Than Nghèo

Cảnh nghèo là cảnh của kẻ sĩ khi chưa thành đạt. Cho nên, dường như nhà thơ nào cũng có một đôi bài thơ than nghèo. Nguyễn Công Trứ cũng vậy, nhưng trong dòng thơ than nghèo, ông vịnh cảnh nghèo, ông mô tả phận anh khóa nghèo, tả cảnh tết nhà nghèo, nhưng từ cảnh nghèo đó, ông đã tìm thấy niềm vui trong cảnh nghèo, tìm thấy phong vị của nhà nho nghèo, để nhìn ra trò đời, nhìn ra thế tình đen bạc, thế tình đối với ngưòi nghèo. Trong dòng thơ đó, Nguyễn Công Trứ luôn luôn nuôi dưỡng một niềm hy vọng, luôn luôn nhìn thấy ánh sáng ở cuối đường hầm, nhất là luôn luôn tin chắc ở tài sức của chính mình. Điểm đáng ghi nhận là không có một bài thơ nào trong dòng thơ than nghèo của Nguyễn Công Trứ trở thành những bài luân lý khô khan, chở bốn chữ an bần lạc đạo. Trong dòng thơ này tác giả chia sẻ với người đọc mối lạc quan và niềm tự tin, bằng cách dùng những câu tục ngữ quen biết, để diễn tả ý thơ, như trong những bài sau đây:

Vịnh Cảnh Nghèo
Chẳng phải là ngây chẳng phải đần
Bởi vì nhà khó hoá bần thần
Mấy đời thầy kiện mà thua mẹo
Nghĩ phận thằng cùng phải biết thân
Số khá bĩ rồi thời lại khá
Cơ thường đông hết lại sang xuân
Trời đâu riêng khó cho ta mãi
Vinh nhục dù ai cũng một lần.

Chỉ vì cái khó nó bó cái khôn, khiến thằng cùng phải biết thân, tuy nhiên nó đâu có phải ngây chẳng phải đần, vinh nhục ai cũng có lúc phải sa vào vòng, nhưng số bĩ lúc khá thời lại khấm khá, như hết mùa đông thì tới mùa xuân: luôn luôn tin tuởng ở ngày mai là chủ ý của bài thơ trên đây.

Than Cảnh Nghèo
Vốn hễ anh hùng mới có nghèo
Sao mà ta lại trải trăm chiều
Trái mùa nghiệp cũ không nên bỏ
Ế chợ nghề nhà cũng phải theo
Những giữ miệng đà không muốn nói
Làm sao bụng lại cứ thường trêu
Suy ra mới biết rằng hay dở
Kẻ trước như ta dáng cũng nhiều

Đầu đề Than Cảnh Nghèo của bài thơ dường như trái ngược với nội dung bài thơ. Nội dung bài thơ dường như là một quyết định của người thơ: cố bấm bụng không than, nhất định không bỏ nghiệp cũ, nhất định giữ nghề nhà, vì tính khí anh hùng nên cũng như nhiều nguời trước tác giả cũng từng sống trong cảnh nghèo như tác giả.

Ý chí  vững tin ở tương lai, còn thấy rõ trong thơ Nguyễn Công Trứ trong nhưng bài thơ ông ghi lại tình đời đối với người nghèo, như trong hai bài dưới đây.

Thế Tình Đối Với Người Nghèo
No thời ra bụt đói ra ma
Chằng lạ nhân tình đất kẻ ta
Khôn khéo chẳng qua thằng có của
Yêu vì đâu đến đứa không nhà
Ở đời mới biết cùng thời dẻ
Muộn sự cho hay nhịn cũng qua
Cơ tạo có đi thời có lại
Vạch vôi lấy đó mải ru mà.

Trong sáu câu đầu bài thơ Nguyễn Công Trứ đưa ra ba nhận xét về tình đời dối với người nghèo. Cả ba đều là nhưng câu tục ngự quen biết. Ngoài ra không có một lời oán trách một ai. Hai câu kết biểu lộ một lần nữa lòng vững tin ở tương lai của tác giả.

Tiếp theo là bài:

Thế Tình Đen Bạc
Vịnh chuyển cơ trời nghĩ cũng mầu
Chắc rằng ai đói chắc ai giầu
Kể đâu miệng thế khi yêu ghét
Được mấy lòng người có trước sau
Cuối tết mới hay rằng sớm muộn
Giữa vời sao đã biết nông sâu
Hãy xem trời đất thời liền rõ
Dầu nắng dầu mưa có mãi đâu.

Dường như bài thơ không nhắm mô tả thê tình đen bạc, mà nói tới, một lần nữa, niềm vũng tin ở tương lai tươi sáng hơn của người đang ở trong hoàn cảnh thiếu thốn.

