Tiếng hát ca trù dường như một yết tố quan trọng trong việc sáng tác của
Nguyễn Công Trứ: quá nửa số thơ của ông con truyền tụng tới nay đều viết theo
thể hát nói. Trong lời giới thiệu cuốn Việt Nam Ca Trù biên khảo của Đỗ Bằng
Đoàn và Đỗ Trọng Huề, Nguyễn Đăng Thục viết[17] :
Chính ở ca trù chúng ta không những không thấy được cái chân tướng con người
sống động của giới trí thúc Việt Nam xưa, mà chúng ta c̣n thấy được cái tài dung
hợp Việt Hoá nào Đường thi, nào Từ nào Phú nào lục bát, nào song thất lục bát,
ngắn được dài được, đă thoả măn cho sự khao khát tự do ra ngoài lề lối nhất định
quá chật hẹp và mầu sắc phong phú trăm hoa.
Rất tiếc là Nguyễn Đăng Thục không đề cập tới mặt âm nhạc của những bài hát nói,
cũng như chưa có một nhà nghiên cứu nhạc lư nào đào sâu vào vấn đề này. Nên vấn
đề này c̣n bỏ ngỏ để cho người sau nghiên cứu, trước khi tiếng hát ca trù Việt
Nam hoàn toàn lặng tiếng.
B́nh luận về cái thú hát ả đào của Nguyễn Công Trứ, Lê Thước viết[18] :
Hát ả đào vẫn là truyện không nên, mà cụ lại thích hát, nhưng ta phải biết rằng:
cảnh ngộ của cụ biết bao nỗi tân toan, tâm sự của cụ biết bao điều uất tắc, cụ
chỉ mượn cái thú đó mà tả cái u hoài của ḿnh mà thôi, nào phải như ai say sưa
tuyết nguyệt, mê đắm phong hoa, chỉ biết cái thú vui trong tiệc rượu trận cười
thôi đâu ... Vậy cái thú ả đào không phải là không nên vui, chỉ sợ không biết
vui một cách cao thượng như cụ Nguyễn Công Trứ.
Từ thủa c̣n hàn vi Nguyễn Công Trứ đă mê thú cầm ca như ông ghi rơ trong bài:
Thú Thanh Nhàn
Nhàn trung thụy giác tam can nhật
Vắt chân ngồi bạn với khách cầm ca
Cuộc tỉnh say bầu rượu chén trà
Cơn đắc ư thùng thùng đôi tiếng trống
Bạch tuyết thanh cao oanh yến lộng
Quân thiều hưỏng triệt cổ chung minh
Này tiếng đàn tinh tính tỉnh t́nh tinh
Thú vui thú ném ngang vành tráng sĩ.
Cơi nhân sinh thích chí
Lúc thái b́nh hà nhật bất xuân phong
Của trần hoàn không có có không
Kho vô tận không không rồi lại có
Chữ tài ấy ăn chơi ờ đủ
Sôi kinh rồi đánh miếng đỉnh trung
Một mai bẻ quế thiểm cung
Trăng đua đàn nguyệt sấm rầm trống lôi
Trăm năm đài các lạ đời.
Ngày nhàn rỗi, mở mắt dậy mặt trời đă lên cao ba con sào, cái thú là đươc
truyện tṛ với bạn cầm ca, mở cuộc tỉnh say với bầu rượu chén trà, đang đắc ư
đánh thùng thùng đôi ba tiếng trống. Khúc Bạch Tuyết vút cao như oanh yến liệng;
nhạc Quân Thiều vang rội tiếng chống tiếng chiêng. Rồi tiếng đàn tinh tính tỉnh
t́nh tinh. đem vui thú lại cho người tráng sĩ. Ở đời có ǵ qúi hơn được thích
chí. Lúc thái b́nh này ngày nào mà không có gió xuân. của trần hoàn này không
rồi lăi có có rồi lại không, Chỉ có kho trời vô tận không rồi lại có. Sôi kinh
nấu sử rồi đoạt được miếng đỉnh chung, ngày nào bẻ quế cung thiềm là ngày đó lấy
trăng làm đàn lấy sấm làm trống.
Cái thú cầm kỳ thi tửu đó thường dẫn đến thú yêu hoa như Nguyễn Công Trứ viết
trong bài:
Yêu Hoa
Ngồi thử ngẫm trăm hoa ai nhuốm
Một hoa là riêng một sắc hương
Khi chưa xuân khép nép bên tường
C̣n phong nhụy đội đông hoàng về cáng đáng
Liễu tía đào hường mai trắng trắng
Lan tươi huệ tốt lư xanh xanh
Thêm hương khi gió lá mưa cành
Mở mặt thấy giang sơn cười chúm chím
Khách thập thúy say mầu hoa diễm
Đốt mặt hoa mà cầm mà kỳ mà tửu mà thi
Xin ai đùng dở cuộc ly phi
Trân trọng lấy hương trời cho trọn vẹn
Hoa với khách như đà có hẹn
Ưa mầu nào mầu ấy là xinh
Trăm hoa cũng bẻ một cành.
Trăm hoa đây là trăm cô đào hát, người nào cũng có sắc hương người đó. Tên hoa cũng thường trùng tên người đẹp, một hoa một mầu mỗi người một sắc, khách chơi xuân say mầu hoa, lại đuợc dịp cùng hoa mà cầm mà kỳ mà tửu mà thi. Yêu hoa, Nguyễn Công Trứ xin người xem hoa hay trân trọng giữ lấy hương trời v́ có đưọc cuộc gặp gỡ cũng là nhờ:
Duyên Gặp Gỡ
Minh quân lương tướng tao phùng dị
Tài tử giai nhân tế ngộ nan
Trai anh hùng gặp gái thuyền quyên
Trong nhất kiến tiên duyên như đă
Tỳ bà hữu hạnh phùng Tư Mă
Quân Tử đa t́nh cánh khả lân
Nọ mấy người tài tử giai nhân
Duyên chỉ thắm bỗng dần dần đưa lại
Dầu ngh́n dặm băng sơn quế hải
Đă t́nh duyên xe lại cũng nên gần
Liễu hoa vừa gặp chúa xuân
Châu Trấn c̣n có Châu Trần nào hơn
Anh hùng hà xứ bất giang sơn.
Vua giỏi gặp tướng tài âu c̣n dễ. Tài tử gặp giai nhân mới là thật là khó.
Trai anh hùng gặp gái thuyền quyên, mới lần đầu mà như đă do t́nh duyên gắn bó.
Như xưa người gẩy tỳ bà gặp quan tư mă, cảnh kẻ quân tử đa t́nh càng đáng thương.
Nọ là truyện mấy tài tử giai nhân, một khi xe mối duyên chỉ thắm, th́ dầu biển
bắc biển nam cách trở cũng hóa gần, liễu hoa gặp chúa xuân, lứa đôi nào có lứa
đôi nào đẹp hơn. Nơi nào mà chẳng là giang sơn của khách anh hùng.
Với cầm kỳ thi tửu, người quân tử rũ được nợ phong lưu nhưng lại mắc vào món nợ
t́nh, Nguyễn Công Trú cũng không thoát khỏi món nợ đó. Ông viết:
Chữ T́nh
Sầu ai lấp cả ṿm trời
Biết chăng chẳng biết hỡi người t́nh chung
Đa t́nh là nợ
Mắc mứu vào đố gỡ cho ra
Khéo quấy người một cái tinh ma
Trói buộc kẻ hào hoa biết mấy
Đă gọi người nằm thiên cổ dậy
Lại đưa hồn đúng ngũ canh đi
Nực cười thay lúc phân kỳ
Trông chẳng nói xiết bao nhiêu biệt lệ
T́nh cảnh ấy dẫu bút thần khôn vẽ
Càng tài t́nh càng ngốc càng si
Chữ t́nh là chữ chi chi.
Chữ t́nh là cái chi chi, th́ dương như chưa có ai trả lời được câu hỏi này. Nhưng trong mọi cuộc t́nh, đă có gặp gỡ là có chia ly, cảnh chia tay là thi cảnh của bài:
Kẻ Về Người Ở
Kẻ về người ở
Bồi hồi thay lúc phân kỳ
Khéo quấy người hai chữ t́nh si
Lửa ly biệt bùng bùng không lúc nguội
Bát ngát trăm đường bối rối
Biệt th́ dung dị kiến th́ nan
Chót đa mang khúc hát tiếng đàn
Nên dan díu mối t́nh chưa dứt
Sá nghĩ xa xôi ngàn dặm đất
Tiếc công đeo đẳng mấy năm trời
Khi ra vào tiếng nói giọng cười
Một ngày cũng là người tri kỷ
Sao nỡ để kẻ vui người tẻ
Gánh tương tư riêng nặng bề bề
Thương thay người ở đôi quê
Nẻo đi th́ nhớ nẻo về th́ thương
Tính sao cho vẹn trăm đường.
Dường như trăm đường khó vẹn cả trăm, khiến nhiều khi kẻ tài t́nh mắc lụy. Nguyễn Công Trứ ghi lại cảnh tài t́nh mắc lụy như sau
Tài T́nh
Ai chê rằng đểu cũng oan
Cuộc cờ bốn nước cung đàn một dây
Thế nhân mặc oán tài t́nh lụy
Không tài t́nh quang cảnh có ra chi
Thú tiêu sầu rượu rót thơ đề
Có yến yến hường hường mới thú
Khi đắc ư mắt đi mày lại
Đủ thiên thiên tập thập thêm nồng
Nợ phong lưu ai nỡ chối không
Duyên tri ngộ nên đeo đẳng măi
Thiên vạn khiến quân mạc quái
Nam nhi đáo thử thị hào
Gẫm tài t́nh ai lụy ai nào
Ai rằng lụy đây xin chịu cả
Trong trần thế thiệt là cảnh giả
Dứt tài t́nh chẳng uổng lắm ru
Xin xin đừng oán mà ngu.
Sau hai câu mưỡu, Nguyễn Công Trứ xin người đời chớ nên oán cái nợ v́ tài
t́nh. Không tài t́nh dường như cuộc sống thành vô nghĩa, v́ không c̣n rượu không
c̣n thơ, không c̣n cái thú yến yến hường hường, không c̣n bài hát không c̣n
tiếng ngâm, không c̣n mày đi mắt lại. Nợ phong lưu không trốn được khiến duyên
tri ngộ c̣n đeo đẳng măi. Trong trần thế này dứt lụy tài t́nh thật uồng, oán lụy
tài t́nh th́ thât thậm ngu.
Dứt lụy tài t́nh không phải là dễ, như Ông ghi lại trong bài:
Bỡn Cô Đào Già
Liếc trông giá đáng mấy mười mươi
Đem lạng vàng mua lấy tiếng cười
Giăng xế nhưng mà cung chẳng khuyết
Hoa tàn song nhụy lại c̣n tươi
Chia đôi duyên nọ đà hơn một
Mà nét xuân kia vẹn cả mười
V́ chút t́nh duyên nên đằm thắm
Khéo làm cho bận khách làng chơi.
Không biết có phải v́ cô đào này mà Nguyễn Công Trú viết bài thơ luật sau đây không:
Tương Tư
Tương tư không biết cái làm sao
Muốn vẽ mà chơi vẽ được nào
Khi đứng khi ngồi khi nói chuyện
Lúc say lúc tỉnh lúc chiêm bao
Trăng soi trước mắt ngờ chân bước
Gió thổi bên tai ngỡ miệng chào
Một nước một non người một ngả
Tương tư không biết cái làm sao.
Ngoài bài Tương Tư trên đây, Nguyễn Công Trứ c̣n để lại bài hát nói dưới đây, cho biết là nguời mà ông thương nhớ lá một cô đào hát, không biết có phải cùng là cô đào mà ông viết bài bỡn cợt trên hay không.
Một Ngày là Nghĩa
Ngao ngán lẻ kẻ về người ở
Sao kẻ về người ở đôi nơi
Cất chén quỳnh hăy tạm làm vui
Ḍng lệ chẩy vắn dài chua chát
Nào những lúc tiếng đàn chen tiếng hát
Nào nhưng khi tiếng phách lẫn tiếng sênh
Bấy lâu nay dan díu biết bao t́nh
Mà con tạo lọc lừa chi lắm thế
Chẳng trăm năm cũng một ngày là nghĩa
Lúc phân kỳ ai nấy ngẩn ngơ
Để ai tháng đợi năm chờ.
Có thoại kể rằng nhà thơ sau đó, v́ chút t́nh duyên đằm thắm đó cưới cô đào
này làm thiếp.
Nếu thật vậy, nguời đọc thơ Nguyễn Công Trứ tự hỏi, cô đào này có phải là người
vợ lẽ mà ông đă bỏ và ghi lại t́nh cảm trong bài dưới đây:
Bỏ Vợ Lẽ Cảm Tác
Mười hai bến nước một con thuyền
T́nh tự xa xôi đố vẽ nên
Tự biệt nhiều lời so vắn giấy
Tương tư nặng gánh chứa đầy thuyền
Rồi đây nỏ biết quên hay nhớ
Từ đó mà mang nợ với duyên
T́nh ấy trăng kia như biết với
Chia làm hai nửa rọi hai bên.
Trong đời sống, Nguyễn Công Trứ rộng răi bao dung không những với những nàng ca kỹ chốn đàn ca, ông c̣n thông cảm xót thương những người vợ lính vất vả đi thăm nom chồng mà ông chứng kiến trong những lần ông cầm quân đánh giặc. Đó là bài:
Gánh Gạo Đưa Chồng
Cái c̣ lặn lội bờ sông
Gánh gạo đửa chồng tiếng khóc ń non
Lộ diệc vũ trùng trung chi nhất
Thương cái c̣ lặn lội ḅ sông
Tiếng nỉ non gánh gạo đưa chồng
Ngoài ngàn dặm một trời một nước
Trông bóng nhạn bâng khuâng từng bước
Nghe tiếng quyên khắc khoải năm canh
Nghĩa tép tôm ai nỡ dứt t́nh
Ơn thủy thổ phải đền cho vẹn sóng
Trường tên đạn xin chàng bảo trọng
Thiếp lui về nuôi cái cùng con
Cao bằng cách trở nước non
Ḿnh trong trắng có quỷ thần a hộ
Sức bay nhẩy một phen năng nỏ
Đá Yên Nhiên c̣n đó chẳng ṃn
Đồng hưu rạng chép thẻ son
Chàng nên danh giá thiếp c̣n trẻ trung
Yêu nhau khăng khít giải đồng.
Hai câu mưỡu lấy từ ca dao:
Cái c̣ lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Nàng về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng
Câu chữ nho mở đầu bài hát nói có nghĩa là: ‘C̣ là một loại trong loài có
cánh’. Hai câu sau tác giả lập lại ư bài ca dao. Bốn câu kế tiếp nói hộ cái c̣
trong cảnh một trời một nước trong cảnh gánh gạo đi thăm chồng, rồi tới lúc chia
tay, chồng đi vào nơi tên đạn, cái c̣ về nuôi con, một ḷng tin vào sự phù hộ
của thần linh để chồng trọn vẹn nợ nước chờ ngày thắng trận rồi lại được yên ổn
yêu nhau khăng khít giải đồng.
Ngược lại, đối với một vài vai nữ như trong truyện nàng Nam Xương, sách Truyền
Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ, hay vai Thúy Kiều trong ánh thơ dài Kim Vân Kiều,
Nguyễn Công Trứ dường như nghiêng về luân lư nho giáo và phán xét các vai nữ này
một cách nghiêm ngặt. Ông viết trong bài:
Vịnh Nam Xương Liệt Nữ
Đọc đến truyện Nam Xương Liệt Nữ
Dẫu t́nh ngay song lư cũng là gian
Thực cùng chồng chi nỡ dói cùng con
Gương nữ tắc trông vào chưa phải lẽ
Đă có ngọn đèn chơi với trẻ
Thời chi chiếc bóng gọi là chồng
Tiếng phũ phàng chi nỡ trách đàn ông
Trong ṃ tối đèn ai nấy rạng
Bước chân ra chhua hề trông bóng thoáng
Bến Hoàng Giang ai khéo hẹn ḥ cùng
Mà gieo ḿnh xuống chốn Long Cung
Ngàn năm dầu đục dầu trong không bàn
Dẫu t́nh ngay song lư vẫn gian.
Nam Xương Liệt Nữ là một truyện trong bộ Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ [19],
môt danh tài thế kỷ XVI của Việt Nam. Truyện tóm tắt như sau:
Chàng Trương, quê ở phủ Lư Nhân, tỉnh Hà Nam, lấy vọ được một năm th́ bị gọi
lính. Người vợ lúc đó có thai và sinh ra được một đứa con trai, đặt tên là Đản.
Ngày con biết nói, chàng Trương măn lính trở về, th́ mẹ già đă mất, con trai vừa
học nói. Chàng bế con di thăm mộ mẹ. Đứa bé quấy khóc. chàng dỗ con: “nín đi
con, cha về bà đă mất, ḷng cha buồn lắm.” Đứa con nói: “Ô, thế ông là cha Đản
ư? Ông lại biết nói, không như cha Đản trước kia không hề nói một tiếng.” Chàng
rất đỗi ngạc nhiên. Đứa bé nói tiếp: “Khi ông chưa về, thường có một ông, đêm
nào cũng tới, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chả bao giờ bế Đản
cả.” Tính cả ghen, về đến nhà chàng Trương mắng nhiếc vợ. Người vợ khóc lóc kêu
oan, nhưng nói sao chàng Trương vẫn không tin. Hàng xóm láng giềng biện bạch cho
nàng cũng không xong. Nàng tủi thân chạy ra sông nhẩy xuống sông mất tích. Chàng
Trương thấy nàng tự vẫn động ḷng thương t́m vớt thay nhưng không thấy đâu cả.
Một đêm, nhà vắng vẻ, chàng ngồi bên ngọn đèn, chợt đứa con chỉ vào bóng chàng
nói rằng: “Cha Đản lại đến rồi” . Th́ ra khi chàng c̣n tại ngũ, vợ chàng thường
đùa với con, chỉ vào bóng ḿnh mà bảo đó là cha nó. Bấy giờ chàng Trương tỉnh
ngộ, nhưng chẳng c̣n biết làm ǵ hơn là lập đàn chay cho vợ. Dân làng thương
t́nh lập miếu thờ ở bên sông. Vua Lê Thánh Tôn, nhân đi qua miếu, có bài thơ như
sau:
Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương
Miếu ai như miếu vọ chàng Trương
Ngọn đèn dầu tắt đùng nghe trẻ
Làn nước chi cho lụy đến nàng
Chứng quả có đôi vừng nhật nguyệt
Giải oan chi mượn đến đàn tràng
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng.
Trở về bài hát nói của Nguyễn Công Trứ, ông không trách người chồng như vua
Lê Thánh Tôn, nhưng trách người vợ đă lừa dối đứa con dẫu là để đùa rỡn với con.
Như vậy th́ t́nh dẫu ngay, nhưng lư cũng là gian. Ngày nay nhiều người coi lập
luận của Nguyễn Công Trứ là quá nghiêm ngặt với thiếu phụ Nam Xương.
Sau bài vịnh Nam Xương Liệt Nữ, Nguyễn Công Trứ c̣n có bài dưới đây:
Vịnh Thúy Kiều
Đă biết má hồng th́ phận bạc
Trách Kiều nhi chưa vẹn tấm ḷng vàng
Chiếc quạt thoa đành phụ nghĩa Kim lang
Nặng v́ hiếu nhẹ v́ t́nh th́ cũng phải
Từ Mă Giám Sinh cho đến chàng Từ Hải
Cánh hoa tàn đem bán chốn thanh lâu
Bấy giờ Kiều c̣n hiếu vào đâu
Mà bướm chán ong chường cho đến thế
Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm
Bán ḿnh trong bấy nhieu năm
Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai
Nghĩ đời mà ngán cho đời.
Trong Truyện Kiều, Thúy Kiều bán ḿnh chuộc cha, là một hành động từng được
nhiều người ca tụng. Nguyễn Công Trứ cũng thừa nhận thuyết tài mệnh tương đố.
Ông trách Thúy Kiều bội nghĩa với Kim Trong khi quyết ḷng đặt chữ hiếu trên chữ
t́nh. Nhung v́ vậy mà Thúy Kiều làm vợ Mă Giám Sinh rồi qua hai lần sống trong
lầu xanh lại về làm vợ Từ Hải, do đó Nguyễn Công Trứ đặt câu hỏi là Thúy Kiều
trong bấy nhiêu năm đặt chữ hiếu ở đâu. Ông tin tưởng rằng người tiết nghĩa
không gặp cảnh bạc mệnh. Thế nên nỗi gian truân của nàng chính là do nết tà dâm
của nàng gây nên, không thể lấy chữ hiếu mà che đậy nổi.
Lời buộc tội Thúy Kiều của Nguyễn Công Trứ cũng được nhiều người tán thưởng,
cũng như có nhiều người khác chống đối. Vấn đề không phải là việc buộc tội này
đúng hay sai, lời buộc tội này chỉ cho thấy là Nguyễn Công Trứ thật ḷng tôn
trong hai chữ trung trinh của nho giáo.
Tạm dời ḍng thơ tiếng hát ca trù, người đọc thơ gặp ḍng thơ khác, trong đó
dường như thay v́ ghi lại những cuộc cờ mà là ḍng thơ mô tả thú: