Nếu trang trải món nợ cung tên, kẻ làm trai phải đi theo nẻo gấp sách múa kiếm, gian nan vất vả, th́ trái lại, trang trải món nợ phong lưu lại có nhiều điều thứ vị. Trong bài Thú Nguyệt Hoa trên đây, Nguyễn Công Trứ đă cho biết rằng rũ sạch ḷng trần, để chờ trăng lên để xem hoa nở đó là cái lăi của cái nợ phong lưu. Trong bài Nợ Phong Lưu, trên đây, ông cũng cho rằng nhởn nhơ trong cơi hồng trần để được thảnh thơi bầu rượu túi thơ cũng là đă trả được món nợ phong lưu. Ông c̣n nói rơ hơn trong bài dưới đây:
Nợ Phong Lưu
Suy mới biết ở đời ai cũng hớ
V́ tài t́nh nên vướng nợ phong lưu
Kho trời chung tiêu phí thấm vào đâu
Chơi là lăi dẫu chưa giầu nhưng chẳng kiết
Giả giả vay vay lâu cũng hết
Ky ky cóp cóp chắc hơn ai
Chỉ chịu thua tay chú thợ trời
Khéo tỉ mỉ nặn ra người làm múa rối
Nào nhục nào vinh nào hiển hối
Mặt ra hề thay đổi mấy mươi phen
Chẳng ǵ hơn rượu thánh thơ tiên
Trời đất ghét ghen chi với hắn
Thế sự phù vân hà túc vấn
Thiên kim táng tận hoàn phục lai
Hay chơi trời cũng chiều người.
Nguyễn Công Trứ cho biết nét tài t́nh là căn nguyên của món nợ phong lưu. Kho trời là của chung, dẫu chẳng giầu nhưng chẳng kiết th́ chơi là lăi. Nên dầu có nợ th́ rồi cũng trả hết, ky cóp cũng chẳng hơn ai. Bởi trời sinh ra con người bắt làm tṛ múa rối, nào nhục nào vinh nào hiển nào hối, tất cả chỉ là những vai hề. Vậy th́ c̣n ǵ hơn là ly rượu thánh câu thơ tiên, như thơ Vương Duy trong bài Chước Tửu Dữ Bùi Đích chẳng nói là việc đời như mây nổi, cần ǵ phải hỏi; chi bằng theo Lư Bạch viết trong bài Tương Tiến Tửu : ngh́n vàng tiêu hết rồi lại có.
Nhưng thời gian trôi qua không trở lại, khiến Nguyễn Công Trứ có bài sau đây về cái nợ phong lưu:
Chơi Xuân Kẻo Hết Xuân Đi
I
Nhật trầm tây lĩnh thủy đông lưu
Hoa khai xuân hề diệp lạc thu
Ngày tháng đi ḍng nước chẩy mau
Lần lữa măi cũng bạc đầu tráng sĩ
Thất thập chu nhan năng hữu kỷ
Lăo thành hối bất cập nhu nhân
Nợ phong lưu dan díu mấy mươi lần
Thú thi tửu lại chen chân gánh vác
Nữa một mai về làng tuổi tác
Cuộc cẩm thi phó thác mặc đương th́
Chơi xuân kẻo hết xuân đi.
Mặt trời lặn phía tây, nước sông chẩy về phía đông. mùa xuân hoa nở mùa thu lá rơi, ngày tháng qua ḍng nước chẩy xuôi, lần lữa măi rồi tráng sĩ cũng bạc đầu. Bẩy mươi tuổi mặt c̣n hồng hào hỏi được mấy ai; về già hối chẳng được bằng người. Nợ phong lưu đă bao lần dan díu, cuộc đàn thơ rượu hăy phải cố chen chân. kẻo mai mốt vào làng tuổi tác cuộc đàn thơ đành mặc bọn đương th́. Tác giả lấy câu ca dao: chơi xuân kẻ hết xuân đi lấy làm câu keo để nói cái cảnh già đang xồng sộc tới.
Câu keo này là đề tài bài hát nói dưới đây:
Chơi Xuân Kẻo Hết Xuân Đi
II
Ngẫm cho kỷ bất nhân là tạo vật
Đă sinh người lại hẹn lấy năm
Kề chi thằng lên bẩy đứa lên năm
Dầu ba vạn sáu ngàn ngày là mấy chốc
Lại mang lấy lợi danh vinh nhục
Cuộc đời kia lắm lúc bi hoan
E đến khi hoa rữa trăng tàn
Xuân nhất khắc để ngh́n vàng khôn đổi chác
Tế suy vật lư tu hành lạc
Hà dựng phú danh bạn thử thân
Xong bất nhân mà lại chí nhân
Hạn lấy tuổi để mà chơi lấy
Cuộc hành lạc bao nhiêu là lăi đấy
Nếu không chơi thiệt ấy ai bù
Nghề chơi cũng lắm công phu.
Câu mở đầu nhắc người đọc một câu trong chhưong V, sách Đạo Đức Kinh của Lăo Tử[16]:
Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu
Nghĩa là trời đất hay con tạo bất nhân coi vạn vật như con chó rơm. Chó rơm
là vật kết bằng rơm, dùng vào việc cúng tế, coi trọng trong khi cúng tế, xong lễ
rồi vứt bỏ tùy tiện, không chút thương tiếc. Câu này nghĩa là thiên địa không có
ḷng nhân, coi muôn vật như con chó rơm, khi hết cái dụng th́ vứt đi không
thương tiếc. Nguyễn Công Trứ suy đi nghĩ lại thấy rằng tạo vật cũng bất nhân,
sinh ra người hẹn cho sống được bấy nhiêu năm rồi bắt phải chết. Không kể đến
thủa c̣n lên năm lên bẩy, th́ đời sống con người đưọc mấy chốc. Con người lại
chót đa mang lợi danh, lúc vinh lúc nhục.
Đến lúc tuổi hạc đă cao, th́ như Tô Đông Pha đă viết trong bài Xuân Tiêu:
Xuân tiêu nhất khắc trị thiên câm
mà Nguyễn Công Trứ dịch là:
Xuân một khắc dễ ngh́n vàng khôn đổi chác
Tiếp tới hai câu chữ nho, trích từ bài Khúc Giang của Đỗ Phủ, nghĩa là:
Làm người nên hăy t́m vui
Cần ǵ danh hăo suốt đời nhọc thân.
Điều bất ngờ là theo Lăo Tử:
Thánh nhân bất nhân, dĩ bách tính như sô cẩu
nghĩa là: thánh nhân bất nhân, coi trăm họ như chó rơm, th́ Nguyễn Công Trứ,
khác với thánh nhân, viết:
Xong bất nhân mà lại rất nhân
Hạn lấy tuổi để mà chơi lấy
Cuộc hành lạc bao nhiêu là lăi đấy
Nếu không chơi thiệt ấy ai bù
Rồi tới câu keo:
Nghề chơi cũng lắm công phu.
Dưới cùng một đề tài, Nguyễn Công Trứ cho biết bốn nghề chơi đ̣i hỏi nhiều công phu là:
Cầm Kỳ Thi Tửu
I
Trời đất cho ta một cái tài
Giắt lưng đành để tháng ngày chơi
Dở duyên với rượu khôn từ chén
Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời
Cờ sẵn bàn son xe ngựa đó
Đàn c̣n phím trúc tính t́nh đây
Ai say ai tỉnh ai thua được
Ta mặc ta mà ai mặc ai.
Cầm kỳ thi tửu, là bốn món chơi nhà nho xưa cho là thanh nhă. Trong các tự điển
th́ bốn thú chơi này là câm kỳ thi họa, nhưng Nguyễn Công Trứ theo sách Trạng
Nguyên Ngũ Ngôn Thi, đă lấy thú uống rượu thay thú vẽ tranh. Trong bài hát nói
trên, ông lại đặt rượu lên hàng đầu. Rượu vào thơ ra nên sau rượu tới thơ, rồi
tới xe ngựa trên bàn cờ và cuối cùng là tiếng tơ tiếng trúc. Với bốn cái thú
chơi tao nhă đó, Nguyễn Công Trứ dường như không những quên được người và c̣n
quên được cả chính ḿnh. Phải chăng đó là một ngả thoát ra khỏi cái nợ phong
lưu?
Bài thứ hai là:
Cầm Kỳ Thi Tửu
II
Cầm kỳ thi tửu
Đường ăn chơi mỗi vẻ một hay
Đàn năm cung réo rắt tính t́nh đây
Cờ đôi nước rập ŕnh xe ngựa đó
Thơ một túi phẩm đề câu nguyệt lộ
Rượu ba chung tiêu sái cuộc yên hà
Thú xuất trần tiên vẫn là ta
Sánh Hoàng Thạch Xích Tùng ờ cũng đáng
Thơ rằng:
Cầm tử tiêu nhiên kỳ tứ sảng
Thi hoà lạc hỳ tửu hoài nồng
Một chữ nhàn đáng giá muôn chung
Người ở thế dẫu trăm năm là mấy
Sách có chủ nhân sinh thích chí
Đem ngàn vàng chác lấy cuộc đời
Chơi cho lịch mới là chơi
Chơi cho đài các cho người biết tay
Tài t́nh dễ mấy xưa nay.
Bốn đường ăn chơi: cầm kỳ thi tửu, mỗi nẻo một hay. Tiếng đàn réo rắt năm
cung, xe ngựa rập ŕnh đôi bên trên bàn cờ, thơ ca vịnh trăng mờ sương, chén
rượu thanh tao nơi khói ráng. Đó là những cái thú thần tiên xuất trần. Hai câu
thơ chữ nho nhấn mạnh bốn cái thú kể trên: tiếng đàn thanh tao, nước cờ sảng
khoái, câu thơ thích thú, chén rượu nồng say. Đó là cái giá vạn chung của chữ
nhàn. Người trần sống ở cơi trần thế mấy ai sống đủ trăm năm, sách có chữ sống
cho thoả chí, thế nên, đem ngàn vàng đổi lấy cuôc đời để chơi cho thanh lịch,
chơi cho tài t́nh.
Rồi đến bài thứ ba:
Cầm Kỳ Thi Tửu
III
Thi tửu cầm kỳ khách
Phong vân tuyết nguyệt thiên
Nợ tang bồng hẹn khách thiếu niên
Cuộc hành lạc vẫy vùng cho phỉ chí
Thơ một túi gieo vần Đỗ Lư
Rượu một bầu rót chén Lưu Linh
Đàn Bá Nha gẫy khúc tính tang t́nh
Cờ Đế Thích đi về xe pháo mă
Lúc vị ngộ Vị tân Sằn dă
Lấy bút nghiên mà hẹn với non sông
Xe Thang Văn nhất đán tao phùng
Bao nhiêu nợ tang bồng mang trả hết
Tri mệnh thức thời duy tuấn kiệt
Hữu duyên hà xứ bất phong lưu
Ngô nhân hà cữ hà ưu.
Khách thơ rượu đàn cờ, trong cảnh đẹp gió mây tuyết trăng. Tuổi c̣n trẻ mang
nợ tang bồng, hăy vẫy vùng trong cuộc chơi cho tḥa chí. Thơ đáng so với thơ Đỗ
Phủ và Lư Bạch, rượu uống nào kém người hiền Lưu Linh bên rừng trúc. Đàn gẫy
tính tang t́nh nào thẹn với Bá Nha. Nước cờ cao chẳng nhường vua cờ Đế Thích.
Lúc chưa thành đạt th́ khác nào Khương Tử Nha ngồi câu bên bến sông Vị, lúc chưa
gặp vua giỏi th́ đâu có khác Y Doăn thủa cày ruộng nơi đồng Sằn.
Đến khi gặp được minh vương như khi xe vua Thang đến đón Khương Tử Nha về lập ra
nhà Thương, hay xe vua Văn tới đón Lă vọng về giúp lập ra nhà Chu, đó là lúc đem
nợ tang bồng ra trang trải. Có giỏi mới biết được thời nắm được thê; Có duyên
phận th́ ở đâu mà chẳng phong lưu. C̣n sợ c̣n lo nỗi gi.
Không nhưng không c̣n lo sợ, bốn nẻo cầm kỳ thi tửu c̣n đưa Nguyễn Công Trứ vào
tiên cảnh, như ông ghi trong bài:
Ngao Du Thỏa Chí
Ngẫm cùng trăng gió vài câu cảnh
Tính với giang san mấy truyện đời
Thú ǵ hơn nữa thú ăn chơi
Chi giầu có sang hèn là phận cả
Đủ lếu láo với người thiên hạ
Tính đă quen đài các bấy lâu
Đàn một cung cờ một cuộc
thơ môt túi rượu môt bầu
Khi đắc chí ngao du ừ cũng phải
Đạo thông thiên địa hữu h́nh ngoại
Tú nhập phong vân biến thái trung
Hỏi giang sơn mấy kẻ anh hùng
Tri ngă giả bất tri ngă giả
Người có biết ta hay chăng tá
Chẳng biết ta ta vẫn là ta
Linh khâm bảo hợp thái ḥa
Sạch không trần lụy ấy là thần tiên
Ngang tàng lạc ngă tính thiên.
Dường như trong bài hát nói này Nguyễn Công Trứ muốn ghi lại những điều ông
cho là đáng nhớ trong việc tính sổ đời. Ông không thấy điều đáng ghi nhớ không
phải là truyện ông đă đậu giải nguyên, không phải truyện thăng trầm trên đường
làm quan, không phải truyện ông cầm quân dẹp giặc, không phải truyện ông hướng
dẫn người dân đi khai khẩn đất hoan, mà chính là cái thú ăn chơi khi đắc chí
ngao du, với đàn một cung, cờ một cuộc, thơ một túi rượu một bầu. Rồi ông trích
thơ Tŕnh Hiệu, đời nhà Tống: đạo hiện h́nh ngoài trong trời đất, ư gửi trong
ṿng chuyển biến gió mây. Hỏi giang sơn được mấy kẻ anh hùng, ngựi biết ta hay
không biết ta, th́ ta vẫn là ta, ḷng ta vẫn hợp với thái ḥa, không c̣n trần
lụy mới vào được cảnh tiên. Ngất ngưỡng ngênh ngang là tính trời của ta.
Bốn cái thú cầm kỳ thi tửu dẫn người đọc vào bốn nhánh thơ lớn của Nguyễn Công
Trứ:
- Từ khi c̣n trẻ cho tới khi ngoài 70 tuổi, tiếng hát tiếng đàn ca trù tạo cho
Nguyễn Công Trư mối duyên gặp gỡ với giai nhân, cùng cái chi chi với chữ t́nh
cùng mối sầu t́nh đeo đẳng.
- Nguyễn Công Trứ không viết nhiều về thú chơi cờ, nhưng viết về thú chơi tổ tôm,
những nước cờ hiểm hóc đổi dạng thành mưu mô xảo quyệt của ḷng người trên chiếu
bạc nhưng cũng là trên đường đời.
- Chén rượu nồng mở lối cho ḍng thơ say không bao giờ dứt.
- Túi thơ ngâm vịnh cảnh thiên nhiên, dẫn người đọc về ḍng thơ nhàn của Uy Viên
tướng công.
Bắt đầu là ḍng thơ :