Truyền Thông điểm Internet

Hội Kín Tại Hoa Kỳ

Dưới chủ dề Hội Kín, ban điểm sách Truyền Thông điểm và tổng hợp một số bài viết, tác giả không kư tên đăng trên Internet. Bạn đọc Truyền Thông có thể dễ dàng t́m lại được những bài viết này trong Google dưới tiêu đề Secret Societies Cái điều đúng sai của bài viết này ở mức đúng sai thông thường của một bài viết cài trên lưới tin . Đáng tin hay không tùy bạn đọc.

Sách viết về những hội kín ngày nay rất nhiều. Nhưng người đọc dường như khó mà t́m ra hai tác giả những sách đó đồng ư với nhau về định nghĩa của hai chữ hội kín. Tuy nhiên, những tác giả này dường như đồng ư với nhau ở một điểm là ảnh hưởng của những hội, mang danh là hội kín, trong xă hội dân chủ tôn trọng hiên pháp tại Hoa Kỳ cũng như tại Âu Châu ngày nay, trên các trường học mọi cấp, trên các nhà thờ mọi tôn giáo, trên kinh tế, chính trị và cả văn hoá, mỗi ngày một thêm sâu đậm. Phương tiện để đạt tới mục tiêu của các hội kín này rất hữu hiệu, thường th́ che đậy kín đáo, nhưng đôi khi sỗ sàng, và bằng cả hai cách họ đều đạt tới mục tiêu, mà họ nhắm trước. Mục tiêu này, do một thiểu số đứng trong hậu trường dật dây quyết định. Họ tự coi là những phần tử ưu tú của nhân loại, nhân danh chủ chương trào lưu hoàn vũ hóa dành quyền lănh đạo mọi chính phủ trên thế giới, theo chiều hưóng do họ đề đặt ra. Họ thành công trong việc kiểm soát môi trường chính tri, kinh tế, tài chánh, truyền thông, kể cả quân sự, để tiến tới việc tẩy năo toàn thể nhân loại và thống trị thế giới.

Những trang sau đây tŕnh bày sơ lược:

I. đặc điểm chung của các hội kín, và
II. nêu danh một số nhỏ những hội kín tiêu biểu tại Hoa Kỳ.

Theo giới nghiên cứu theo rơi những hoạt động của các hội kín, th́ người đọc có thể t́m thấy qua những sách báo đă xuất bản, những đĩa video, hay trên băng tần kênh History and Discovery, là những hội kín, thường mang những huy hiệu lấy từ những thần thoại cổ truyền, tỷ như hai ống xương chân và chiếc đầu lâu, h́nh đầu con sơn dương, h́nh sao năm cánh nội tiếp trong một ṿng tṛn, v.v... để biểu thị mục đích của hội, cũng như để hội viên có thể nhận ra nhau. Rộng hơn, dường như các hội kín thường có những đặc tính chung kể sau:

1. Hội viên thường tự coi ḿnh thuộc thành phần ưu tú, đứng trên thế nhân, biết đuợc sự thật. Sự thật mà họ biết này không bao giờ được tiết lộ cho bất kỳ kẻ nào không ở trong hội. Biết được sự thật như vậy, họ tự sánh ḿnh với Thượng Đế toàn năng.
2. Hội viên mọi hội kín đều có hai cá tính, một cá tính là cá tính của một hội viên đối với người cùng hội; hai là cá tính của một ngựi b́nh thựng sống trong xă hội. Điều này khiến họ tự coi ḿnh sánh ngang với Chúa Ba Ngôi, nên cao hơn thế nhân.
3. Việc huấn luyện hội viên mới đều theo phương pháp truyền miệng, mỗi lần chỉ dậy một vài điều nhỏ nhặt, cho tới khi hội viên mới này đủ khả năng thăng tiến trong thang cấp bậc của hội. Việc huấn luyên truyền miệng này rất cần thiết, nhất là trong việc huấn luyện những điểm bí mật, tránh được nạn thất thoát bí mật của hội.
4. Người theo đạo Công Giáo thường tự cho ḿnh là kẻ có tội tông đồ khao khát được cứu dỗi; trái lại hội viên hội kín không tin như vậy, và tin là ḿnh khác người thường nên không mắc tội tổ tông, v́ vậy không cần đến sự cứu dỗi, v́ vậy hấp thụ dễ dàng giáo điều của hội.

Về tổ chức nội bộ của hội, giới nghiên cứu cho rằng không mấy khác tổ chức các hội kín có từ ngàn xưa, thời sáng lập Bạch Liên Hôi, Thiên Địa Hội tại Trung Quốc, hay thời trung cổ khi các hội kín như Paganisme hay Luciferianisme mới khởi xướng. Hội kín ngày nay cũng tổ chức thành những tổ nhỏ, dù bí mật hay công khai, thường hai người ở trong hai tổ khó mà biết ai là người cùng hội. Hội viên mới, dù là hội kín Đông Á hay Tây Phương thường đều phải qua một lễ nhập hội, có tục uống máu ăn thề. Nội dung nhưng lời thề này cũng chẳng mấy khác nhau, cốt giữ ḷng trung thành của hội viên với hội, với đồng bạn, quyết tâm giữ trọn bí mật của hội dầu phải hy sinh tính mạng. Về chủ đích của hội thường thường mỗi hội có một chủ chương rơ ràng khác biệt nhau, tùy theo địa bàn hoạt động của từng hội.

Người ngoài hội, từ ngoài nh́n vào những hội kín thựng thấy những đoàn thể này nhiều khi mang những mầu sắc huyền hoặc, thường bị coi là mê tín dị đoan. Lịch sử cận đại thường ghi lại những đoàn quân cảm tử Trung Quốc, mang bùa chú, tin rằng súng đạn không hại nổi ḿnh, ngă gục trước làn đạn của liên quân Âu Mỹ ở lănh địa Thượng Hải. Có thể cũng v́ tin ở những điều huyền hoặc mà nhiều hội kín tại các nước theo đạo chúa Ky Tô thường thường đối lập với nhà thờ Công Giáo cũng như Tiên Lành. Nhiều tên tuổi trong giới văn học, tỷ như Orwell, H.G. Wells, Kipling, G.B. Shaw, v.v... đă dành cho nét huyền hoặc của các hội kín này một mầu sắc thiêng liêng, họ tin rằng con người nếu từ bỏ nhân quyền, ngoan ngoăn vâng lệnh thượng cấp, những người hiểu biết hơn ḿnh, th́ trái đất này sẽ trở thành cơi địa đàng.

Trong xă hội Bắc Mỹ hiện nay, khó có ai biết rơ nổi là có bao nhiêu hội kín. Không thể có một cơ quan điều tra nào có đủ khả năng theo rơi hoạt động của mọi hội kín. Ngược lại các hội kín thường thường cài người trong các cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ an ninh. Thế nên không một ai biết rơ mọi hoạt động của mọi hội kín. Cũng v́ vậy, những đoạn tiếp theo tŕnh bày rất sơ lược về quá tŕnh, cùng tên tuổi của những hội viên đă từng nắm giữ những vai tṛ quan trọng trong chính quyền, cũng như trong giới kinh tế tài chánh, nghiên cứu đại học, cùng tôn giáo, truyền thông của một số hội kín hiện c̣n đang hoạt động trên đất Hoa Kỳ. Bắt đầu là:

Nhóm Bilderberg.

Nhóm Bilderberger là một hội đồng gồm chừng 130 hội viên, gồm toàn những nhân vật đă từng có hay đang nắm thực quyền, mỗi năm họp một lần, để bàn về những kế hoạch dân vận để dần tiến tới mục tiêu cuối cùng là thiết lập một chính phủ duy nhất cho toàn cầu. Trụ sở của nhóm này đặt tại Leiden, South Holland, Netherland. Cứ bốn năm hội nghị họp tại Hoa Kỳ hay Gia Na Đại một lần. Năm 2007 này, hội nghi họp tại khách sạn Ritz –Carlton, tại Istamboul, Thổ Nhĩ Kỳ, trong tháng 6 vừa qua.

Danh hiệu Bilderberg của nhóm này nguyên là tên của khách sạn Bilderberg tại Ooterbeek, gần Arnhem, Ḥa Lan, nơi nhóm họp hội nghị lần thứ nhất vào ngày 29 tháng 5 năm 1954. Tuy nhóm này không hẳn là một hội kín, nhưng những hội viên thường trực hay thượng khách tới tham dự đều coi là đoàn viên của nhóm. Nhóm Bilderberg này do Joseph Retinger, một người di trú gốc Ba Lan, khởi xướng. Trước phong trào bài Mỹ tại Tây Âu, mỗi ngày một lớn mạnh, Joseph Retinger lo ngại và đề nghị những nhà lănh đạo tại Tây Âu cùng Hoa Kỳ chung sức mở một phong trào gây niềm thông cảm trên mặt văn hóa giữa Tây Âu và Hoa Kỳ. Retinger tŕnh dự án này lên Hoàng Tử Bernhard của Ḥa Lan, người đồng ư và cùng thủ tướng chính phủ Hoà Lan Paul Van Zeeland cùng một người Hoà Lan nữa là Paul Rijkens lập một bản danh sách những người được mời tới tham dự, theo thể thức mỗi quốc gia có hai đại biểu, một đại diện cho phái tự do và một cho phái bảo thủ. Hội nghị thành công tốt đẹp khiến ban tổ chức quyết định đổi hội nghị thành hội nghị thựng niên, ban thường vụ do Retinger đảm nhiệm. Ngoài nhiệm vụ tổ chức hội nghị, ban thường vụ lo việc mời các tân hội viên, lập một lưới truyền tin liên lạc các đoàn viên. Mục tiêu chính thức của nhóm là tạo lập một mối liên lạc giữa Hoa Kỳ và Tây Âu để chống lại mối đe dọa của họa cộng sản quốc tế.

Năm 1960 Retinger từ trần, nhà kinh tế học Ernst van der Beugel lên thay thế giũ chức vụ thư kư thường trực của nhóm. Hoàng Tử Bernhard tiếp tục giữ chức chủ tịch cho tới năm 1976, năm xẩy ra vụ tai tiếng với hăng Lockheed. Do đó hội nghị năm đó không thành. Năm sau 1977, hội nghị tái họp dưới quyền chủ tọa của Alec Douglas Home, cựu thủ tướng phủ Anh. Tiếp theo là Walter Scheel, cựu Chủ tịch Tây Đức, rồi tới Lord Carrington, cựu tổng thư kư của Minh Ước Bắc Đại Tây Dương, NATO.

Ngoài giới chính trị gia, đoàn viên nhóm Bilderberg c̣n gồm những nhà tài phiệt, những chủ nhân cơ sở truyền thông, các chủ tịch giám đốc hăng dầu hỏa. Địa điểm nơi hội nghị nhóm họp được công bố với báo chí thế giới, nhưng thành phần tham dự cùng những vấn đề bàn căi là những điểm tối mật của nhóm này.
 

Hội Đồng Ngoại Giao

Hội đồng ngoại giao là tên phỏng dịch của Council on Foreign Relations, viết tắt sau đây là CFR.

CFR là một tổ chức thành lập từ năm 1921, đặt trụ sỏ tại số 58 đường 68 tai Nữu Ước, và một văn pḥng phụ tại Washington, DC. Với những thành viên tên tuổi, với những công tŕnh nghiên cứu, những hội nghị do CFR chủ chương, người ta cho rằng CFR là một tổ chức tư mạnh nhất trên đất Hoa Kỳ, nếu không kể tới bộ Ngoại Giao. CFR c̣n phát hành tập san Foreign Affairs, phát hành mỗi hai tháng.

Thời sơ khởi, CFR là một tổ chức gồm 150 thành viên, tất cả đều là những học giả lỗi lạc, gọi là “The Inquiry” có nhiệm đề ra những đường lối đối ngoại cùng đối nội giúp tổng thống Hoa Kỳ đương thời Woodrow Wilson. Trong thời khoảng hai năm 1917-1818, những học giả này, trong đó có đang tá Edward M. House, và Walter Lippmann đă sáng tác tới 2000 tài liệu phân tách trên mặt chính trị, kinh tế, và xă hội, để phụ giúp tổng thống Wilson. Những tài liệu này đă giúp tổng thống Wilson đề ra chiến lược 14 điểm về ḥa b́nh hậu chiến.

Thế chiến I chấm dứt, sang năm 1919, những học giả sang Anh để họp cùng một số nhà ngoại giao và học giả thuôc Royal Institute of International Affairs (RIIA). Tham dự cuộc hội thảo này, ngoài những nhà chính trị như Paul Warburg, Herbert Hoover, c̣n có sử gia James Thomson Shotwell của đại học Columbia, Archibald Coolidge của đại hoc Harvard và Charles Seymour của đại học Yale.

Bắt đầu từ tháng 7 năm 1921, CFR lập trụ sở chính thức tại Nữu Ước, với số 108 thành viên, dưới sự lănh đạo cũa Elihu Root và John W. David. Cả hai thành viên này cùng là luật sư của JP Morgan & Co. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1924, David được bầu làm ứng cử viên đảng Dân Chủ.

Tiếp đó thành viên CFR gồm những tên tuổi quen thuộc như John Foster Dulles, Averell Harriman, thân cận với gia đ́nh Rockefeller.

Edwin Gay đề nghị thành lập tập san bốn tháng một kỳ Foreign Affairs và đề cử Archibald Coolidge, giáo sư đại học Havard làm chủ bút, và Hamilton F. Armstrong, phóng viên tờ New York Evening Post làm phụ tá chủ bút.

John D. Rockefeller tiếp tục đổ tiền vào quỹ của CFR. Năm 1944, bà quả phụ Harold I. Pratt tặng CFR toà nhà bốn tầng, mang tên là The Harold Pratt House, tại góc đường 68 và Park Avenue, Nữu Ước để làm trụ sử mới. Hiện nay trụ sở CFR vẫn ở địa chỉ này.

Hậu duệ của John D Rockefeller tuần tự gia nhập CFR, David Rockefeller thành một vị giám đốc trẻ tuổi nhất năm 1949, rồi thành chủ tịch năm 1970 cho tới 1985; sau đó tiếp tục giữ chức vị chủ tịch danh dự.

Cac hăng công kỹ nghệ lớn Hoa Kỳ là nguồn tài trợ thứ hai của CFR. Do đó những vấn đề liên quan tới công kỹ nghệ cũng được đề ra để những nhà nghiên cứu bàn căi.

Trong thế chiến II, có nhiều thành viên CFR tham chính trong chính phủ liên bang. Henry Stimoson trở thành phụ tá tổng trưởng chiến tranh, và từng đề ra nhiều kế hoạch quan trọng. McCloy, nguyên là cố vấn luật pháp cho gia đ́nh Rockefeller và ngân hàng Mahattan, được tổng Thống Truman đề cử làm thống đốc ngân hàng Quốc Tế, rồi sau đó c̣n làm cố vấn về vấn đề giải giới cho tổng thống Kennedy và chủ tịch uỷ ban đặc biệt về vụ khủng hoảng tại Cuba. Lewis W. Douglas, một thành viên của CFR và là anh em rể với Mc.Cloy được tổng thống Truman phong chức đại sứ Hoa Kỳ tại Anh Quốc.

CFR có tầm ảnh hưởng xâu rộng trên chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Từ 1949 tới 1944, suốt năm năm CFR quản trị trong ṿng bí mật tuyệt đối chương tŕnh War and Peace do Rockerfeller tài trợ. Mức bí mật cao đến độ trong số 663 thành viên của CFR thời đó nếu không tham gia vào chương tŕnh cũa ban này hoàn toàn không được biết ǵ về hoạt động của CFR trong ban khác.

Chương tŕnh này gồm bốn ban: kinh tế và tài, an ninh và vơ khí, địa phương và sau hết là chính trị. Riêng ban an ninh và vơ khí do Allen Dulles đảm nhiệm đă gửi qua bộ Ngoại Giao 682 giác thư. Allen Dulles sau đó thành một nhân vật quan trọng trong ngành gián điệp, CIA. William Bundy ca ngợi CFR đă giúp chính phủ Hoa Kỳ trong việc đặt nền móng cho chương tŕnh viện trợ Marshall Plan cho Âu Châu. Số thành viên của FCR tăng lên 1000. Trong một bài viết mang tựa đề The Source of Soviet Conduct, phát hành trong tập san Forein Affairs năm 1947, George Kennan đề ra kế hoạch “Containment”. Kế hoạch này được chính phủ liên bang Hoa Kư áp dụng trong suốt bốn chục năm sau đó.

Thống tướng Dwight D. Eisenhower, sau chiến thắng ở Âu Châu giải ngũ và làm Chủ Tịch đại học Columbia tại Nữu Ước., cũng đă từng làm chủ tịch CFR. Có người kể rằng mọi hiểu biết của tướng Eisenhower về kinh tế đều là những điều mà ông học được trong thời gian này. CFR lập ra một ban nghiên cứu mang tên Americans for Eisenhower để phụ giúp vào việc tranh cử tổng thống của tướng Eisenhower. Trúng cử, tổng thống Eisenhower đă mời nhiều thành viên CFR giữ nhiều bộ quan trọng trong chính phủ.

John Foster Dulles, một luật sư của hăng dầu hỏa Standard, và là một thành viên kỳ cựu của CFR và Rockefeller Foundation được cử làm tổng trưỏng Ngoại Giao. John Foster Dulles công bố chính sách ngoại giao mới của chính phủ Eisenhower tại Henry Pratt House như sau:

There is no local defense wich alone will contain the mighty land power of the communist world. Local defenses must be reinforced by the further deterrent of massive retaliatory power.

Sau bài diên văn đó, CFR đưa ra một ban nghiên cứu vấn đề Vơ Khí Hạch Nhân và Đường Lối Ngoại Giao, và chọn Henry Kissinger, một học giả thuộc đại học Havard làm trưởng ban. Năm sau, 1957, Henry Kissinger xuất bản một tập sách mang cùng tựa dề. Cuốn sách đó là một thành công rực rỡ khiến tác giả nổi tiếng khắp nước Hoa Kỳ và cuốn sách đứng đầu bản sách bán chạy nhất trong toàn quốc trong nhiều tuần lễ.

Ngày 24 tháng 11 năm 1953 William Henderson tŕnh bày trước một ủy ban nghiên cứu về chiến tranh tại Việt Nam. Nội dung bản báo cáo này không được tiết lộ.

Suốt bốn năm, từ 1964 tới 1968, bang giao giũa Hoa Kỳ và Trung Quốc đều theo đường lối do CFR đă bày ra. Henry Kissinger tiếp tục viết trong tập san Foreign Affairs, rồi đến năm 1969 được tổng thống Nixon mời là cố vấn An Ninh Quốc Gia. Ông bí mật sang Bắc Kinh đàm phán với Mao Trạch Đông. Năm 1972 tổng thống Nixon du hành sang Trung Quốc. Sau đó tổng thống Carter và tổng trưởng ngoại giao Cyrus Vance b́nh thường hóa mối bang giao Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Nhiều thành viên CFR, tham chính trong chính phủ liên bang Hoa Kỳ bị tai tiếng đă lợi dụng địa vị bẻ cong đường lối ngoại giao v́ tư lợi. Allen Dulles, giám đốc CIA bị tố cáo là có cổ phần trong United Fruit Compagny, tại xứ Guatemala, mà lật đổ chính quyền xứ này, sau khi công ty này bị quốc hữu hóa. Trước đó anh em ông Dulles là luật sư của văn pḥng Sullivan & Cromwell, đại diện cho hăng dầu hoả Standard Oil. Khi vào chính quền, cả hai người cùng dính lứu tơi chiến dịch Ajax nhằm lật đổ Mohammed Mossadegh tại Ba Tư, sau khi ông này quốc hữu hóa chi nhánh hăng British Pretroleum tại xứ này. Chiến dịch thành công, Mahommed Reza Pahalavi lên ngôi vua, 40% số lượng dầu thô sản xuất tại Ba Tư thuộc về các hăng dầu Hoa Kỳ, trong đó có hăng Standard Oil.

Tháng 11 năm 1979, chủ tịch CFR, David Rockefeller, cùng Henry Kissinger, John McCloy khuyến cáo tổng thống Carter để cho vua Ba Tư vào Hoa Kỳ chữa bệnh. Việc này đă gây ra vụ Ba Tư bắt giữ nhân viên ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ làm con tin, cho tới khi Reagan lên nhiệm chức tổng thống mới được tha.

Ảnh hưởng của CFR không chỉ ở trong giới hạn về ngoại giao quốc tế. Người đọc chỉ cần liếc qua danh sách thành viên của CFR, ngày nay lên tới con số 3700 hội viên vĩnh viễn, life members. Ngoài sô hội viên lâm thời, nhiệm kỳ 5 năm dành cho những thành viên trẻ tuổi, từ 30 tới 36 tuổi rất đông đảo, c̣n có 250 thành viên đại biểu các hăng công kỹ nghệ lớn, tỷ như Alcoa, Bank of America, Boeing, Exxon Mobil, Ford Motor, General Electric, IBM, Lockhed, Time Wagner, v.v... Các hăng công kỷ nghệ, ngân hàng này trở thành một nguồn tài trợ đáng kể cho CFR.

CFR vẫn trung thành với mục tiêu ban đầu là đứng ngoài tranh chấp giữa hai chính đảng Cộng Ḥa và Dân chủ. Thâu nhận một sô thành viên gốc Do Thái và Phi Châu. Xét về địa vị xă hội, người ta nhận thấy là từ thế chiến II, hầu hết các cựu tổng thống Hoa Kỳ đều từng có thời là thành viên CFR; có chừng ngoài mươi vị tổng trưởng, và có bẩy tổng thống tại chức tới trụ sở CFR đọc diễn văn, trong số đó Bill Clinton và George W. Bush; rất đông cựu cố vấn an ninh, thống đốc ngân hàng, luật sư, giáo sư, cựu nhân vên CIA, rất đông những tai mắt trong ngành truyền thông.

Kể từ năm 1962, bắt đầu có một số sĩ quan không quân tham dự vào một vài chương tŕnh của CFR, sau dó là những sĩ quan các quân chủng khác cũng tham dự vào nhiều chưong tŕnh khác của CFR.



Trang b́a tập san Foreign Affairs


Chiến cuộc tại Việt Nam cũng đă là một mũi dao chia rẽ thành viên CFR. Năm 1970, Hamilton Fish Armstrong tuyên bố sau 45 năm lèo lái tập san Foreign Affairs. Tân chủ tịch David Rockefeller mời một thượng khách của gia đ́nh ông, William Bundy thay thế. Phái phản chiến trong CFR nhất tề phản đối việc này viện cớ rằng William Bundy từng là nhân viên của bộ ngoại giao, rồi bộ quốc pḥng, rồi CIA, nên không thể đúng đầu một tờ tạp san độc lập được. Có nhiều thành viên c̣n kết tội William Bundy là “phạm nhân chiến tranh”, war criminal, căn cứ trên quá tŕnh của ông. Kinh tế gia John Charles Galbraith từ chức năm 1970 để phản đối ban thương vụ CFR mời nhân viên chính phủ tới thuyết tŕnh định kỳ, hai lần trong một năm.

Tháng 7 năm 1973, sau khi bị thất bại trong vấn đề Nhật Bản tại một buổi họp của Bilderberg, David Rockefeller dùng tiền của Rockefeller Foundation, cùng Zbigniew Brezezinski và một vài thành viên của Brooking Institution, Ford Foundation, thành lập Trilateral Commission, tạm dịch là Ủy Ban Nghiên Cứu Ba Bề, viết tắt sau đây là TLC. Tháng 10 năm 1973, ban thường vụ TLC họp tại Tokyo. Tháng 5 năm 1975 đại hội đồng TC họp lần thứ nhất tại Kyoto, tổng thống Jimmy Carter tới tham dự. Ngày nay TLC gồm khoảng 300 tới 350 thành viên từ Âu Châu, Á Châu (Á Châu và Hải Dương Châu) và Bắc Mỹ. Mục đích của TLC là thắt chặt mối tương quan giữa ba miền kể trên, ba miền kỹ nghệ chính của thế giới. Thành viên chia đều cho ba miền, gồm những chủ tịch nhưng hăng cong kỹ nghệ, lănh đạo các chính đảng, những học giả nổi danh, các viện trưởng đại học, lănh đạo nghiệp đoàn và nhiều mạnh thường quân. Thành viên nào tham chính tại nước ḿnh đều phải từ nhiệm.

Bắc Mỹ có 107 thành viên trong TLC trong số đó 15 thành viên Gia na Đại, 7 thành viên Mễ Tây Cơ, và 85 thành viên Hoa Kỳ. Nhóm Âu Châu gồm 150 thành viên, người Áo, Bỉ, Cyprus, Cộng Ḥa Tiệp, Đan Mạch, Estonia, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Hung Gia Lợi, Ireland và Ḥa Lan, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Romania, Nga, Slovenia, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ và Anh. Lúc đầu, năm 2000, vùng Á và Hải Dương Châu, chỉ có 85 thành viên Nhật Bản, nay tăng 111 thành viên gồm 75 Nhật Bản, 11 Nam Hàn, 7 Úc và New Zealand. Nhóm Á Châu Thái B́nh Dương có 9 thành viên từ Hoa Lục, Hồng Công và Đài Loan.

TLC bị giới hoạt động chính trị cũng như giới đại học lớn tiếng công kích, nhất là khi được biết tổng thống Jimmy Carter đă bổ nhiệm 26 cựu thành viên TLC vào những chúc vụ quan trọng trong chính phủ liên bang Hoa Kỳ và chính Jimmy Carter cũng là một cựu thành viên TLC nữa. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1980, ba ứng cử viên Jimmy Carter, John Anderson và George H. W. Bush đều cùng là thành viên TLC. Riêng Ronald Reagan không phải là cựu thành viên hội đó, nhưng khi được bầu làm ứng cử viên đảng Cộnh Ḥa th́ Ronald Reagan chọn George H.W. Bush làm ứng cử viên phó tổng thống cùng danh sách với ông. Sau khi trúng cử, tổng thống Ranold Reagan bổ nhiệm một vài thành viên TLC vào chính phủ của ông. Năm 1984, ông mở một buổi tiếp tân dành cho hội TLC tại ṭa Bạch Cung.

Hội John Birch tố cáo TLC là một hội có ư đồ tiến tới việc tạo lập một chính phủ thống trị toàn thể thế giới.

Jeremiah Novak viết trong tập san Atlantic nói rằng trong vụ tăng gía dầu thô năm 1977 tố cao TLC như sau:

The Trilateralist’ emphasis on international economic is not entirely disinterested, for the oil crisis forced many developing nations, with double repayment abilities, to borrow excessively. All told, private multinational banks, particularly Rockefeller’s chase Manhattan, have loaned nearly $52 billions to developping countries. An overhauled IMF would provide another source of credit for these nations, and would take the big private banks off the hook. This proposal is the cornerstone of the Trilateral plan.

Tập Đoàn Illuminati




Tập đoàn Illumina là tên gọi nhiều cơ sở bí mật hay hội kín. Thông thường là hội kín Bavarian Illuminati, một hội của nhưng người đă được illuminated, thành lập từ cuối thế klỷ thứ XVIII. Chữ illuminati, theo từ nguyên Hy Lạp có nghĩa là những người đă được rửa tội theo đạo Công Giáo. Đằng khác theo tự điển Microsoft Encarta 2000, th́ danh từ này chỉ một nhóm Công Giáo ly khai Alumbrados ở Tây Ban Nha. Gần đây nữa, tới cuối thế kỷ thứ XVIII danh từ này chỉ một hội kín do Adam Weishaupt sáng lập tại vùng Bavarian, Đức Quốc. Hội kín này chủ chương lấy lư trí để thắng những điều mà họ cho là huyền hoặc của tôn giáo. Hiện thời, Illuminati là danh từ chỉ một nhóm tài phiệt, tự coi ḿnh là những người sinh ra đă ‘ngộ’, dùng tiền bạc khuynh đảo trật tự xă hội dần tiến tới đích cuối cùng là thống trị toàn thể thế giới. Nhóm illuminati liên kết cùng với nhóm Bilderburg, có nhóm Council of Foreign Relations cùng nhiều nhóm khác nữa. Khác với những nóm kể trên, nhóm Illuminati mang thêm mầu sắc huyền bí của một hội kín cổ, có một lịch sử ngoài 225 năm, liên tiếp là những vụ tạo phản, conspiracy.

Vụ tạo phản đầu tiên chính chính là cuộc sống của Adam Weishaupt. Ông ta rửa tội thành tín đồ công giáo, rồi thành một giáo sư dậy luật giáo hội Canon Law tại đại học Inglecot, rồi lại bỏ đạo Công Giáo theo phe Luciferian tạo phản. Năm 1770, Adam Weishaupt khởi công thảo một kế hoạch để đưa ư thức hệ Lucifeian bao trùm toàn thể nhân loại, sau khi xă hội đương thời đă bị một cơn băo chuyên chế ma quái tàn phá.

Weishaupt hoàn tất kế hoạch này ngày 1 tháng 5 năm 1776. Kế hoạch này đ̣i hỏi sự xụp đổ của mọi chính quyền quốc gia địa phương cùng giáo quyền tôn giáo hiện thời. Mục tiêu là chia rẽ quần chúng thành những phe phái đối lập, trên mọi mặt: chính trị, xă hội, kinh tế, khiến dễ bề tạo nên nhưng vụ nội chiến, để làm suy nhược mọi thành phần tham chiến, rồi cuối cùng tiêu diệt tất cả những tiềm lực của chính phủ cùng phe đối lập và những cơ sở tôn giáo.

Kế hoạch Adam Weishaupt đề nghị để phái Illuminate thi hành gồm bốn giai đoạn như sau:

1. Dùng tiền bạc, sắc đẹp để mua chuộc những người đang có trong tay những địa vị then chốt trong mọi giai tầng và ngành chuyên môn của chính quyền. Dùng mọi cách để kiểm soát đối tác, như áp lực chính trị, đe dọa về tài chánh, phanh phui trước dư luận, kể cả bạo động hay gây đổ máu.
2. Tuyển chọn đoàn viên Illuminati trong giới giáo sư, sinh viên các trường cao đẳng, đại học, có khả năng xuất chúng, con nhà thế phiệt, có khuynh hướng hướng ngoại, và khuyến khích cho họ theo học những ngành học có tính cách quốc tế, bằng những học bổng, tựa như Rhodes Scholarship. Tạo cho họ ấn tượng là những người có tài cao thiên bẩm có quyền hưởng đặc trên mọi người khác.
3. Đặt những sinh viên xuất sắc đă được tuyển chọn vả huấn luyện cùng những illuminati đă mua chuộc được vào nhưng địa vị đứng trong hậu trường như các cố vấn chuyên môn/đặc biệt của các chính phủ. Những người này đều có nhiệm vụ bầy ra những kế hoạch hay những phương lược, theo chiều hướng phục vụ mục tiêu cuối cùng, của Illuminati: tạo ra một chính phủ độc nhất thống trị toàn cầu Vậy nên, những kế hoạch bày ra, về lâu về dài sẽ khuynh đảo chính quyền đă chọn họ làm cố vấn.
4. T́m cách kiểm soát báo chí đại chúng để thuyết phục họ một chính phủ thống trị toàn cầu là giải pháp duy nhất cho những khó khăn trước mặt. Cố gắng làm chủ hay kiểm soát mọi đài vô tuyến truyền thanh và truyền h́nh.

Qua bốn điểm do Adam Weishaupt bày ra trên đây, và nh́n vào hiện tại, ít ai không nh́n ra là hệ thống truyền thông ở khắp nơi trên trái đất này đang bị kiểm soát trên mọi tầng lớp; cũng như mọi cấp chính phủ dều bị xâm nhập và kiểm soát như Adam Weishaupt dự tính.

Nh́n lại chuyển biến của lịch sử từ khi tập đoàn Illuminati bắt đầu hành động, lúc đó Anh Quốc và Pháp quốc là hai đại cường. Thế rồi nhiều cuộc chiến tranh thuộc địa bùng nổ, kể cả cuộc Revolutionary War tại Hoa Kỳ đă làm suy nhược đế quốc Anh. Tại Pháp, cuộc cách mạng năm 1789 lật đổ vương quyền tại Pháp.

Weishaupt ra lệnh khởi động cuộc cách mạng tại Pháp từ năm 1784. Người phụ tá là nhà văn Zwack, gốc người Đức, ghi lại lệnh đó như một tờ truyền đơn dấu trong một cuốn sách nói về lai lịch của tổ chức Illuminati cùng kế hoạch của Weishaupt và sai người cầm tay tới Robespierre, một người Pháp đă được Weishaupt ủy thác điều hành cuộc cách mạng của nước Pháp. Trên đường từ Đức qua Pháp, liên lạc viên này bị xét đánh chết. Cảnh sát t́m thấy cuốn sách và nộp lên nhà chức trách Bavarian.

Sau khi nghiên cứu cuốn sách, nhà chức trách Bavarian ra lệnh khám nhà Weishaupt, và trụ sở hội Tam Điểm vừa thành lập và có liên quan chặt chẽ với Weishaupt. Cuộcf điều tra cho thấy là những tài liệu tịch thu là bằng cớ của một kế hoach của Illuminati nhắm khuynh đảo chính quyền.

Năm 1785, chính phủ Bavarian đặt Illimati ra ngoài ṿng pháp luật và đóng cửa hội tam điểm địa phương. Năm 1786 chính phủ này c̣n tŕnh bày chi tiết của kế hoạch tạo phản viết thành cuốn The Original Writingof The Order and Sect of the Illuminati, xuất bản và gửi cho những người lănh đạo nhà nước và tôn gíao tại Âu Châu.

Đồng thời Weishaupt ra lệnh cho thành viên Illuminati phải xâm nhập vào những tổ Blue Masonry của hội Taqm Điểm, và tạo ra một hội kín trong ḷng nhưng hội kín khác. Chỉ có những hội viên tam điểm có khuynh hướng hoạt động trên diện quốc tế hay tỏ ra là kể dối đạo Chúa mới được tuyển lựa tham gia vào nhưng hoạt động này. Trong việc xâm nhập vào những tổ Tam điểm tại Luân Đôn, Weishaupt đẵ mời John Robison, một giới chức cao cấp trong hội Tam Điểm tại Scotish Rite, nguyên là giáo sư khoa học thiên nhiên tại đại học Eidingburgh và là thư kư thường trực hội Royal Society of Eidinburgh. John Robison không đồng ư với đường lối hoạt động của tập đoàn Illuminati, nhưng im lặng thâu thập tài liệu về tập đoàn này.

Cách mạng Pháp bùng nổ, theo đúng như dự trù ban đầu, v́ lệnh thay đổi ngày khởi nghĩa vào năm 1984 không tới tay người thừa hành. Cùng năm đó Robison xuất bản cuốn sách dưói tựa đề Proof of Consiracy to Destroy All Governments and Religions, nhưng lời khuyến cáo này cũng không có hiệu quả.

Tiếp tục việc đánh đổ các vương quyền tại Âu Châu, nhóm Illuminati dùng một cánh tài phiệt tài trợ cho Napoléon, và một nhóm khác tài trợ cho các nhà ngân hàng Anh và Đức cùng nhiều nước khác, trong nhưng năm Napoléon làm mưa làm gió tại Âu Châu và Bắc Phi.

Tiếng súng của những cuộc chiến tranh của Napoléon vừa ngưng, nhóm Illuminati thấy rơ sự suy nhược của các quốc gia tham chiến như đă dự tính, và tin chắc là nhưng quốc gia đó sẽ vui ḷng chấp nhận một giải pháp hoà b́nh bằng mọi giá. Do đó, nhóm Illuminati triệu tập Congress of Vienna. Tại hội nghị này tập đoàn Illuminati đưa ra đề nghị thành lập một hội quốc liên, một h́nh thức của một chính phủ thống trị toàn thể thế giới. Họ tin tưởng rằng đề nghị sẽ được mọi vương quyền chấp nhận, v́ nhưng vương quyền này mang ơn tập đoàn illuminati quá nhiều. Nhưng riêng có Nga Hoàng nh́n ra mưa sâu của tập đoàn và ó là biến cố năm 1917, toàn thể gia đ́nh Nga Hoàng đều bị sát hại.

Sau hội nghị Vienna, tập đoàn Illuminati nhận ra là chưa đến lúc thục hiện một chính phủ thống trị toàn cầu, mục tiêu cuối cùng của tập đoàn. họ bèn thay đổi mục tiêu, cũng cố địa vị, bằng cách thắt chặt hơn việc kiểm soát hệ thống tài chánh của những quốc gia Âu Châu.

Trong mục đích kiểm soát tài chánh, họ loan tin thất thiệt, ngày trận Waterloo đă tới giai đoạn chấm dứt, la Napoléon đă chiến thắng. Thị trựng chứng khoán tại Anh hốt hoảng. Giá mọi cổ phần xuống tới mức gần zéro. Trong không khí hoảng loạn đó, ngân hàng International Bankers, mua vào với gía 1 xu mhưng cổ phần đáng gia 1 đồng. Như vầy, họ hoàn tất việc kiểm soát nền kinh tề không riêng một Anh quốc mà dường như toàn thể Âu Châu.

Tức th́ sau cuộc đàm phán tại Vienna, ngân hàng International Bankers lâp một ngân hàng mới gọi tên là Bank of England, mà tập đoàn Illuminati kiểm soát toàn diện, và tiếp tục kiểm soát cho tới ngày nay.

Năm 1830 Weishaupt từ trần, nhưng trước ngảy đó ông đă soạn thảo một bản tu chỉnh kế hoạch tạo phản của tập đoàn Illuminati, bản tu chỉnh mang nhiều tên khác nhau nhắm mục đích tổ chức, tài trợ, hướng dẫn, kiểm soát mọi cơ sở quốc tế bằng cách đặt người vào những vị trí điều động then chốt trên hàng đầu.

Năm 1848, Karl Marx soạn thảo bản Tuyên Ngôn Cộng Sản, Communist Manifesto cùng với một nhóm trí thức của tập đoàn Illiminati.
Đồng thời giáo sư Karl Ritter thuộc đại học Frnkfurt, viết một bản phản đề, cũng cùng với một nhóm trí thức khác cũng thuộc tập đoàn Illuminati. Mục đích chính là ch́a vrẽ nhân loại ra thành hai phe đối lập, để tạo nên
một cuộc chiến tranh tàn sát lẫn nhau và đặc biệt làm kiệt quê mọi tổ chức chính trị cùng tôn giáo có sẵn.

Sau khi Karl Ritter từ trần, nhóp Illuminati đă dùng tư tưởng của triết gia Friedrich Wilhelm Nitzsch để tạo ra đường lối phân biệt sác tộc cho cánh Nazi, trong thế chiến.

Năm 1834, tập đoàn Illuminati chon nnhà lănh đạo cách mạng người Ư Giuseppe Mazzini để lảnh đạo chương tŕnh cách mạng thế giới. Giuseppe Massini thi hành sứ mệnh này cho tới ngày ông chết năm 1872. Trước khi từ trần, ông đă đưa một viên tướng người Hoa Kỳ, tên là Albert Pike vào tập đoàn Illuminati. Tướng Pike tin tưởng như bị mê hoặc vào ư niệm một chính phủ thống trị toàn cầu, và sau đó trỏ thành người lănh đạo phe Luciferian.

Trong hời gian từ 1859 tới 1871, tướng Pike hoàn tất một kế hoạch quân sự làm nền tảng cho ba cuộc chiến tranh và những cuộc cách mạng khắp thế giới, mà tập đoàn Illuminati tin chắc là sẽ giúp họ thực hiện được mục tiêu cuối cùng: thống lĩnh toàn cầu, trong thế kỳ XX.

Trận chiến thứ nhất của tập đoàn Illuminati là gây ra cuộc cách mạng tháng 10 tại Nga, đúnh như nguyện ước của nhóm chủ chương ngân hàng International Bankers, sau khi Nga Hoàng đă phá vỡ hội nghị Vienna. Ngôi vua của Nga Hoàng bị lật đổ, và nước Nga trở thành chiến khu của Cộng Sản vô thần, lan rộng khắp vùng Đông Âu lật đổ vương quyền và làm suy yếu mọi tôn giáo để tạo ra liên bang Sô Viết.

Trận chiến thứ hai, gây nên do sự khấy động giữa phát xít và nhóm chính trị lập quốc Do Thái, Zionists. Trong cuộc chiến này tập đoàn Illuminati chủ chương giúp cộng sản bành chướng cho tới khi trở thành một lực lượng tương đương với lực lượng của phe theo Ky Tô giáo.

Trận chiến thứ ba là gây khuấy động để gây môt cuộc chiến giữa thế giới theo đạo Hồi và phái chính trị Zionists. Mục đích của cuộc chiến này là đưa Do Thái, Hồi Giáo, Zionists đồng thời lôi cuốn mọi quốc gia khác vào cuộc chiến cho tới lúc tất cả mọi phe đều mệt mỏi kiệt quệ về cả kinh tế và quân sự cũng như tinh thần chiến đấu. Đó là lúc tập đoàn Illuminati đứng ra thành lập chính phủ toàn cầu.

Tại Hoa Kỳ, từ sau thế chiến I, tập đoàn Illuminati hoạt động dưới danh hiệu Council on Foreign Relations, CFR. Vai chủ động CFR thực sự là những hậu duệ của những người đă tạo nên tập đoàn Illuminati, dấu mặt đổi tên. Tổ chức tuơng tự tại Anh hoạt động dưới danh hiệu British Institute of International Affairs. Nhiều chi nhánh khác ở Pháp ở Đức hoạt động dưới những danh hiệu khác nhau nhưng theo duổi cùng một đường hướng. Tất cả những tổ chức nàyđều đặt dưới quyền điều động của tập đoàn Illuminati.

Trong chính phủ toàn cầu tương lai, người của tập đoàn Illuminati, trong nhóm đầu năo CFR, cùng nhóm điều khiển Liên Hiệp Quốc, một vài nhà tỷ phú, một vài nhà khoa học đă thcó công phục vụ tập đoàn sẽ giữ nhưng vai tṛ lănh đăo. Tất cả nhân loại sẽ là tôi mọi của họ.

Đầu Lâu và Hai Xương Ống




Hội đoàn Đầu Lâu và Hai Xương Ống con có tên là The Brotherhơd of Death, viết tắt là TBD, nguyên là một hội kín lâu đời nhất của sinh viên đại học Yale, tại New Haven, Connecticut. TBD duy tŕ liên lạc giữa các cựu sinh viên, từ khi mới thành lập năm 1832. Hội lấy tên là The Russell Trust Association, theo tên của một sáng lập viên của hội. Hội tổ chức theo mẫu mực của hội Tam Điểm, ngoài việc liên kết các cựu sinh viên c̣n có nhiệm vụ theo rơi hoạt động của những sinh viên c̣n đang theo học, từ năm thứ nhất cho tới khi ra trường.

Kể từ ngày 02 tháng 10 năm 2003, chương tŕnh 60 phút của đài truyền h́nh CBS đưa ra trước công luận một số điểm bí mật của TBD, liên quan tới giới làm chính trị tử tổng thống G. W Bush cùng thương nghị sĩ John Kerry, qua đông đảo các giáo sư đại học danh tiếng, các thống đốc ngân hàng, một số tướng lănh, một số tai mắt trong ngành truyền thông, v.v..., hội đoàn này trở thành một đề tài hấp dẫn cho dân chúng theo rơi.

Câu truyện bắt đầu từ đại học Yale, gồm ba tuyến: hội kín, gián diệp và buôn lậu ma túy quấn quện với nhau như một sợi giây thừng.

Bắt đầu là Elihu Yale, người Hoa Kỳ sinh tại Boston, lớn lên sang Luân Đôn du học, làm việc cho hăng British East India Commpany, trở nên giầu có và trở vế Anh Quốc năm 1699. Lúc đó College School in Connecticut mở cuộc lạc quyên, Elihu Yale gửi tặng một số tiền lớn và khá nhiều sách quư. Năm 1718, trường này nhớ ơn Elihu Yale và đổi tên thành Yale College.

Du khách tới thăm đại học Yale, qua Old Campus sẽ bị bức tượng của Nathan Hale thu hút. Bức tượng này tạc theo một bức tượng nguyên tác đặt trước cửa chính trụ sở Trung Tâm T́nh Báo CIA ở Langley, Virginia. Một bức khác đặt tại Phillip Academy tại Andiver, Massachussetts, năm tṛn 12 tuổi, George Washington Bush vào học tại đây và gia nhập một hội kín.

Nathan Hale, cùng ba đồng môn xuất thân từ đại học Yale, và cùng là thành viên của “Culper Ring”, một trong nhưng chiến dịch t́nh báo đầu tiên của Hoa Kỳ, do Geprge Washington lập nên. ông là người t́nh báo bị bắt trong khi hoạt dộng và bị ngườ Anh troe cổ. Mối liên lạc giửa đại học Yale và giới t́nh báo Hoa Kỳ bbắt đầu tù đó, và bền bỉ cho tớn ngày nay.

Năm 1823, Samuel Russell thành lập Russell Company, cất nha phiến từ Thổ Nhĩ Kỳ và đưa lậu vào Trung quốc Russell Company kết hợp với Perkin và trở thành cơ sở chính buôn nha phiến tại Hoa Kỳ. Từ việc buôn bán nha phiến này nẩy ra một số đại phú Hoa Kỳ. Một trong những người chủ chương việc buôn bán ma tuư này là Warren Delano, ông ngoại của Franklin Roosevelt. Người cộng tác khác là Abiel Low, trở thành người tài trợ đại học Columbia; John Cleve Green tài trợ đại học Princeton; Joseph Coolidge và gia đ́nh Perkins Sturgis và Forbes mở ra United Fruit Company, và cháu nội là Archibald C. Coolidge là đồng sáng lập viên của Council on Foregne Relations.

Samuel Russell, anh em họ của William Huntinton Russell, Đức du học trong hai năm 1831-1832. Nước Đúc thời đó đúng hàng đầu về những ư tưỏng mới lạ. Tại Phổ, “phương pháp khoa học” được đưa ra ứng dụng trọng mọi hoạt động. Phân tích chiến bại của quân đội Phổ trước hùng binh của Napoléon năm 1806, người ta quy tội cho người lính chỉ nghĩ dén ḿnh trong lúc lâm trận, do đó đi từ nhưng nguyên tắc do John Lock và Jean Rosseau đề ra, họ đề ra một hệ thống giáo dục mới theo nguyên tắc: con trẻ ra đời la con của cha mẹ chúng, nhưng việc dạy dỗ chúng là việc của nhà nước.

Tại đại học Berlin, Đức Quốc, năm 1817 triết gia Georg Wilhem Freidrich Hegel trở thành giáo sư chủ trách giảng đàn Fitche, dđúng đầu giới triết gia theo trường phái Immanuel Kant. Theo Hegel, thế giới này là một thế giói duy lư. Nhà nước năm quyền tuyệt đối,và người dân chỉ được tự do sau khi hoàn thành nhiệm vụ vâng lời nhà nước. Triết thuyết của Hegel rất thịnh hành tại Đức trong thời gian William Russell sang đó du học.

Năm 1832, Russell trở lại đại học Yale, cùng với Alphonso Taft lập một hội kín, lấy tên là The Order of Skull and Bones. Hội này không phải là một hội sinh viên lo chiếm giải football hay giải bơi nthuyền hàng năm, mà là một hội lo cho tương lai cũa thành viên, sau khi tốt nghiệp.

William Russell trở thành một vị tướng lănh trong quân đội, rồi thành nghị sĩ tại tiểu bang Connecticut. Alphonso Taft được bổ nhiệm làm bộ trưởng Tư Pháp, tổng trưởng Quốc Pḥng, đại sứ tại Áo, rồi tại Nga. Con trai ông, William Howard Taft là người độc nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, từng giữ hai chức vụ: tổng thống Hoa Kỳ và Chỉ tịch Tối Cao Pháp Viện.

Từ đó, trở thành truyền thống cựu sinh viên đại học Yale vào làm việc trong guồng máy hành chánh, kinh tế, t́nh báo, ngoại giao, giáo dục, truyền thông, ngân hàng v.v... trong mọi tầng chính phủ, lập thành một mạng lưới quyền lực. Gần đây tổng thống thứ 27, 41 và 43 là ba cựu sinh viên đại học Yale.

Từ khi tổng thống Nixon tái lập việc bang giao giữa Trung quốc và Hoa Kỳ, nhiều cựu sinh viên đại học Yale, cựu thành viên TBD, sau khi giữ địa vị then chốt trong CIA trở thành đại sứ Hoa Kỳ tại Trung Quốc, trong số ấy George Bush sau đó thảnh tổng thống Hoa Kỳ thứ 41.

Nói tới việc bang giao giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, giới nghiên cứu thường nhắc tới cuộc chiến tranh Nha Phiến vào đầu thế kỷ XIX. Trong cuộc chiến tranh này, Hoa Kỳ đă giữ đia vị trung lập giữa Trung Quốc và liên minh Anh-Pháp. Russell & Compagny lúc đó cơ sở tại Quảng Đông, và nhân cơ hội này mở mang mối liên lạc thương măi và được lời đáng kể. Thời đó chiếc Yangkee Clipper là chiếc tầu biển chạy nhanh nhất. Thương hạm này chạy đường Thổ Nhĩ Kỳ/Ấn Độ sang Macao/Hương Cảng/Thượng Hải để chuyên chở nha phiến.

Sang thế kỷ XX năm 1903 Yale Divinity School lập chương tŕnh mở trường học và nhà thương tại Trung Quốc. Mao Trạch Đông cũng có tham dự chương tŕnh này. Trong thời gian từ 1930-40, việc t́nh báo tại Trung Quốc đều do “Yale in China” đảm nhiệm.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng từ đầu thập niên 1950, George Bush đă hoạt động cho CIA. Một trong những công tác chính là củng cố điều hợp một tổ cơ sở sản xuất nha phiến lớn nhất thế giới.
Một vài nhà nghiên cứu cho rằng việc củng cố địa vị của Hoa Kỳ tại vùng “Tam Giác Vàng” Golden Triangle là một trong những lư do khiến Hoa Kỳ khởi sự tham chiến tại Việt nam.

Theo một sô tài liệu đáng tin cậy như cuốn The Politics of Heroine in S.E. Asia của Alfred McCoy, cuốn The Great Heroine Coup của Henrik Kruger và cuốn Double Cross của Sam and Chuck Giancana, cho biết nhiều chi tiết xác đáng về truyện buôn bán nha phiến tại vùng này.

Trước khi chiến tranh bùng nổ tại Việt Nam, việc buôn bán nha phiến tại vùng Tam Giác do t́nh báo Pháp và một nhóm người đảo Corse điều động; sau khi quân đội Pháp rút ra khỏi Việt Nam th́ việc điều động nay chuyển sang tay t́nh báo Hoa Kỳ và một nhóm người Silician.

Suôt hai nhiệm kỳ của tổng thống Reagan, phó tổng thống George Bush kiêm nhiệm chức vụ Giám Đốc National Narcotics Interdition System. Frances Mullen Jr., cựu giám đốc Drug Enforcement Agency đặt tên cho những cố gắng của phó tổng thống George Bush trong công vụ này là một “intellectual fraud”. Sau đó Frances Mullen Jr. từ chức, bản báo cáo của ông cũng bị General Accounting Office đánh ch́m.

Monica Jensen Stevenson, phóng viên trong chương tŕnh 60 phút, đài CBS, bỏ việc v́ CBS từ chối không phát h́nh truyện che đậy việc buôn bán nha phiến. Bà xuất bản cuốn Kiss The Boys Goodby, cuốn sách này phanh phui việc giới t́nh báo núp dưới hoạt động của nha t́m các tù binh/quân nhân mất tích v́ công vụ, POW/MIA, để che đậy việc buôn bán nha phiến tại vùng Tam Gác Vàng.

