Nhàn

Tiêu biểu cho ḍng thơ nhàn, người thích nghe hát thuờng nhắc tới bài

Chữ Nhàn
Thiên dịa vạn vật chi nghịch lữ
Bóng quan âm thấm thoắt vụt qua
Kiếp phù sinh chừng một giấc Nam Kha
Nào ai chắc đeo tiền cỡi hạc
Trước thơ ngây sau tuổi tác
Thủa trung gian thiếu tráng có là bao
Khi tật bệnh lúc bi sầu
Hảo tiết hoan ngu đà dễ mấy
Trăm năm nhân cảnh là nhường ấy
Một khắc xuân tiêu đáng mấy chăng
Sẵn non sông kia với gió trăng
Mượn cảnh trí thung thăng là sở thích
Ḱa những kẻ lao cần h́nh dịch
Chốn phong trần mấy lúc khai nhan
Trời đâu tiếc một chữ nhàn.

Hai câu đầu, Nguyễn Công Trứ trích bài Xuân Dạ Yến Đào Lư Viên Tự của Lư Bạch:

Phù thiên địa giả vạn vật chi nghịch lữ,
quang âm giả bách đại chi quá khách
nghĩa là:
Ôi, trời đất là quán trọ của vạn vật
ngày đêm là khách qua đương của trăm đời

Kiếp phù sinh nào khác giấc Nam Kha của Thuần Vu Phần say rượu ngủ dưới gốc ḥe, mơ đươc lấy công chúa, được cai trị xứ Nam Kha suốt ba mươi năm phú quư. Chợt tỉnh dậy thấy ḿnh nằm bên tổ kiến dưới gốc ḥe. Nào ai chắc ḿnh là bọn công tử đất Ngũ Lăng, đem vạn quan tiền, cỡi hạc cỡi hạc về chơi đất phồn hoa Dương Châu. Trước kia c̣n nhỏ dại, sau này rồi sẽ già, giữa hai tuổi đó hỏi có là bao. Khi bệnh tật, lúc sầu bi, lúc thời tiết tốt đẹp vui vẻ trong cuộc sống trăm năm chỉ có ngần ấy. Cơi đời trăm năm là như vậy, một khắc đêm xuân hỏi đáng mấy. Non sông kia sẵn có gió trăng, mượn cảnh trí ấy mà thung thăng là sở thích. Ḱa những kẻ vất vả nhọc thân, chốn phong trần mấy khi được mở mặt. Trời đâu có tiếc ai một chữ nhàn.

Trong ḍng thơ chữ nhàn, Nguyễn Công Trứ khác hẳn Nguyễn Công Trú khi đeo đuổi chữ danh. Dương như con người vô vi của ông hiện ra khi ông đang sống hết ḿnh trên nẻo đường hữu vi của ông: trong ḍng thơ nhàn, viết khi đang làm quan tại Huế, ông cho là:

Danh Chẳng Bằng Nhàn
Cơn chếnh choáng xoay vần trời đất lại
Lúc ngâm nga xáo trộn cổ kim đi
Cái công danh là cái chi chi
Quư nhân tưởng bất như nhàn nhân quư
Thú yên hà gửi nơi thành thị
Nhớ Đông Ba Gia Hội có hai cầu
Khi gió mát lúc trăng thâu
Dập d́u nhưng văn nhân tài tử
Trong ngọc đá vàng thau ai biết thử
Có xanh xanh trên ấy đă cầm quyền
Đưa hồng sánh lục bấy nhiêu niên
Nào đă thấy hoa khôi là mấy mặt
Thôi cũng muốn Nam Vô Di Đà Phật
Trót giở đem thân thế hẹn tang bồng
Ngh́n dặm đường một gánh non sông
C̣n mơ tường năm xưa cầm với hạc
Thời nhân bất thức du tâm lạc
Mượn phong lưu mà trả nợ phong lưu
Thanh nhàn ngâm một vài câu
Biết đâu ấm lạnh biết đâu ngọt bùi
Để cho đời ngẫm mà coi.

Cạn nửa bầu rượu, đương cơn chếnh choáng Nguyễn Công Trrú những muốn xoay địa trục, mở túi thơ ông muốn xáo trộn cổ kim. Đó là lúc ông thấy chữ nhàn quư hơn chữ danh. Giống Nguyễn Khuyến sau này, người t́m thấy cảnh nhàn trên mặt ao nhà, Nguyễn Công Trứ, hệt như Đào Tiềm, t́m thấy cảnh nhàn giữa chốn chợ đời, ở bên cầu Đông Ba ở bên cầu Gia Hộ khi gió mát trăng thanh lúc giai nhân tài tử dập d́u. Ai người phân biệt đưọc ngọc hay với đá, vàng với thau. Họa chăng chỉ có ông trời. Bấy nhiêu năm đua hồng sánh lục, nào đă gặp được mấy mặt giai nhân. Đă từng muốn quy Phật Di Đà, nhưng thân đă chót hẹn tang bồng. Đường xa gánh nặng, vẫn ước mơ tiếng đàn cầm cánh chim hạc, há nên người đời nào hay tâm ta vui, lấy phong lưu trả nợ phong lưu.

Ngươi nghe hát nói của Nguyễn Công Trứ c̣n thấy rơ hơn con ngựi vô vi của tác giả trong bài:

Ngày Tháng Thanh Nhàn
Thị tại môn tiền náo
Nguyệt lai môn hạ nhàn
So lao tâm lao lực cũng một đoàn
Người nhân thế muốn nhàn sao được
Nên phải lấy chữ nhàn làm chước
Dẫu trời cho có tiếc cũng xin nài
Cuộc nhân sinh bẩy tám chín mười mươi
Mười lăm trẻ năm mươi già không kể
Thoạt sinh ra th́ đà khóc chóe
Trần có vui sao chẳng cười kh́
Khi ái ân khi ai lạc lúc sân si
Chứa chi lắm một bầu nhân dục
Tri túc tiện túc đăi túc hà thời túc
Tri nhàn tiện nhàn đăi ong nhàn hà thời nhàn
Cầm kỳ thi tủu với giang san
Dễ mấy kẻ xuất trần xuất thế
Ngă kim nhật tại tọa chi địa
Cổ nhân tằng tiên ngă tọa chi
Ngh́n muôn năm âu cũng thế ni
Ai hay hát mà ai hay nghe hát
Xuân Xích Bích con thuyền năm nhâm tuất
Để ông Tô riêng một thú thanh tao
Chữ nhàn là chữ làm sao.

Theo Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề[23] , bài này được nhiều người trong giới thẩm âm ca trù cho là bài hát nói hay nhất.

Nguyễn Công Trứ mở bài bằng hai câu chữ nho, có nghĩa là chợ họp trước cửa th́ huyên náo, trăng soi trước của ấy là nhàn, đồng thời mỗi câu là một câu triết tự chữ náo và chữ nhàn. Làm việc bằng trí óc hay bằng chân tay đều vất vả như nhau. Người đời muốn nhàn cũng chẳng được, nên phải biết quư chữ nhàn Đời người dài lắm là 70, 80, 90 hay 100 tuổi. Dưới 15 là con trẻ, sau 50 đă là ông già. Lọt ḷng mẹ đă khóc oe oe, trần ai có vui sao chẳng cười kh́. Đời sống ngắn ngủi như vậy, lại thêm bao nỗi lo âu do ḷng ham muốn gây ra. Thế nên, trích sách Túy Ngữ Lục, ông viết: có biết đủ là đủ, đợi cho đủ th́ chẳng bao giờ đủ; biết nhàn là nhàn đợi cho nhàn th́ bao giờ được nhàn, để mà hưởng thú đàn cờ thơ rượu của người xuất trần xuất thế. Chỗ ta ngồi hôm nay, người xưa đă có người từng ngồi đó. Từ ngàn năm trước mọi truyện đều như vậy. Ai thích hát và ai thích nghe hát, muốn biết nhàn ra sao hăy ngẫm xem cảnh Tô Đông Pha chơi thuyền trên sông Xích Bích. Một cảnh thơ khởi hứng cho ông viết hai bài hát nói dựa trên hai bài phú Xích Bích của Tô Đông Pha. Kết luận Nguyễn Công Trứ vạch cho người nghe hát cái thú cầm kỳ thi tửu, thả thuyền chơi trăng nghe hát như Tô Đông Pha, đó là cảnh nhàn.

Nguyễn Công Trứ c̣n ghi lại cảnh nhàn nghe hát trong bài:

Vịnh Tỳ Bà
Năo nùng một khúc tỳ bà
Giang Châu Tư Mă ai là tri âm[24]
Tầm Dương giang đầu dạ tống khách
Bóng trăng thu chênh chếch bên thuyền
Tiếng tỳ bà ai khéo gẫy nên
Xuôi ḷng khách thiên nhai luống những
Ai oán nhẽ bốn dây văng vẳng
Nỗi bất b́nh như khấp như tố như oán như than
Nực cười thay cái phận hồng nhan
Nào những khách Vũ Lăng đâu vắng tá
Yên thủy mang mang thiên ngũ dạ
Tỳ bà khúc khúc nguyệt tam canh
Bến Tầm Dương cảnh ấy xiết bao t́nh
Chiếc thuyền luống đi về trong bóng nguyệt
Người viễn khách biết chăng chhang biết
Khúc đàn này biết gẩy cùng ai
Giang đầu hạnh hữu khách lai.

Câu chữ nho mở đầu là nguyên văn câu mở đầu áng thơ dài Tỳ Bà Hành của nhà thơ Đường Bạch Cư Dị. Phan Huy Vịnh đă dịch áng thơ này sang thể song thất lục bát. Nguyên bản có lời tựa như sau:

Năm Nguyên Hoà thứ mười, ta bi biếm làm Tư Mă quận Giang Châu. Mùa thu năm sau, một đêm tiễn khách tại bến cửa sông Bồn, chợt nghe thuyền bên có ngựi đàn tỳ bà. Tiếng sắt t́nh tang dường tiếng đàn chốn kinh đô. Hỏi ra mới hay người đàn vốn là một xướng nữ tại Trường An, từng theo học tỳ ba với hai thiện tài Mục và Tào. Năm dài nhan sắc phai, gửi thân làm vợ khách buôn. Gọi thêm rượu và mời nàng dàn vài khúc. Đàn dứt, nàng kể lại niềm vui thời son trẻ. Nay trôi dạt tiều tụy trong chốn giang hồ. Ta bị biếm đă hai năm, b́nh tâm an phận. Nay chợt thấy ḿnh là thân biếm trích. Làm áng thơ dài này ngâm tặng nàng. Thẩy gồm sáu trăm mười hai chữ và đặt đề là Tỳ Bà Hành.

Đối chiếu nguyên bản với bài Vịnh Tỳ Bà của Nguyễn Công Trứ, ngựi đọc dường như thấy Nguyễn Công Trứ vắn tắt kể lại cuộc gặp gỡ với người gẩy đàn tỳ bà, hệt như trong thơ Bạch cư Dị. Tuy nhiên ông lược bỏ đoạn Bạch Cư Dị nói về nỗi buồn bị biếm trích đă nguôi bỗng lại bùng lên v́ nghe người đánh tỳ bà kể lại truyện hẩm hiu của số phận nàng. Thế nên người đọc thơ Nguyễn Công Tr khó có thể tưởng tượng là ông đă dùng bài Vịnh Tỳ Bà nay để than van v́ nỗi hoạn lộ trắc trở của ông.

Ngoài thú chơi trăng nghe hát, Nguyễn Công Trứ c̣n thú hoà ḿnh với thiên nhiên trong những gày nhàn rỗi. Do đó ông có thêm nhánh thơ ngâm vịnh:




[23] - Đỗ Bằng Đoàn-Đỗ Trọng Huề, sách đă dân, tr.243-244.
[24] - Có bản chép hai câu mưỡu này là: Cũng người giái hải thiên nhai Cùng nhau gặp gỡ lọ là lạ quen