HỘI TAM ĐIỂM
Nguyễn Văn Hoàng

I- Lịch sử hội Tam Điểm


1. Hội Tam Điểm là ǵ?

Hội Tam Điểm tự coi như là một ḍng hệ kết nạp (Ordre Initiatique) các hội viên để huấn luyện nhau bằng những biểu tượng (symbole) và các nghi lễ (rites) một cách bí truyền (Esotérique), phi giáo điều (adogmatique), lũy tiến (Progressif) tới sự hoàn thiện của nhân loại. Phương tiện hoạt động của họ là làm việc phước thiện, khuynh hướng của họ lại thay đổi tùy theo thời đại và xứ sở. Tổ chức Tam Điểm có rải rác trên nhiều quốc gia trên thế giới, quy tụ những hội viên cấp tiến với mục đích tự cải thiện đời sống tinh thần và đạo đức.

Hội Tam Điểm thường được coi như là một tổ chức đạo đức đặc biệt h́nh dung bằng những biểu tượng. Họ tự cho như là một công cụ huấn luyện ái hữu (outil fraternel) dùng những phương pháp đặc biệt để huấn luyện các khả năng nghe, suy nghĩ và đối thoại để có thể truyền đạt các giá trị đă thâu hoạch được cho các người chung quanh.

Nói một cách đơn giản, hội Tam Điểm không phải là một đảng chính trị v́ không chủ trương cướp chánh quyền, không phải là một tôn giáo v́ không loại bỏ tôn giáo nào và không đi thuyết phục tín đồ, không phải là một giáo phái (secte) v́ không theo một chủ thuyết nào (doctrine). Sự kết nạp vào hội Tam Điểm rất khắt khe, song sự ra hội lại rất tự do và thong thả.

2. Mục tiêu của hội Tam Điểm:

Mục tiêu chính của hội Tam Điểm là xây dựng. Họ làm việc để xây dựng Đền Nhân Loại (temple de l’humanité), nhiệm vụ của họ chỉ chấm dứt khi toàn thể nhân loại được phát triển. Dĩ nhiên với  ngưỡng vọng một tương lai như vậy, lư tưởng Tam Điểm chỉ là một huyền thoại (mythe), nhưng người Tam Điểm vẫn tin tưởng vào ngày có rất nhiều hội viên Tam Điểm trên toàn cầu để kết thành một chuỗi người đoàn kết (chaine d’union) có khả năng cho nhu cầu cần nhất của trí tuệ loài người.

3. Nguồn gốc của Hội Tam Điểm

Tuy là các tổ chức Tam Điểm thật sự không phải là một nghiệp đoàn bắt đầu xuất hiện đầu tiên ở Ecosse (Tô Cách Lan) vào thế kỷ thứ XVII, song họ đă cho rằng họ có những nguồn gốc huyền bí, huyền thoại từ thượng cổ.

Theo Thánh kinh th́ Vua David cho xây đền Salomon để chứa Arche Dalliance (cái rương chứa các phiến đá có khắc 10 điều răn (commandements), dấu hiện liên kết (signe d’alliance) giữa Thượng Đế và người Do Thái) trước đền có hai cột đồng đen Jakin và Boaz, một biểu tượng Tam điểm do Hiram de Tyr. Sau này, Hiram bị ba người thợ ám sát v́ họ muốn có bí mậy xây cất của Hiram và người ta cho rằng Hiram và Salomon là thủy tổ của Franc-Maconnerie.

Theo các bản viết tay (Manuscrit) gọi là Old charges (các trách vụ cũ) có tên là “Régius” vào thế kỷ thứ 14, th́ ngành xây cất liên hệ tới khoa h́nh học (Géométrie) do đám con của Lamech viết trên các cột bằng đá. Sau cơn Đại hồng thuỷ (Deluge), một người cháu của Noé, tên Hermanis t́m ra những bí mật xây cất và h́nh học trên các cột đá này để đem dậy cho các người thợ xây tháp Babel. Sau đó Abraham sang Ai Cập dậy h́nh học cho Euclide để ông này đem về dạy ở Hi Lạp. Tiếp đó, các người xây cất trở về Jérusalem để xây đền Salomon.

Theo bản Constitution d’Anderson (viết bên Anh năm 1723) th́ nghề xây cất đă khởi sự từ thời ông Adam là người thợ xây cất đầu tiên đă được Thượng Đế dạy cho h́nh học. Nhưng qua kinh Cựu Ước (Ancien Testament) th́ Vua Salomon là Franc-Macon và là Grande Maitre của Loge (chi hội) Jérusalem. Sau đó, “nghệ thuật hoàng gia” (Art Royal) này mới truyền sang Hy Lạp, Ai Cập vào đế quốc La Mă và người ta cho rằng Vua Auguste (-14 cho tới 63 sau Công Nguyên) là Grand Maitre du Loge de Rome v́ ông ta đă là người đỡ đầu cho kiến trúc sư Virtruve.

Trong thời đế quốc La Mă, những nhóm ngành nghề tụ họp thành Collégium để lo các việc kinh tế và xă hội của hội như các collégium của các nhà buôn đứng ra điều đ́nh với chính quyền để giữ độc quyền như ngành buôn bán ngũ cốc lại được miễn sưu thuế [1] và miễn dịch vụ. Mỗi ngành đều có Thánh tổ và hàng năm họ lo sửa lễ để mừng Thánh tổ. Họ cũng mời những người có quyền thế (dĩ nhiên là có giầu có) để bảo trợ bằng tài chánh và thế lực và họ đền bù sự đóng góp này bằng cách tặng cho các ân nhân danh hiệu Patron (quan thầy).

Sau đó, đế quốc La Mă bị các rợ Gothique và Germanique từ Đức sang tàn phá vào các thế kỷ từ VI tới thế kỷ IX th́ không c̣n thợ. Lần lần các ngành nghề mới khôi phục lại thành các Guilde (gốc tiếng Đức Gelt là đồng tiền)Thánh tổ của ngành xây cất là thánh Jean d’Evangeliste và ngày vía là ngày 27 tháng 12, Khi được khai tên kết nạp (initier) người tập sự phải tuyên thệ giữ bí mật nhà nghề. V́ luôn luôn phải di chuyển từ công trường tỉnh này sang công trường tỉnh khác, nên họ có cách nhận nhau bằng những biểu tượng (symbole) và những mật mă (code). Một người thợ sang Pháp, được Charles Martel, ông của Vua Charlemagne thâu nhận; một người khác là Thánh Alban sang Anh và được Hoàng hậu Edwin con ông Vua Anglo Saxon Athelstan bảo trợ tích cực đến nỗi chính ông ta cũng thành maçon (thợ xây cất)

Tới đây, cũng nên nói qua về Thập Tự quân với Hiệp sĩ ḍng Temple de Salomon và nhóm Rose Croix v́ có ảnh hưởng tới Hội Tam Điểm sau này. Prieurés de Sion Năm 1000, một lănh chúa là Godefroi de Bouillon ở đất Thánh lập ra abbaye de Notre Dame du Mont Sion: khi thấy các tín đồ đi hành hương tại Jérusalem bị cướp bóc, các tu sĩ ḍng này đă bí mật can dự vào việc thành lập ra ḍng Hiệp sĩ Temple (1118) de Salomon là một ḍng quân sự  do Hugue de Payns chỉ huy, lấy tên là Pauvres Chevaliers du Christ (Bần Hiệp Sĩ Thiên Chúa) để bảo vệ khách hành hương. Họ đóng quân ở địa điểm đền Salomon do đó lấy tên là Chevaliers du Temple. Được Giáo Hoàng Innocent II tin cậy, ḍng này trở nên quyền thế và giàu có, khiến cho Vua Philippe le Bel đố kỵ và ra lệnh tiêu diệt nhóm này vào ngày thứ sáu 13/10/1307 (do đó có tiếng là ngày xui xẻo). Thủ lănh Jacques de Molay bị thiêu (1314), dư đảng trốn sang Ecosse, tài sản bị tịch thu cho nhà chung Hospitaliers. Nhóm Prieuré de Sion rút vào bí mật và lấy tên là Rose Croix (Rosae crucis) họ thành lập một hội thần bí nhưng không dính tới tôn giáo nào nữa. Họ có triết lư siêu h́nh và hữu h́nh (metaphysique et physique) mục đích để gợi những năng khiếu của con người. Hội nhắc các đoàn viên tầm quan trọng của các định luật vũ trụ và thiên nhiên và nên áp dụng các luật đó. Chữ Rose crucien từ gốc Latin có nghĩa là chữ thập và hoa hồng do ở biểu tượng chữ thập và hoa hồng của họ. Thủ lănh của họ gọi là nautonier, như Leonardo da Vinci, Isaac Newton, Victor Hugo, Jean Cocteau và gần đây Pierre Blanchard. Do đó, Franc Maconnerie là hậu duệ của Prieurés de Sion. Vài ḍng về chữ Franc-Maconnerie. Năm 1015 sau Công nguyên, tại Strasbourg, một chi hội (loge hay atelier) đầu tiên của các người thờ đẽo đá nhà thờ Strasbourg được thành lập.

Năm 1119 Hội đồng các Giám mục thành Rouen kết án các nghiệp đoàn (confrérie)

Năm 1245, bắt đầu xuất hiện tại Strasbourg các tục lệ tiếp nhận hội viên và khuyến cáo các hội viên giữ t́nh huynh đệ và giữ bí mật. Cũng vào năm này có đại hội tụ họp 5 chi hội lớn, ấn định các điều lệ đạo đức, tôn giáo và nghề nghiệp.

Năm 1276 Vua Rodolphe 1er de Halsbourg ban miễn trừ (franchise) cho các thợ đẽo đá nhà thờ Strasbourg.

Năm 1315 tại Strasboug có đại hội các thợ đẽo đá và thợ xây dựng và các người  xây dựng lại lấy năm này là năm khởi sự của Hội Tam Điểm mà ta gọi là franc-maconnerie opérative tạm gọi là xây cất đặc miễn đương hành. Vào năm 1356 tại Luân Đôn có sự tranh giành giữa những thợ đẽo đá (tailleurs de pierre) và người xây dựng (poseurs de pierre) do đó có luật lệ năm 1411 ấn định việc kiểm soát nghề nghiệp: người học việc học 7 năm trời, phải ra trước một uỷ ban để tuyên thệ trung thành với nghề, với thị xă, với vua và lúc đó họ mới trở thành người tự do hành nghề xây cất (free mason), có thể chữ này cũng rút ngắn từ chữ freestone mason tức là maçon de pierre franche là thợ xây cất đá mềm, dễ đẽo và dễ điêu khắc. Chữ “free mason” (franc macon) đă chính thức được dùng từ năm 1376 và năm 1390 người ta đă viết ra cuốn Thủ bút Régius hay Manucrist Royal nói về tổ chức ngành xây cất. Năm 1616 nhóm Rose Croix ra tuyên ngôn về đường lối và mục đích như đă nói ở trên (đoạn cuối về Prieuré de Sion)

4. Tại Ecosse.

Năm 1583 Jacques VI con của Marie Stuart, nữ hoàng Ecosse lên ngôi. Ông trao cho William Shaw quản lư tiền bạc và xây các cung điện. Tuy lúc đó Ecosse đă ngả sang Tin Lành, nhưng William Shaw vẫn c̣n giữ Gia Tô Giáo và năm 1598 ông đặt ra một số luật lệ quản lư, sắp đặt ngôi thứ trong ngành xây cất trong đó có nói tới những cách để nhận nhau. Năm sau, Shaw lại c̣n định thêm là các bậc thầy trong ngành xây cất phải có nhiệm vụ huấn luyện người tập sự và dạy họ cách để nhớ được các kỹ thuật đó. Bắt chước người La Mă, họ cũng lựa một quan thày là William Sinclair là lănh chúa Roselin, v́ Sinclair là hậu duệ của vị hầu tước đă cho xây Chapel Roselyn. Tới năm 1801 William Sinclair cũng lấy tên là William, cho ra một cái charte cho franc maconnerie và các lănh chúa được lănh danh hiệu maçon từ đó. Hiện nay charte này c̣n ở Chapel Roselyn.

5. Maconnerie opérative và maconnerie spéculative

Cho tới đầu thế kỷ 17 ḍng xây cất vẫn là những nghiệp đoàn gọi là Guilde (tiếng Đức mà ra Gelt: đồng tiền) trong đó chỉ  có hai hạng thành viên, 1) tập nghề (apprenti) và 2) thợ bạn (compagnon) c̣n thầy nghề chưa có mà chỉ có người điều khiển công trường; khi vào nghề th́ phải qua lễ kết nạp là phải biết giáo lư (catéchisme), sự truyền đạt các bí mật nghề nghiệp, các ngữ vựng (vocabulaire) về các biểu tượng dùng trong các nghi lễ và tập tục. Cho tới lúc này ngành xây cất vẫn hoàn toàn chỉ là opérative (xây cất đặc miễn đương hành) mà thôi. Dần dần từ bên Anh và Tô Cách Lan mới biến dạng thành spéculative (xây cất đặc miễn tự biện) (spéculare = réfléchir) theo tiến tŕnh sau đây: Người xây cất cần sự giúp đỡ của các giới chức tôn giáo, các quư tộc, các chưởng khế là các người chủ tŕ các công tác xây cất lớn, nên đă mở cửa tiếp đón nhận các người này, ngược lại sau trận hoả hoạn lớn tại Luân Đôn, cả một đội binh xây dựng nhà thờ Gothique từ Pháp sang Anh, du nhập vào giới quư tộc và trí thức Anh những tư tưởng của Virtruve. Virtruve là kiến trúc sư thế kỷ I trước công nguyên viết cuốn De Architectura. Theo ông th́ người kiến trúc sư lư tưởng phải là người vạn năng (universel), không những phải biết h́nh học, biết dùng các vật liệu xây cất mà c̣n phải biết thiên văn, khí tượng, âm nhạc, y học, quang học, triết học, sử học và pháp chế (jurisprudence). Vào thời đó những người ở giai cấp cao và trí thức có tư tưởng cấp tiến hay thần bí (mystique) t́m hiểu vũ trụ và thế giới cùng cắt nghĩa chỗ đứng của con người qua một thứ ngôn ngữ và biểu tượng (symbole). Trong thời kỳ từ 1550-1710 lại có nhiều người nghiên cứu hoá học và phép luyện giả kim (alchimie) ước mơ như Sir Issaac Newton có thể đổi đá thành vàng hay ch́ thành vàng. Ngay trong những sách báo của Rosae Crucis (chữ thập hoa hồng) từ Đức và Societé Royale d’Angleterre (sẽ nói sau) cũng có những hội viên bí mật bàn nhau về chuyện luyện giả kim. Họ vừa có tiền vừa có kiến thức vừa có thế lực nên được khai tâm kết nạp vào Franc Maconnerie, dùng các biểu tượng, dùng các tập tục (rituel) về phép luyện giả kim dùng thuyết tân Platon (néoplatonisme) để lập ra những loge đầu tiên cho họ mà ta gọi là franc maconnerie spéculative (xây cất đặc miễn tự biện) hay franc maconnerie philosophique (xây cất đặc miễn triết học).

6. Franc maconnerie truyền bá sang Âu châu

Từ năm 1640-1650 bên Anh có nội chiến, giết Vua Charles 1er nhà Stuart theo đạo Gia Tô và con là Charles II phải đi trốn. Dư đảng của ông là nhóm jacobite ở lại bên Anh phải rút vào bí mật. Họ vận động để khôi phục lại nhà Stuart trong đó có nhóm College Invisible là franc maçonnerie spéculative. Khi Charles  II được khôi phục th́ College Invisible đổi thành Royal Society (Societé Royale) và Franc Maconnerie lại thịnh hành từ năm 1660 tới 1668, gồm nhiều tu sĩ, quư tộc, luật gia, và thông thái. Nhưng từ năm 1669 th́ Jacques II Stuart lại bị cháu và cũng là rể là Guillaume d’Orange lật đổ và Jacques II phải chạy sang St Germain-en-Laye ở Pháp và tới năm 1721 Jacques II lại phải dời đi Bar le Duc rồi đi Avignon, Cerlino và tới Rome.

Năm 1714, triều đ́nh Anh ở trong tay nhà Vua Hanovre (đối nghịch với nhà Stuart) th́ nhóm Jacobite định một lần nữa khôi phục lại nhà Stuart với sự trợ giúp của Louis XIV, nhưng cuộc đổ bộ thất bại (năm 1715), nhất là khi chính phủ nhiếp chính (Gouvernement du Régent, kế tiếp Louis XIV, lại thân Hanovre.

Ngày 24-06-1917 tại Londres có 4 chi hội The Goose and Gridiron (con ngỗng và vỉ nướng chả), The Crown (vương miện), The apple tree (cây táo), The Rummer and Grappe (cái tách và chùm nho) kết hợp lại thành Grande loge d’Angleterre sau này là nhóm Modern dưới quyền một grand maitre để kiểm soát mọi loge kể cả các loge jacobite.

A - Constitution Anderson: Ancient và Modern

Năm 1731, Duc de Montaigne được bầu làm hội trưởng và cho ra một bản constitution mới là constitution d’Anderson do tu sĩ James Anderson soạn ra nói về lịch sử franc maconnerie bên Anh, từ thời Adam tới thời Jacques I, Charles I và Charles II được coi như là franc maçon. Cuốn này (thân Hanovre) cũng khen Guillaume III, Hoàng hậu Anne và George I. Từ đó, những grand maitre được bầu ra đều thân Hanovre cả. Như đă nói ở trên, những loge đầu tiên đều ở Ecosse và theo statut Shaw rất độc lập. Họ thi hành một trong hai tục lệ:

1. Nghi lễ nhập hội của các nghiệp đoàn xưa gọi là “Rite de anciens devoirs

2. Hoặc là một tục lệ kết nạp (rituel d’initiation) đơn giản hơn trong đó sẽ truyền những “bí mật” c̣n gọi là “Rite du mot de maçon”.

Theo constitution Anderson tháng Giêng 1723 người ta dung hoà hai đường lối maconnerie anglicane (dùng Rite des anciens devoirs) với maçonnerie d’origine calviniste (dùng “Rite du mot de maçon”) bằng một quan niệm tôn giáo rộng răi hơn, gọi là quan niệm về “religion naturelle” tuy rằng cũng quy chiếu một chút về “Sainte Trinité” (Chúa 3 ngôi). Vào thế kỷ thứ mười bẩy, tại Anh có chừng 30 loges (chi hội) quy tụ những người thành thị, b́nh dân, thợ khéo và tiểu thương và từ năm 1676 với uy tín và những tập tục mới thu hút thêm các quư tộc và lớp trưởng giả. Mục đích của họ là làm phước thiện và tương trợ v́ hồi đó chưa có an ninh xă hội để lo bệnh hoạn, thất nghiệp và phí tổn ma chay.

Từ Grande Loge de Londres sau này sẽ truyền bá sang Âu, Mỹ, Úc, Phi và Á châu. Một vài năm sau, grande loge d’York và các loge khác, thành lập một loge lớn khác lấy tên là Grand loge of Ancient Mason chống lại grande loge de Londres, cho rằng loge này đă mất đi tính cách Thiên chúa trong các tục lệ. Tới thời chiến tranh với Napoleon, th́ hai loge lớn này đoàn kết lại thành một loge duy nhất gọi là United Grand Loge of  England (1813) có khuynh hướng ancient, buộc các hội viên tin vào Thượng đế. C̣n ở Pháp th́ Napoléon lại buộc các franc maçon phải quy tụ vào trong Loge du Grand Orient một khuynh hướng modern, không buộc hội viên phải tin vào Thượng đế.

B. Sự tranh chấp Jacobite / Hanovrien tại Pháp: Grande Loge de France

Tại Anh, năm 1722 nhóm Jacobite bầu kên một Grand Maitre chống Hanovrien là Duc deWharton để làm một âm mưu gọi là âm mưu Atterbury, nhưng cũng thất bại v́  Duc d’Orléan, nhiếp chính ở Pháp, thân Hanovrien, lại báo cho Anh biết trước. Tuy vậy những hội viên Jacobite vẫn không bị khai trừ khỏi hội và để giữ cho chi hội hoàn toàn là Jacobite, họ rút vào bí mật và thêm vào 3 cấp cũ trong tổ chức của họ, 30 cấp trên nữa. Từ đó Grande Loge d’Angleterre theo “Rite anglais” hay “hanovrien » chỉ có 3 cấp và nhóm Jacobite tự nhận là theo “Rite écossais ancien et accepté” (REAA) lại có 33 cấp. Sau lần âm mưu thất bại, nhóm Jacobite dời trụ sở chính sang Pháp và từ năm 1726 chi hội đầu tiên đă được lập tại Paris. Từ năm 1728-1738 có nhiều chi hội Tam Điểm được thành lập tại Pháp và chia làm hai nhóm Jacobite và Hanovrien. Constitution Anderson  được dịch ra tiếng Pháp và để thế vào chữ tôn giáo tự nhiên (religion naturelle) người dịch dùng chữ Thiên Chúa giáo v́ người Jacobite hoàn toàn theo Gia Tô giáo. Người Franc Macon Jacobite nổi tiếng là người écossais Sir Andrew Ramsey. Năm 1723, ông được vời sang triều đ́nh lưu vong Jacques III ở Rome. Ở đây, ông gặp David Nairne sau này thành bố vợ. Trở về Anh, ông xâm nhập được vào Grande Loge d’Angleterre trong một loge Hanovrien 1727. Và lúc đó th́ ông phải nh́n nhận sự thất bại của nhóm Jacobite. Năm 1733, ông cùng Nairne nắm Grande Loge de France cho tới năm 1738 th́ nhóm pro-hanovrien chiếm ưu thế trong Grande Loge de France tại Paris, nên Ramsey và Nairne phải về Saint Germain en Laye dể lập riêng một loge hoàn toàn Jacobite. Tháng Giêng năm 1738 nhóm Hanovrien ở Pháp ra một ấn bản Constitution mới chấp nhận Tin Lành và các người theo đạo khác. Nhóm Jacobite tức giận thuyết phục Giáo Hoàng Clément XII hạ sắc lệnh (bulle = in amimenti) lên án những tổ chức quần chúng trong đó mọi tín ngưỡng đều được coi bằng nhau. Phải chờ tới 1755 th́ nhóm Jacobite mới chết hẳn. Và chính phủ Pháp đă không c̣n thân Hanovre nữa, Grande Loge de France trở nên hoà hoăn cũng như xác nhận là theo Gia Tô Giáo và cũng công nhận những cấp cao của Rite  Écossais ancien et accepté (REAA).

C.  Grand Orient de France

Tại Pháp từ năm 1738 các Franc Maçon họp thành Grande Loge de France mới có một Grand Maitre đầu tiên người Pháp là Duc d’Antin. Tới 1771 th́ tại Paris đă có 41 loges và dưới tỉnh có 96 loges, ở thuộc địa Pháp có 5 loges và trong quân đội có 31 loges. Nhưng rồi sau cũng có sự chia rẻ, và sau buổi hội ngày 5 Mars 1773, một nhóm đă ly khai Grande Loge de France để lập ra Grand Orient de France, ngày một bành trướng lớn với 400 loges và hơn 30.000 hội viên. Những nhân vật tên tuổi như Condorcet, Laplace, Montesquieu, Helvetus, Marmontel và Le Breton, người viết Encyclopédie, đều là Franc Maçon cả. Tuy họ không trực tiếp làm cuộc cách mạng 1793 tại Pháp, song Franc Maconnerie đă là ḷ nung nấu những tư tưởng tiến bộ, những Lafayette, Dalton, Mirabeau, Dumoulin  thường họp nhau để có một ư tưởng xă hội chung. Vào thời kỳ đó, l’élite rationnaliste (lớp trí thức thuần lư) rất tự hào là Franc Macon. Năm 1890 F.M đă củng cố cho nền cộng hoà Pháp. Năm 1879, họ cắt bỏ trong constitution du Grand Orient 1870 đoạn buộc hội viên phải tin vào Thượng Đế. Điều một của nội quy mới tuyên bố là, có mục đích t́m kiếm sự thực, nghiên cứu nền đạo đức vạn năng (Universelle), khoa học, nghệ thuật. cùng là làm việc phước thiện. Hội không bỏ ai v́ tín ngưỡng và hội có châm ngôn là “Tự do, B́nh đẳng và Bác ái” (Liberté, Égalité, Fraternité)

Sự tu chính này không có ư xua đuổi người có tinh thần tôn giáo ra khỏi hội, nhưng lại gây đoạn tuyệt với Grande Loge Unie d’Angleterre và các chi hội Anglosaxon khác.

Như vậy là các hôi F.M có chung những biểu tượng về những tục lệ, song lại có hai khuynh hướng khác nhau: Một khuynh hướng Anglosaxon tự cho ḿnh là thứ thiệt tin vào Thượng Đế là “kiến trúc sư cả” đă vẽ ra các sinh vật, vũ trụ. Một khuynh hướng thứ hai khoan dung tôn giáo nhưng theo hiến chương Anderson đầu tiên. Họ cho rằng F.M phải làm việc để cải thiện con người và sửa soạn để cải tạo xă hội

D. Franc Maconnerie trên thế giới

Kể về sĩ số, Grande Loge d’Angleterre liên kết được 700 loges ở Canada, 400 loges ở Nouvelle-Zélande, 200 loges ở Ấn Độ, tổng cộng khoảng 1 triệu hội viên.

Bên Mỹ có 4 triệu hội viên, bắt buộc phải có tôn giáo và vẫn phân biệt chủng tộc. Người da đen có loge riêng.

Bên Đức có 400 loges và 30.000 hội viên có khuynh hướng xă hội và triết học.

Thụy Sĩ có loge Alpina, theo xu hướng Anh

Tại Pháp có Grand Orient de France từ năm 1773 với 400 loges, không theo Anh  và c̣n có từ trước grande loge de France (1738) với 200 loges họ vẫn duy tŕ sự vinh danh kiến trúc sư cả của Vũ trụ và được grande loge d’Angleterre nh́n nhận là hợp thức (régulier), tuy vậy họ vẫn giữ liên hệ với loge Grand Orient de France (1738)

II Tổ chức và sinh hoạt

A- Tổ Chức

Đơn vi của Tam Điểm là một loge (chi hội), có nhiều chi hội trong một địa phương (region). Các chi hội ở nhiều địa phương họp lại thành đại hội (convent). Nơi hội họp của một chi hội gọi là đền (temple), các buổi họp gọi là tenues theo những thủ tục (rite) c̣n gọi là tuân thủ (obédience).

1. Việc nhập hội và thể thức tuyển lựa

Hàng năm có hàng trăm người phàm (profanes) nộp đơn vào hội tam điểm (F.M) có 3 loại ứng viên: 1: Người được lựa (cooptés) hay được bảo lănh (parrainés) thường là thân nhân của các hội viên đă có những đức tính tam điểm (F.M): Nhân bản, tương nhượng (tolérance mutuelle); 2: Ứng viên độc lập tiếp xúc thẳng với chi hội; 3: Loại ứng viên không mấy tin tưởng gọi là alimentaire (tạm dịch là “ăn có”) vào hội để có mánh mung lợi lộc. Nếu hội đă biết trước các ứng viên thuộc loại người này, th́ sẽ t́m cách khước từ. Một trong những biện pháp là phải nộp trước bản tư pháp lư lịch xem có sạch sẻ, hai là phải qua một cuộc điều tra. Ba điều tra viên riêng biệt, không quen biết nhau tới thăm ứng viên đề đào sâu nhân cách của đương sự. Ngoài những câu hỏi về lư lịch, học thức, gia cang, họ cũng cử một người lại tận nhà để coi môi trường sinh sống của ứng viên, điều này sẽ bộc lộ nhân cách của đương sự. Họ cũng muốn xem bà vợ có chống việc gia nhập hội, nếu quả thật là vậy, th́ họ sẽ khuyến cáo đương sự hăy rút đơn.

Ngoài lư do cá nhân mà ứng viên đă nại ra, ứng viên cũng sẽ được hỏi thêm xem họ có thích dùng những biểu tượng, và các tính cách bí truyền, cùng là có kiên tŕ với các công tác nghiệp đoàn và công tác chính trị không? tức là muốn vươn ḿnh lên cao và có xu hướng triết lư. Sau khi hoàn tất nhiệm vụ, các điều tra viên làm bá cáo với chi hội trưởng. Thường là ngay buổi tối hôm đó, phàm nhân được triệu tới Hội. Anh ta được bịt mắt bằng một khăn lụa đen, rồi đưa vào đền, v́ hai lư do: Thứ nhất, ứng viên không được biết người chung quanh, v́ trong các chiến dịch chống Tam Điểm nhiều anh em (huynh đệ) đă bị nhận diện rồi đưa vào trại tập trung; thứ hai, là để ứng viên tập trung vào các câu hỏi được đặt ra, anh ta sẽ phải trả lời mọi câu hỏi của các hội viên, về một vài chi tiết trong vụ điều tra, về sự nhận định thời cuộc, về cuốn sách sau cùng mà anh đă đọc…Sau buổi vấn đáp đương sự được dẫn ra và chờ ở ngoài để hội đồng thảo luận và bỏ phiếu bằng các trái cầu mầu đen, mầu trắng (do đó có chữ blackbouler), nếu bị khước từ th́ sáu tháng sau, đương sự có thề nộp đơn lại. Qua 3 lần bị khước từ th́ đương sự không c̣n hy vọng nhập hội.

2. Các hội viên

a) Tập nghề: Đă là hội viên th́ phải mang tạp-dề (tablier) quấn ngang bụng và mang bao tay (gant) trắng. Điều luật đầu tiên là phải giữ yên lặng. Nếu có ư kiến ǵ th́ phải viết ra giấy đưa cho thầy nghề đọc. Là tập nghế, thợ bạn hay thầy nghề đều có dấu hiệu riêng. Sau thời gian tập nghề một năm, th́ sẽ được lên cấp thợ bạn. Muốn như vậy, đương sự phải tŕnh bày một công tŕnh đă hoàn toại, và tỏ ra đủ kiến thức trong cấp bậc của ḿnh.

b) Thợ bạn: Khác người tập nghề, thợ bạn có thể nói lên những ư kiến của ḿnh nhưng chưa được hưởng hết quyền của một F.M. Chỉ sau khi đă hoàn toại những công tác và có những kiến thức của cấp bậc của ḿnh, th́ thợ bạn mới được tăng cấp lên bậc thầy và được hưởng toàn quyền của một F.M.

c) Thầy nghề: Làm thầy không phải là cứu cánh (mục tiêu tối hậu), nhưng là phải nhận thêm trách nhiệm: giúp tập nghề và thợ bạn tiến lên trong nghề và phải siêng năng để làm gương. Muốn chi hội hoạt động được th́ phải có ít nhất là từ 5 cho tới 7 thầy nghề và 2 thợ bạn. Là thầy nghề có thể xin làm chức sắc (officier) có thể đại diện cho chi hội đi dự đại hội địa phương hay đứng ra lập các chi hội (loge) khác. Muốn hợp pháp, các hội viên sang lập phải được giấy chứng nhận của cấp trên, tên của chi hội thường là tên của một nhân vật F.M có tiếng (Lafayette, Mozart, Voltaire v.v..), tên một vĩ nhân (Copernic, Gallilé, Conficius) hay một đức tin (Philantropie, Droit et Rectitude, Raison et Laicité v.v…)

3. Các chức sắc (Officiers) tay cầm vồ (maillet) hay đeo kiếm (glaive)

Một loge được một đoàn các chức sắc tác động, các chức sắc này được lựa chọn từ các thầy nghề và cứ một năm bầu lại một lần:

1) Ông Hội trưởng c̣n gọi là Vénérable (Tôn huynh) điều khiển công tác, có quyền cho nói hay không, coi việc giao dịch thư từ và cho “ánh sáng” (luḿère) tức là cho khai tâm kết nạp và cho tăng cấp. Hội trưởng không giữ chỗ quá 3 năm.

2) Đệ nhất giám thị: Huấn luyện viên các thợ bạn

3) Đệ nhị giám thị: Huấn luyện viên các tập nghề

4) Diễn thuyết viên (orateur) là người duy tŕ constitution (hiến chương) của hội lo việc áp dụng nghiêm túc các luật lệ và các obédience (tuân thủ) tức là các tục lệ. Sau lúc thảo luận, ông phải cho biết kết luận là thế nào rồi mới có cuộc bỏ phiếu.

5) Ông thư kư: Lo việc hành chánh, làm biên bản buổi họp vào “sổ kiến trúc” (livre d’architecture) của chi hội.

Ông Thủ 6) quỹ: Thâu tiền niên liễm và quản lư tiền nong của hội

7) Ông Hospitalier (ông Hiếu khách) lo chuyện quyên tiền giúp các hội viên gặp khó khăn, hoặc cho vay (với sự đồng ư của hội trưởng), lo chuyện thăm viếng các hội viên gặp đau ốm.

8) Ông Chuyên gia (expert) xưa c̣n gọi là Hắc huynh (frère Terrible) kiểm soát phẩm cách tam điểm các khách tới thăm chi hội và xem xét các công việc có hợp pháp không, ông tổ chức và định các lễ khai tâm kết nạp thi hành các thủ tục cho nghiêm túc. Sự nh́n nhận phẩm cách tam điểm có được không là tùy ở ông này.

9) Ông Nghi lễ trưởng (maitre de cérémonie) phụ tá cho ông Chuyên gia làm các tạp dịch (xếp đặt các lễ vật) lúc nào cũng đi vào trước, đi đầu trong mọi buổi họp

10) Ông Bao quản (le couvreur) cho các anh chị em được vào đền, thường là một cựu chức sắc. Ông lănh những việc quan trọng nhất cũng như việc đê tiện nhất, như là người giữ cửa, chỉ mở cửa sau khi đă kiểm soát phẩm cách của khách vào

11) Ông Trưởng ban Yến tiệc, tổ chức các bữa ăn (agape officielle) nhân ngày khai tâm kết nạp, tiệc hằng năm vào đông chí hay hạ chí (solstice)

B Sinh hoạt

1. Buổi họp (Tenues)

Phần lớn trong các buổi họp, chỉ có những người kết nạp mới được vào, song có một vài buổi, người phàm có thể tới được gọi là “tenue blanche” và chỉ có một người. Nếu có một diễn giả (conférencier) từ ngoài vào nói chuyện th́ được gọi là tenue blanche fermée. Nếu có người phàm tới nghe buổi nói chuyện th́ gọi là tenue blanche ouverte. Nếu là tenue blanche fermée th́ diễn giả người phàm chưa vào được ngay, mà phải chờ hội viên làm nghi lễ và chấp nhận biên bản kỳ họp trước đă. Một diễn giả đă thuật lại thế này: “Tôi được hai chức sắc cao cấp đưa vào đền có trang hoàng nhiều cờ suư (bannière) và có đèn cầy thắp lên biểu tượng cho ánh sáng. Nhiều hội viên cầm các giây gù (cordon), những trang trí này giống như những giải lụa mầu, để gợi lại những ngành nghề thời Trung cổ. Có vài người đeo những dấu hiệu có nhiều màu sắc khác nhau tuỳ theo tổ chức và đẳng cấp, Ở bốn góc tấm thảm (đặt giữa pḥng có thêu các biểu tượng tam điểm) là ba cái cột (colonnette) biểu hiệu cho force (dũng), sagesse (trí) và beauté (mỹ) là ba nền móng của đền Salomon. Cây cột thứ tư không có ở đây, là biểu tượng cho công việc của con người cần được tiếp tục xây cất. Ông Hội trưởng (Tôn huynh = Venérable) ngồi ở cuối đền, chủ toạ buổi họp. Tôi là diễn giả ngồi bên phải, bên trái là ông thư kư, loáy hoáy ghi chép hoài. Buổi họp hoàn toàn lặng lẽ. Khi mọi người được phép ngồi, ông chủ tịch mới nói vài lời chào mừng; sau đó tôi mới diễn thuyết. Người ta đă cho tôi biết trước là cử toạ sẽ không tỏ thái độ ǵ: hoan nghênh hay đả đảo. Tôi đă thuyết tŕnh trong sự im lặng hoàn toàn, một điều hiếm có! Sau đó là lúc đặt câu hỏi và trả lời. Người nói phải xin phép ông chủ tịch, qua ông giám thị, như thế quả là mất thời giờ, song cũng tốt để cho người đặt câu hỏi sao cho chín chắn và rành rọt. Mọi người bày tỏ ư kiến một cách lịch lảm, lễ độ và tôn trọng ư kiến người khác, không ai được ngắt lời ai, và không được tỏ ư tán thành hay không tán thành khi không được phép nói. Khi ông chủ tịch cho bế mạc, tôi được ông chủ tịch cám ơn và được đưa ra ngoài. Phải nh́n nhận là tôi đă bị nhiều ấn tượng với không khí lịch lăm và khả ái của họ”

2. Pḥng suy ngẫm (Cabinet de réflexion):

Một tiểu tiết kỳ thú của đền F.M. là pḥng suy ngẫm. Đó là một pḥng kín, tối om, có thắp một ngọn nến (đèn cầy) để đưa người phàm vào hai lần, một lần đầu tiên trước khi bịt mắt, lần thứ hai vào ngày khai tâm, kết nạp. Pḥng sơn đen, có các rèm mầu xậm, có vẻ hắc ám ghê sợ, trong pḥng có một cái bàn và cái ghế, trên tường có các khẩu hiệu kỳ lạ. “Nếu chỉ v́ ṭ ṃ mà vào th́ hăy đi ra” “Nếu anh chỉ muốn phân cách người ta th́ hăy đi ra”. Nhiều biểu tượng được đặt trên bàn: Một sọ người, biểu tượng cho sự chết, cũng như là liên tưởng cho tư tưởng (la pensée), và sự huyền ảo (la vanité) (Ta đă là thứ mà anh đang là – Anh sẽ là cái mà ta đang là). Người ta cũng thấy những bát nhỏ đựng muối, lưu huỳnh (souffre) và thuỷ ngân (mercure). Thuỷ ngân gợi tính chất kim loại của mọi vật, lưu huỳnh gợi tính chất dễ cháy. Muối biểu tượng cho sự khôn ngoan và là gạch nối giữa thuỷ ngân và lưu huỳnh. Một tấm gương để phản chiếu lại châm ngôn của Socrate: “Tự anh hăy biết lấy anh” (connnais-toi toi même) hay là câu châm ngôn của F.M. là: “Hăy tự nh́n anh như là chính anh tự tại” (Regardez vous, tel que vous êtes en vous-même). Thứ này để biểu tượng sự tự biết ḿnh để có tiến bộ, đi vào được tâm thức (conscience) của chính ḿnh, và cũng kiến thức được (connaisance) cái vô h́nh (invisible) và cái thế giới vô tại (le monde de l’irréalité). Một tấm gương dùng sai, chỉ phục vụ cho cái hư ảo, cho tính kiêu căng, cho sự tự mê (narcicisme), cho sự làm dáng (coquetterie) là những tính xấu đă ḱm hăm sự tiến bộ của nhân cách (personalité). Cũng trong pḥng suy ngẫm, người ta c̣n thấy có nước và bánh ḿ, là những thực phẩm căn bản cho đời sống. Sự nhận định bản-thân, và sự vấn tâm, đều rất cần thiết để tiến bộ. Vẻ khắc khổ của pḥng ốc đưa người phàm tới sự suy ngẫm về biểu tượng các vật cùng là sự thành tâm của lời cam kết.

3. Những biểu tượng và những tục lệ:

Sự giáo huấn của F.M. không phải là một học thuyết mà là một phương pháp đi t́m sự hiểu biết qua những biểu tượng. Khi làm việc, các cấp thấp (tập nghề, thợ bạn, thầy thợ) dùng các biểu tượng của nghề nghiệp như équerre, compass, niveau, thước đo v.v…Người ta cũng thấy các biểu tượng có nguồn gốc tôn giáo, đúng hơn là theo Thánh kinh: Thí dụ như h́nh tam giác sáng chói (delta lumineux) và h́nh tam vị (triangle divin) Ở giữa h́nh đôi khi c̣n ghi bốn chữ là Y.H.V.H. tức là chữ Hébreu (Do Thái xưa) viết tắt của Yod, Hé, Vay, Hé. H́nh sao năm cánh (pentagramme) (2), các con số 3,5,7, các mật chú (mots sacrés) những mật hiệu (mots de passe) một khối đá thô thiển để nhắc nhở là phải đẽo, mài, dũa mới xây được đền, hai cây cột có tên là boaz và jakin (theo huyền thoại). Trong tục lệ York bên Anh, những cột này đều rỗng để chứa các tài liệu và lưu trữ văn khố. Lại có loge dùng 3 cây cột để biểu tượng cho ba thứ Trí (sagesse), Dũng (force) và Mỹ (beauté). Họ cũng dùng các vật khác như cây keo (acacia), hoa hồng, hoa huệ (lys) và cành ô-liu. Sự dùng gươm (glaive) trong các lễ tấn phong (consécration) một hội viên mới, lại là một biểu tượng khác, lấy từ lễ trao binh giáp (adoubement) cho các hiệp sĩ thời Trung cổ.

Những hội viên cấp trên th́ theo những thủ tục như Rite Écossais ancien et accepté với 32 bực, rite York, rite français, rite anglo saxon, mục đích là làm nẩy nở sự phát triển tinh thần maçonnique bằng cách cho thêm vào những h́nh thức khai tâm cổ điển của nhóm Rose-Croix hay rosae crucis (chữ thập hoa hồng bên Đức thời xưa

Những biểu tượng này cần để truyền đạt các luật lệ, những tiến tŕnh tế nhị, những sự thật siêu việt, không thể diễn tả được bằng lời, đó cũng là dùng cái biết mà đi tới cái không biết, cái thấy được mà đi tới cái không thấy được, cái hữu tận đi đến cái vô tận vậy. Nói một cách khác, họ không học nhưng mà linh cảm thấy.

Trong khi sinh hoạt, họ tôn trọng nguyên tắc b́nh đẳng. Khi hội họp, họ đưa ra tŕnh bày thảo luận các vấn để đă được tổ chức chi phối và phải tuân thủ (obedience) và đưa ra quyết định cho sự sinh hoạt của hội. Họ cho là nhờ vào phương pháp cùng nhau suy nghĩ, giữa những lớp người có nguồn gốc khác nhau, th́ những buổi học hỏi sẽ rất hữu ích, khó mà có thể có được ở ngoài đời.

Tánh cách kỳ bí của F.M. mà người đời cho là để che đậy những điều bất chính, thực ra là điều cần thiết để bảo đảm cho các công tác của họ được tiến hành một cách thanh tịnh và trong sáng, tránh sự xô bồ náo nhiệt của xă hội bên ngoài. Thực ra, họ không tách rời thế tục. Với sự đoàn kết trong công tác, sự đấu chung các tư duy, họ cho là họ sẽ làm việc hữu hiệu hơn và một khi F.M. đă đào luyện cho con người khá hơn th́ tất nhiên F.M. cũng sẽ phục vụ bá tánh hữu hiệu hơn.

Hai lư do lịch sử của việc giữ kỳ bí của F.M là: 1) để cho họ dễ nhận nhau, 2) v́ c̣n nhớ những vụ chiến tranh tôn giáo truy hại nhau, và việc triệt hạ tận gốc các tư tưởng tự do thường có ở các chế độ độc tài, nên các hội viên F.M vẫn thấy cần phải ẩn ḿnh để bàn luận về những đề tài nhậy cảm. Tuy vậy, ngày nay, những tập tục và những tiến tŕnh kết nạp đă được phổ biến từ lâu khiến cho không c̣n là một bí mật, ngoài ra sự thâm hiểu công phu về tiến tŕnh học tập Tam điểm lại khó có thể truyền thông được, nếu chưa sinh hoạt trong hội.

Ngày nay, F.M. phải được coi là một tổ chức kín đáo (discret) chứ không phải là một hội kín (secret). Người hội viên có quyền tự tiết lộ, nhưng không được phép tiết lộ các đoàn viên khác hiện tại c̣n sống.

4. Những vấn đề trong tương lai.

Nhưng một khi thu ḿnh vào hội, tránh những giao động bên ngoài để bảo quản những truyền thống tinh thần và đạo đức của họ th́ các franc maçons cũng sẽ bị tiến hoá của xă hội bên ngoài đe doạ; những giá trị tinh thần mà họ đă dựng lên như tinh thần nhân bản (humanisme) phóng khoáng (libéralisme), cá nhân chủ nghĩa (individualisme) lại bị cái xă hội của khối đông (la masse) ngày nay tấn công (Khối Gia Tô Giáo, khối Cộng sản, khối Đức Quốc xă, khối Hồi Giáo gần đây). Các cấu trúc xă hội cũng phức tạp hơn cũng như các kiến thức con người về không gian, vũ trụ, vật lư, sinh học (gènes) cũng đă tiến hơn. Qua lịch sử, F.M. đă có những bức thăng trầm, và bị đầy đoạ, nhưng họ vẫn c̣n tin tưởng rằng họ là một lực lượng tinh thần có đủ khả năng để thích nghi với sự biến thể của xă hội và thế giới.

H́nh các biểu tượng:

Trích Historia Special N48 Juillet-Aout 1997 trang 68-69)

H́nh 1: Equerre là biểu tượng của sự ngay thẳng và của vật chất. Người Tam điểm xây dựng đời ḿnh dùng equerre để hướng dẫn đạo đức cho ḿnh.
H́nh 2: Compas, biểu tượng tinh thần cởi mở cần thiết khi khai tâm kết nạp. Đó cũng là biểu tượng của quảng trường kiến thức.
H́nh 3 : Quả rọi bảo đảm sự thăng bằng của cơ cấu xây cất. Đệ nhị thư kư đeo trên người với sứ mạng hướng dẫn tập nghề.
H́nh 4 : Hai bút lông bắt chéo là trang trí đeo trên người của ông thư kư
H́nh 5 : Đồ trang trí đeo trên người của đệ nhất thư kư để biểu tượng sự bằng ngang (horizontalité) trong việc làm với các thợ bạn.
H́nh 6 : Ch́a khoá là đồ trang trí của thủ quỹ.
H́nh 7 : Equerre và Compas quyện vào nhau biểu tượng vật chất và tinh thần không thể tách rời nhau.
H́nh 8 : Chữ G là chữ cái đầu của God (Thượng đế) kiến trúc sư của cả vũ trụ. C̣n người dưng th́ là Géométrie hay là gnose (nhận thức)
H́nh 9 : Ngôi sao năm cánh đỏ rực tượng trưng người được khai tâm đă toả sáng cả bóng tối)
H́nh 10 : Tạp dề là trang phục của thợ xây cất, ngừa tai nạn, cũng có nghĩa là ngừa sự thiếu minh mẫn. Tạp dề này ở thế kỷ XIX gợi lại việc Hiram bị ám sát.
H́nh 11 : Tạp dề của thầy thợ thế kỷ XVIII có ḥn đá thợ liên tưởng người phàm, ḥn đá đẽo biểu tượng người được khai tâm. Ở giữa là dụng cụ xây cất và cái cột, biểu tượng kiến trúc.
H́nh 12 : Tạp dề của thầy thợ ở thế kỷ XIX, có h́nh đền Salomon, hai bên có mặt trăng, mặt rời, tượng trưng cho sự đi từ bóng tối tới ánh sáng.
 


[1]Miễn là franchise hay là franc (franc-port: miễn thuế hải quan) Franc Maconnerie: tạm dịch là đặc miễn xây cất.   
[2] Pentagramme : H́nh sao năm cánh trong truyền thống th ên chúa giáo dùng để chỉ định 5 vết thương hay stigmates của Chúa c̣n đối với đệ tử của Pythagore th́ là để chỉ ngũ đại thể đất, lửa, thủy, khí và ư (hay chose divine). Có người c̣n cho là chỉ 5 cuốn sách đầu tiên của Cựu Ước hay là ấn tín của Salomon.


Tham chiếu
-Franc-Maconnerie, un article de Wikipedia, l’encyvlopédie libre
http://fr.wikipédia.org./wiki/Franc-ma
-Historia/Spécial No 48 Juillet-Aout 1997, Les Francs-Macons.
-Franc-Maconnerie, Encyclopédie Universelle no 9, page 866-872
- Da Vinci Code, Dan Brown
- La vérité historique derrière le code Da vinci, Sharan Newman
- Le code Da Vinci, décrypté par Simon Cox, Pocket Book