Mở Lời

Nguyễn Công Trứ (1778-1857) là một trong những nhà thơ mà người đời nay bàn luận tới nhiều.  Lê Thước dường như là người đầu tiên nghiên cứu về sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Công Trứ, xuất bản cuốn Sự nghiệp và thi văn của Uy viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ từ năm 1928[1]. Lê Thước viết [2]:

Người hào kiệt th́ không chịu lẩn quất trong cơi khuôn sáo người thường, thế nên trong hành vi của cụ Nguyễn Công Trứ, nhiều khi h́nh như lạ mắt trái tai, mà trong văn chương của cụ lắm khi trái với tục kiến của người đời [...] khiến người đời sau xem thơ cụ, đọc văn cụ không sao khám phá được tâm sự của cụ

Từ Lê Thước, tiếp theo nhiều tác giả khác, phần đông cho rằng cuộc đời Nguyễn Công Trứ là một mâu thuẫn khó hiểu, và v́ vậy gặp khó khăn khi xếp hạng Nguyễn Công Trứ theo khuynh hướng văn học.

Cách đây gần hai chục năm, Vũ Đ́nh Trác xuất bản luận án Thạc Sĩ của ông tŕnh tại Đại Học Fujen, Đài Loan, năm 1970, duới đầu đề Triết Lư Chấp Sinh Nguyễn Công Trứ[3].

Ông chứng minh là Nguyễn Công Trứ là người đặt nền tảng cho một ḍng triết lư thực tiễn, gọi là Triết Lư Quân B́nh, là Đạo Sống Toàn Diện và là Triết Lư Chấp Sinh của Dân Tộc Việt Nam. Luận án của Vũ Đ́nh Trác là một công tŕnh triết học. Ông đối chiếu triết lư chấp sinh của Nguyễn Công Trứ với triết thuyết của hầu hết các triết gia hiện sinh Âu Châu như Soren Kierkgaard, Karl Jasper, Gabriel Marcel, Albert Camus, Jean Paul Sartre và đi xa hơn nữa là Nikola Berdiaev,  Edmund Husserl, Martin Heidegger rồi cả Fyodor M Dostoevsky, và Frederic Nietzsche.

Dùng chữ của Vũ Đ́nh Trác, th́ cuộc phiêu lưu triết học này đă giúp ông thấy Nguyễn Công Trứ là một nhà nho có một nếp sống thực thi được hai chữ chấp sinh. Hai chữ này suy từ sách Trung Dung [4]:

chấp kỳ lưỡng đoan
hay câu:
doăn chấp quyết trung

trong Kinh Thư[5]. Cả hai câu đều có nghĩa là không thiên lệch, không chủ, không duy mà có tính cách quy hội hoà đồng, bao dung, gồm cả trên dưới và trong ngoài.

Triết học không phải là một môn học phổ quát tại Việt Nam hay nói rộng hơn của ngựi Đông Á. Tuy nhiên không v́ thế người Đông Á không có một nền triết học. Nền triết học của người Đông Á hiển hiện trong nghệ thuật sống, bàng bạc trong thơ văn.  Bởi thế, bàn về triết học của người Đông Á, nói riêng là người Việt Nam, là bàn về thơ văn, v́ từ xa xưa thơ là tiếng ḷng của tác giả và văn dùng để chở đạo.

Trở lại luận án triết Lư Chấp Sinh Nguyễn Công Trứ, của Vũ Đ́nh Trác, người đọc tự hỏi :

ngoài kinh sách nho học, Nguyễn Công Trứ có  dùng kinh sách Phật Lăo để định hướng đời sống của ông không?

Mục tiêu của cảo luận này là đọc thơ của Nguyễn Công Trứ để sơ lưọc trả lời câu hỏi trên.

Kết quả cho thấy là thời Nguyễn Công Trứ là thời mà tam giáo c̣n là nền tảng tinh thần căn bản của xă hội. Nếp sống của kẻ sĩ thời đó gồm một  bên là nếp sống hữu vi của Nho Học, một bên là nếp sống vô vi của Phật và Lăo Học. Hai nếp sống này đối lập nhau và họp thành một cặp mà giới nghiên cứu Âu Châu gọi là coindentia oppositorum [6]. Cặp đối lập này là phương pháp thông dụng trong nhiều bộ môn khoa học nhân văn, đặc biệt là trong các bộ môn siêu h́nh, thần học, tôn giáo đối chiếu để giúp người khảo cứu nh́n thấy những điều trái ngược nhau đồng thời hiển hiện trong cái Một. Nh́n thấy hai mặt trái ngược nhau trong cùng cái Một, là nh́n thấy những sắc thái khác nhau của cái Một. Phương pháp nghiên cứu này không phải là một phương pháp xa lạ với người Đông Á. Đó là phương pháp để Lăo Tử đă dùng để nh́n thấy Đạo qua hai chữ đối đăi, trong sách Đạo Đức Kinh và cũng như để Trang Tử t́m ra là vô công, vô kỷ, vô danh là h́nh ảnh của những bậc chân nhân, thần nhân và thánh nhân, như từng nhắc lại nhiều lần trong sách Nam Hoa Kinh.

Ứng dụng đường lối phân tích này vào việc đọc thơ Nguyễn Công Trứ là công nhận sự hiện hữu của cặp đối lập giữa hữu vi và vô vi trong thơ Nguyễn Công Trứ, người đọc thơ Nguyễn Công Trứ không c̣n thấy những trái ngược, những mâu thuẫn nữa mà trái lại thơ Nguyễn Công Trứ chính là h́nh ảnh cái cân bằng bền vững giữa hai nếp sống có từ ngàn xưa của người Việt hay nói chung là của người Đông Á.

Kết quả cho thấy là, Nguyễn Công Trứ đă thực sự sống theo đúng một mẫu người trí thức Trung Quốc nói riêng và Đông Á nói chung, theo mô h́nh của Bạch Cư Di, tóm tắt dưới ng̣i bút của Lâm Ngữ Đường[7] như sau:

le lettré chinois “utilise le confucianisme pour régler sa conduite, le bouddhisme pour purifier son intelligence, et l’histoire, la peinture, les montagnes, les rivières, le vin, la musique et le chant pour calmer son esprit”. Il vivait dans le monde et cependant n’y était pas.

Câu hỏi thứ hai mà ngựi đọc Nguyễn Công Trứ tự hỏi là tại sao đa số thi phẩm của Nguyễn Công Trứ để lại cho đời sau đều dùng thể hát nói?

Trả lời câu hỏi này ngựi đọc Nguyễn Công Trứ thấy là, dùng thể hát nói, ông đă áp dụng một phương pháp truyền thông rất gần với phương pháp mà Trang Tử đă dùng để viết sách Nam Hoa Kinh. Với phương pháp này, Trang Tử cũng như Nguyễn Công Trứ đă chia xẻ được kinh nghiệm sống cá nhân tới đa số độc giả,  qua ba ngả, lần lượt dùng ngụ ngôn, trùng ngôn và chi ngôn để việc truyền thông giữa tác giả với đại chúng không c̣n là những bài văn chở đạo khô khan, mà trái lại thành những khúc hát dẽ dàng đi sâu vào ḷng người.

Bắt đầu là:




[1] - Lê Thước, Sự Nghiệp và Thi Văn Uy Viễn Tưóng Công Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Tân, Hà Nội 1928
[2] - Lê Thước, sách đă dẫn, tr. 28.
[3] - Vũ Đ́nh Trác, Triết Lư Chấp Sinh Nguyễn Công Trứ, Hội Ái Hữu  Orange, California 1988.
[4] - Trung Dung, chương VI.
[5] - Thư Kinh, Đại Vũ Mô
[6] - Mircea Eliade, Méphistophélès et l’androgyne, Folio Essai, Gallimard, Paris 1962, p.176 ff
[7] - Lin Yutang, L’Importance de Vivre, Picquier Poche, Paris 2007, p. 418