Thoát Ṿng Danh Lợi
Chen chúc lợi danh đà chán ngắt
Cúc tùng phong nguyệt mới vui sao
Đám phồn hoa trót bước chân vào
Sực nghĩ lại giật ḿnh bao kể xiết
Quá giả văng nhi bất thuyết
Cái h́nh hài làm thiệt cái thân chi
Cuộc đời thử ngẫm mà suy
Bạn cùng tùng cúc xưa kia là cố cựu
Hẹn với lợi danh ba chén rượu
Vui cùng phong nguyệt một bầu thơ
Cuộc cổ kim so sánh tự bàn cờ
Riêng vui thú giang sơn phong nguyệt
Mặc xa mă thị thành không dám biết
Thú yên hà trời đất để riêng ta.
Nào ai ai biết chăng là.
Hai câu
mưỡu dường như lời tác giả tự đoan chắc với ḿnh là ḿnh đă quyết tâm bước ra
khỏi ṿng danh lợi, trở về với tùng cúc, vui với chén rượu câu thơ, trăng thanh
gió mát, xa hẳn chốn thị thành, về yên hưởng thú yên hà trong tĩnh mịch.
Lúc về già này Nguyễn Công Trứ dường như bước ra khỏi ḍng đời, rồi ngoái lại
nh́n thế cuộc như một khán giả nh́n lên sân khấu, nhưng đồng thời ông nh́n thấy
cả chính ông đang sống trên sân khấu đó. Ông gọi sân khấu này lả một hư trường,
như ông viết trong bài:
Đánh Thức
Người Đời
Xót người tiền đếm gạo lường
Thế mà cũng chịu một trường hóa sinh
Nhân sinh bất hành lạc
Thiên tuế diệc vi thường
Đă đem vào cuộc hư trựng
Lại muốn theo phường thái cực
Chuồn đội mũ mượn mầu đạo đức
Thịt hay ăn một cục tham si
Gác thay thảy là là kỳ là tửu là thi
Rất đỗi y quần chi hạ
Bất tri hữu thử trân mỹ giả
Ôi trời đất người đâu người thế
Mấy trăm năm là mấy trăm năm
Khiến cho lạc giả thương tâm.
Không
riêng một ḿnh Nguyễn Công Trứ, bà Huyện Thanh Quan cũng coi đời sống như một
cuộc hư trường trong câu mở đầu bài Thăng Long Hoài Cổ:
Tạo hóa gây chi cuộc hư trường.
Nguyễn Khuyến cũng coi cuộc sống như một sân khấu như ông đă viết trong bài Ưu
Phụ Từ và ông tự dịch thành bài Lời Vợ Anh Phương Chèo.
Nhiều tác giả Âu Mỹ, tỷ như Frank Kafka[26] cũng coi đời sống như một sân khấu, và
con người là những diễn viên được tự do lựa chọn vai ḿnh đóng trên sân khấu đó.
Dưới trời Đông phương, con người không có quyền lựa chọn vai ḿnh đóng trên sân
khấu, đúng với câu tục ngữ: muôn sự tại trời, hay bởi câu: tại số tránh đâu cho
khỏi số. Mười khổ hát nói dưới đây tóm tắt ư tưởng này:
Cái Già
Đeo Đuổi
Lăo trục thiếu lai ưng bất phóng
Nhục tùy vinh hậu định tu quân
Ḷ âm dương san sẻ b́nh phân
Con tạo hóa cầm cân nhiêm nhặt
Mới đó đỉnh mây c̣n ngăn ngắt
Phút đâu mái tuyết đă phau phau
Cái khóa dàm là giống ở đâu
Cứ lẽo đẽo cặp kè hiên cái
Đôi kẻ biết sao không tỉnh lại
Dẫu thiên hô vạn hoán cũng u ơ
Xót cho ta biết sao giờ.
Già chẳng
buông trẻ chẳng tha, nhục vinh đều do trời định sẵn. Trời đất san sẻ công b́nh,
con tạo cầm cân mầu nhiệm. Mái tóc mới ngày nào c̣n xanh nay đă trắng phau. Danh
là khóa, lợi là xiềng đi liền với cỗ xe cái lọng. Đôi ba người biết đó mà sao
không tỉnh lại, ngh́n kêu muôn gọi vẫn chẳng tỉnh ngộ.
Bỏ được hai chữ lợi danh, nhưng Nguyễn Công Trứ chưa rũ sạch được chữ t́nh. Năm
ông bẩy mươi ba tuổi, ông cưới một cô hầu c̣n đào thơ mảnh khảnh. Ông kể lại
truyện này trong bài:
Tuồi Già
Cưới Vợ Hầu
Trẻ tạo ngẩn ngơ lắm việc
Già nguyệ ông cắc cớ trêu nhau
Ḱa những người mái tuyết đă phau phau
Run rẩy kẻ đào thơ c̣n mảnh mảnh
Trong trướng gấm ngọn đèn hoa nhấp nhánh
Nhất tọa lê hoa ap hải đường
Từ đây đà tạc đá ghi vàng
Bởi đâu trước lụa tơ chắp chỉ
Tân nhân dục vấn lang niên kỷ
Ngũ thập niên tiền nhị thập tam
T́nh đă chung lửa cũng phải vam
Suốt kim cổ lấy làm vận sự
Trong trần thế duyên duyên nợ nợ
Duyên cũng đành mà nợ cũng đành
Xưa nay mấy kẻ đa t́nh
Lăo Trần là một với ḿnh là hai
Càng già càng dẻo càng dai.
Tin tưởng
là mọi sự đều do trời định, Nguyễn Công Trứ cho là mối t́nh duyên chênh lệc tuổi
tác này của ông cũng do bởi ông Tơ bà Nguyệt cắc cớ trêu ông. Đêm hợp cẩn, mái
tóc hoa lê kề bên đóa hải đường, câu thơ chữ mà làm người nghe hát nhớ tới câu
tục ngữ, hải đường mơn mởn đường tơ, thường dùng mô tả những cô thiếu nữ tươi
trẻ, từ nay đá tạc vàng ghi, bởi đă từng có truyện xe tơ chắp chỉ. Cô dâu muốn
biết chú rể bao nhiêu tuổi, chú rể cho hay năm chục năm về trước chàng vừa hai
mươi ba tuổi. Âu cũng là bởi duyên số, của kẻ đa t́nh. Xưa có Trần Tu 73 tuổi đỗ
tiến sĩ vua gă cho vị công chúa vừa 17 tuổi và nay có ông là hai. Câu keo là một
câu ca dao quen thuộc.
Nay tới khúc cuối đời, Nguyễn Công Trứ thản nhiên nh́n lại ḿnh trên sân khấu để
thấy ḿnh chỉ như một con múa rối bị giật dây, chẳng biết đâu phân biệt thật
giả. Đó là chủ ư ông ghi lại trong bài:
Ngất
Ngưởng
Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Ông Hy Văn tài bộ đă vào lồng
Khi thủ khoa khi tham tán khi tổng đốc Đông
Gồm thao lược đă nên tay ngất ngưởng
Lúc B́nh Tây cầm cờ đại tướng
Có khi về phủ doăn Thừa Thiên
Đô môn giải tổ chi niên
Đạc ngựa ḅ vàng đeo ngất ngưởng
Ḱa núi nọ phau phau mây trắng
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi d́
Bụt cũng bật cười ông ngất ngưởng
Được mất dương dương người thái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong
Khi ca khi tửu khi các khi tùng
Không Phật không Tiên không vướng tục
Chẳng Hàn Nhạc cũng phường Mai Phúc
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung
Đời ai ngất ngưởng như ông.
Đây là một
bài hát nói rất đặc biệt của Nguyễn Công Trứ. Đó là bài hát nói trong đó ông
nhắc tới tên chữ Hy Văn của ông cùng những chức tước cao thấp trên hoạn lộ ba
chục năm gập gềnh, từ khi bắt đầu tới ngày về hưu của ông. Không kể đầu đề bài
hát, ông đă dùng bốn lần chữ ngất ngưởng. Cái lồng mà ông Hy Văn tự giam ḿnh
trong đó chính là cái danh: khi th́ thủ khoa, khi th́ tham tán khi th́ tổng đốc,
cái lồng đó c̣n là cái tài thao lược, là cái chức phủ doăn Thừa Thiên, cho tới
khi ông tháo ấn từ quan, tất cả đều là những vai ông phải tŕnh diễn trong vai
chèo ngất ngưởng suốt ba mươi năm làm quan. Nay tóc đă bạc, ông đổi vai chèo, bỏ
kiếm cung mà khoác áo tu hành, cỡi ḅ lên chùa, theo sau mấy nàng cô đầu, cũng
để tiếp tục đóng vai chèo ngất ngưởng của một hưu quan. Theo gương người thái cổ,
không quan tâm đến sự được mất khen chê, lúc nghe ca khi uống rượu giữa tiếng
phách tiếng trống, ông chút bỏ cả Phật cả Tiên cả Khổng cả nghĩa vua tôi cả đạo
sơ chung, đó là vai chèo ngất ngưởng của một ông lăo. Tất cả chính là phận sự
của ông trong vũ trụ mà ông bắt buộc phải chu toàn như ông viết trong câu chữ mở
đầu bài hát nói. Điều đáng chú ư khác của bài hát nói là tác giả không hề than
thân trách phận, trái lại tác giả nh́n lại những vai chèo ḿnh đă đóng một cách
thản nhiên và dường như c̣n vui vẻ.
Như mọi người cao tuổi, Nguyễn Công Trứ cũng nghĩ tới tôn giáo. Nhưng, ư nghĩ về
Đạo Phật của ông, ghi trong bài Vịnh Phật có nhiều điểm khác người.
Vịnh Phật
Thuyền từ một lá vơi vơi
Bể trần chở biết bao người trầm luân
Thiên thượng thiên hạ vô như Phật
Nhỏ không trong mà lớn cũng không ngoài
Chiếc thuyền từ một lá vơi vơi
Vớt ch́m đắm đưa người lên cơi tĩnh
Chữ kiến tính cũng như xuất tính
Trong ống ḍm đổ tiếng hư vô
Kẻ muốn đen nhân kỳ nhân hỏa kỳ thư lư kỳ cư
Xong đạo thống hăy rành rành công cứ
Bạng y thiên lư hành tương khứ
Đô tự nhân tâm tố xuất lai
Bát khang trang chẳng chút chông gai
Cùng nghiêng ngả một ḍng Hà Lạc
Trong nhật dụng sao rằng đạo khác
Cái luân hồi chẳng ở đâu xa
Nghiệp duyên vốn tự ḿnh ra
Nơi vuông tấc đủ thiên đường địa ngục
V́ chưa thoát ḷng trần mắt tục
Nên mơ màng một bước một khơi
Khiến cho phiền muộn Như Lai.
Hai câu mưỡu cho hay Đạo Phật như một con thuyền đi vớt người ch́m đắm trong biển khổ, tức đ̣i sống hiện tại. Câu chữ mở bài theo kinh Phật là ḷi Phật nói khi vừa lọt ḷng mẹ:
Thiên
thượng địa hạ duy ngă độc tôn
Nghĩa là:
Trên trời dưới đất duy một ta đáng tôn.
Câu tiếp
theo ca tụng phép Phật nhiệm mầu khiến không có cái ǵ dậu nhỏ đến đâu có thề
lọt qua được và chẳng có cái ǵ dầu lớn đến đâu cũng thể bao ra ngoài được. Hai
câu tiếp nói rơ hơn ư tŕnh bày hai câu mưỡu: đạo Phật vớt ngựi ch́m đắm trong
biển khổ đưa về cơi Tịnh Thổ.
Điểm mới lạ của bài hát nói gửi gắm trong hai câu bẩy và tám. Chữ kiến tính là
một chữ quan trọng trong Phật Học:
kiến tính
thành Phật.
Chữ xuất tính là chữ trong sách Trung Dung của Khổng Học:
Thiên mệnh chi vi tính,
xuất tính chi vi đạo,
tu đạo chi vi giáo.
nghĩa là:
Mệnh trời phó là tính
noi theo tính là đạo
sửa cho hợp đạo gọi là giáo.
Theo
Nguyễn Công Trứ hai chữ này như nhau, chỉ những nguời kiến thức hẹp ḥi mới nói
đạo Phật là hư vô. Có kẻ c̣n muốn theo gương Hàn Dũ đời Đương đuổi sư về làm dân,
đốt hết kinh sách Phật, lấy chùa cho dân ở. Song giường mối đạo Phật vẫn c̣n
rành rành cho mọi người noi theo.
Hai câu chữ nho sau đó nghĩa là:
Đạo dựa
theo lẽ trời mà ra
cũng bởi ḷng người mà tới.
Y bát nhà
Phật đối với Nguyễn Công Trứ nào có khác với chiếc bát quái hay chiếc mai rùa,
thế nên đạo Phật nào có khác những đạo khác. Cái ṿng luân hồi, cái tương quan
giữa nghiệp và duyên cũng do chính ḿnh mà ra. Từ ḷng người mà lên thiên đường
hay xuống địa ngục. Chỉ bởi ḷng trần mắt tục mà khiến mỗi bưóc một xa đạo, làm
phiền muộn cho đấng Nhu Lai.
Đối vói một nhà nho, coi moi sự ở ngoài nho học là sai, đối với một Phật tử
thành tín là ngoài Phật Pháp mọi sự là lầm, hoặc đối với một đệ tử Lăo Trang
ngoài Đạo Tạng mọi điều là lầm lẫn thời với ư tuởng tŕnh bày trong bài Vịnh
Phật trên đây Nguyễn Công Trứ quả là một mối mâu thuẫn. Tam giáo đồng tôn, ở
nước ta có từ đời nhà Lư, tới đời Nguyễn Công Trứ đă trải ngàn năm, nhưng với
tinh thần khoan dung ngoại đạo đến mức thấy ba đạo dường chẳng khác nhau thời
ngoài ông thật ít có mấy ai.
Dẫu vậy, và dẫu đă đến tuần lăo đại ông vẫn c̣n bị vướng mắc với sự ghen ghét
của ḷng ngựi như ông ghi lại trong bài:
Con Tạo
Ghét Ghen
Danh giả tạo vật chi sở kỵ
Ghét chứng chi ghét măi ghét hoài
Lúc tuổi xanh chi khỏi cậy tài
Sức bay nhẩy tưởng ra ngoài đào chú
Dẫu chẳng hám chấn dao mấy độ
Cũng trơ trơ tích trích không nao
Càng phong trần danh ấy càng cao
Dám nghĩ giỡn chơi hay ác thiệt
Đă mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh ǵ với núi sông
Ấy xung chàng nghĩ cũng mếch ḷng
Nên đè nén dầy ṿ th́ cũng phải
Chứ như đă đến tuần lăo đại
Cuộc đời trăm việc đă vâng nhường
Tự đinh ninh chẳng dám xem thường
Mùi hoạn huống nếp phong lưu đều gác sạch
Đem thân thế nương miền toàn thạch
Trốn đường danh mua lấy cuộc nhàn
Cớ sao c̣n dở máu ghen
Bắt kẻ tiều lao hành khốn măi
Khả quái lăo thiên đa ác thái
Trẻ chẳng thương mà già cũng chẳng tha
Tức ḿnh muốn hỏi cho ra.
Trong câu chữ, Nguyễn Công Trứ đưa ra như một định đề: ‘Người có danh tiếng thựng bị tạo vật ghen ghét’. Ông công nhận rằng lúc c̣n trẻ trung, ông không khỏi cậy tài, nghĩ là ḿnh có thể bay nhẩy ngoài ṿng chi phối của tạo vật, để tạo nên danh tiếng với núi sông. Nhưng nay, tuổi hạc dă cao, bỏ cả làm quan, bỏ cả nếp sống phong lưu, t́m về nơi vắng vẻ, để mua lấy chữ nhàn, mà sao ông trời độc ác vẫn chưa buông tha ông, c̣n tiếp tục hành hạ ông. Khiến ông tức ḿnh muốn hỏi cho ra.
Nguyễn Công Trứ muốn hỏi Trời, nhưng chắc rằng ông không quên sách Luận Ngữ có câu [27]:
Thiên
hà ngôn tai
nghĩa là:
Trời có nói ǵ đâu.
Nhưng
ông ông bực ḿnh muốn hỏi cho ra. Phải chăng là ông muốn hỏi ông tại sao ông c̣n
vướng vít trong ṿng đối đăi của tạo vật?
Qua tám mưoi hai thi phẩm trích dẫn trên đây, người đọc Nguyễn Công Trứ dường
như thấy là để hiểu rơ thơ của ông, cấn phải xét tới: