Thơ của Nguyễn Công Trứ gồm toàn thơ nôm, ngoại trừ một bài đương luật, ông
sáng tác tại sân rồng vua Tự Đức, ngày ông đưọc vua cho về hưu rồi đươc các quan
nhiều người họa lại và đặc biệt là một bài hát nói toàn chữ nho, Công Khai Thác,
với hai câu chữ ngược lại là chữ nôm. Theo Dương Quảng Hàm[20] , th́ cùng Nguyễn
Du, Hồ Xuân Huơng, Phạm Thái, Nguyễn Huy Hổ, Nguyễn Công Trứ là những người mở
đường cho ḍng thơ nôm.
Đa số thơ Nguyễn Công Trứ để lại là những bài hát nói, với những vần nhịp khác
hẳn thơ Đường luật hoặc song thất lục bát, câu ngắn câu dài không hạn định, gần
với thơ tự do sau này.
Túi thơ của ông có nhiều ngăn, trong những ngăn đó có một ngăn ông đựng thơ vịnh
sử. Nhân vật mà ông vịnh là những nhân vật có tên tuỏi trong lịch sử Trung Quốc,
tỷ như bài:
Vịnh Di Tề
Danh chẳng ham mà lợi chẳng mê
Ấy gan hay sắt hỡi Di Tề
Gặp xe vua Vơ xe giằng lại
Thấy thóc nhà Chu ngoảnh mặt đi
Cô Trúc hồn về mây ngụt ngụt
Thú Dương danh để đá tri tri
Cầu nhân, ắt được nhân mà chớ
Chẳng trách ai chi chẳng oán chi.
Di Tề là Bá Di và Thúc Tề là con vua nước Cô Trúc, chư hầu của nhà Thưong.
Lúc vua cha băng hà, Thúc Tề được lập lên ngôi, nhưng trả lại ngôi vua cho anh
là Bá Di. Bá Di cũng không nhận v́ như thế là trái lời di chúc của cha. Hai anh
em cùng bỏ lên núi ở ẩn, để người em thứ ba lên ngôi vua.
Lúc Chu Vơ Vương đem quân đánh Trụ, Bá Di Thúc Tề đón đựng giữ lấy cương ngựa,
can rằng : bề tôi đánh vua là không phải đạo. Vơ Vương không nghe, cứ cất quân
đánh Trụ, lên ngôi hoàng đế, lập ra nhà Chu. Di Tê thề không ăn thóc nhà Chu,
hái rau ăn thay cơm. Vơ Vương sai người mang thóc đến chu cấp, Di Tề cũng không
ăn, sau do cả hai cùng chết đói. Trong hai cau kết, Nguyễn Công Trứ trích dẫn
lời Khổng Tử [21] bàn về Di Tề: “Di Tề cầu nhân mà đuợc nhân, chết cũng thỏa chí,
chẳng c̣n oán thán ǵ”.
Lập trường của Nguyễn Công Trứ trong bài Vinh Di Tề trên đây hoàn toàn theo đạo
Khổng, khác hẳn với lập trường của Nguyễn Du trong bài Hành Lạc II, và lập
trường của Nguyễn Trăi trong bài Côn Sơn Ca, đứng theo quan điểm vô vi của Trang
Tử[22] , coi cái chết của Bá Di Thúc Tề là cái chết làm tàn sinh tổn tính vô ích.
Nhân vật thứ hai mà Nguyễn Công Trứ ngâm vịnh là:
Vịnh Khuất Nguyên
Thế nhân giai túy nhi giai trọc
Duy ngă độc tỉnh nhi độc thanh
Thuở hôn hôn ai tỏ dạ trung thành
C̣n nấn ná nữa chi cho bận
Cô phẫn chí thanh thiên khả vấn
Độc tinh nhân khứ quốc cơ không
Ḍng Mịch La dù đục dù trong
Đèn bất dạ hăy soi người thiên cổ
Bát ngát buổi giang thiên dục mộ
Tiếng ngư ca c̣n đồng vọng đâu đây
Nghĩ t́nh ai cũng xót vay.
Khuất Nguyên (340-278 tcn) người nước Sở thời Chiến Quốc, làm quan đến chức Tam
Lư Đại Phu, bị gièm nên vua Sở Hoài Vương không nghe lời ông can gián. Thấy nước
nguy dân khổ ông làm bài thơ Ly Tao tỏ chí khí ḿnh, cuối cùng nhẩy xuống sông
Mịch La trầm ḿnh. Hai câu chữ nho mở bài có nghĩa là: Người đời đều say sưa ô
trọc, riêng ḿnh ta tỉnh ḿnh ta trong. Nguyễn Công Trứ lấy ư từ bài Ngư Phủ của
Khuất Nguyên viết ra. Trong lúc tối tăm này, biết cùng ai tỏ dạ trung thành.
Chẳng c̣n nấn ná làm chi nữa. Phẫn uất ta muốn xé mây xanh hỏi trời, nhưng người
tỉnh bỏ đi thời nước tới vận nguy. Ḍng Mịch La dù đục dù trong, ngọn đèn soi
người thiên cổ không bao giờ tối. Chiều xuống trên sông, tiếng Ngư Phủ c̣n văng
vẳng nơi đây. Nghĩ t́nh mà thương vay cho ai.
Tiếp theo là bài:
Vịnh Trương Lưu Hầu
Năm năm uốn lưỡi trong màn
Một ḿnh ơn Hán nợ Hàn trả xong
Trương Lưu Hầu là Hàn công tử
Dơi năm đời chung đỉnh cân đai
Liều một dùi chưa trả nợ cố quân
Uốn ba tấc lấy thân thờ Hán chúa
Thuốc độc phun Tần lây đến Sở
Mùi thơm ngậm Hán Trút cho Hàn
Trong năm năm gây một mối giang san
Đền nợ trước ơn sau đều vẹn sóng
Trường phú qúy xem bằng mây mỏng
Túi Xích tùng riêng đủng đỉnh mái thanh sơn
Nhục vinh gác chuyện Tiêu Hàn.
Trương Lưu Hầu, tức Trương Lương, tự Tử Pḥng, ḍng dơi năm đời làm quan cho
nước hàn. Lúc nước Hàn bị Tần Thủy Hoàng tiêu diệt, Trương Lương báo thù cho vua
cũ, thuê người ám sát Tần Thủy Hoàng. Việc không thành, Trương Lương phải t́m
đường lẩn tránh. Sau ra giúp Lư Bang phá nhà Tần, diệt nưóc Sở, lập nên cơ
nghiệp nhà Hán. Khi Lưu Bang lên ngôi, Trương Lương thác bệnh xin đi theo Xích
Tùng Tử học đạo tiên, không ra làm quan, nhờ vậy tránh được cái họa chết chim bỏ
cung mà các tướng Hàn Tín và Tiêu Hà, những người đă cùng Trương Lương pḥ Lưu
Bang, phải chịu cảnh thân liệt danh bại.
Tiếp tới là bài:
Vịnh Hàn Tín
So tam kiệt ai bàng Hàn Tín
Một tay thu muôn dặn nước non
Những ngỡ rằng khoán thiết như son
Thái Sơn như lệ Hoàng hà như đới
Hạp tảo Ngũ Hồ song Phạm Lăi
Khước lưu tam kiệt độc Trương Lương
Đớn đau thay điểu tận cung tàng
Đầm vân mộng mắc phải mưu con trẻ
Nếu biết chữ khả hành khả chỉ
Thời Ngũ Hồ một lá cho xong
Làm chi lúng túng trong ṿng.
Trong ba vị tướng giỏi của Lưu Bang: Trương Lương Hàn Tín và Tiêu Hà, Hàn Tín là
người giởi nhất. Một ḿnh thu muôn dặm giúp Lưu Bang làm vua. Cứ tin vào lởi Hán
Cao Tổ viết trong khoán thiết đan thu: Dầu núi Thái Sơn ṃn chỉ c̣n bằng ḥn đá
mài, dầu sông Hoàng Hà cạn chỉ c̣n bằng một giải, thời cũng chẳng sai lời thề.
Sao chẳng sớm chơi Ngũ Hồ để thành hai Phạm Lăi, để khiến tam kiệt chỉ c̣n ḿnh
Trương Lương. (Phạm Lăi là mưu thần của Câu Tiễn vua nước Việt, giúp Câu Tiễn
dùng Tây Thi làm mê Phù Sai, vua nước Ngô. Khi Câu Tiễn diệt được Ngô, Phạm Lăi
từ quan đem Tây Thi đi chơi Ngũ Hồ). Buồn thay cảnh chim hết th́ dấu cung, khiến
bị mắc mưu Hán Cao Tổ ở đầm Vân Mộng. Nếu biết lúc nên làm th́ làm, lúc nên thôi
th́ thôi, thời thả lá thuyền câu Nơi Ngũ Hồ là xong. Cớ sao cứ lúng túng trong
ṿng.
Nh́n chung cả bốn bài vịnh sử trên đây, từ bài vịnh Di Tề, qua tới bài Vịnh
Trương Lương, người đọc dường như thấy Nguyễn Công Trứ từ quan điểm một nhà chân
nho, một ḷng thờ vua, chuyển dần sang một vị chân nhân, muốn trút bỏ mộng phong
hầu mà lui về điền viên vui cùng năm tháng, trong cảnh nhàn, như một vị chân
nhân Lăo Giáo.
Ngoài những bài vịnh sử, Nguyễn Công Trứ c̣n có hai bài Vịnh Xích Bích dựa theo
hai bài phú nổi tiếng của Tô Đông Pha, một nhà thơ đời Tống mà hoạn lộ cũng có
nhiều trắc trở như Nguyễn Công Trứ.
Bài thứ nhất là bài:
Vịnh Tiền Xích Bích
Gió trăng chứa một thuyền đầy
Của kho vô tận biết ngày nào vơi
Ông Tô Tử qua chơi Xích Bích
Một con thuyền với một túi thơ
Gió hiu hiu mặt nước như tờ
Trăng chếc chếch đầu non mới ló
Thuyền một lá xông ngang ghềnh bạch lộ
Buông chèo hoa len lỏi giữa sơn cương
Ca rằng:
Quế trạo hề lan tương
Kích không minh hề tố lưu quang
Diểu diểu hề du hoài
Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương
Người ỷ ca réo rắt khúc cung thương
Tiếng tiêu lẫn tiếng ca vang mặt nước
Sực nhớ kẻ cầm ngang giáo vịnh câu thơ ngày trước
Nghĩ sự dời thêm cảm nỗi phù du
Đành hay trời đất dành cho
Hay kho phong nguyệt ngh́n thu hăy c̣n
C̣n trời c̣n nước c̣n non.
Hai câu mưỡu là hai câu Nguyễn Công Trứ khởi hứng từ câu phú của Tô Đông Pha:
Duy giang thượng chi thanh phong
dữ giang sơn chi minh nguyệt
thử tạo vật chi vô tận tạng
nhi ngô dữ tử chi sở cộng thích.
nghĩa là: trên sông chỉ có gió mát, và trăng soi trên sựn núi, ấy là hai kho vô
tận của tạo vật mà quư bạn và ta cùng thích đó.
Ông Tô Thức, chơi thuyền trên sông Xích Bích, cùng với bạn uống rượu ngâm thơ.
Mặt sống gió nhè nhẹ gợn sóng, trăng chênh hếc hiện trên đầu núi, gác mái chèo
hoa mặc con thuyền trôi trong sương trắng. Cất tiếng hát rằng:
Chèo quế sào lan
trên mặt nước loang loáng ánh trăng
nao nao ḷng ta
nhớ người đẹp hề trời đất một phương
Tiếng hát lẫn tiếng tiêu vang đáy nước. Chợt nhớ đời Tam Quốc Tào Tháo đưa 85
vạn quân đánh Đông Ngô, thủy quân đóng trên sông Xích Bích. Gặp đêm sáng trăng,
Tào Tháo uống rưọu say cao hứng cầm ngang ngọn giáo đứng đầu thuyền mà hát. Ngày
hôm sau vào trận 85 vạn quân Tào tan vỡ. Nghĩ lại truyện này thêm thấm thía nỗi
phù du của con người. Riêng chỉ c̣n trăng thanh gió mát là tồn tại cùng núi sông.
Tiếp đến bài:
Vịnh Hậu Xích Bích
Sông Xích Bích vừng trăng sáng tỏ
Thầy Tô t́m thú cũ qua chơi
Bóng quang âm là đă mấy mươi
Mà non nước để xuôi ḷng cảm kích
Thi thành nhất búc thiên sơn tịch
Cô hạc hoành giang lược tiểu châu
Suốt năm canh bên gối mơ hồ
Chiếc thuyền luống đi về trong bóng nguyệt
Tiếng cười nói hỏi tên ǵ chẳng biết
Lúc trông vào nào thấy đâu nào
Ấy ngụi hay hạc xinh sao.
Nguyễn Công Trứ viết bài Hậu Xích Bích này theo bài của Tô Đông Pha. Theo Tô
Đông Pha, ông trở lại Xích Bích vào rằm tháng mười sau chuyến chơi trước đúng
hai tháng. Nhưng cảnh thơ vẫn làm ông cảm kích mạnh. Hai câu chữ nho trích từ
bài phú của Tô Đông Pha. Có nghĩa là:
Làm xong bài thơ ngàn núi tịch mịch
Ngang sông một cánh hạc bay ngang con thuyền.
Sau đó trong mơ Tô Đông Pha mơ thấy một vị đạo sĩ đến hỏi: “Chơi sông Xích Bích
có vui thú chăng?” Tô Đông Pha hỏi tên, đạo sĩ không nói. Ông hỏi: “Con hạc đêm
qua chính là nhà ngươi hay không”. Tỉnh dậy ông không thấy cả người lẫn hạc.
Chọn hai bài phú Xích Bích của Tô Đông Ba để lấy hứng viết hai bài hát nói trên
dây, người đọc Nguyễn Công Trứ không hỏi thấy ông đă đưa sắc Đạo vào tác phẩm
của ông.
Thế nên người đọc thơ Nguyễn Công Trứ không ai ngạc nhiên thấy trong túi thơ của
ông có nhiều bài hát nói ca tụng chữ
[20] - Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Xuân Thu tái bàn tại Hoa Kỳ,
tr.397.
[21] - Luận
Ngữ, sách đă dẫn, thiên 7: Thuật Nhi, chương XIV, tr.233
[22] - Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr.164.