Dầu tin tường ở tài sức riêng của ḿnh, chắc chắn rồi sẽ thoát khỏi cảnh hàn vi, Nguyễn Công Trứ đă từng phải đắn đo cũng như cố gắng, như ông viết trong bốn bài Tự Thuật dưới đây.
Tự Thuật I
Chưa chán ru mà quấy măi đây
Nợ nần dan díu bấu lâu nay
Mang danh tài sắc cho nên nợ
Quen thói phong lưu hóa phải vay
Quân tử lúc cùng thêm thẹn mặt
Anh hùng khi gấp cũng khoanh tay
C̣n trời c̣n đất c̣n non nước
Có lẽ ta đâu măi thế này.
Nguời đọc thơ tự hỏi phải chăng bài thơ này là một bài khó giảng nhất của Nguyễn Công Trứ? Tác giả dường muốn nhân vật hóa cái nghèo qua những chữ quấy ở câu thứ nhất rồi chữ dan díu ở câu thứ hai. Chữ dan díu thông thựng chỉ mối t́nh trai gái gắn bó với nhau. Nhưng dường như ở trong câu này, để phù hợp vói chữ quấy, phải hiểu là quấy quả làm phiền, th́ chữ dan díu này dường như đống nghĩa với chữ mắc mứu, vướng víu trói buộc.
Hai câu năm và sáu cho thấy rằng dẫu là quân tử anh hùng không gặp thời cũng chẳng hơn ai, nhưng chỉ riêng có trời đất và non nước là cái bền bỉ trên thế gian này, thời có lẽ nào ông măi măi phải sống trong trói buộc như thế này. Sang bài
Tự Thuật II
Có lẽ ta đâu măi thế nay
Non sông lẩn thẩn mấy thu chầy
Đă từng tắm gội ơn mưa móc
Cũng phải xêng xang hội gió mây
Hăy quyết phen này xem thử đă
Song c̣n tuổi trẻ chịu đây ngay
Xưa nay xuất xử thuờng hai lối
Măi thế rồi ta sẽ tính đây.
Bài Tự Thuật II này như câu trả lời cho câu hỏi Nguyễn Công Trứ tự hỏi trong câu kết bài Tự Thuật I. Đối chiếu với tiểu sử của tác giả, có người cho là cả câu thứ ba cho biết là ông muốn nhắc đến truyện ông từ lọt tam trường khoa Qúy Dậu, khiến đi thi lần này ông tự tin hơn.
Thái độ tích cực này khác hẵn thái độ tiêu cực lo sợ của Tú Xương trước khoa thi, như ông viết trong hai câu:
Ngày mai tớ hỏng tớ đi ngay
Giỗ tết từ nay nhớ lấy ngày
Câu hỏi khiến Nguyễn công Trứ thắc mắc trong bài thơ này là một câu truyên mà dường như nhà Nho nào cũng phải tự hỏi. Đó là câu truyện xuất xử: có nên bước vào hoạn lộ hay không?
Thực ra câu hỏi này là một câu hỏi mà nhà nho tự hỏi ḿnh khi đă đến lúc muốn bước ra ngoài hoạn lộ, như Đào Tiềm đời Tấn trong bài Quy Khứ Lai Hề Từ, Nguyễn Trăi trong bài Côn Sơn Ca, v.v... Nhưng Nguyễn Công Trứ tự hỏi ḿnh ngày ông sắp sử đi thi.
Câu hỏi Nguyễn Công Trứ tự hỏi trên đây cho thấy là ông chưa quyết tâm bức vào hoạn lộ, như vậy dường như trái ngược với thoại ông dâng lên vua Gia Long bản điều trần Thái B́nh Thập Sách bày tỏ phương lược trị dân. Người dâng kế trị dân phải là ngựi đă dứt khoát với ḿnh trên con đường ra làm quan.
Rồi tới bài
Tự Thuật III
Măi thế rồi ta sẽ tính đây
Điền viên vui thú vẫn xưa nay
Giang hồ bạn lứa câu tan hợp
Tùng cúc anh em cuộc tỉnh say
Toà đá Khương công đôi khóm trúc
Áo xuân Nghiêm tử một vai cày
Thái b́nh vũ trụ càng thong thả
Chẳng lợi danh chi lại hóa hay.
Hai chữ điền viên trong câu thứ hai gơi lên h́nh ảnh nhà thơ Đào Tiềm qua áng thơ Quy Khứ Lai Hề Từ với ư muốn về sống với ruộng vườn.Tiếp theo hai câu ba và bốn gợi lên h́nh ảnh một cuộc sống ngoài ṿng danh lợi, vui thú giang hồ, tỉnh say cùng bè bạn như Khương Tử Nha đời nhà Chu ở ḥn câu, như Nghiêm Tử Lăng đời nhà Hán đi ở ẩn.
Như vậy điều mà Nguyễn Công Trứ suy nghĩ tính toán là điều ông muốn ở lại quê nhà vui đời ẩn dật.
Thú ẩn dật là chủ đề cho bài :
Tự Thuật IV
Chẳng lợi danh chi lại hoá hay
Chẳng ai phiền lụy chẳng ai rầy
Ngoài ṿng cương tỏa chân cao thấp
Trong thú yên hà mặt tỉnh say
Liếc mắt coi chơi người lớn bé
Vểnh râu bàn những chuyện xưa nay
Của trời trăng gió kho vô tận
Cầm hạc tiêu dao đất nước này.
Cái thú ẩn dật này là cái thú của con người coi nhẹ cả lợi lẫn danh, đó là cái giá phải trả cho cuộc sống không bị người phiền lụy, đó là cái vui sống ngoài ṿng trói buộc để được say sưa trong cơi khói ráng. Mọi người mọi việc đều là chuyện nhỏ, chỉ có cái vui vô tận cùng trăng gió, cùng tiếng đàn, cùng bóng hạc trong cảnh thanh nhàn là đáng kể.
Cả bốn bài Tự Thuật cùng dường như là lời Nguyễn Công Trứ tự nhắn nhủ chính ḿnh trong việc toán tính truyện tương lai. Đồng thời ông c̣n có một giấc mơ, giấc mơ của mọi người trai đứng giữa trời đất, thấy ḿnh có trách nhiệm với người chung quanh, giấc mơ đó Nguyễn Công Trứ ghi lại rơ ràng mạch lạc trong bài:
Luận Kẻ Sĩ
Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt
Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên
Có giang sơn th́ sĩ đă có tê
Từ Chu Hán vốn sĩ này là quư
Miền hưong đảng đă khen rằnh hiếu đễ
Đạo lâp thân phải giữ lấy cương thường
Khí hạo nhiên chí đại chí cương
So chính khí đă đầy trong trời đất
Lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất
Hiêu hiêu nhiên điếu Vị canh Sằn
Xe bồ luân dầu chưa gặp hội Thang Văn
Phù thế giáo một vài câu thanh nghi
Cầm chính đạo để tịch tà cự bí
Hồi cựng lan nhi chướng bách xuyên
Rồng mây khi gặp hội ưa duyên
Đem quách cả sở tồn làm sở dụng
Trong lăng miếu ra tài lương đống
Ngoài biên thùy rạch mũi can tương
Sĩ làm cho bách thế lưu phương
Trước là sĩ sau là khanh tướng
Kinh luân khởi tâm thượng
Binh giáp tàng hưng trung
Vũ trụ chi gian giai phận sự
Nam nhi đáo thử thị hào hùn
Nhà nước yên và sĩ được thung dung
Bấy giờ sĩ mới t́m ông Hoàng Thạch
Năm ba chú tiểu đồng lếch thếch
Tiêu dao nơi hàn cốc thâm sơn
Nào thơ nào rượu nào địch nào đờn
Đồ thích chí chất đầy trong một túi
Mặc ai hỏi mặc ai không hỏi tới
Gẫm truyện đời mà ngắm kẻ trọc thanh
Ngày này sĩ mói hoàn danh.
Nh́n sang văn học Trung Quốc, bài Luận Kẻ Sĩ trên đây có một cấu trúc tương tự như hai giấc mơ quen thuộc, một là Giấc Hoàng Lương, hai là
Giấc Hoàng Lương kể chuyện người Lữ Sinh, đời nhà Đường, đến quán trọ, nằm đợi chủ quán nấu nồi kê. Sinh mộng thấy ḿnh thành đạt, lấy vợ sinh con, giầu sang vinh hoa, phút tỉnh dạy thấy ḿnh tay không. Giấc Nam Kha kể chuyện Lư Công Tá, cũng người đời Đường, trong giấc ngủ mơ thấy ḿnh thi đậu cao, được vua nước An Ḥa gả công chúa cho, lại được phong làm Thái Thú quận Nam Kha, Lúc tỉnh dậy thấy một tổ kiến dưói gốc cây ḥa. Ông nghĩ quận Nam Hoa chính là tổ kiến dưới gốc ḥa này.
Kẻ sĩ trong bài Luận Kẻ Sĩ của Nguyễn Công Trứ, cũng mơ chuyện thi đỗ để rồng mây gặp hội để có dịp mang hết sức ḿnh ra pḥ vua giúp nước, thi thố tài năng tại triều đ́nh hay ngoài biên thùy, để có danh thơm lưu truyền với đất nước. Ông c̣n mơ thêm là lúc nhà nước đưọc yên b́nh th́ ông đi t́m ông Hoàng Thạch, người theo sử sách Trung Quốc từng cho Trương Lương mượn một cuốn binh pháp, theo sách đó Trương Lương thành công trong việc pḥ vua giúp nưóc và ba mươi năm sau Trương Lương đă đến động Đá Vàng trả lại cuốn sách quư cho người tiên.
Giấc mơ kẻ sĩ của Nguyễn Công Trứ cũng không mấy khác giấc mơ của Trạng Lợn, quen thuộc trong những truyện nhân dân, dẫu Trạng Lợn không có phận thi đỗ, nhưng cũng có thời cơ pḥ vua giúp nước, cả việc văn lẫn việc vơ, rồi cũng có vợ đẹp con khôn sống đời giầu sang như trong giấc mơ của những người may mắn vượt qua được vũ môn.
Phải chăng v́ muốn thực hiện giấc mơ kẻ sĩ này mà Nguyễn công Trứ đă có hứng viết bài:
Đi Thi Tự Vịnh
Đi không há lẽ lại về không
Cái nợ cầm thư phải trả xong
Rắp mưọn điền viên vui tuế nguyệt
Trót mang thân thế hẹn tang bồng
Đă mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh ǵ với núi sông
Trong cuộc trần ai ai dễ biết
Rồi ra mới tỏ mặt anh hùng.
Phen này ông lại ra thi, và ông quyết là ông sẽ đỗ. Ông đỗ đẻ trả cho xong một cái nợ. Không phải một cái nợ bằng tiền bạc mà là một cái nợ sách đàn. Trả cái nợ này ông đành phải dẹp cái thú vui cùng ruộng vườn, bởi lẽ ông sinh ra đời làm người đàn ông mà đă làm người đàn ông th́ phải có danh ǵ với núi sông. Lúc này, trong cuộc trần ai chưa mấy người biết đến ông, rồi ra ông sẽ cho mọi ngựi biết ông là một kẻ anh hùng.