Phải chăng cũng vì niềm vững tin ở ngày mai tươi sáng hơn mà Nguyễn Công Trứ đã tìm thấy hứng viết bài dưới đây mô tả cái thi vị của cảnh sống nhà nho nghèo:

Hàn Nho Phong Vị Phú
Chém cha cái khó, chém cha cái khó
Khôn khéo mấy ai, xấu xa một nó
Lục cực bày hàng sáu, rành rành kinh huấn chẳng sai
Vạn tội lấy làm đầu, ấy ấy ngạn ngôn hẳn có
5Kìa ai: bốn vách tưòng mo, ba gian nhà cỏ
Đầu kèo một tạc vẻ sao trước cửa nhện giăng màn gió
Ống nứa đựng đầu kê đầu đỗ
Đầu giường tre, mối dũi quanh co
10Góc tường đất trùn lên lố nhố
Bóng nắng dọi trứng gà trên vách thằng bé tri trô
Hạt mưa soi hang chuột trong nhà, con mèo ngấp ngó
Trong cũi lợn nằm gặm máng, đói chẳng buồn kêu
Đầu giàn chuột lóc khua niêu, buồn thôi lại bỏ
15Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch
nguời quân từ ăn chẳng cầu no
Đêm năm canh an giấc ngáy khò khò,
đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ
Ấm chè góp, lá bàng lá gối pha mùi chát chát chua chua,
Miếng trầu têm, vỏ mận vỏ đà buồn miệng nhai nhai nhổ nhổ.
Áo vải thô nặng trịch, lạnh làm mền, nực làm gối bốn mùa thay đổi bấy nhiêu
20Khăn lau giắt đỏ lòm, trải làm chiếu, vận làm quần một bộ ăn chơi quá thú.
Đỡ mồ hôi võng lác quạt mo
Chống hơi đất dép da guốc gỗ
Miếng ăn sẵn cà non muớp luộc, ngon khéo là ngon
Đồ chơi nhiều quạt sậy điếu tre của đâu những của
25Đồ chuyên trà ấm đất sứt vòi
Cuộc uống rượu be sành chắp cổ
Đồ cổ khí bức tranh treo trên vách khói bay lem luốc mầu thủy mặc lờ mờ
Của tiểu đồng pho sách gác đầu giường gián nhấm nhăm nhăm đấu thổ châu đo đỏ
Cỗ bài lá ba đời cửa tướng hàng văn hàng sách lờ mờ
30Bàn cờ săng bẩy kiếp nhà ma chữ nhật chữ điền xiên xỏ
Lộc ni điền lúa chất đầy giường
Phương tịch cốc khoai vừa một giỏ
Tiêu dụng lấy chi mà phao phóng thường giữ ba cọc ba đồng
Mùa màng dành để có bao nhiêu chừng độ một triềng một bó
35Mỏng lưng xem cũng không giầu
Nhiều miệng lấy chi cho đủ
Đến bữa chưa sẵn bữa con trẻ khóc dường ong
Qua kỳ lại hẹn kỳ nhà nợ kêu như ó
Thuốc men rắp bòn chải gỡ bữa, song nghĩ câu ý dã thế nào cho đáng giá lương y
40Thầy bà mong dối trá kiếm ăn nghĩ lai chữ dũng như phép chi được nối danh pháp chủ
Quẻ dã hạc toan nhờ lộc thánh chút muối bỏ bể ra chẳng bõ bèn
Huyệt chân long toan bán đất trời ngôi mả táng cha tìm còn chưa chộ
Buôn bán rắp theo nghề đó song lạ mặt chúng hòng rước gánh mập mờ cho hàng chẳng có lời
Bạc cờ toan gỡ cơn đen chưa sẵn lưng làng cho giành nơi hỏi gạn mãi dạm không ra thổ
45Gặp khúc lươn nên it kẻ yêu vì
Giương mắt ếch biết vào đâu mượn mõ
Đến lúc niên chung nguyệt qúy lấy chi tiêu đồng nợ đồng công
Gặp khi chân sẩy đường cùng nên phải tới cửa này cửa nọ
Thân thì to to nhỏ nhỏ ta đà mỏi cẳng ngồi trì
50Dần dà nọ nọ kia klia nó những vuốt râu nlàm bộ
Thầy tớ sợ men tìm đến của ngảnh mặt cúi đầu
Chị em vất lấm vào lưng chìa môi nhọn mỏ
Láng giềng ít kẻ tới nhà
Thân thích chẳng ai nhìn họ
55Mất việc toan trở nghề cơ tắc tủi con nhà mà hổ mặt anh em
Túng đường mong quyết chí cùng tư e phép nước chưa nên gan sừng sỏ
Cùng con cháu thuở nói năng chuyện cũ dường ngâm câu lạc đạo vong bần
Gặp anh em khi bàn bạc sự đời, lại đọc
chữ vi nhân bất phú
Tất do thiên âu phận là thường
60Hữu kỳ đức ắt trời kia chẳng phụ
Tiếc tài cả phải phạn nưu bản trúc
dầu xưa ông Phó ông Hề
Cần nghiệp nho khi tạc bích tu huynh
thủa trước chàng Khuông chàng Võ
Nơi thành hạ, gieo cần câu cá, kìa kìa
người quốc sĩ Hoài Âm
Chốn lý trung xách thót chia phần nọ nọ
đấng mưu thần Dương Võ
65Khó ai bằng Mãi Thần Mông Chính cũng có khi ngựa cưỡi dù che
Giầu ai bằng Vương Khải Thạch Sùng cũng có hội tường xiêu ngói đổ
Mới biết: khó bời tại giời giầu là có số
68Dẩu ai ruộng sâu trâu nái, đụn lúa kho tiền cũng bất quá thủ tài chi lỗ.

Nội dung bài phú 68 câu này không mấy khác những bài thơ trong dòng thơ than nghèo của Nguyễn Công Trứ. Trên mặt từ ngữ, tác giả dùng rất nhiều tục ngữ hay ngạn ngữ quen thuộc, đặc biệt là để tạo nên một không khí trào phúng cho bài phú.

Đằng khác, bài phú này dùng khá nhiều điển tích chữ Hán, đặc biệt là trong đoạn Nguyễn Công Trứ toan đổi nghề nho thành nghề thầy lang, nghề thầy bói, thầy địa lý hay thầy cúng theo đúng bốn chữ sắp hạng những nghề thầy: nho y lý số của nhà Nho. Điểm khác, là việc, Nguyễn Công Trứ dùng nhiều hình ảnh đáng lưu tâm rút từ văn học Trung Quốc Trong câu 55, hai chữ cơ tắc có người cho là chữ nho do Nguyễn Công Trứ dịch tắt ngạn ngữ đói làm càn và trong câu sau hai chữ cùng tư là cô đọng câu sách Luận Ngữ tiểu nhân cùng tư nghĩa là tiểu nhân gặp bước đường cùng thì làm bậy. Hai câu này diễn nghĩa là Nguyễn Công Trứ, sợ hổ mặt anh em mà đói không dám ăn trộm, túng thiếu sợ phép vua chẳng giám làm càn. Trong hai câu kế có câu lạc đạo vong bần nghĩa là vui đạo quên nghèo, và  vi nhân bất phú, nghĩa là có lòng nhân thì không làm giầu được. Trong hai câu tiếp theo, ba chữ Tất do nhiên trích từ câu phú quý tất do thiên mệnh, nghĩa là giầu sang là do số mệnh, và hữu kỳ đức trích từ câu hữu kỳ đức tất hữu kỳ phận mà dịch nôm là có phúc thì có phần. Trong câu 61, bốn chữ phạn ngưu bản trúc nghĩa là chăn trâu đắp đất, và ông Phó ông Hề là ông Phó Duyệt người đời nhà Thương, lúc nghèo phải đi gánh đất thuê, sau làm tướng giúp vua Bàn Canh sửa sang việc nước; và ông Lý Hề người đời Chiến Quốc lúc nghèo đi chăn trâu, sau làm tướng giúp Tần Công làm nên nghiệp ba. Trong câu 62, bốn chữ tạc bích tụ huỳnh nghĩa là khuyết vách bắt đom đóm, gợi lại tích chàng Khuông tức Khuông Hoành, nhà nghèo không có đèn, khoét vách cho ánh đèn nhà bên lọt sang mà đọc sách và truyện chàng Võ tức Võ Tử Xa Dận, người đời Tấn phải đi bắt đom đóm bỏ vào túi lấy ánh sáng đọc sách. Sang câu 63, quốc sĩ Hoài Âm chỉ Hàn Tín, người đất Hoài Âm, lúc trẻ nghèo khổ phải sống lần hồi bằng nghề câu cá, không đủ nuôi thân, phải đi ăn xin ngoài chợ, bị người làm nhục vẫn chịu nhịn, sau thành tướng tài của Lưu Bang dựng nên cơ nghiệp nhà Hán.  Trong câu 64, mưu thần Dương Võ, chỉ Trần Bình người đất Dương Võ, đồng thời với Hàn Tín, lúc còn trẻ phải đi làm mõ làng, sau thành mưu thần cho Bái Công. Mãi Thần Mông Chính trong câu 65 chỉ Chu Mãi Thần, người đời Hán và Lã Mông Chính người đời Tấn, cả hai cùng nhà nghèo mà ham học, về sau thành giầu sang. Sau hết, trong câu 66, Vương Khải, Thạch Sùng là hai người giầu có, nhưng về sau cơ nghiệp tan nát. Những điển cố trên đây, rút từ sử sách Trung Quốc dường như chỉ cho người đọc nếu theo gương những danh nhân kể trên tin chắc ở tài mình, dầu có gặp khó khăn lúc chưa gặp thời; nhưng rồi khi gặp thời rồi sẽ thành đạt vinh quang; còn chỉ nghĩ đến truyện tích lũy tài sản thì gặp cảnh loạn lạc, tiền bạc có thể tan thành mây khói.