Cảo
luận này xét câu truyện trên bằng cách đối chiếu hát nói của Nguyễn Công Trú với
văn thể của Trang Tử trong sách Nam Hoa Kinh. Trang Tử đă nhiếu lần nhấn mạnh
rằng kinh nghiệm sống của người nghệ sĩ cũng như kinh nghiệm về đạo không thể
diễn tả qua ngôn ngữ thông thựng được. Trong chương Ngụ Ngôn, ông đă đưa ra ba
bút thuật ông thựng dùng để tránh cái khó khăn này. Một là dùng ngụ ngôn, hai
là dùng trùng ngôn, ba là dùng chi ngôn.
Ngụ ngôn, theo nhiều nhà phê b́nh Trung Quốc là bút thuật kư ngụ chi ngôn, dùng
những h́nh ảnh bóng gió đặt lời lên môi người khác để diễn ư ḿnh. Trùng ngôn là
dùng những câu ca dao ngạn ngữ mà người người đều biết để bảo chứng cho ư tác
giả. Bút thuật này nhiều khi giúp tác giả mở rộng thêm câu truyện, cũng như tăng
thêm uy tín cho điều tác giả muốn giăi bày. Bút thuật ngụ ngôn và bút thuật
trùng ngôn của Trang Tử khác với bút thuật dùng ẩn dụ, metaphorical language của
người Tây phương. Đằng khác người Tây phương thường coi trọng ẩn dụ tranh luận
hơn ẩn dụ tượng trưng, c̣n Trang Tử không phân biệt ngôn ngữ tranh luận với ngôn
ngữ tượng trưng, bởi lẽ Trang Tử không chủ trương tranh luận mà chỉ mong có sự
chia xẻ với ngựi đối thoại.
Bút thuật chi ngôn là bút thuật mà Trang Tủ thường dùng nhất, không phải dễ
chuyển đạt một ư nghĩ niệm mà để chia xẻ hay kêu gọi ngựi nghe tham dự vào câu
truyện mà ông đang tŕnh bày. Khi dùng tới bút thuật này, Trang Tử dường như
không có chủ ư truyền đạt bất kỳ một điều ǵ, mà chỉ có ư đánh động nguời đối
thoại cùng ông thay đổi để t́m ra một nếp sống mới mà ông muốn chia xẻ cùng
người đối thoại. Nếu coi truyền thông là một sự truyền đạt, thời Đường như Trang
Tử không có mục đích truyền đạt khi ông sử dụng bút thuật chi ngôn. Bút thuật
chi ngôn không phải là một môn thuốc thánh chữa khỏi bệnh, mà chỉ giúp cơ thể
con bệnh tự điều trị cho khỏi bệnh. Có người c̣n cho rằng bút thuật chi ngôn như
một ly rượu, người nghe thưởng thức rồi tự ḿnh t́m ra cho ḿnh hương vị của
rượu.
Trang Tử viết trong đoạn cuối chương 11, Pḥng Giữ, và Nhương Tống dịch như
sau[28]:
Phép dậy của bậc người lớn nhu h́nh với bóng, như tiếng với vang, có hỏi th́ nó
thưa hết cả ḷng ḿnh, làm lứa đôi với thiên hạ [...] Giăt mi sang chơi bên miền
không mối, ra vào chỗ không bờ cơi [...] hợp với Đại Đồng.
Victor H. Mair[29] dịch sang tiếng Anh đoạn trên đây như sau:
he teaching of the graet man is like the shadow from a form, like the echo from
a sound. When questionned, he replies, sharing his thought fully and serving as
the companion of all under heaven. [...]
He leads all of you teeming masses back to where you belong, to wander in
limitlessness, passing in and out of non-attachment.
Youru Wang[30] b́nh đoạn trên đây của Trang Tử như sau:
This passage clearly reveals that what Zhuangzi wants to share and commnunicate
is an awakened way of life which he himself lives. For the sake of the listeners
or inquirers, Zhuangzi, as their friend and companion, inspires them to explore
the meaning of their own lives, to transform their own personhood, and to follow
along with endless changes. As for himself, he has nothing to assert, nothing to
give away. Since this way of life is what Zhuangzi lives, the listeners or
readers cannot take it away from him. They must explore and live it by
themselves. Unless a listener or reader echoes Zhuangzi existentially by living
it for himself or herself, he or she will never really share it with Zhuangzi,
and communication will not be in a way complete. [...] The listenners or readers
are most important in this communication, [...] because of their creative
contribution to the communication.
Qua nhưng bài hát nói của Nguyễn Công Trứ, người đọc dường như không thấy ông có
ư gửi gắm tâm sự, mà tương tự như Trang Tử, ông chỉ muốn chia xẻ cùng ngựi nghe
hát đọc thơ ông những kinh nghiệm ông thâu lượm được trong cuộc sống. Kinh
nghiệm sống từ khi lọt ḷng mẹ đă mang nợ với cha, đă nặng nợ với vua, kinh
nghiệm sống trong khi hăy c̣n là một thư sinh trong cảnh nghèo, trong khi c̣n
phải lận đận trên đường khoa cử, trên hoạn lộ gập ghềnh để trả nợ tang bồng, lúc
vui cùng tiếng đàn, cùng cuộc cờ, cùng chén rượu, cùng túi thơ để trả nợ phong
lưu cũng như khi buồn v́ thói đời đen bạc; tới lúc tuổi già, lúc bước ra ngoài
ṿng cương tỏa, lúc ngoái nh́n chính ḿnh trên sân khấu cuộc hư truờng. Tất cả
những kinh nghiệm đó là của riêng ông, không có thể truyền đạt mà chỉ có thể
chia xẻ cùng người khác.
Người đọc ông chỉ có thể thấy ḿnh đang sống trong một hoàn cảnh như Nguyễn Công
Trứ đă từng sống qua, đúng như câu ông trích bài tựa truyện Tây Sương Kư:
Ngă kim nhật tại tọa chi địa
Cổ nhân tằng tiên ngă tọa chi
(Ngày Tháng Thanh Nhàn)
nghĩa là: chỗ ngày nay ta ngồi, người xưa đă từng có người ngồi trước ta, mà
tự ḿnh kiếm ra giải pháp cho chính ḿnh trong hoàn cảnh của ḿnh, theo khả năng
của riêng ḿnh, lúc đó việc truyền thông giữa Nguyễn Công Trứ với người đọc ông
mới hoàn tất. Phải chăng đó là mục đích của điều Nguyễn Công Trứ mong gửi tới
những người đọc thơ nghe lời hát của ông? Người đọc thơ hay nghe lời hát hoàn
toàn tự do, tùy hoàn cảnh, tùy khả năng, khởi hứng tự ḿnh trang trải những món
nợ làm người của ḿnh.
Cũng như Trang Tử, trong hai ngàn năm qua, đă thành công trong việc mở đường cho
người đời t́m về cơi huyền đồng, Nguyễn Công Trứ đă thành công trong việc chia
xẻ với người đọc những kinh nghiệm bản thân khiến người nghe hát, niềm hứng khởi
tự ḿnh trang trắng món nợ của riêng ḿnh để được hưởng trọn vẹn niềm vui vỗ tay
reo mừng chính ḿnh.
Vấn đề truyền thông bây giờ không c̣n phải là nội dung những thông điệp chuyển
đạt, mà là phương cách truyền thông sao cho lọt tới tai, lọt vào mắt người nghe
người đọc với mục đích gợi hứng cũng như khơi động ḷng tự tin của người nghe
người đọc và để chia xẻ kinh nghiệm sống với tác giả.
Phải chăng phương cách này là bút thuật chi ngôn, bao gồm cả hai bút thuật ngụ
ngôn và trùng ngôn?
Tới nay, thơ và hát nói của Nguyễn Công Trứ truyền tụng trong dân gian đă trong
ngoài hai thế kỷ, chắc chắn là chén rượu chi ngôn của Nguyễn Công Trứ dành cho
chúng ta đă có nhiều người từng t́m ra, và sẽ c̣n nhiều người khác trong tương
lai, tự t́m ra hưong vị.
Đó là h́nh ảnh của Nguyễn Công Trứ để lại cho chúng ta trên việc đẩy lùi giới
hạn của thi ca trên mặt ngôn ngữ chữ nôm. Phải chăng v́ vậy mà giới nghiên cứu
sử văn học đă coi Nguyễn Công Trứ cùng Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du là ba nhà thơ
mở đựng cho dùng thơ chữ nôm?