Tổng thống Reagan bổ nhiệm Sáng Lập Viên đảng Reform Party kiêm tỷ phú Ross Perot vào Advisory Council on Foreign Intelligence, làm thanh tra phụ tá tổng thống về t́m kiếm tù binh và quân nhân mất tích trong chiến trận tại Việt Nam. Ross Perrot dành nhiều th́ giờ và tiền bạc vào việc này. Ông được quyền đọc mọi tài liệu tối mật, cũng như phỏng vấn bầt kỳ ai tùy ông chọn lựa. Theo tác giả cuốn Kiss The Boys Goodbye, vụ việc giao hảo giữa phó tổng thống George Bush và Ross Perot chấm dứt như sau:
Phó tổng thống George Bush hỏi Ross Perot về sự tiến triển của cuộc điều tra mà ong Ross Perot đang theo duổi. Ong Ross Perot trả lời:

Well, George, I go in looking for prisonners, but I spent all my time discovering the government has bên moving drugs arround the word and is involved in illegal arms deals ... I cant’t get at the prisonners because of the corruption among our people

Thế là chính thức chấm dứt công tác của vị thanh tra phụ tá đăc biệt của tổng thống. Ross Perot nói với gia đ́nh của những quân nhân bị mất tích:

I have been instructed to cease and desist.

Rodney Stich’s tác giả cuốn Defrauding America, thuật lại theo lời một nhân viên cao cấp CIA, hoạt động trong một ban phản gián, mang mật danh Pegasus. Đơn vị này có đoạn băng liên quan tới vụ ám sát tổng thống Kennedy, ghi lời trao đổi qua điện thoại giữa J. Edgar Hoover với Nelson Rockefeller, Allen Dulles, Lyndon Johnson ở Texas, và George Bush ở Texas.

Câu hỏi Geaorge Bush có liên can tới vụ ám sát JFK hay không c̣n là một câu hỏi chưa có giải đáp giứt khoát. Năm 1963 George Bush đang sống tại Houston, giữ chức vị chủ tịch hăng dầu hỏa Zappata Offshore. Ông khẳng định không nhận được một bức thư của ông giám đốc FBI gửi cho “Mr. George bush of th CIA”. khi bức thư này mới bị phát giác, CIA từ chối không có nhân viên nào mang tên này, sau đó lại nói là có một người tên George Bush đúng như tên ghi tên bức thư nói tên, nhưng ong George Bush không phải là người từng làm chủ toa Bạch cung năm 1968. Một số kư giả đeo đẳng việc đi t́m xem ông George bush này là ai, sau cùng th́ được biết ông này chỉ là một viên thư kư sắp xếp hồ sơ và chỉ làm việc cho CIA khoảng sáu tháng. Ông ta không hề nhận được thư từ ǵ của FBI, đừng nói tới thư của ông Giám Đốc CIA.

George Bush tuyên bố là ông không hề làm việc cho CIA, cho tới khi được tổng thống Jerry Ford bổ nhiệm làm giám đốc năm 1961. Theo suy luận th́ lời tuyên bố này rất khó tin. Bởi George Bush có bổn phận phải chối ḿnh là nhân viên CIA: đó là một tổ chức bí mật, th́ không một nhân viên nào tự xưng ḿnh là nhân viên tổ chức đó cả. Sự thật là George Bush đă cầm đầu CIA từ trước vụ đổ bộ lên Cuba năm 1961, cùng với Felix Rodiguez, (một người nổi danh v́ đă giết được Che Guevara theo lệnh của CIA). Mặc dù ông khước từ vai tṛ của ông trong CIA năm 1959, nhưng vẫn có tên trong hồ sơ vụ Bay of Pigs tại Cuba.

Câu hỏi chính là động lực nào đă khiến một cơ quan t́nh báo/một hội kín lại dính lứu tới việc buôn bán nha phiến và ám sát JFK?

Nhiều nhà báo, nhiều nhà nghiên cứu cũng từng đặt câu hỏi này. Đa số đồng ư muốn biết về bọn buôn bán nha phiến không ǵ bằng đi buôn nha phiến. Nhiều nhà báo nhà nghiên cứu khác lại cho là việc buôn bán nha phiến này nằm trong kế hoạch làm suy yếu xă hội của tập đoàn Illuminati. Xă hội Trung Quốc thời Chiến Tranh Nha Phiến đă chứng tỏ điều này. Theo nhiều sử gia khác, đó cũng là lư do đưa tới việc ám sát JFK. Trong tất cả các tổng thống Hoa Kỳ trong hiện đại riêng chỉ có JFK là tổng thống duy nhất lên tiếng công kích hội kín Illuminati.

Làm suy yếu xă hội là một bước tiến tới mục tiêu chế ngự toàn cầu của tập đoàn Illuminati. John Robison, một giáo sư đại học Edinburgh tại Tô Cách Lan, đă từng được tập đoàn Illuminati mởi gia nhập, nhưng sau khi suy nghĩ ông đă nh́n rơ là tập đoàn này không thích hợp với ông. Ông kết luận về tập đoàn Illuminati như viết trong đoạn kết cuốn Proofs of A Conspiracy:

An association has been formed forthe express purpose of rooting out all the religious establishments and overturning all the existing governments ... the leaders would rule the World with uncontrallable power, while all the rest would be employed as tools of the ambition of their unknown superiors.

Một cuốn Proofs of A Conspiracy đă tới tay tổng thống George Washington. Trả lời người gửi biêu sách, trong môt bức thư, tổng thống cho hay là ông đă được thông báo là tập đoàn Illuminati dă xâm phập vào Hoa Kỳ, theo ông tập đoàn này có những “diabolical tenets” và mục tiêu đương thời của họ là phân cách nhân dân và chính phủ [Hoa Kỳ].

Câu hỏi kế tiếp là hôi kín Skull & Bones có phải là một thành phần của tập đoàn Illuminati không? Giới nghiên cứu và theo rơi hành động của các Bonesmen, nhận thấy rằng nhiều thanh viên của hội kín này thường có liên hệ vói các giáo sư đă từng dậy nhóm Bonesmen tại đại học Berlin. Rất đông Bonesmen giữ nhưng chức vị then chốt trong chính phủ của tổng thống Johnson, liên tiếp tới chính phủ hiện thời của tổng thống George W. Bush, một Bonesman, người từng tuyên cáo một “New Word Order”. Tổng thống Bill Clinton, một học giả lỗi lạc đă từng là một Rhodes Scholar tại đại học Oxford, từng là một điệp viên cho CIA, và có người nói rằng William Caey, một giám đốc CIA là người đă chọn Bill Clinton ra tranh cử tổng thống. Sau đó William Casey đứng ra làm người điều hành vụ tranh cử của George W. Bush.

Phải chăng đó là một “historical dialectic process” theo lư thuyết của triết gia Hegel?

Hội Tam Điểm




Một trong những huy hiệu hội Tam Điểm

Hội Tam Điểm là một hội kín, phát xuất tại Anh Quốc, trong thời Trung Cổ. Thành viên là những người làm nghề xây cất lâu đài, thánh đường. Họ họp thành những hiệp hội nhỏ, tự trị. Nghề xây cất thời đó là một nghề nhiều nguy hiểm, đ̣an viên cần sự tương trợ khi gặp rủi ro tại nạn trong khi hành nghề hoặc trợ giúp vợ góa con côi của đồng bạn tử vong.

Một đặc điểm khác của hội Tam Điểm là hội phân thành những tổ nhỏ, tự trị, không trực thuộc vào tổng hội. Hội có một lịch sử đầy mầu sắc huyền bí. Chính sắc thái huyền bí này đă thắt chặt mối thân t́nh giữa các đoàn viên.

Ngày nay, nhiều người không làm nghề xây cất cũng được gia nhập hội Tam điểm. Nhưng không v́ vậy mà truyền thống của hội thay đổi; có thay đổi là hội không c̣n chỉ là một hội tương tế giữa các hội viên mà trở nên một hội khuyến thiện công cộng, đồng thời c̣n là một hội kín hoạt động chính trị và xă hội. Giới nghiên cứu cho là hội có khuynh hướng chính trị bắt đầu khoảng từ năm 1717. Trong cuốn Revolutionary Brothe-hood: Freemasonery and the Transformation of the American Social, xuất bản năm 1996, Steven C. Bullock minh chứng là thành quả đáng kể nhất thành viên hội Tam Điểm đạt đưọc trong những năm đấu tranh của của Cách Mạng Hoa Kỳ, American Revolution, là sự kiện giới lănh đạo đă thực thi chính sách ‘chính phủ tự trị’ self-goverment. Đó là chính sách mà hội Tam Điểm ứng dụng trong việc điều hành mọi tổ trong hội.

Theo hiến chương năm 1723 hội Tam Điểm trở thành một hội kín lan rộng khắp thế giới. Hội điều hành theo luật lệ và không tùy theo ư muốn của nhà lănh đạo; theo sự b́nh đẳng giữa các hội viên, không căn cứ theo ḍng giơi, theo tiền bạc; và sau hết là sự luôn luôn thay thế người lănh đạo bằng việc bầu kín.

Từ cuộc cách mang Hoa Kỳ, rất đông nhân vật có tên tuổi là hội viên của hội tam điểm. Trong số 20 người nổi danh trong cuộc cách mạng này th́ có 16 người là hội viên chính thức hay có liên quan tới hội Tam Điểm Trong số 56 người kư tên trên bản tuyên ngôn có 15 hội viên Tam Điểm. Trong 40 chữ kư trên bản hiến pháp có 28 chữ kư của hội viên Tam Điểm. Rất đông tướng lănh trong quân đội thời cách mạng là hội viên Tam Điểm. Tướng Lafayette cùng đa số tướng tá trong đoàn Continental Army từ Âu Châu sang trợ giúp cuộc cách mạng Hoa là những hội viên trong Army Lodge. Đa số tương lănh của George Washington là hội viên Tam Điểm. Robert Livingston, Grand Master của Tổ Nữu Ước của hội Tam Điểm là người chủ tọa lễ tuyên thệ làm tổng thống của George Washington.

Mối liên lạc mật thiết giữa tổng thống George Washington ngày nay c̣n thấy rọ trên tờ giấy bạc US $1. Tờ giấy bạc này do Henry Wallace, một thành viên của Order of the Quest đề nghị. Một mặt in h́nh George Washington,mặt kia in quốc ấn của Hoa Kỳ bên trái, bên phải in h́nh kim tự tháp, trên đỉnh có h́nh một con mắt, một biểu hiệu của hội Tam Điểm, và dưới kim tự tháp là ḍng chữ Vovos Ordo Seclorum, nghĩa la Trật Tự Xă Họi Mới, New World Order. Nh́n vào chi tiết cho thấy:





Mặt sau tờ Mỹ Kim $1

• đuôi đại bàng có 9 lông,
• 13 lá trên cành olive
• 13 vạch trắng đỏ
• 13 mũi tên
• 13 ngôi sao trong ṿng sao
• 13 lớp đá trên kim tự tháp
• 13 chữ trong ḍng E Pluribus Unum
• 13 chữ trên ḍng Annuit Coeptis

hai con số 9 và 13 là hai con số thiêng đối với người trong hội Tam Điểm.

Có người ước lượng là hiện nay trên thế giới có chừng 5 triệu hội viên Tam Điểm, trong số đó một nửa là hội viên hoạt động tại Hoa Kỳ. Con số thực sự là bao nhiêu v́ đó là một trong những điều bí mật của hội. Lời thề của hội viên ngày nhập hội rất độc. H́nh phạt nhưng hội viên làm lộ bí mật của hội rất độc ác: nhẹ thi cắt tai, hay cắt lưỡi, nặng th́ moi tim, mổ bụng lấy phèo phổi đốt thành tro. Thoại kể ràng, William Morgan, một hội viên Tam Điểm vào hàng cao cấp, năm 1826 cho in một cuốn sách việt về nhưng bí mật của hội. Nhà in bị nhóm hôi viên địa phương đốt cháy, và William Morgan bị mất tích, và có tin rằng ông đă bị hạ sát. Có nhiều tin đồn về cái chết của William Morgan. Hội Tam Điểm đoan chác tin đồn William Morgan bi mưu sát là tin thất thiệt, v́ ông này đă trốn được sang Gia Nă Đại.Ngược lại có tin là đă t́m thấy sác của ông và bà Morgan cùng nha sĩ của ông đă công nhận. Nhiều nguồn tin khác nói là chưa có ai t́m ra được sác của William Morgan.

Hội Tam Điểm c̣n bị kết tội liên quan tới nhiều vụ án chính trị. Tổng thống măn nhiệm John Quincy Adams đă buộc tội hội Tam Điểm làm ông thất cử để đưa một hội viên Tam Điểm là Mason Andrew Jackson vào chức vị tổng thống Hoa Kỳ. Có nhiều sách viết là hội Tam Điểm dính lứu vào vụ ám sát tổng thống Lincoln, có liên lạc mật thiết với phe Nazi trong thế chiến II, ṭng phạm trong vụ ám sát giáo hoàng John Paul I, liên quan với phong trào Ku Klux Klan, vụ ám sát tổng thống JFK và nhiều vụ khác. Tuy nhiên, trong tất cả nhưng vụ kể trên không có ai có bằng chứng xác đáng.

Nhiều giới theo đạo chúa Ky Tô, đặc biệt là giới Công Giáo, và giới tin lành Methodists, Evangelical Christian, công kích hội Tam Điểm. Bởi lời thề đẫm máu khi nhập hội đă khiến giáo chức Công Giáo cấm tín đồ gia nhập hội Tam Điểm. Nhà thờ Methodists cũng tố cáo lời thề này. Nói chung người theo đạo chúa Ky Tô cho rằng hội Tam Điểm đă mang ḷng tin Chuá trộn lẫn với ḷng tin vào ḷng tin dị đoan.

Trong thế kỷ XVIII, học vấn chỉ dành cho một thiểu số con nhà quyền quư giầu có. Nhưng lúc đó một trong những chủ đích của hội Tam Điểm là đào tạo ra nhưng con người có học, educated man. Do đó nẩy ra chủ chương mở trường công lập. Sang thế kỷ XIX, giữ truyền thống nói trên, các tổ Tam Điểm đều đua nhau mở các trường cao đẳng và đại học. Năm 1849 Grand Lodge tại Nữu Ước tăng chính phủ tiểu bang hệ thống public schools. Tại các tiểu bang miền Tây, hội Tam Điểm lập ra những trường hoàn toàn miễn phí, hoàn toàn đúng ngoài vùng ảnh hưởng của chính trị và tôn giáo. Tiểu bang California, với sự trọ giúp của hội Tam Điểm đă hoàn thành hệ thống đại học cộng đồng, rồi hệ thống đại học tiểu bang California miễn phí.

Hội Tam Điểm Hoa Kỳ không những chỉ hoạt động tại nội địa Hoa Kỳ mà c̣n liên quan mật thiết với nhiều hội Tam Điểm khác trên thế giới, đạc biệt là tại Nhật Bản.

Nhiều hội viên Tam Điểm Nhật Bản nói là hôi Tam Điểm tại Nhật có liên hệ với những hội tam điểm có từ từ thời cổ Mesopotamian, nhưng không ai có bằng chứng cụ thể. Giới nghiên cứu cho biết là mói liên lạc này có thực: cách đây khoàng 1000 năm khi đế quốc Khazars, ở vùng hạ nguyên sông Volga bị quân Mông Cổ xâm chiếm. Giới quư tộc di tản một ngả sang Âu Châu, một ngả sang Trung Quốc. Nhóm di tản sang Trung Quốc di tản một lần thứ hai sang Nhật Bản, khi quân Mông Cổ tràn vào Trung Quốc và lập ra nhà Nguyên. Đám ngựi Khazars này hoàn toàn đồng hóa với người Nhật Bản, nhưng một số tập tục Tam Điểm- Khazars đă đi sâu vào văn hóa Nhật Bản.

Cho tới khi đô đốc Perry tới Nhật, và bắt buộc người Nhật mở cửa giao thương với Hoa Kỳ. Jardine Matheson, thuộc nhóm Tam Điểm Rothschilds tại Á Châu, gửi Thomas Blake Glover tới Nhật. Mục đích của Thomas Blade Glover là mở một thị trường bán vơ khí, nhằm gây một cuộc nội chiến trong chương tŕnh khuynh đảo đế quốc Nhật Bản. Thomas Blake Glover sắp đặt việc mua bán chiến hạm và khí giới nặng. Việc vỡ lở, Thomas Blake Glover bị phá sản.

Trong khi đó Guido H.F. Verbec cũng là một người thuộc nhóm Tam Điểm Rothschild đă thành công trong việc lập một tổ Tam Điệp tại Nhật Bản. Một số khá đông những hội viên Tam Điểm này tham gia chính phủ dưới triều Minh Trị Thiên Hoàng.

Với sự giúp đỡ tích cực của người đồng hội tại Anh và nhiều nước khác ở Âu Châu, nhóm hội viên này đă đưa Nhật Bản tới chiến thắng trong cuộc chiến tranh giữa Nhật và Nga.

Sau thế chiến II, nhóm Tam Điểm liên hiệp với Rothschild bị nhóm liên hiệp với Rockerfellers đánh bại. Từ đó tất cả các thủ tướng chính phủ Nhật đều là hội viên Tam Điểm. Người dân Nhật Bản ai nấy đều biết là người bí mật nắm thực quyền tại Nhật là David Rockefeller và Jay Rockerfeller.

Rồi, thủ tướng Koizumi và bộ trưởng tài chánh Heizo Takenaka khéo léo đưa hội Tam Điểm vào địa vị kiểm soát hệ thống ngân hàng Nhật Bản. Ngân Hàng Mitsubishi lấy con mắt Tam Điểm làm huy hiệu.

Mọi tiến triển hiện nay đều đổi hướng với sự xuất hiện của những hội kín Trung Quốc.

Majestic Twelve




Thế chiến thứ II chấm dứt, Hoa Kỳ trở thành một cường quốc mạnh nhất thế giới. Bỗng nhi6n, tổng thống Truman và các tướng lănh đành bó tay kinh ngạc. Một phi thuyền không gian do một sinh vật “giống như côn trùng” điều khiển, bị tai nạn roi xuống vùng sa mạc tiểu bang New Mexico.

Trong thời gian từ tháng giêng 1947 tới tháng chạp 1952, người ta ghi nhận được ít nhất có 16 vụ phi thuyền từ ngoài trái đất bị rơi, trong số đó có 13 vụ phi thuyền rơi xuống địa phận Hoa Kỳ, với 65 sác chết và chỉ có một người ngoài trái đất sống sót.

Đi vào chi tiết, vụ đĩa bay rơi gần Azec, New Mexico, ngày 13 tháng 3 năm 1948, rồi một vụ khác xẩy ra ngày 25 tháng 3 năm 1948 tại White Sands Proving Ground, người ta ghi nhận điă bay có đường kính chừng 100 bộ. T́m thấy cả thẩy 17 tử thi của người ngoài trái đất. Điều kinh ngạc là người ta c̣n t́m thấy nhiều sác người trong hai đĩa bay này. Những tin tức này đều xếp vào loại tối mật. Mức bí mật về truyện đĩa bay c̣n nghiêm ngặt hơn mức bí mật của dự án Mahattan chế tạo bom nguyên tử.

Tháng bẩy năm 1947, một nhóm khoa học gia lỗi lạc nhất Hoa Kỳ được mời tham dự dề án SIGN. Dự án SIGN biến đổi thành dự án GRUDGE. Mục tiêu ủa dự án này là thu thập mọi tin tức về mặt t́nh báo khoa học, kỹ thuật, y khoa. Kết quả thâu lượm được đều được ứng dụng trong chương tŕnh Không Gian của Hoa Kỳ. Dự án này do CIA tài trợ bằng tiền của một qũy đặc biệt và tiền phi pháp do từ việc buôn bán ma túy của CIA.

Tháng 12 năm 1947, tổng thống Truman lập ủy ban Coordination of Foreigne Intelligence Information Measures do lời đề nghị củ ba tổng trưởng Marshall, Forrestal, Paterson và giám đốc kế hoạch bộ ngoại giao Geprge Kennan. Đồng thời quyền hạn của CIA cũng được nới rộng rất nhiều, để ngăn chăn mọi tiết lộ của các dự án về đĩa bay ra ngoài công chúng.

Tổng trưởng quốc pḥng James Forrestal phản đối việc bảo mật này. Ông tin chắc là công chúng phải được thông báo về những tin tức liên quan tới đĩa bay. Khi ông nói với những nhà lănh đạo đảng dối lập và hạ viện về truyện đĩa bay, h́ thổng thống Truman yêu cầu ông từ chức. Ông bày tỏ mối lo nghĩ của ông với một số người khác. Nhiều người cho là ông bị thác loạn tâm trí. Ông phải vào bệnh viện Hải Quân Bethesda điều trị. Để tránh tiết lộ bí mật, gia đ́nh cùng bạn bè không ai được vào thăm ông.

Tới ngày 21 tháng 5 năm 1949, người anh em của ông báo cho nhà chức trách là tới ngày 22 tháng 5 sẽ đưa ông đi điều trị tại một nhà thương khác. Sớm ngày 22 tháng 5 năm 1949, nhân viên CIA, bọc James Forrestal vào tấm khăn giải giường và ném ông qua cửa sổ. James Forrestal từ trần. Cuốn nhật kư của ông bị tịch thu và giữ tại toà Bạch Cung trong nhiều năm. Do yêu cầu của công chúng, cuốn nhật kư đưọc viết lại, lược bỏ nhiêu đơạn và cho công bố. Sau đó nhiều năm, Whitley Strieber, một nhân viên CIA, dựa theo cuốn nhật kư thật của James Forrestal viết thành cuốn tiểu thuyết ‘Majestic’.

Tổng thống Truman cho thiết lập những kế hoạch pḥng thủ trái đất trong trường hợp bị những giống nguời ngoài trái đất xâm nhập. Ông thông báo cho các nước đồng minh, kể cà liên bang o Viết ở bên kia bức màn sắt biết về những kế hoạch này, nhưng không thông báo cho quốc hội và dân chúng được biết.

Đầu năm 1953, thống tướng Dwight David Eisenhower nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ. Trong năm đó có ít nhất là 10 vụ đĩa bay bị rớt, với 26 người ngoài trái dất bị tử thương và 4 người c̣n sống sót: 4 vụ tại tiểu bang Arizona, 2 tại Texas, 1 tại New Mexico, 1 tại Lousiana. Tổng thống Eisenhower thùa biết rằng ông phải giải quyết thắng lợi trong vụ đĩa bay này. Ông cũng dư biết rằng không thể dể quốc hội can thiệp vào vụ này đưọc v́ vấn đề bảo mật. Ông đem vấn đề ra bàn cùng Nelson Rockefeller, một người bạn chí thân của ông và là thành viên của Hội Đồng Ngoại Giao, Council of Foreign Relations, CFR. Tử đó nẩy sinh ranhóm Majestic 12, hay MJ-12.

Không người Hoa Kỳ không biết là Winthrop Aldrich Rockefeller, chú của Nelson Rockefeller đả thuyết phục Eisenhower ra tranh cử tổng thống. Toàn thể gia đ́nh Rockefeller, và cả tập đoàn Rockefeller ủng hộ Eisenhower trong vụ tranh cử này. Do đó đáp lại Eishenhower hết ḷng ủng hộ nhóm CFR.

Trúng cử tổng thống, Eisenhower mời Nelson Rockefeller làm chủ tịch ủy ban tư vấn về việc cải tổ chính phủ. Kế hoạch New Deal trao cho bộ mang tên là bộ HEW, gồm Health, Education và Welfare. Nelson Rockerfeller sau đó tham dự chính phủ của tổng thống Eisenhower.

Trong năm 1953, nhiều đài thiên văn phát hiện ra nhiều vật la trong không gian đang tiến lại gần trái đất. Nggười ta cho rằng những vật lạ đó chỉ có thể là những phi tuyền không gian hay đĩa bay. Dự án SIGMA bắt đưọc làn sóng truyền tin cũa những phi tuyền này khi chúng vào quỹ đạo đồng bộ quanh đường xích đạo trái đất. Tiếp theo dự án SIGMA, dự án PLATO qua việc truyền thông bằng vô tuyến, dùng ngôn máy tính lên lạc được vởi đĩa bay và định đươc địa điểm gặp gỡ là một địa điểm trong sa mạc.

Phim Close Encounter of The Third Kind là một phim giả tưởng dựa trên sự kiện trên. Dự án PLATO đă hoàn toàn thành công trong việc thiết lập liên lạc ngoại giao giữa loài người và loài giả nhân ở ngoài trái đất.

Đồng thời với biến cố trên đây, một toán giả nhân khác hạ cánh tại phi trường quân sư Homestead, tiểu bang Florida và liên lạc được với chính phủ Hoa Kỳ. Toán này khuyến cáo nhân loại nên đề pḥng toán giả nhân đang ở trên quỹ đạo và hứa trợ giúp nhân loại nâng cao mức duy linh của nhân loại. Họ đặt điều kiện là chính phủ Hoa Kỳ phải giải giới lực lượng nguyên tử để đánh đổi với việc trao đổi kỹ thuật với họ. Điều này đă bị chính phủ Hoa Kỳ quyết liệt băi bỏ.

Trong năm 1954, một toán giả nhân thứ ba hạ cánh tại phi trường quân sự Muroc. Phi trường đóng cửa ba ngày liền, trong ba ngày đó không một ai được ra hay vào phi trường. Biến cố lịch sử này đă được soạn dịnh chi tiết từ trước với sự thoả thuận của đôi bên. Tổng thống Eisenhower tới Palm Spring nghỉ. Tói ngày hẹn tổng thống tới phi trường quân sự. Toà Bạch Cung loan tin là tổng thống đi khám răng. Nhân chứng kề lại rằng có ba chiếc đĩa bay, đáp xuống phi trường. Toàn thể những giàn súng pḥng không, tập dượt nhả đạn thật vào ba chiếc đĩa bay, không một viên đạn nào trúng đích.

Tổng thốn Eisenhower chính thức diện kiến với phái bộ giả nhân ngày 20 tháng 2 năm 1954. và nhân dịp đó kư kết một hiệp ước ǵũa quốc gia giả nhân và Hoa Kỳ. Sau cuộc gặp gỡ này không bao lâu, tổng thống Eisenhower lên một cơn đau tim.

Theo hiệp ước này, giả nhân ở ngoài trái đất không can thiệp vào mọi truyện của người trên trái đất, ngược lại người trên trái đất cũng không can thiệp vào nội bộ người ngoài trái đất. Người trên trái đất cam kết không tiết lộ sự có mặt của giả nhân trên trái đất. Giả nhân cam kết cung cấp cho nhân loại những kỹ thuật tối tân của họ, ngược lại nhân loại cũng cung cấp cho giả nhân những kỹ thuật mới nhất. Giả nhân cam kết không kư hoà ước với bất cứ một sắc dân nào khác ngoài Hoa Kỳ trên trái đất. Giả nhân có quyền được mang ra khỏi trái đất một số giới hạn người trên trái đất với mục đích nghiên cứu về sự tiến triển của nhân loại. Giả nhân cam kết không làm hại tới thân thể những người này, sẽ mang họ trở về trái đấi tại địa điểm lúc bị bắt khi truớc. Lúc trở về trái đất những người này không c̣n nhớ tới những biến cố vừa xẩy ra, và giả nhân sẽ cung cấp cho Majestic-12, một danh sách những ngụi bị giả nhân bắt cóc, cùng địa điêm đă xảy ra vụ bắt cóc. Người bị bắt cóc, từ ngoài trái đất khi trở về tới trái đất, sẽ hoàn toàn quên hết những biến chuyển đă xẩy đến với họ.

Việc trao đổi kỹ thuật giữa người ngoài thế giới với người Hoa Kỳ thực thi tại một địa điểm gần sa mạc MOJAVE. Dân chúng vùng này nh́n thấy đĩa bay hàng ngày. Chẳng c̣n ai đi báo cáo nữa.

Theo một tài liệu mật, người đọc ghi nhận là số giả nhân hiện diện ở Dreamland lên tới số khá cao, tối thiểu là vào khoảng 600.

Có báo cáo cho là mức kỹ thuật hiện nay của Hoa Kỳ c̣n ở đằng sau mức kỹ thuật của người ngoài thế giới khá xa.

Theo giới nhà báo theo rơi nhóm Majestic12 th́ mục đích của nhóm này là che đậy những hoạt động của những nhóm giả nhân trên trái đất này và che đậy sự độc quyền trao đổi kỹ thuật với người ngoài thế giới. Nhiều người khác buộc tội chính phủ đă đứng ra thương thuyết với người ngoài trái đất mà không thông báo cũng như không có sự thoả thuận của quốc hội.

Tháng giêng năm 1961, John F. Kennedy lên làm tổng thống. Ông tuyên bố ư định kiểm soát những hội kín tại Hoa Kỳ, trong đó có Majestic 12. Cuốn năm 1963 JFK bị ám sát, nhiều nhà nghiên cứu cho là người dật giây trong vụ phản loạn này chính là những hôi kín tại Hoa Kỳ.

Tiếp theo đó cho tới nay đă ngoài 40 năm, hoạt động của Majestic 12 dẫu được sự bảo mật tới mức tối thượng, nhưng giới truyền thông vẫn theo rơi.
Theo một bài báo trong tập san DNA Magazine, số tháng 6 năm 2006 gồm những thành viên dưới đây:

• J1: phó dô đốc John M. McConnell, Director of National Intelligence
• J2: Richard B. Cheney, phó tổng thống
• J3: Poter Goss cư Director of Central Intelligence
• J4: Đô đồc Bobby Ray Inman, cựu giám đốc t́nh báo hải Quân, cựu phó giám đốc CIA,
• J5: Henry Kissinger cựu tổng trưởng ngoại giao của tổng thống Nixon
• J6: Zbigniew Brzezinski, cố vấn an ninh của tổng thống Carter
• J7: thống tướng Richard B. Meyer, cựu tham mưu trưởng liên quân của đưong kim tổng thống Geoge W. Bush
• J8: Kevin Tebbit cựu bộ trưởng quốc pḥng của chính phủ Anh Quốc
• J9: Carol Thatcher, con gái cựu thủ tuớng Anh Quốc Margaret Thatcher.
• J10: Alan Greenspan: cựu thống đốc Federal Reserve,
• J11: Harold Varmus, cựu giám đốc National Institutes of Health và được giải Nobel vê y khoa
• J12: M Kelly (không rơ lư lịch).

Nh́n vào danh sách trên, người đọc thấy nhiều thành viên có tên trong danh sách của các hội kín như Illuminati, Skull and Cross Bones, v.v... Người đọc tự hỏi phải chăng Majestic 12 cũng là một hội kín trong tập đoàn Illuminati, một tập đoàn đang muốn tới việc thống trị toàn cầu?

Nếu vậy phải chăng Majestic 12 c̣n có nhiệm vụ bí mật khác với nhiệm vụ bảo mật cho vũ tiếp xúc giữa chính phủ Hoa Kỳ với những dân tộc sống ngoài trái đất, hay vắn tắt là vụ đĩa bay?

Theo dơi trên lưới tin, c̣n không biết bao nhiêu hội kín khác trên đất Hoa Kỳ. Tuy nhiên việc điểm những bài viết này xin tạm ngừng ở đây. Bạn đọc nào ưa đọc loại tiểu thuyết giả tưởng, gián điệp thời những bài loại này có thề là một nguồn vui vô tận của quư bạn.