quan trọng nhất.
Hạ tầng cơ sở của Việt cộng chính là các Chi bộ Xă, hệ thống cán bộ Đảng viên ở
cấp xă để kiểm soát và lănh đạo nông thôn.
Khởi đầu, khi Việt cộng chủ trương gài cán bộ chính trị ở Miền Nam, hạ tầng cơ
sở của Việt cộng chỉ có ở cấp huyện mà không có ở cấp xă. Chủ trương này theo
đúng quan niệm của Trường Chinh, một người sinh trưởng ở Miền Bắc và không am
hiểu về t́nh h́nh xă ấp ở trong Nam vốn rải rác và ở cách xa nhau. V́ thế cán bộ
huyện ủy không đủ khả năng nhân sự để phụ trách một phạm vi địa dư quá rộng. Đây
là một khuyết điểm ban đầu khiến Việt cộng không bén rễ sâu tại nông thôn, và hạ
tầng cơ sở đă bị “trốc gốc” khi chính quyền Đệ Nhất Cộng Hoà tổ chức xong hệ
thống xă ấp, mở các chiến dịch tố cộng, tung ra hai chiến dịch “Hoàng Diệu” và
“Nguyễn Huệ” đánh vào các mật khu Việt cộng.
Sau khi Trường Chinh bị hạ bệ, Lê Duẫn trở nên mạnh thế ở trong Chính Trị Bộ, và
quan điểm của Lê Duẫn đă cải tiến tổ chức hạ tầng cơ sở ở trong Nam. Lê Duẫn là
người am tường t́nh h́nh nông thôn ở trong Nam, và đă chủ trương xây dựng hạ
tầng cơ sở tới cấp xă ấp. Đó là một bộ máy rất hữu hiệu của đường lối chiến
tranh phi quy ước trong công tác củng cố và lănh đạo nông thôn xây dựng lực
lượng vũ trang và hậu cần đưa đến chiến dịch Đồng Khởi và cao trào của Việt cộng
tại trong Nam.
Một Chi bộ Xă gồm có: Bí thư xă (nhân vật quan trọng nhất), Ban quân sự, Ban an
ninh, Ban binh vận, Ban kinh tài, Ban tuyên văn giáo, Ban hiệp hội nông dân gồm
có 3 hội: Nông hội, Hội thanh niên giải phóng và Hội phụ nữ giải phóng. Tiêu
chuẩn của một “Xă giải phóng” là phải có 3 đoàn thể nông dân nói trên, nếu chưa
đủ th́ c̣n bị gọi là vùng tranh chấp hay vùng “xôi đậu”.
Nhờ có Chi bộ Xă, từ năm 1960-1964, Việt cộng đă cho thi hành chính sách “tạm
cấp ruộng đất” để mua chuộc nông dân bằng cách lấy ruộng người giàu chia cho
người nghèo. Sau khi đă củng cố được nông thôn, năm 1964, Việt cộng bèn thi hành
chính sách thuế nông nghiệp để vơ vét tiền và gạo của nông dân. Chính sách thuế
má và thu mua lương thực bắt đầu làm cho cộng sản lớn mạnh, và người dân th́ bắt
đầu thắc mắc, nhưng đà chiến thắng rầm rộ của Việt cộng ở nông thôn đă lấn át đi
những bất măn nhỏ đang bắt đầu nảy nở v́ những hy sinh gia tăng, và chính sách
thuế nông nghiệp càng ngày càng trở nên khắc nghiệt, để lộ một phần nào bản chất
cộng sản của MTGPMN.
Nhưng, khúc quanh chiến lược 1965-1967 làm cho đà chiến thắng của Việt cộng bị
đứng khựng lại. Để vỗ về nông thôn nhằm duy tŕ thế bám trụ, Việt cộng phải bỏ
chính sách hạ uy thế các giai cấp bị coi là địa chủ, cường hào, tôn giáo, và
quay trở về chính sách đoàn kết các giai tầng xă hội để giải quyết gánh nặng của
chiến tranh. Tuy nhiên, một số cán binh Miền Bắc vào Nam đă vô t́nh tiết lộ về
chính sách công hữu hóa ruộng đất được thi hành ở Miền Bắc khiến các nông dân
Miền Nam càng thêm e ngại. Đồng thời chính sách thuế nông nghiệp và đảm phụ quốc
pḥng trong vùng Việt cộng kiểm soát càng ngày càng làm nông dân bất măn, họ
không chiụ sản xuất nữa, v́ càng sản xuất càng phải nộp nhiều thuế.
Nhưng không sản xuất, hoặc sản xuất ít, th́ lâm vào t́nh trạng nghèo đói thiếu
ăn. V́ thế, nông dân trong vùng Việt cộng bắt đầu t́m cách trốn về các ấp tân
sinh thuộc vùng Quốc Gia. Theo lời Phó Ban An Ninh huyện Đầm Dơi (tỉnh Cà Mau)
th́ có tới 80% nông dân trong vùng Việt cộng ở huyện Đầm Dơi bỏ trốn về các ấp
tân sinh trong khuôn khổ “B́nh Định Nông Thôn”. Đây là khúc quanh chiến lược cực
kỳ quan trọng trong thoái trào của Việt cộng, nó đánh dấu giai đoạn Việt cộng
mất dân tại nông thôn Miền Nam. Trong số những cán bộ Việt cộng về hồi chánh và
trong số những nông dân chạy về vùng Quốc Gia, có nhiều người vừa mất tin tưởng
vào Việt cộng vừa ôm mối thù đối với b́nh phong lường gạt là MTGPMN, đă cung cấp
những tin tức t́nh báo vô cùng hữu ích cho Chiến dịch “Phượng Hoàng”. Đó là một
chiến dịch bán vũ trang có nhiệm vụ lùng kiếm, bắt sống hoặc tiêu diệt cán bộ
Việt cộng.
Kể từ năm 1967, nhất là kể từ sau Tết Mậu Thân với 70000 cán bộ cán binh Việt
cộng hồi chánh, hạ tầng cơ sở Việt cộng bị tan ră. Chi bộ Xă không c̣n được
hưởng sự an toàn ở nông thôn nữa v́ khi đă mất dân, họ trở thành bị lộ diện. Bất
cứ lúc nào, ở đâu, cán bộ hạ tầng cơ sở cũng có thể bị phục kích, bị bắt hay bị
giết. V́ thế, các cán bộ sống sót không dám trở về xă ấp nữa, và vùng xôi đậu
cũng như vùng mà Việt cộng gọi là “giải phóng” đă teo lại và mất dần. Vùng an
ninh càng ngày càng mở rộng. Chiến dịch “B́nh Định” đă rải rác cán bộ vơ trang
chận các cửa khẩu phục kích các đường di chuyển của giao liên, của du kích xă,
của các toán hậu cần, kinh tài Việt cộng, khiến cho các cán bộ trốn tránh tại
các hầm hố ở nơi hẻo lánh không có tiếp tế, bị bỏ đói phải ra hồi chánh. Thêm
vào đó, sự phân tán mỏng các đơn vị chủ lực của Đồng Minh thành các nhóm nhỏ cấp
đại đội hoặc trung đội hay tiểu đội để đánh tiêu hao đă tiêu diệt rất nhiều hạ
tầng cơ sở Việt cộng, khiến chúng bị dồn vào thế thụ động, trốn chạy, và hậu quả
đưa đến sự tan ră hoặc đầu hàng.
IV. SỰ TAN RĂ CỦA LỰC LƯỢNG QUÂN SỰ VIỆT CỘNG
Lực lượng Quân sự Việt cộng bắt đầu suy yếu từ khi Hoa Kỳ đổ quân với cơ giới
hiện đại và hỏa lực cực mạnh, đặc biệt là bom trải thảm từ các pháo đài bay
B-52. Những trận đánh lớn tại Pleime, IA Drang, Vạn Tường, những cuộc hành quân
lớn Attleboro, Cedar Falls, Junction City thọc sâu vào mật khu Việt cộng đă gây
những tổn thất quan trọng cho một số đơn vị lớn của Việt cộng. Mặc dầu vậy,
những tổn thất này chưa thực sự ảnh hưởng nặng đến toàn bộ lực lượng vơ trang
Việt cộng.
Nhưng, kể từ Trận Tết Mậu Thân, trong đó khoảng hai phần ba lực lượng tấn công
của Việt cộng bị tiêu diệt, th́ t́nh trạng quân lực Việt cộng mới trở nên cực kỳ
bi đát trên khắp Đồng bằng Cửu Long. Một nông dân Bắc Việt xâm nhập vào tới Tây
Ninh khoảng tháng 2, 1969 và được bổ sung cho Tiểu đoàn 9, cho biết số cán binh
Miền Nam trong đơn vị của anh ta chỉ c̣n 10% và số quân bổ sung là lính Bắc Việt
lên tới 90%.
A. Trung đoàn Đồng Nai:
Một Chuẩn úy, Trung đội phó Trung đội đặc công của Trung đoàn Đồng Nai, cho biết
60% quân số của trung đoàn này đă bị tiêu diệt trong Trận Mậu Thân. Sau Trận Tết
Mậu Thân, những tổn thất quân số là do những nguyên nhân phức tạp, chứ không
thuần túy do đụng độ lớn. Có những người chết v́ đi lấy gạo, hoặc đi hộ tống cấp
chỉ huy, hoặc v́ ngă nước mà chết, hoặc v́ chán nán đào ngũ sang Miên đi lang
thang chờ một ngày nào đó quay về Bắc, hoặc t́m đường ra hồi chánh.
B. Trung đoàn Quyết Thắng:
Một cán binh Bắc Việt được bổ sung vào Trung đoàn Quyết Thắng cho biết tổn thất
quân số của trung đoàn này c̣n thê thảm hơn Trung đoàn Đồng Nai. Đại đội 2 của
Tiểu đoàn 2 c̣n lại 4 người, cộng thêm 8 cán binh bổ sung, không đủ chia thành
trung đội. Ta nên nhớ, quân số của một đại đội Việt cộng trên dưới 120 người.
Tinh thần cán binh nói trên sa sút và chán nản, suốt ngày đơn vị của anh chỉ
chui rúc trong các bụi cây ở bờ sông, v́ không đủ khả năng chiến đấu. Ban đêm
mới đi gần vào làng xóm để lấy gạo do du kích tiếp tế.
C. Trung đoàn Thép Q-272:
Trung đoàn Thép, trước kia có bí số Q-272 sau đổi bí số thành F-55 và, trực
thuộc Công trường 9 Việt cộng. Đó là một trung đoàn trước kia rất nổi tiếng và
được cộng sản ca ngợi là “Thép”, nhưng khi nó đă tan ră, nó không c̣n là “Thép”
nữa.
Một Trung đội trưởng Pháo binh của Trung đoàn Thép về hồi chánh đă mô tả sự tan
ră của nó như sau:
“…. Kể từ sau Tết Mậu Thân, khi trung đoàn bị thất bại trong cuộc tấn công vào
Ngă Tư Bảy Hiền (Sài G̣n), tàn quân rút về Ḅ Húc, Vàm Trắng Trâu, Xóm Giữa,
(tức là thuộc Tây Ninh, dọc biên giới Miên Việt). Tại đây, người Miên và người
Việt sống lẫn lộn với nhau. Từ khi thất bại trong Trận Tết Mậu Thân, tinh thần
binh sĩ giao động rơ rệt, và cả binh sĩ lẫn cán bộ trở nên bê bối bất chấp kỷ
luật …”.
“…. Lư do chính của t́nh trạng trên là sự mất tin tưởng vào Đảng và vào lẽ tất
thắng của Mặt Trận Giải Phóng. Họ tin rằng Việt cộng trong Nam lẫn ngoài Bắc hết
khả năng chiến thắng và bản thân họ chỉ cố sống lây lất cho qua ngày. Kể từ
trước năm 1968, bất cứ khi nào có lệnh hành quân, họ đều viết giấy t́nh nguyện
đi đánh. Nhưng, kể từ 1968 trở về sau, thật khó mà động viên họ làm như vậy được
nữa. Năm 1969, Trung đoàn trưởng của tôi là Năm Dần phái một đại đội đi đánh đồn
Tà Bang Ro Ḅ (Tapang Robon, giáp biên giới Miên), nhưng họ từ chối, lấy cớ là
không đủ quân số, những người sống sót đều bị thương và đau ốm. Đứng trước t́nh
trạng trên, Trung đoàn trưởng đă phải khóc v́ đó là lần đầu tiên tinh thần binh
sĩ sa sút đến như vậy.”.
Trên đây là trường hợp điển h́nh của Đại đội 11, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn “Thép”.
Sau đó, tất cả các cán bộ đại đội bị thuyên chuyển sang các đại đội khác, một số
Trung đội trưởng bị giáng chức xuống làm Trung đội phó, có người phải xuống làm
lính.
Những nhân chứng ở trên đă cho thấy sự ṃn mỏi suy nhược của các lực lượng vũ
trang Việt cộng sau Trận Tết Mậu Thân, điển h́nh là các đơn vị ưu tú nhất. Cộng
thêm vào đó, các đơn vị quân y, dân y cũng lần lượt bị tan ră, và những đơn vị
c̣n lại, những bệnh xá của Việt cộng luôn luôn phải trốn chạy phi pháo và các
cuộc hành quân của Quốc Gia và đồng minh.
D. Quân Khu III Việt Cộng:
Một Tiểu đoàn phó Việt cộng, giữ chức Tham mưu phó Ban quân sự tại Bộ tham mưu
Quân Khu III Việt cộng, về hồi chánh và tŕnh bày vấn đề một cách bao quát và có
thẩm quyền hơn về t́nh h́nh các tỉnh Vĩnh Long, Cần Thơ, Rạch Giá, Cà Mau, Sóc
Trăng, Trà Vinh tức là nằm trong khu vực điều động của Bộ tư lệnh Quân Khu III
Việt cộng:
“…. Cuối năm 1967, Trung đoàn II Bộ binh hăy c̣n 3 tiểu đoàn đầy đủ: 303, 306 và
309. Để đáp ứng nhu cầu, Trung Ương Cục Miền Nam đă ra lệnh cho Quân Khu III
phải cấp tốc thành lập một trung đoàn nữa. Bởi v́ thiếu cán bộ và tân binh, Quân
Khu III phải rút Tiểu đoàn 306 về biên giới Trà Vinh và Vĩnh Long, dùng nó làm
cái khung để thành lập Trung đoàn III (mà khu vực hoạt động tương lai sẽ là phần
đất của hai tỉnh trên), và đặt tên cho nó là Trung đoàn Cửu Long. Sau Trận Mậu
Thân, thời cuộc biến chuyển ngày càng trở nên bất lợi và cuối năm 1968, Cục R
phải đổi ngược đường lối và tăng cường ngược lại cho Quân Khu III bằng cách lấy
một trung đoàn của Công trường 9 tăng phái xuống cho Khu. Đó là Trung đoàn III
có quân số là 95% Bắc Việt xâm nhập và 5% là lính tập kết. Kể từ 1967 tới 1969,
các đơn vị vơ trang của Quân Khu III bị đánh tơi bời v́ chiến cuộc gia tăng, và
số thương vong cũng tăng lên một cách khủng khiếp. Tinh thần binh sĩ bị găy đổ
và dân chúng kiệt quệ v́ chiến tranh kéo dài, việc tuyển mộ tập binh hầu như tê
liệt. Số thương vong vọt lên cao trong khi nguồn bổ sung th́ đă cạn, do đó, tinh
thần Khu III thật là bi đát. Mặc dầu Khu ủy III cố gắng tập trung nỗ lực phái
các toán đi vào xă, ấp để bắt lính, nhưng kết quả vô ích. Do đó, Trung Ương Cục
Miền Nam (Cục R) phải hy sinh và tăng cường cho Khu III một trung đoàn…”.
“…. Sự tổn thất của ba ngành chủ lực quân, địa phương quân và du kích quân kể từ
thất bại trong Trận Tết Mậu Thân là khoảng từ 60% đến 70% tại Quân Khu III. Từ 9
năm “kháng chiến chống Pháp” tới lúc đó, t́nh h́nh chưa bao giờ bi đát như vậy.
Cụ thể là quân số các đơn vị chủ lực quân đă giảm sút trầm trọng:
Thời gian Quân số một tiểu đoàn
1963-1966 450 tới 500
1967-1968 400 tối đa
Sau Mậu Thân tới 1969 80 tới 120 (Tức là sau Mậu Thân, quân số một tiểu đoàn
không c̣n đầy một đại đội).
…. Mặc dầu Khu ủy và Ban Quân sự đă dùng mọi biện pháp nâng cao quân số, nhưng
đều thất bại. Số đào ngũ (kể cả hồi chánh) lên tới 30% trên toàn lănh thổ Quân
khu. Sau mỗi trận đụng độ, lại có báo cáo đào ngũ và hồi chánh …”.
…. “Trước cuộc Công Kích Mậu Thân, Trung đoàn Bộ (tức là Bộ Tư lệnh Trung đoàn)
di chuyển 6 tháng một lần để bảo toàn bí mật. Nhưng, từ cuối năm 1968, Bộ Tư
lệnh luôn luôn phải di chuyển như một đơn vị tác chiến và không bao giờ ở một
nơi quá bảy ngày. Sự di chuyển lúc này không có mục đích bảo toàn bí mật, nhưng
là để tránh bị oanh kích và càn quét. T́nh trạng mất an toàn của hậu cứ khiến
cho sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh trở nên lỏng lẻo, không có thời giờ phối hợp trong
các trận tấn công hay điều động trận địa...”.
…. “Kể từ cuối 1969, t́nh h́nh càng tệ hơn, không nơi nào có thể được gọi là an
toàn. Để pḥng ngừa bị tiêu diệt toàn bộ, Bộ Tư lệnh Quân khu III phải phân tán
các cán bộ cao cấp, các pḥng chính trị, tham mưu và hậu cần đến các địa điểm
cách xa nhau ít nhất một ngày đường và không c̣n tập trung một chỗ như trước …”.
“…. Thật là khó khăn mới tập hợp được cán bộ, mặc dầu có giao liên, bởi v́ các
nơi đóng quân luôn luôn di chuyển. Khi giao liên vừa tới một nơi th́ lại được
biết cơ sở đă di chuyển đi chỗ khác…”.
Các cán bộ cao cấp Việt cộng thường nói với nhau một cách châm biếm: Chúng ta đă
giải phóng được rất nhiều đất đai, mà chúng ta không có một chỗ an toàn để họp”.
Sau một buổi họp Đảng, một cán bộ trung cấp Việt cộng công khai châm biếm:
“Chúng ḿnh luôn luôn lừa bịp dân. Tháng này qua tháng khác ḿnh hứa hẹn dân
chiến thắng mà rút lại là nói xạo. Trong cuộc họp Đảng, nghe cán bộ nói, ḿnh
thấy cách mạng mạnh quá, chiến thắng gần kề. Nhưng họp xong, ra ngoài thấy thằng
phi công trực thăng nó phóng hỏa tiễn cái rầm! Ḿnh lại thấy địch mạnh quá”.
Nói về tổn thất quân số của Việt cộng, có lẽ không bao giờ ta có được con số
thống kê tương đối chính xác. Một trong những nguyên do chính khiến ta khó thống
kê là kỹ thuật thu dọn chiến trường của Việt cộng, nhất là trước giai đoạn Mậu
Thân, để giữ bí mật về tổn thất quân số và vũ khí. Đó là một cố gắng rất công
phu của Việt cộng để đáp ứng nhu cầu tâm lư chính trị. Sau mỗi trận đụng độ, mỗi
cán binh trên đường rút lui có nhiệm vụ kéo theo khí giới bỏ rơi lại chiến
trường, nhất là xác của đồng đội phải được kéo tới một địa điểm đă định sẵn để
dân công đem đi chôn. Trong thời kỳ cao trào của cộng sản, các chiến trường do
cộng sản giữ thế chủ động được thu dọn rất gọn ghẽ sạch sẽ. Và mỗi khi Việt cộng
đánh xong một trận rút đi rồi, người ta chỉ thấy phần lớn là các vũng máu đông
c̣n lại, c̣n các xác chết cũng như vũ khí để lại rất ít, v́ thế sự thống kê con
số tử vong của cộng quân không chính xác và thường con số đếm được bao giờ cũng
thấp hơn số tổn thất thực sự khá nhiều.
Theo Pierre Darcourt (khoảng trước 1971), số lính Bắc Việt chết ở Miền Nam là
vào khoảng 300,000 người.
Theo sự ước tính của giới quân sự Hoa Kỳ th́, kể từ 1-1-1961 tới 8-1-1969, sự
tổn thất của các phe lâm chiến như sau:
Cộng quân (cả Bắc lẫn Nam): 568.989
Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa: 97.708
Lính Hoa Kỳ: 39.329
Quân Đồng Minh khác: 3.433
Riêng trong năm 1970, từ đầu năm tới tháng 8, trung b́nh mỗi tuần cộng quân bị
chết khoảng 2000, tức là vào khoảng 8000 trong một tháng.
Những điều tŕnh bày ở trên cho ta thấy kể từ sau Tết Mậu Thân, t́nh h́nh Việt
cộng ở Miền Nam đă đi đến chỗ tuyệt vọng mà Liên Xô mô tả là “t́nh trạng cực kỳ
nguy ngập”. Những cao điểm Đông-Xuân nhằm hỗ trợ cho Ḥa đàm Ba-Lê bị bỏ rơi v́
không có khả năng tập trung quân. Tuy nhiên, Việt cộng vẫn ngấm ngầm chuẩn bị
một trận đánh lớn vào tháng 4-1972, và trong mọi tài liệu học tập, Việt cộng tỏ
ra vẫn kiên tŕ trong chủ trương tiêu diệt Miền Nam.