Hoạt động của giới trí thức Việt Nam cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 có những giai đoạn chuyển ḿnh rơ rệt, tuơng ứng với t́nh h́nh chính trị thuộc địa của người Pháp tại Đông Dương. Phong trào Cần Vương lấy sự chống Pháp bằng quân sự do hịch hiệu triệu của vua Hàm Nghi từ đất lưu vong Quảng Trị chẳng kéo dài bao lâu. Phong trào Duy tân và Đông du do nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục mà trụ cốt là Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu cũng tan ră trước sự đàn áp của chính quyền thuộc địa.
Người Pháp đă dùng văn hóa khai hóa dân “bản xứ”, hầu lôi kéo một số trí thức ngả theo văn minh Âu Tây, trong đó hoạt động của hội Tam Điểm Pháp góp phần đáng kể.
Bài viết dưới đây thử t́m lại hoạt động của Tam Điểm Pháp trên cơi Đông Duơng và sự tham dự của những người Việt Nam trong nửa đầu của thế kỷ 20.
Lúc Napoléon III quyết định mở cuộc xâm chiếm Việt Nam từ 1858 th́ bộ trưởng hải quân Chasseloup-Laubat, một hội viên tam điểm, tán thành nhiệt liệt.
Nam kỳ vừa được hoàn toàn “b́nh định” tháng 12 năm 1867, ngay khi Saigon c̣n là một thành phố chưa mở mang với dân số khoảng 50.000 người (gồm cả Hoa kiều trong Chợ Lớn) và 500 người Pháp, ngày 10-11-1868, mười tám người Pháp đă thành lập loge tam điểm đầu tiên, lấy tên là “Le Réveil de l”Orient”. Tính đến năm 1870 loge này có 37 hội viên và năm 1876 đă có 69 người gia nhập.
Sau khi chiếm xong Trung và Bắc kỳ, năm 1887 Paris quyết định thành lập Union Indochinoise, gom lại dưới quyền cai trị thống nhất, ba miền Trung Nam Bắc Việt Nam, Cao Mên và Lào, Constans (Bộ Trưởng Nội Vụ tương lai), một hội viên tam điểm, mở đầu chế độ toàn quyền Đông Dương.
Ở Hà Nội, loge «Fraternité Tonki-noise» thành lập năm 1886 do bác sĩ Jean-Marie de Lanessan đứng đầu, gồm có các nhân vật : hai anh em nhà Schneider, thuyền trưởng Robin, trung úy Hossinger và ông Charles Halais. Lúc đầu có khoảng ba chục hội viên, năm 1892 lên tới 54 hội viên
Tại Hải Pḥng «L’Étoile du Tonkin» thành lập năm 1892.
Năm 1907, Đà Nẵng thành lập loge «La Libre Pensée d’Annam» 1907, đến 1911 loge này chuyển về Huế.
Từ 1897, các Toàn Quyền tại Đông Dương phần nhiều đều là hội viên tam điểm : Paul Doumer, Beau (1902-1908) Klobukowski(1908-1911) Đến thời Albert Sarrault, thời kỳ trước thế chiến thư nhất, có rất nhiều loges thành lập : bốn loges thuộc hệ thống GLDF (Grand Loge de France). Nhân số năm 1906 có 500 hội viên.
Sau một thời gian ít hoạt động do chiến tranh 1914-1918, kể từ 1919 các loges trở lại hoạt động mạnh hơn: tại Saigon Les Abeilles d’Orient và la Fraternité d‘Extrême-Orient.
Cũng như trước thế chiến thứ nhất, các Toàn quyền sau đó phần nhiều là nhân viên tam điểm : Long, Merlin, Varenne.
Alexandre Varenne, thuộc nhóm xă hội rất được ḷng giới trí thức cấp tiến, đă dùng nhiều người bản xứ trong hệ thống hành chánh của ông. Dưới thời Varenne có nhiều người Việt nam gia nhập tam điểm như sẽ tŕnh bày sau.
Nhưng phe bảo thủ Pháp lo ngại, dưới sự điều động của Jean Lan, La Fraternité Tonkinoise chỉ trích Varenne là mị dân, bất tài. Năm 1927 chính phủ Point Carré thay thế Varenne bằng Pasquier. Khi Pasquier chết năm 1933, loge l’Avenir Khmer đề nghị tái bổ nhậm Varenne, nhưng cuộc vận động bất thành
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1930, Đông Dương có nhiều biến động. Người Pháp
phải đối phó với cuộc vận động phục quốc của Quốc Dân Đảng, sự thành lập Cộng
Sản Đông Dương, Toàn quyền Pasquier thi hành chính sách đàn áp. T́nh trạng này
chia rẽ giới tam điểm, Jean Lan thuộc loge Fraternité Tonkinoise đề nghị với
Grand Loge tán trợ hành động của Pasquier, trong khi Jean Bouault thuộc Écossais
du Tonkin và La Ruche d’Orient chỉ trích chính sách Pasquier, họ gọi đó là một
chế độ độc tài cảnh sát (dictature policière).
Một số nhân vật tam điểm Pháp ở trong phe đàn áp, Maurice Weil, thuộc loge Khong
Phu Tseu, chủ tọa ṭa án đề h́nh, chỉ trong 5 ngày đă xử 121 người Việt Nam tham
gia cách mạng, trong khi hai nhà giáo tam điểm khác, Constant Metter và Marcel
Ner gửi phúc tŕnh về ủy ban trung ương Ligue des droits de l’homme chỉ trích
hành động của Weil.
Thời kỳ đen tối của Tam Điểm tại Việt Nam khi Chiến tranh 1939 bắt đầu tại Âu
Châu, trong thời kỳ Đức chiếm đóng, chính quyền Pháp do thống chế Pétain cầm đầu
cấm Tam Điểm họat động. Toàn quyền Decoux áp dụng chính sách cấm đoán các hội
kín do Vichy chủ xướng từ tháng 8 năm 1940. Tài sản và của các loges bị xung
công hay phát măi. Luật ngày 11 tháng 8 năm 1941 cấm giới cao cấp tam điểm giữ
các chức vụ công lập.
Hết chiến tranh thứ hai, người Pháp trở lại Đông Dương với Đô Đốc d’Argenlieu
làm Cao Ủy, Tam Điểm khôi phục lại một cách khó khăn. Tại Sài g̣n, ngay từ tháng
10 năm 1945 Ủy viên Cộng ḥa Cédile thúc đẩy Maurice Weil làm sống lại các
loges.
Ngày 11-12-1945, một cuộc họp khôi phục lại loge Khong Phu Tseu, gồm có 10 nhân
vật, trong đó chỉ có một người Việt là bác sĩ Tân Hàm Nghiệp.
Theo chân tướng Leclerc vào Bắc Việt đầu năm 1946, tại Hà nội đă có vận động tái
lập loge La Fraternité Tonkinoise. Hai loges Confucius và Les Écossais du Tonkin
không hoạt động lại, Chỉ có La Fraternité tonkinoise hồi phục dưới sự chủ tọa
của Eugène Berthet. Lúc đó độc lập và thống nhất Việt Nam là vấn đề then chốt,
sự tham dự của người Việt trong tam điểm tại Hà Nội hầu như rất giới hạn.
Thời đệ nhất cộng ḥa của tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, nhân số tam điểm ít dần, và
hoạt động thưa thớt. Chính quyền thời đó bắt đầu ghé mắt đến trụ sở của hai
loges «Khong Phu Tseu» và «Réveil de l’Orient». Năm 1960, đô trưởng Sài g̣n gửi
văn thư cho l’Association Le Réveil de l’Orient và Khong phu Tseu yêu cầu hoàn
lại bất động sản cho chính quyền Việt nam. Cũng trong thời kỳ này một số tam
điểm Mỹ, mà nhân số lên đến 80 người, vận động thành lập tam điểm hệ thống Phi
Luật Tân, nhưng không có kết qủa cụ thể.
Sang đệ nhị cộng ḥa, năm 1965, Raymond Guilmet tổ chức lại tam điểm nhờ sự trợ
giúp của một nhân viên trong Mission Culturelle, nhưng hoạt động yếu ớt, nhân số
năm 1972 vẻn vẹn c̣n 10 người, rồi chấm dứt hoạt động hẳn từ 1975.
Người Việt Nam trong hội Tam Đ́ểm
Mặc dầu tam điểm đă hoạt động tại Việt Nam trong buổi đầu của chế độ thuộc
địa, nhưng chỉ dành cho người Pháp. Tuy nhiên trong Franc-Macons d’Indochine,
Jacques Dalloz có ghi lại một người Việt tên là Trần Nguyên Hanh đă gia nhập “Le
Réveil de l’Orient” năm 1884, nhưng bị khai trừ v́ không đóng niên liễm!
Đầu thế kỷ 20, thường chỉ có người Việt Nam sinh sống trên đất Pháp gia nhập tam
điểm.
Ông Đỗ Hữu Trí, luật sư tại Paris, hội viên của loge “Libre Examen” từ 1903 đến
1904, sau vào loge Action de Paris.
Ông Cao Triều Phát, thuộc một ḍng họ trung lưu Nam Kỳ, thông ngôn trong thế
chiến thứ nhất, gia nhập tam điểm tại Bordeaux năm 1917. Khi trở về nước, ông
hoạt động trong tam điểm tại Sài g̣n, nhưng sau đó ông sang hàng ngũ Việt Minh.
Trong thập niên 20, một số người Việt Nam phần đông là các du học sinh tại Paris
và tại các tỉnh phía nam nước Pháp, gia nhập các loges “Vrais Fidèles” và “A.
Comte”. Có hai nhân vật nổi tiếng trong nhóm này, là Bùi Quang Chiêu và Dương
Văn Giáo.
Ông Bùi Quang Chiêu sinh năm 1873 du học ngành canh nông tại Alger rồi sang
Paris. Ông sáng lập đẳng lập Hiến năm 1919, ông vào loge tam điểm
”France-Colonnies” năm 1925, ông muốn lợi dụng tinh thần cấp tiến để cải tiến
t́nh trạng thuộc địa. Trong cuộc bầu cử hội đồng thuộc địa, 10 người nhóm Lập
Hiến của ông trúng cử và ông được bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng, riêng ông bị
cánh thực dân bảo thủ công kích, nên ông không tiến xa trong hệ thống của tam
điểm.
Ông Dương Văn Giáo sinh năm 1988, du học tại Pháp, gia nhập loge Jean Jaurès năm
1924.
Cũng phải kể đến Hồ Chí Minh (2), gia nhập loge Fedération Universelle năm 1922
dưới tên Nguyễn Ái Quấc, khai ngày sinh là 15-2-1895, nghề nghiệp thợ ảnh, do sự
giới thiệu của Boulanger. Theo hồ sơ cảnh sát Pháp, trong năm 1922 ông Hồ có
tham dự nhiều buổi họp của tổ chức tam điểm.
Một trường hợp đáng chú ư khác là cựu hoàng Duy Tân, bị chính quyền bảo hộ truất
phế năm 1917, đầy sang đảo Réunion, làm nghề sửa máy radio, lúc ấy người Pháp
gọi ông là hoàng tử Vĩnh San. Ông gia nhập loge «L’Amitié» năm 1927.
Trong khi tại chính quốc người Việt gia nhập tam điểm dễ dàng, th́ ở trong nước,
người Pháp tranh luận khá lâu để “cho phép” người “bản xứ” gia nhập Tam điểm.
Sau thế chiến 1914-1918, tam điểm thuộc hệ thống Grand Orient de France (GODF)có
các loges «Le Réveil de l’Orient» và «Les Fidèles du Progrès» tại Sài g̣n, loge
«La Fraternité Tonkinoise» tại Hà Nội, loge «l’Étoile du Tonkin» tại Hải Pḥng,
loge «l’Avenir Khmer» tại Pnom Penh; thuộc hệ thống Grand Loge de France (GLDF)
có loge «Ruche d’Orient» tại Sài g̣n, và «Les Écossais du Tonkin» tại Hà Nội.
Thành viên là người Pháp, hoặc người Việt đă gia nhập tam điểm tại Pháp, nhưng
đối với dân thuộc địa th́ lại khác. Cuộc tranh luận bắt đầu từ thập niên 20.
Năm 1922, Goupillon trao cho thuộc viên làm một cuộc nghiên cứu về vấn đề này.
Trong tờ tŕnh ngày 22-1-1924 gửi về tổng thư kư Grand Loge De France, ông đề
cập đến dân bản xứ đến nay vẫn chưa có mặt trong các loge tam điểm, ông kết luận
phải để dân thuộc địa gia nhập tam điểm vào các loges hiện hữu một cách khôn
khéo, hoặc là thành lập các loges đặc biệt. Paris trả lời để cho địa phương tùy
nghi, nếu thấy hợp lư, v́ chưa bao giờ cấm sắc dân da vàng gia nhập tam điểm.
Ngày 23 tháng 12 năm 1924, Goupillon trả lời «Les indigènes ne sont pas assez
évolués et ne seront pas avant longtemps».
Với sự tán trợ của Toàn quyền Maurice Long và Thống đốc Nam Kỳ Cognacq,
Goupillon thiết lập một văn pḥng bảo trợ (cho tập sự tam điểm) gồm có người
Pháp và hai người Việt là Bùi Quang Chiêu và Nguyễn Văn Thinh.
Một số hội viên tam điểm người Pháp chống lại các loge tam điểm mà người Việt
Nam chiếm đa số, Jean Lan trong loge «Fraternité Tonkinoise», Paquin thuộc loge
«l’Étoile du Tonkin», Bouault thuộc loge «Le Réveil de l’Orient», đă tỏ ư lo
ngại người Việt có thể biến tam điểm thành các tổ chiến đấu chống Pháp. Trong
bức thư ngày 10 tháng 1 năm 1934 gửi về Paris cho Grand Orient de France, Jean
Lan tố cáo loge Confucius chỉ có 8 người mà người Việt đă chiếm 5 chỗ với Phạm
Huy Lục chủ tọa. Jean Lan đưa ư kiến là nếu một người Pháp làm chủ tịch loge sẽ
tránh được các âm mưu bài thực dân. V́ vậy toàn quyền lâm thời hồi đó đă có dự
định đóng cửa loge «Confucius» và được Jean Lan tán thành. Nhưng v́ ngại nhiều
phản ứng người Pháp chưa dám ra tay, loge «Confucius» vẫn tồn tại đến năm 1940.
Thời kỳ phát triển mạnh của tam điểm trong giới trí thức Việt Nam bắt đầu từ năm
1925. Tại Hà Nội Albert Janvier thành lập loge Confucius, loge này ủng hộ chính
sách của Toàn quyền Varenne và nhận được cấp viện của chính quyền thực dân. Loge
Confucius gồm có một số trí thức người Việt chịu ảnh hưởng của văn hóa Pháp, nổi
bật hơn cả là các ông Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Huy Lục, Phạm Quỳnh.
Ông Nguyễn Văn Vĩnh, sinh năm 1882, hơn Phạm Quỳnh 10 tuổi, nhưng hai người có
nhiều điểm tương tự, cùng tốt nghiệp trường thông ngôn, thông thạo văn hóa Pháp
và Việt, hiểu biết thêm về nước Pháp qua việc tham dự đấu xảo thuộc địa
Marseille, hai ông cùng trong giới báo chí, dịch sách Pháp văn, truyền bá quốc
ngữ.
Tuy nhiên Phạm Quỳnh thiên về quân chủ trong khi Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương cộng
ḥa. Sau này ông Phạm Quỳnh trở thành thượng thư trong triều đ́nh Bảo Đại
Ông Phạm Huy Lục, đảng viên đảng xă hội (SFIO), là Chủ Tịch Viện Dân Biểu Bắc kỳ
Tại Sài g̣n, ngày 19-12-1929 có cuộc họp sơ khởi thành lập một loge mới, do Weil
chủ tŕ, loge sẽ gồm một số trí thức, theo nghi thức écossais, niên liễm cao,
làm việc bằng tiếng Pháp. Ngày 4-1-1930, lại họp để đặt tên cho loge, giữa các
đề nghị Thích Ca, Khổng Mạnh, Lăo Tử, cuối cùng theo đề nghị của Bùi Quang Chiêu,
danh xưng «Khong Phu Tseu» được chấp nhận; buổi họp gồm có Bùi Quang Chiêu,
Dương Văn Giáo, Cao Triều Phát, Cao Sĩ Tấn, Nguyễn Xuân Bái, Đỗ Hữu Bưu, Trần
Văn Tư.
Loge Khong Phu Tseu gốm phần đông luật gia như Weil Lavau, đặc biệt có hai luật
sư Việt từ Pháp về nước, các ông Trịnh Đ́nh Thảo và Dương Văn Giáo
Ông Trịnh Đ́nh Thảo sinh năm 1901, con của một viên chức trong chính quyền thời
đó, ông được thống đốc Cognacq giúp đỡ đi du học luật tại Aix-en-Provence, ở đó
năm 1927 trong hội nghị Aix, với hơn trăm sinh viên «annamites», ông chỉ trích
chính sách thuộc địa. Năm 1931 ông gia nhập loge «La Ruche», về sau vào loge «Khong
Phu Tseu». Năm 1935 ông ứng cử vào hội đồng thuộc địa Nam Kỳ, nhưng bị thống đốc
Pagès từ chối. Trong hệ thống tam điểm ông có chức tước cao lên đến hàng 31
trong 33 trong phẩm trật tam điểm.

(Trích Historia Special N48 Juillet - Aout 1997, trang 71)
Dương Văn
Giáo, vào tam điểm tại Pháp năm 1924, là chủ tich hội sinh viên Việt nam tại
Pháp, ông đă tham dự và diễn thuyêt tại hội nghị Aix (congrès d’Aix). Là sáng
lập viên của loge «Khong phu Tseu», ông đă thay thế Weil năm 1934, và đắc cử vào
hội đồng thuộc địa năm 1935. Nhưng ông bị khai trừ khỏi luật sư đoàn, ông rời
Sài g̣n và sang Thái Lan, trở thành cố vấn cho Pridi Banomyong, một nhân vật
chính trị quan trọng trong việc canh tân Thái lan, mà ông đă quen biết khi c̣n
là sinh viên luật bên Pháp.
Theo Nguyễn Ngọc Châu, loge «Carrefour International de Fraternité» được thiết
lập năm 1935 tại Tây Ninh, gồm có nhiều nhóm khác nhau Trần Trọng Kim, Tạ Thu
Thâu , Mỹ, tuớng Chennault và Stilwell, Anh, Nhật, Tầu và Phi Luật Tân (Osmena),
Hợp tác với nhóm này c̣n có Bùi Quang Chiêu, Trần Quang Nghiêm, Cao Triều Phát,
Đặng Trung Chu; về sau một số tách ra như Bùi Quang Chiêu, Tạ Thu Thâu, Trần
Trọng Kim...
Do sáng kiến của Dương Văn Giáo, hai loges La Ruche và Khong Phu Tseu đề nghị
thành lập một loge cho Hoa Kiều tại Việt Nam, viện lư là mặc dù bên Tàu đă có
Tam Điểm, nhưng chịu ảnh hưởng phe anglo-saxon (Tưởng Giới Thạch cũng là một hội
viên tam điểm). Do đó, ngày 28 tháng 2 năm 1940, loge chinoise «Minh Luen Thang»
(temple de Confucius) được thành lập với Tan Jou Ky làm chủ tịch
Cũng nên kể tên vài nhân vật khác có sinh hoạt ít nhiều trong tam điểm, như
Hoàng minh Giám, Lê Thước, Tạ Thu Thâu (hồi du học bên Pháp), Vương Quang
Nhường, Phạm Ngọc Thạch, Phạm Văn Quang, Thẩm Hoàng Tín, Vũ Đ́nh Mân, Lê Thăng,
Nguyễn Quang Oánh, Vương Tử Đại, Nguyễn Công Chiêu, Lê Thành Ư, Trần Văn Lai
Vài nhận định
Dường như sau khi các cuộc vận động dành tự chủ bất thành, từ cần vương, duy
tân, đông du, đến chính trị hay cách mạng, trong t́nh huống c̣n phải lệ thuộc
người Pháp, một số trí thức Việt nam muốn chuyển sang con đường hoạt động văn
hóa, kỹ thuật hay xă hội.
Mặt khác, người Pháp phải bảo vệ quyền lợi của họ bằng cách ngăn ngừa các ḍng
tư tưởng văn minh khác của Anh và Đức xâm nhập vào Việt Nam, nhất là sau thế
chiến thứ nhất, đă mở cửa cho người «bản xứ» vào hội tam điểm.
Toàn quyền Albert Sarraut trong hai nhiệm kỳ 1911-1913 và 1917-1919 chủ trương
đem văn hóa Pháp ngăn chặn sĩ phu Việt nam thời đó thường ham chuộng các dịch
phẩm Trung Hoa.
Sarraut báo cáo về bộ thuộc địa rằng dân Việt rất ít thông thạo về văn hóa Pháp.
Ông viết tiếp Anh văn và Đức văn có rất nhiều ảnh hưởng tại viễn đông, các dịch
phẩm xuất bản tại Thượng hải do các cửa biển đă du nhập vào VN. Ông tỏ ra bực
bội khi thấy người Việt thích đọc Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu.
Trong bản tường thuật trên tờ Viễn Đông Bác Cổ năm 1911 về kỳ thi quan trường,
Noel Péri tiết lộ rằng không thấy công luận chú trọng vào Pháp quốc, và sách báo
Trung Hoa đầy rẫy trên các tủ sách của giới quan lại Việt Nam tại miền bắc, nhất
là sách của Khang Hữu Vi, mặc dù đă có lệnh cấm.
Nhận xét thấy vào năm 1917 có khoảng 75.000 học sinh tại Việt nam, năm 1921 lên
đến 150.000, năm 1931, số người đọc sách báo tại Bắc kỳ vào khoảng 10.000, người
Pháp chú trọng trợ giúp giới trí thức Việt Nam để phát triển văn hóa Pháp. Các
ông Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Văn Vĩnh với các cơ quan ngôn luận Nam
Phong, La tribune Indigène Đông Dương tạp chí, rồi Trung Bắc Tân văn là những ví
dụ cụ thể.
Theo Vatrac, đến năm 1930 người Việt c̣n tiếp tục đọc sách báo Trung Hoa in tại
Quảng Châu và Thượng Hải, bán rẻ với giá từ 10 tới 12 xu. Trong cuộc chiến văn
hóa chính trị này, người Pháp liền mua sách nói về tư tưởng tây phương của
Nguyễn Văn Vĩnh và phân phối miễn phí 65.000 tập sách và 1.800.000 truyền đơn
Albert Sarraut tín nhiệm hai cố vấn chính trị văn hoá Marty và Schneider trong
các kế hoạch dùng người Việt Nam và phương tiện văn hóa Việt Nam để ngăn chặn
các ảnh hưởng văn hóa tây phương khác. Ông muốn đưa văn minh Pháp xích gần lại
với người Việt nam.
Câu hỏi đặt ra là nhóm người Việt trong các hội tam điểm đă làm được những ǵ.
Âu hóa, duy tân theo phương cách của họ kết quả ra sao. Đáp số có lẽ cần một
công tŕnh nghiên cứu có chiều sâu đáng kể.
Tuy không lập thành một nhóm riêng biệt có mục tiêu rơ rệt, nhưng họ có địa vị
uy tín. Từ khi Toàn Quyền Varenne nhậm chức, trong khoảng 16 năm (1925-1940),
người «bản xứ» gia nhập đông đảo vào tam điểm, tiến cao thêm trong phẩm trật của
hội kín. Dù có va chạm với một vài người Pháp (như Jean Lan, Paquet ...) hội
viên vẫn c̣n mầu sắc b́nh đẳng trong sinh hoạt của họ, nhất là trong hai loges
«Confucius» và «Khong Phu Tseu», ở đó người Việt chiếm đa số. Về điểm này, có
thể nói Tam Điểm là một trong ba tổ chức cấp tiến dưới chế độ thuộc địa hồi đó,
hai tổ chức khác là đảng xă hội SFIO, và hội Nhân Quyền.
Thế nhưng hoài băo canh tân đất nước trong sự liên kết với chính quyền thuộc địa
là một thất bại của những người tam điểm Việt nam, tuy họ có nhiều thiện chí và
nhiệt thành. Không như các nước tự chủ Thái Lan và Nhật Bản đă thành công trong
việc canh tân đất nước của họ đầu thế kỷ 20, ở Việt Nam sự thành công trong việc
hợp tác với phe thống trị để dành lại chủ quyền cho người dân chưa có một kết
quả nào đáng kể.
Sự nghiệp của nhiều nhân vật mai một dần. Dương Văn Giáo sang Thái Lan làm cố
vấn cho ông bạn Pridi, Nguyễn Văn Vĩnh chết khi đi t́m vàng tại Lào, trong khi
người bạn Thái lan Vichit Vathakan của ông trở thành bộ trưởng văn hóa, Trần
Trọng Kim chưa làm được ǵ trong chức vụ thủ tướng, Nguyễn Văn Thinh oan nghiệt
chấm dứt đời ḿnh ngay khi c̣n tại chức thủ tướng, Tạ Thu Thâu bị Việt minh
giết, Phạm Quỳnh tuy gây được sự nghiệp văn học, nhưng cuộc đời kết liễu thảm
thuơng, một số khác theo đảng cộng sản.
Có thể lấy ngày 27-6-1952 đánh dấu cuộc chia tay tam điểm Việt Pháp. Hôm ấy, Thị
trưởng Hà Nội Thẩm Hoàng Tín, trước đây là một nhân vật trong loge «La
Fraternité tonkinoise», gặp các nhân vật tam điểm Pháp (Gréberg, Barjon,
Jiffard) yêu cầu Pháp trao trả độc lập hoàn toàn trong ṿng 18 tháng cho Việt
Nam. Vénérable Grébert phản kích đề nghị này, trong báo cáo về Paris ông mệnh
danh nguời «anh em cũ» này thuộc bọn hăm hở bài Pháp (acharnés propagandistes
antifrancais).
Cho đến năm 1954 ở Hà Nội không c̣n người Việt sinh hoạt trong tam điểm, tại
Saigon bác sĩ Tân Hàm Nghiệp lẻ loi giữa đám người Pháp.
Phạm Hữu Trác
29-7-2007

Trích Historia Special N48 Juillet - Aiut 1997, trang 127

[1] Danh xưng Tam Điểm do cách viết trong nội bộ của hội từ 1775, dùng ba chấm, tượng trưng cho Tự Do, B́nh Đẳng, Ba`c Ái.