Trang Trải Nợ Tang Bồng

Nguyễn Công Trứ trang trải món nợ tang bồng bằng cách theo đuổi nghiệp vơ, phải chăng v́ tang bồng là hai chữ thu ngắn từ bốn chữ tang bồng hồ thỉ, nghĩa là mũi tên làm bằng cỏ bồng, cây cung làm bằng gỗ dâu. Theo kinh Lễ, sinh ra con trai cha mẹ làm một cây cung bằng gỗ dâu một mũi tên cỏ bồng treo ở ngoài cửa, có ư mong mỏi cho con trai lấy sự cung tên làm sự nghiệp. Thế nên phải chăng Nguyễn Công Trứ thiết tha với nếp sống hào hùng như ông viết trong bài hát nói dưới đây là để đáp đền ước mong của cha mẹ theo đúng ư nghĩa kinh Lễ?

Quen Thú Vẫy Vùng
Hồ thỉ đă quen tay vũ trụ
Cầm thư chi lạ mặt quan hà
Túi giang sơn bốn bể cũng là nhà
Nền vương thổ cả trong trời đất Việt
V́ chẳng điền viên vui tuế nguyệt
Th́ đem thân thế hẹn tang bồng
Kém ǵ nam bắc tây đông
Đường thư kiếm vẫy vùng cho khắp đất
Dĩ khuất trượng phu ưng bất bất
Bảo an quân tử tín vô vô
Cuộc trăm năm chủ tố hành hồ
Bề khu xử quy mô hoàn tụ biệt
Cung tường ấy cho thiên hạ biết
Chắc rằng ai to nhỏ nhỏ to
May ra mở mặt làng nho
Quân dân một gánh giang hồ cũng xong
Nam nhi đáo thử thị hùng.

Việc cung tên đă quen khắp trời đất, kẻ đọc sách nào có xa lạ chốn xa xôi. Bốn bể đâu chẳng là nhà, dưới trời này đâu chẳng là đất vua [11]. V́ chẳng vui với ruộng vườn, th́ đem thân thế này hẹn với cung tên. Gấp sách múa gươm [12] vẫy vùng mọi nẻo. Kẻ trượng phu sống theo lời sách Mạnh tử [13] bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, và người quân tử thuận theo chữ sách Luận Ngữ[14] thưc vô cầu băo, cư vô cầu an. Suốt đời hành động theo ba chữ tố hành hồ [15]tùy địa vị của ḿnh mà làm, không cầu ở nơi ngoài, luôn luôn khu xử theo khuôn phép khác người thường, mặc ai to nhỏ nhỏ to, có vậy mới mong mở mặt làng nho. Câu keo là thơ Tŕnh Hiệu đời Tống :

Nam nhi đáo thử thị hào hùng
mà tác giả bài hát nói bỏ bớt chữ hào. 

Phải chăng v́ quen thú vẫy vùng như vậy mà Nguyễn Công Trứ t́m ra được nẻo trang trải món nợ tang bồng, như ông ghi lại trong bài:

Đi Quân Thứ
Bắc nam duy sở mạng
Đă mấy năm nặng gánh chốn biên quan
Lũ kiến ong mấy độ dẹp tan
Cơn sóng gió ra tay chèo chống vững
Con tạo ghét ghen chi mấy những
Anh hùng gặp gỡ nhẫn làm sao
Hội phong vân biết có dường nào
Ḿnh một bóng đành rằng nông nỗi thế
Hỏi thư kiếm có hay chăng nhẽ
Nợ tang bồng trả đặng lúc này chăng
Ra tay chữa lệch cho bằng.

Ngược bắc xuôi nam đều do lệnh vua. Mấy năm qua đôi vai gánh nặng nơi biên quan, lũ kiến ong đă dẹp tan, cơn sóng gió vững tay chèo cũng đă trải. Nhưng con tạo ghét ghen, khách anh hùng dành giữ chữ nhẫn. Đi t́m hội gió mây ắt đành phải một ḿnh một bóng, kẻ gấp sách cầm kiếm có hay chăng: đây là lúc trang trải mối nợ tang bồng.

Trang trải nợ tang bồng dường như là lẽ sống của người trai như Nguyễn Công Trứ viết trong bài:

Chí Nam Nhi
Ṿng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả trả vay
Chí làm trai nam bắc đông tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hăn thanh
Đă hẳn rằng ai nhục ai vinh
Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ
Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong
Chí những toan rời núi lấp sông
Làm nên tiếng anh hùng dâu đấy tỏ
Đường mây rộng thênh thênh cử bộ
Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo
Thảnh thơi thơ túi rượu bầu.

Điểm mới trong bài hát nói trên thu gọn trong hai câu chữ nho. Hai câu này là hai câu kết trong bài Quá Linh Đ́nh Dương của Vân Thiên Tường người đời Tống nghĩa là:

Từ xưa người đời ai không chết
[âu là] để lại tấm ḷng son soi sử sách

Cái điều sung sướng nhất của kẻ làm trai là trang trải cho xong món nợ tang bồng. Lúc đó mới là lúc thảnh thơi với cái thú thơ rượu.




[11] - Kinh Thi, thơ Bắc Sơn: Phổ thiên chi hạ, mạc vi vương thổ
[12] - Cuối đời Tần, Hạng Vũ, học sách không thành, bỏ đi học kiếm, sau nổi danh thiên hạ.
[13] - Sách Mạnh Tử chương Đằng Văn Công
[14] - Sách Luận Ngữ thiên Học Nhi, chương XIV, sach dă dẫn, tr. 25.
[15] - Sách Trung Dung có câu: quân tử tố kỳvị nhi hành, bất nguyện hồ kỳ ngoại