Về Già

Nguyễn Công Trứ như tự nhắn nhủ ḿnh trong bài thơ Đường luật:

Lúc Về Già
Kẻ ghét song c̣n có kẻ ưa
Nghĩ đâu mà lựa được cho vừa
Khó giầu đă định thời không oán
Khôn dại đành hay há dám từ
Bể học ḍ nguồn cho chúng trẻ
Ngày nhàn vui chuyện với người xưa
Lâng lâng rũ rạch niềm nhân ngă
Gẫm thú phồn hoa đáng thế chưa.

Cả bốn câu đầu bài thơ đều là bốn điều mà một người về già thựng lấy làm một cách sống ngoài ṿng cương tỏa. Câu thứ năm cho hay tác giả đă vui với thú dậy học, không phải cho ngựi đi thi cử nhân tiến sĩ mà cho đàn con trẻ. Câu thứ bẩy cho hay là tác giả lấy sự đọc sách làm thú vui cho tuỏi già. Tất cả sáu câu đó đều là thái độ thông thường của một nhà nho. Câu thứ bẩy là một câu rất đáng lưu ư. Làm sao rũ sạch dược niềm nhân ngă, Nguyễn Công Trứ không cho biết, vậy phải chăng để dứt được niềm nhân ngă là bỏ được cái ta theo đứng hai chữ vô kỷ của Trang Tử trong chương Tiêu Dao Du, sách Đạo Đức Kinh : chí nhân vô kỷ, phải chăng v́ vậy mà tác giả quyết định xa chốn phồn hoa.

Phải chăng v́ ư nghĩ này mà năm tṛn 70 tuổi, Nguyễn Công Trứ đă xin vể hưu trí. Ngày ông được vua Tự Đức cho về nghỉ hưu ông có làm ngay tại sân rồng một bài thơ Đường luật, bằng chữ nho, kèm tiểu dẫn, dịch như dưới đây:

Tiểu dẫn: Tôi nay vừa bẩy mươi. Nhớ lại sáu mươi chín nnăm về trước, đói khổ, ốm đau, rừng sâu nước độc, xiết bao cay đắng. Câu nói “thọ lắm nhục nhiều” đói với tôi thực quả đúng. Trong những điều tôi học được từ khi ra đời, tôi t́m ra được năm mươi sáu chữ, làm thành một bài tho luật để kỷ niệm tuỏi bẩy mươi. Quư vị có ḷng thương đến xin cho một bài họa để con cháu cất làm của qúy trong nhà.

Nguyên văn bài thơ luật phiên âm như sau:

Tự Thọ
Nhật đối nhi tào tự giải di
Kim ngô bất tự cố ngô th́
Tùy cơ khối lỗi cung nhân tiếu
Trực kư niên hoa giới cổ hy
Lăo thực bất kham trang diện mục
Anh hoa an dụng nhiếm tu t́
Tự tàm tiên liệt hảo vô trạng
Quái sát Hồng Sơn hữu thị phi
dịch là:
Ngày cùng bầy trẻ cợt đùa
Ta nay thực khác ta xưa lắm rồi
Theo thời múa rối trọc cười
Ơn trời thấm thoắt bẩy mươi tới tuần
Về già trang điểm há cần
Nhuộm râu nhuộm tóc ngại ngần mặc ai
Thẹn ḿnh đền đáp bất tài
Quay về Hồng Lĩnh đúng sai kệ người.

Bài thơ được nhiều người họa lại, trong số đó có những danh tài như Trương Đăng Quế, Cao Bá Quát, ông nghe Tân, v.v...

Ngoài bài Tự Thọ trên đây, Nguyễn Công Trứ để lại một bài hát nói bằng chữ nho. Đó là bài:

Công Khai Thác
Nhi kim tủy hữu Dinh Điền Sứ
Phụng chỉ khai sơn hải chi nhàn điền
Sơn giai kim nhi hải giai tiền
Ngưỡng thánh đức như sơn như hải
Bể bạc vờn lên tay ngũ bái
Non vàng đứng dậy chúc tam hô
Quân ân chiêm bái hải trường lưu
Thần tiết kiên trinh sơn tự tại
Khai từ cổ bất khai chi Tiền Hải
Tịch dĩ lai vị tịch chi Kim Sơn
Phương tri ngă quốc hữu nhân.
nghĩa là:
Từ nay đặt chức Dinh Điền Sứ
Phụng chỉ khẩn hoang miền núi biển
Núi là vàng biển là tiền
Đội ơn vua như núi như biển
Bể bạc ṿng tay lậy năm lậy
Non vàng đứng dậy chúc ba lần
Ơn vua dạt dào như nước biển
Ḷng tôi trung như núi chẳng ṃn
Khai vùng đất chưa khai vùng Tiền Hải
Khẩn những nơi chưa khẩn cơi Kim Sơn
Nước nhà thực lắm người tài.

Cả hai bài Lúc Về Già và bài Tự Thọ trên đây dường như cùng hướng theo một chiều đối ngược với ḍng thơ của Nguyễn Công Trứ khi c̣n đang mắc nợ hay trang trải nợ tang bồng.

Nay về già, danh Nguyễn Công Trứ không cần nữa, lợi ông cũng chẳng màng. Ông:

Mượn Rượu Làm Vui
Nhân sinh thích chí
Chẳng ǵ hơn mượn rượu làm vui
Việc tầy trời khi say đoạn cũng thôi
Một trân phá thành sầu lũy năo
Tửu trái tầm thường hành xứ hữu
Nhân sinh thất thập cổ lai hy
Danh mà chi lợi nữa mà chi
Mượn ba chén dập d́u trăng gió
Ngh́n vàng hết hết rồi lại có
Chén c̣n không ngực áo để làm chi
Bên tai gác tiếng thị phi
Màn trời chiếu đất dầu khi ngang tàng
Mơ màng trong cơi túy hương.

Muốn sống ở đời sao cho thích chí, chẳng ǵ hon lấy rượu làm vui. Việc đời lớn đến mấy, lúc say cũng tạm quên nên có thể dùng rượu phá sẩu năo. Ông trích thơ Đỗ Phủ, bài Khúc Giang: ‘Kẻ nợ tiền rượu chỗ nào mà chẳng có, nhưng người sống tới tuổi bẩy mươi, xưa rầy quả là hiếm’. Thế nên, danh cũng chẳng cần, lợi cũng chảng mong, cứ uống tràn vui cùng trang gió. Tiền bao nhiêu cũng hết, nhưng hết rồi lại có. Chén cạn rồi bán áo uống thêm. chẳng khác ǵ lời thơ bài Tương Tiến Tửu của Lư Bạch. Gác bỏ ngoài tai truyện đúng sai. Theo gương Lưu Linh lấy trời làm màn lấy đất làm chiều ngang tàng giữa chốn làng say.

Nguyễn Công Trứ lấy hứng theo bài Quy Khứ Lai Hề Từ của Đào Tiềm viết nên bài:




[25] Trang Tử Nam Hoa Kinh, sách đả dẫn, tr. 56.