Ư thơ trong bài Đi Thi Tự Vịnh Trên đây cũng là ư thơ của hai bài hát nói sau đây:
Trần Ai Ai Dễ Biết Ai
Giang sơn bất thiểu anh hùng khách
Gánh kiền khôn đeo nặng kẻ rừng nho
Thiên phú ngô địa tái ngô
Thiên địa sinh ngô nguyên hữu ư
Dă thị giang sơn chung tú khí
Quả nhiên đài các xuất danh công
Hội rồng mây cho phỉ chí tang bồng
Cờ báo tiệp trời Nam trông nhè nhẹ
Tài bộ thế mà công danh thế
Nợ làm giai quyết giả cho xong
Dồi dào thiên tú vạn chung
Vương hầu xa mă tướng công lâu đài
Trần ai ai dễ biết ai.
Mở đầu bài hát nói, Nguyễn Công Trứ đề xướng là sông núi không thiếu khách anh hùng, nhưng kẻ sĩ trong rừng nho là người phải nặng vai gánh vác mọi việc. Trời che đất chở, Trời sinh ra ta đà có ư riêng; do khí thiêng sông núi đúc nên, tất phải làm nên công danh chốn đài các. Dầu đă may mắn trong hội rồng mây, nhưng chí tang bồng vốn là mong muốn của mẹ cha mong cho con lấy cung tên làm sự nghiệp. Nợ làm giai là thế nên phải trả cho xong. Có vậy mới xứng đáng với cảnh giầu sang với trăm cỗ xe bốn ngựa với bổng lộc muôn chung thóc. Rồi Nguyễn Công Trứ dùng câu kết bài Đi Th́ Tự Vịnh làm câu keo bài hát nói:
Trần ai ai dễ biết ai.
Câu keo này cũng là câu keo trong bài:
Nợ Tang Bồng
Vũ trụ giai ngô phận sự
Chẳng công danh chi đứng giữa trần hoàn
Chí tang bồng hẹn vói giang sơn
Đường trung hiếu chữ quân thân là gánh vác
Đă mang thân ở trong trời đất
Phải có danh ǵ với núi sông
Nợ sách đèn đem nghiên bút trả xong
Cầu xe ngựa lúc đi về mới tỏ
Duyên ngư thủy hội long vân c̣n đó
Miếng đỉnh chung cho rơ mùi đời
Nhắn trăng nhủ gió đua người
Bẻ cành đan quế cho rồi liền tay
Trần ai ai dễ ai hay
Chữ vũ trụ trong bài hát nói này dường như đồng nghĩa với chữ trời đất, thế nên câu mở đầu có nghĩa là trong trời đất này mọi việc đều là phận sự của kẻ sĩ. Chẳng có công danh th́ hỏi đứng giữa cơi trần này làm chi. Chí cung tên chót hẹn với non sông, theo đạo Nho là phải trung vói vua hiếu với cha. Đă mang thân sống trong trời đất này, phải có danh với núi sông. Là nhà Nho là mang nợ sách đèn, và v́ thế phải trang trải bằng nghiên bút. Tác giả chợt nhớ đến truyện người Tư Mă Tương Như, người đời Hán bên Trung Quốc, vào kinh đô t́m công danh có thê rằng:
bất thừa xa mă bất hoàn quá thử kiều
nghĩa là:
nếu không ngồi xe ngựa không về qua cầu này.
Như cá gặp nước như mây gặp rồng, ắt được hưỏng miếng đỉnh chung, quyết cùng trăng gió sẽ bẻ được cành quế để phen này. Cành đan quế là chữ lấy từ Tống sử
Túc nhiếp thanh vân thủ phan đan quế
nghỉa là:
chân giẫm mây xanh tay vin cành quế đỏ
để mô tả người đi thi đỗ.
Cũng trong đời Tống, khi xem bảng thấy tên ḿnh đă tự vịnh:
Đào hoa tiên thấu tam từng lăng
Nguyệt quế cao phan đệ nhất chi
dịch là:
Vượt ba tầng sóng hoa đào
Cung trăng quế đỏ cành cao vin cành.
Cũng cùng ư thơ bài Đi Thi Tự Vịnh, Nguyễn Công Trứ viết bài hát nói thứ ba:
Làm Cho Tỏ Mặt Nam Nhi
Thông minh nhất nam tử
Yêu vi thiên hạ kỳ
Trót sinh ra thời phải có cái chi chi
Chẳng lẽ tiêu lường ba vạn sáu
Truyện đố kỵ sá chi con tạo
Nợ tang bồng quyết giả cho xong
Đă xông pha bút trận th́ gắng gỏi kiếm cung
Cho rơ mặt tu mi nam tử
Trong vũ trụ đành là phận sự
Phải có danh mà đối với núi sông
Đi không chẳng lẽ về không.
Trích một câu trong bài Đường Giới tiễn bạn đi Trường An:
Nam tử yêu vi thiên hạ kỳ
nghĩa là: kẻ làm trai phải khác người thường trong thiên hạ. Nguyễn Công Trứ lại vốn coi ḿnh là một trang nam tử thông minh, nên phải làm nên việc khác thường trong thiên hạ.
Cụ Phan Bội Châu dùng ư thơ này viết thành câu:
Sinh vi nam tử yếu hy kỳ
nghĩa là: sinh làm trai phải khác đời.
Nói nôm na là đă sinh ra đời, suốt trăm năm chẳng lẽ chẳng lẽ chẳng làm nổi một việc ǵ; truyện con tạo ghét ghen chẳng đáng nói, quyết trả cho xong cái nợ cung tên, đă vào trận bút th́ cũng phải gắng gỏi cả việc kiếm cung, mới tỏ được mặt kẻ làm trai, mới tṛn được phận sự làm trai. Thế nên ông lấy câu mở đầu bài Đi Thi Tự Vịnh làm câu keo bài hát nói:
Đi không chẳng lẽ lại về không.
Đến khi thành đạt, chí tang bồng là động cơ thúc đẩy kẻ trượng phu hoàn tất chức vụ để xứng mặt anh hùng. Đó là chủ đề bài:
Chức Phận Kẻ Trượng Phu
Vũ trụ chức phận nội
Đấng trượng phu một túi kinh luân
Thượng v́ đức hạ v́ dân
Nên nỗi phải xuất thân mà gánh vác
Có sự nghiệp đứng trong trời đất
Không công danh nát với cỏ cây
Chí tang bồng hồ thỉ dạ nào khuây
Phải hăm hở ra tay kinh tế
Người đời thế giả nợ đời là thế
Của đồng lần thiên hạ của chung
Riêng nhau hai chữ anh hùng.
Với một túi kinh luân, phận sự kẻ trượng phu trong vũ trụ là trên th́ v́ người có đức, dưới v́ kẻ thứ dân mà đưa vai ra gánh vác. Không lúc nào lăng quên cái chí tang bồng hồ thỉ, luôn luôn hăng say ra tay kinh bang tế thê. Kiếp làm trai là như thế, giả nợ đời là như thế. Của đồng lần là của chung thiên hạ, thiên hạ hơn nhau chỉ v́ hai chữ anh hùng.
Phải chăng v́ hai chữ anh hùng này mà Nguyễn Công Trứ quyết tang bồng cho phỉ chí trưọng phu, như ông viết trong bài:
Có Chí Th́ Nên
Cùng đạt có riêng chi mệnh số
Hành tàng nào hẹn với văn chương
Đường công danh sau trước cũng là thường
Con tạo hóa sao dường ghen ghét măi
Duyên ngư thủy c̣n dành cơ hội lại
Quyết tang bồng cho phỉ chí trượng
Trong trần ai ai kém ai du
Tài bộ thế khoa danh ừ lại có
Độc thư thiên bất phụ
Hữu chí sự cánh thành
Giang sơn đành cậy nơi ḿnh
Mà vội mỉa tài t́nh chi mấy nhỉ
Đă sinh ra ở trong phù thế
Nợ trần ai quyết sẽ tính xong
Nhắn lời nói với non sông
Giang hồ hồ dễ anh hùng mấy ai
Thanh vân trông đó mà coi.
Lúc cùng quẫn lúc hiển đạt đâu chỉ riêng tại số mệnh, lúc ra làm việc lúc đi ở ẩn đâu có hẹn được với văn chương. Công danh sớm muộn là truyện thựng, nhưng con tạo dường như c̣n ghen ghét. C̣n cơ hôi găp được duyên cá nuớc, quyết tang bồng cho phỉ chí trượng phu. Trong trần ai nào ai có kém ai. Tài bộ thế khoa danh ăt phải có. Trời nào phụ kẻ đọc sách, có chí sự tất thành. Đă sinh ra trong cơi phù sinh này, nợ trần ai quyết sẽ tính xong. Đất nước này anh hùng dễ có mấy ai. Kẻ đă lọt bước mây xanh trông đó mà coi.
Cái nợ tang bồng c̣n đeo đuổi Nguyễn Công Trứ khi ông quyết định bước vào danh lợi, như ông ghi lại trong bài:
Tang Bồng Là Nợ
Tang bồng là nợ
Đấng làm trai chi sợ áng công danh
Phú quư tương dĩ hậu ngô sinh
Bần tiện tương dĩ ngọc ngô thành
Cái vinh nhục nhục vinh đắp đổi
Thùy năng thế thượng vong danh lợi
Tiện thị nhân gian nhất hóa công
Thôi thời thôi quân tử cố cùng
Cùng khi ấy hẳn là thông khi khac
Số tảo văn tùy cơ phó thác
Chớ như ai chắt bóp cũng tay không
Chơi cho phỉ chí tang bồng.
Biết rằng tang bồng là cái nợ, nên làm trai sao c̣n sợ hai chữ công danh. Được giầu sang âu là trời hậu đăi, nghèo hèn ấy là trời mài giũa cho thành người. Trên dường công danh cái vinh cái nhục đắp đổi. Nhưng ai là kẻ đă quên được hai chữ danh lợi, kẻ đó đă là ông trời ở cơi đời này. Người quân tử cũng có lúc cố cùng, như lời Vạn Biểu Thế Sư nói trong thiên Vệ Linh Công, sách Luận Ngữ [10]:
Quân tử cố cùng, tiểu nhân cùng tư lạm hỷ
nghĩa là:
Người quân tử cố giữ đạo lúc cùng, kẻ tiểu nhân lúc cùng sinh làm bậy. Số đỗ đạt sớm muộn là do trời phó thác. Âu là chơi cho phỉ chí tang bồng.
Nợ Tang Bồng, theo Nguyễn Công Trứ là ư nghĩa người đời, như ghi trong bài:
Nghĩa Người Đời
Ba vạn sáu ngàn ngày thấm thoắt
Từ mọc răng cho đến bạc đầu
Cơi nhục vinh góp lại có bao lâu
Ngồi thử ngẫm thợ trời thêm khéo quá
Núi tự tại cớ sao sông bất xả
Chim th́ lông hoa th́ cánh
Công đâu tạo hóa khéo thừa trừ
Từ ngh́n trước để ngh́n sau
Kết cục lại một người riêng một kiếp
Nhập thế cục bất khả vô công nghiệp
Xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân thân
Mà chữ danh liền với chữ thân
Thân đă có ắt danh âu phải có
Này phút chốc kim rồi lại cổ
Có hẹn ǵ sau chẳng bằng nay
Râu mày kia hỡi râu mày.
Tám câu đầu bài hát nói đưa người nghe hát vào cảnh thơ mới. Cảnh thơ này mang mầu sắc của một nguời suy tư về cái ngắn ngủi của kiếp người, và như chợt ngỡ ngàng trước cái khéo trường cửu của thiên nhiên: từ ngàn xưa tới ngàn sau, núi không ṃn, sông không cạn, chim có bộ lông đẹp, hoa có cánh xinh.
Người nghe hát như chợt nhớ đến đoạn mở đầu chương Thiên Vận sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử:
Trời vận động chăng? Đất ở yên chăng? Mặt trời mặt trăng tranh chỗ chăng? Ai chủ trương những cái ấy? Ai giữ giềng nhưng cái ấy? Ư giả trong đó có máy móc ràng buộc mà chẳng thể dừng được chăng? Ư giả nó vần chuyển mà chẳng thể dừng laị chăng? [...] Thượng Hoàng đấy.
Theo Nguyễn Công Trứ trong cái chuyển biến vô cùng vô cực đó, mỗi người có một kiếp riêng, nhưng có điều chung, như viết trong hai câu chữ nho: đă vào thế cục không thể không có công nghiệp, ra khỏi ḷng mẹ là đă có vua có cha.
Câu này như một tín lư Nguyễn Công Trứ lấy từ đạo Nho, và ông suy diễn ra một nghệ thuật sống phù hợp với cái mâu thuẫn giữa nếp sống theo Lăo Trang và nếp sống theo Khổng Mạnh.
Theo ông, chữ danh liền với chữ thân (chữ thân này là h́nh hài thể xác của con người). Sinh làm người, theo tín lư nho giáo, th́ phải có công nghiệp để tạo chữ danh trường tồn với sông núi.
Thế nhưng từ ngàn xưa tới ngàn sau âu cũng chỉ là phút chốc, trước cái thừa trừ của con tạo, chẳng có cái ǵ sẽ tới lại hơn được cái đang diễn ra hiện nay.
Kẻ râu mày phải sống sao cho thuận với hai cái điều trái ngược này.
Ngoài cái nợ tang bồng, Nguyễn Công Trứ c̣n nhiều cái nợ khác, khi ông đă dấn thân vào ṿng danh lợi, tỷ như cái nợ phong lưu mà ông thường nhắc nhở tới trong nhiều bài hát nói.
Thú Nguyệt Hoa
Nhân sinh thất thập cổ lai thiểu
Trẻ thơ ngây tuổi tác tính làm chi
Giữa trung gian quang cảnh bấy nhiêu th́
Khi ấm lạnh lại khi phiền năo
Năng đắc kỷ thời khai khẩu tiếu
Cư chư hoàn phụ thử quang âm
Sao bằng rũ sạch trần tâm
Khi ngoạn nguyệt khi xem hoa nở
Giải kiết dẫu sao sao nữa
Nợ phong lưu tính đă lăi rồi
Ngàn vàng chác lấy trận cười.
Bài hát nói này, có bản chép đầu đề là Nợ Phong Lưu. Câu mỏ bài là một câu thơ trong bài Khúc Giang của Đỗ Phủ:
Nguyễn Công Trứ đổi chữ hy thành chữ thiểu để gieo vần cho bài hát nói. Không kể khi c̣n bé dại và khi tuổi đă xế chiều, khi phiền năo ốm đau, c̣n người dễ có mấy lần mở miệng cười. Thế nên lần lữa là phụ thời gian. Há nên rũ sạch ḷng trần để chờ trăng lên để đem ngàn vàng đổi lấy trận cười.
Món nợ phong lưu c̣n là nguồn hứng của Nguyễn Công Trư trong bài hát nói dưói đây:
Nợ Phong Lưu
Cơi trần thế nhân sinh là khách cả
Nợ phong lưu kẻ giả có người vay
Trong trần ai ai biết ai hay
Làm ra đứng phi thường cho rơ mặt
Quân tử dụng tâm vô đó tật
Trượng phu xủ thế hữu kinh quyền
Bất vưu nhân bất oán thiên
Ba vạn sáu ngh́n ngày thích chí
Năm ba chén trà nhân rượu trí
Một vài câu thơ thánh phú thần
Nhởn nhơ trong cơi hồng trần
Gặp ngày chung đỉnh đai cân cũng vừa
Thảnh thơi bầu rượu túi thơ.
Trong cơi trần thế này con ngựi chỉ là khách qua đựng. Món nợ phong lưu có người trả có người vay. Nhưng sao biết được ai hay hơn ai, nếu không làm ra rơ mặt kẻ phi thựng. Nguyễn Công Trứ dùng sách Nho học để chỉ cái nẻo trả nợ phong lưu. Người quân tử phải dụng tâm ngoài ṿng ghen ghét. Kẻ trượng phu xử thế lúc kinh theo lẽ thường, lúc quền theo lẽ biến, chẳng trách người mà cũng chẳng oán trời, đúng như lời sách Trung Dung:
Thượng bất oán thiên, hạ bất vưu nhân
cố quân tử cư dị dĩ sĩ mạnh
nghĩa là:
trên chẳng oán trời, dưới chẳng trách người
nên người quân tử ăn ở giản dị mà đợi mệnh trời.
Suốt đời chỉ t́m điều thích chí, nhưng không dời hai chữ nhân và trí mà vui cùng thơ phú, nhởn nhơ trong cơi bụi hồng, thảnh thơi bầu rượu túi thơ chẳng màng truyện chung đỉnh cân đai.
Dường như Nguyễn Công Trứ là người độc nhất trong văn học Việt Nam chủ trương rằng làm trai là mắc nợ tang bồng, vào ṿng danh lợi là mắc nợ phong lưu. Và Nguyễn Công Trứ cũng là người độc nhất chỉ cho người đọc thơ cách trang trải hai món nợ này.