Cuộc tấn công vào trên 20 thành phố lớn miền Nam của quân CS miền Bắc vào dịp
Tết Mậu Thân tới nay là 40 năm. Trên 50% dân số Việt Nam hiện nay lúc đó chưa
sinh ra đời hay c̣n quá nhỏ để biết về trận đánh. Những người trưởng thành lúc
đó sống ở miền Nam nay chiếm không tới ¼ dân số. Nhiều người đă già, đă chết,
hay không c̣n muốn nhắc đến một giai đoạn chỉ tạo đau buồn, làm cho kiệt quệ một
thân xác đă quá mệt v́ những vật lộn hàng ngày kéo dài từ 1975 tới nay.
Đây là một hoàn cảnh thuận lợi cho những người thừa kế phía chiến thắng, tức là
đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam biến thái, nói về lịch sử cuộc tấn công này,
để có một hào quang huyền thoại cần thiết cho tư thế không lấy ǵ làm hănh diện
lắm kéo dài từ sau chiến thắng 1975 cho đến hiện nay của họ. V́ thế, đă có lời
kêu gọi ăn mừng kỷ niệm 40 năm chiến thắng Mậu thân, và mở pḥng triển lăm chiến
thắng này với chủ đề “Tết Mậu Thân 68- Bước ngoặt lịch sử”. Lê Khả Phiêu, nguyên
tổng bí thư đảng CS và từng là chính uỷ trung đoàn 9 lúc đó, đă đến khai mạc
pḥng triển lăm và nói rằng “Cuộc triển lăm về một số h́nh ảnh của cuộc Tổng tấn
công và nổi dậy mùa xuân 1968 của quân dân Miền Nam mà Bảo tàng lịch sử Quân sự
VN thực hiện trong dịp kỷ niệm 40 năm cuộc Tổng tấn công này là cuộc triển lăm
sớm nhất và h́nh ảnh, nội dung rất quan trọng, phong phú. Triển lăm đă tái hiện
được sự chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch, sự chiến đấu anh
dũng kiên cường, sáng tạo của quân và dân ta ở chiến trường Miền Nam; đă tạo nên
thắng lợi oanh liệt mà vẻ vang mà thế giới, kể cả Mỹ phải khâm phục”.
Cũng đă có những bài trên Tạp chí Cộng sản số 146 (2) và 147 (3) năm 2008 của
Nguyễn Mạnh Hướng, phó giáo sư viện Khoa học Xă hội Nhân Văn quân sự bộ quốc
pḥng, và Lê Thanh Hải, ủy viên bộ chính trị, bí thư thành uỷ Sài g̣n. Họ viết
về “ư nghĩa và nét đặc sắc của cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu thân”.
Tấn công th́ có nhưng nổi dậy th́ không, qua tất cả những h́nh ảnh, tài liệu và
nhân chứng sống sót cho biết.
Tại các cộng đồng Việt nam hải ngoại, có lẽ là một phản ứng lại với lời kêu gọi
ăn mừng và thổi phồng, bóp méo cuộc tấn công Mậu thân này, đă có những nỗ lực
trên toàn thế giới thu gom và tŕnh bày các tài liệu h́nh ảnh và nhân chứng sống
về trận tấn công Mậu Thân. Nổi bật nhất là cuộc thảm sát tại Huế, là nơi mà quân
Cộng sản chiếm và cố thủ 25 ngày. Theo Douglas Pike th́ đă có trên 7,500 người
dân, trong đó có cả đàn bà lẫn trẻ con bị giết chết. Những dấu tích trên các di
hài đào được trong các mồ tập thể cho biết họ bị giết bằng súng, bằng hành hạ
tra tấn, bằng cuốc hay là ngay cả chôn sống. Các lời kể cho hay nhiều thanh niên
bị bắt đi theo đă bị giết v́ vào phút chót đă xin ở lại mà không chịu đi theo
đoàn quân bại trận. Mới đây, một thiếu niên 16 tuổi tên là Tuấn sống sót sau khi
bị bắt đi đào mồ chôn những người dân bị hành quyết đă kể cho phóng viên nghiệp
dư Nam Dao nghe những điều anh chứng kiến suốt mấy tuần anh sống trong vùng VC
chiếm đóng. Người nhân chứng này đă im lặng suốt từ bấy đến nay. Trong cuộc nói
chuyện với Nam Dao, những xúc động của ông này đă có lúc làm người phỏng vấn
hoảng sợ. Nam Dao nói: “Có lúc ND sợ quá tưởng là ông ấy chết đến nơi. V́ ông ấy
bật khóc nấc, chửi thề, thở hổn hển và rồi có lúc ngưng bặt như là tắc thở, mặt
đổi sắc, giống nhưng một đứa bé khóc lặng người đi”. Tuấn sống sót nhờ may mắn,
và những người như Tuấn không có bao nhiêu, v́ những người khác bị bắt làm công
việc như Tuấn đều đă bị giết cả. Những chi tiết Tuấn kể cho phép chúng ta hiểu
tại sao có những người bị chôn sống và đă có những toà án nhân dân giết người
tùy tiện.
Tuy nhiên, ngày nay những chi tiết này không cần thiết để khẳng định rằng vụ
thảm sát tàn bạo Huế là có thật nữa, v́ đă nhiều bài báo kể cả của những người
thiên tả lôi vụ này ra, với những h́nh ảnh, nhân dịp 40 năm Mậu thân.
Theo Wynsberghe báo National Post Canada, phóng viên Oberdorfer đă phỏng vấn
nhiều người ở Huế cho quyển sách viết năm 1971 về Tết, đă thu nhận được những
tin tức đầy đủ về những cuộc hành quyết được kéo dài nhiều tuần. Nhiều năm sau,
Karnow bị thuyết phục bởi những chứng cớ đến nỗi mà ông ta tuyên bố “Những báo
cáo quân b́nh cho thấy rơ là cuộc tàn sát ở Huế bởi Cộng sản là có xẩy ra – có
lẽ ở mức độ cao hơn là như đă báo cáo trong lúc đang có chiến tranh”.
Ngay tại Huế, đă không có tổng nổi dậy mà chỉ có vài cuộc biểu t́nh, lớn nhất
là chừng trên trăm người do các kẻ nằm vùng thúc đẩy. Cũng tại đây, đă có những
toà án nhân dân xét xử, bắn người tại chỗ. Những kẻ chủ chốt nằm vùng c̣n sống
và đang trong guồng máy nhà nước Việt Nam. Một kẻ khác là Lê Văn Hảo đang im
lặng sống bên Tây.
Dĩ nhiên trong những bài viết và trưng bày về chiến thắng Mậu Thân nhà nước Cộng
sản thực hiện tại Việt Nam vừa qua, không có một chút ǵ về cuộc tàn sát ở Huế.
Ta cũng không thể bỏ quên ông Bùi Tín, một cựu đại tá bộ đội cộng sản và là phó
tổng biên tập báo Nhân Dân, hiện sống ở Pháp là một người đơn độc lên tiếng biện
hộ cho vụ thảm sát Huế. Ông nói trong một cuộc phỏng vấn với đài BBC rằng không
có lệnh từ trên cấp cao, và cấp trung đoàn trở xuống đă làm những chuyện kinh
khủng này bởi v́ họ ở trong t́nh trạng hoảng loạn khi rút lui v́ bị tấn công dữ
dội, và đă dấu diếm cấp trên. Đây cũng là luận cứ của những người thiên tả như
Gareth Porter, Len Ackland giải thích năm 1969 rằng đó là v́ t́nh trạng mất kỷ
luật khi tháo chạy, được lặp lại bởi Noam Chomsky và Edward Herman một thập niên
sau và miễn cưỡng nhận rằng có chừng 700 người bị giết.
Scott Van Wynsberghe mở đầu bài viết “Thắng trận đánh, thua cuộc chiến” (Losing
the battle, Winning the war” về Mậu thân trên báo National Post ở Canada ngày 31
tháng 1/2008 rằng “cuộc tấn công Tết của Hồ chí Minh - bắt đầu vào ngày này cách
đây 40 năm – là một vụ thất bại hoàn toàn và lố bịch cho Cộng sản. Nhưng nhiều
người trong chúng ta không nghĩ như vậy”.
David Warren trên báo The Ottawa Citizen ngày 3 tháng 2/2008 cũng viết “Vi
phạm lệnh ngưng bắn hàng năm để có yếu tố bất ngờ, Việt Cộng và quân chính quy
Bắc Việt đă tung ra cuộc tấn công Tết vào đêm 30/31 tháng 1/2008, gọi theo tên
năm mới Việt nam. Chiến dịch này được tiếp tục dưới nhiều dạng khác nhau cho tới
tháng 9 năm đó th́ chấm dứt bằng sự thất bại hoàn toàn cho những kẻ xâm lược.
“Và một chiến dịch tuyên truyền xuất sắc cũng cho những người này”.
“Và rồi những mồ chôn tập thể khổng lồ đàn bà và trẻ con được t́m thấy. Nhiều
người bị đập chết, một số bị chôn sống, và người ta có thể thấy điều này trên
những bàn tay móng trang điểm đẹp đẽ cố cào đất để ra khỏi mộ”.
”Cuộc tấn công Tết chấm dứt không phải chỉ bằng một chiến thẳng to lớn trên
chiến trường -chừng 45,000 quân Cộng sản bị giết, và hạ tầng cơ sở của họ hoàn
toàn bị phá hủy. Đó là một chiến thắng sau một biến cố cho những người miền Nam
nghi ngờ và phải cho thế giới thấy, bản chất của kẻ thù mà đồng minh của chúng
ta đang phải chống lại.”
”Truyền thông đă biến một chiến thắng to lớn thành một thất bại to lớn.”
Chẳng có mấy nhà quan sát đă đặt câu hỏi là tại sao một cuộc tàn sát như vậy
lại được thực hiện bởi một đoàn quân tự gọi là quân giải phóng đối với đồng bào
của họ. Có lẽ v́ khó trả lời. Nhưng câu trả lời sẽ nẩy ra nếu hiểu rằng những
người này là những người Cộng sản vào miền Nam thi hành nghĩa vụ quốc tế, để
bành trướng chủ nghĩa Cộng sản, mà giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước chỉ
là một chiêu bài. Giải phóng tức là lấy họ ra khỏi cái nếp sống trong một xă hội
trong hệ thống kinh tế tư bản. Những người dân miền Nam do đó có thể bị diệt một
cách thản nhiên, trong khuôn khổ đấu tranh giai cấp, không khoan nhượng với kẻ
thù. Nhưng nếu nhận như thế th́ lại ngược với cái nhăn giải phóng mà truyền
thông đồng ư gắn cho họ, và coi rằng cuộc chiến chống Mỹ là do những người miền
Nam nổi lên, chứ không phải là chủ yếu do quân miền Bắc đi vào. Cũng v́ là những
người bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản cho nên chính sách cải tạo tập trung và kỳ
thị đối xử với người dân miền Nam đă được thực hiện sau khi chiếm được miền Nam
năm 1975.
Người Việt nam mà nói về Mậu thân sau 40 năm th́ chẳng có ǵ lạ v́ họ là những
người trong cuộc. Nhưng tại sao truyền thông Tây phương cũng nhắc lại chuyện này?
Arthur Herman trên báo Wall Street Journal ngày 6 tháng 2/2008 trong bài “Những
dối trá của Tết” viết rằng “Sự thực th́ chiến tranh Việt Nam đă thua trên mặt
tuyên truyền, phần lớn là v́ sự loan tin tràn ngập sai lạc về một chiến thắng rơ
rệt của Mỹ như là một thất bại. Bốn mươi năm sau là thời gian quá đủ để chỉnh
cho đúng lại lịch sử”.
Kể ra đó cũng là một ư hay. Ít ra th́ sự chỉnh đúng lại lịch sử giúp cho
những nhà sử học có những dữ kiện chính xác để mà có thể nói rằng sự loan tin
sai lạc của truyền thông đă là nguyên nhân của sự thất bại Việt nam, như Herman
viết “Nhưng mà quần chúng không nghe biết rằng ai đă thắng trận đánh quyết định
nhất trong cuộc chiến Việt nam, cái gọi là cuộc tấn công Tết, cho đến khi quá
muộn.”(8)
Nhưng chỉnh lại cho đúng lịch sử không hẳn là lư do chính. V́ Herman c̣n nói
thêm rằng “Truyền thông loan tin sai lạc đă đi vào trí nhớ tập thể của chúng ta.
Cái h́nh ảnh này cho những người hoạt động chống chiến tranh một sự khả tín mà
tồn tại đến ngày hôm nay tại Quốc hội, và trong truyền thông cái phản ứng trong
chiến tranh Iraq. Cái kinh nghiệm Tết cung cấp một mô thức tường thuật cho những
người muốn thấy mọi thành công quân sự của Mỹ - như là vụ tăng quân của tướng
Petraeus - được thu nhỏ lại và bỏ qua"
David Warren cũng viết rằng :
”Chúng ta đă nh́n thấy cái “hội chứng Việt nam” này, trong những năm qua sau.
Chúng ta đang nh́n thấy nó ở Afghanistan và Iraq. Những người La mă cũng đă
thắng mọi trận đánh trên chiến trường.”
Như thế th́ lư do quan trọng khiến sau 40 năm Mậu Thân và sự thất bại của Mỹ
ở Việt Nam được nhắc lại là để cảnh báo về một thất bại tương tự tại Iraq và
Afghanistan, nếu tin nghe theo truyền thông hiện nay.
Nhưng khi Baestrup, phóng viên Washington Post đứng trước một mồ tập thể chôn
các nạn nhân bị thảm sát ở Huế hỏi một người quay phim của truyền h́nh Mỹ “Sao
anh không quay cảnh này?” mà người đó trả lời “Tôi không đến đây để reo rắc
tuyên truyền chống Cộng” th́ người ta không thể không có một thắc mắc. Rằng đây
là ư riêng của anh này hay là anh được chỉ thị không làm việc này, hay là anh đă
từng bị cấp trên phê b́nh khi thu những h́nh chiến tranh tương tự. Ai cũng biết
rằng một quy luật quan trọng trong truyền h́nh Hoa kỳ là sự cạnh tranh thương
mại. Một con chó chết thảm ở Mỹ có thể là một tin hấp dẫn và được nhiều hăng
truyền h́nh loan đi huống chi là những mồ tập thể mà có những người đàn bà móng
tay được trang điểm đẹp đẽ đă cào đất trong tuyệt vọng để thoát khỏi cái chết v́
bị chôn sống. Những “tin nóng” như vậy nếu một hăng tin này không loan đi th́
hăng tin khác chắc chắn là sẽ loan đi, để thu hút khán giả. Khi toàn bộ truyền
thông không truyền đi các h́nh ảnh gọi là “chống cộng” như thế th́ chắc chắn
không phải là do những người biên tập mà có thể là ở cấp cao nhất, những ông
giám đốc, và rất có thể là từ những ông chủ, “những người làm chính sách vô h́nh”
để mà Mỹ có thể rút ra khỏi Việt Nam, dưới áp lực của ḷng dân (ít nhiều chính
đáng) chống chiến tranh. Những ǵ xẩy ra sau đó th́ chỉ việc đổ gọn cho truyền
thông, đă biến một cuộc chiến tranh có lư do chính đáng cho quyền lợi Mỹ là giúp
miền Nam Việt Nam ngăn chống bành trướng Cộng sản, thành một cuộc chiến tranh
“xâm lược” theo mô tả của chính kẻ địch, là những người Cộng sản. V́ đă đến lúc
không cần ngăn chống nữa, và lư do nó ngược với những lư do tốt đẹp ban đầu là
đến Việt Nam để bảo vệ tự do. Như thế th́ có thể nói rằng truyền thông hiện nay
trong chiến tranh Iraq và Afghanistan chỉ là theo một lề lối đă quen dùng và sẽ
c̣n dùng tiếp. Bởi v́ nếu để ư th́ ngựi ta sẽ thấy rằng truyền thông đă từng sử
dụng kỹ thuật loan đi nửa sự thực, khi th́ nửa này, khi th́ nửa kia, tùy trường
hợp. Trong trường hợp Việt Nam, nửa kia sự thực Mậu Thân đă được loan đi “quá
muộn”, theo Herman. Trong trường hợp chiến tranh Iraq, cái nửa kia là tổng thống
Bush và các phụ tá đă nói dối tổng cộng trên 1000 lần đă được loan đi cũng muộn,
chỉ mới gần đây, sau khi chiến tranh đă bắt đầu gần 4 năm.
Và như thế th́ có lẽ truyền thông chỉ là một con dê tế thần cho những thay đổi
chính sách khó giải thích với quần chúng.
Tài liệu tham khảo