MỘT CÁI NH̀N VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
VIỆT NAM
Nguyễn Đức Tuyên

Trong những vấn đề gây xôn xao dư luận nhất ở Việt Nam hiện nay và gây thất vọng nhiều nhất trong đại đa số quần chúng là tệ trang tham nhũng và xuống cấp giáo dục. Nếu giáo dục trung tiểu học nhằm cung ứng cho mọi công dân một căn bản kiến thức phổ thông th́ sứ mạng giáo dục đại học nhằm đào tạo những nhà lănh đạo, những chuyên viên mọi ngành để đưa đất nước tiến lên con đường phát triển, theo kịp nhịp độ văn minh của nhân lọai ở thế kỷ XXI. Nền giáo dục đại học ở Việt Nam trong nhiều năm nay đă có nhiều nan đề, đem lại thất vọng nơi quần chúng đến nỗi đă có nhiều người coi đó như là hệ giáo dục “phổ thông cấp 4”, có những người bi quan hơn, đă mạnh miệng phê phán là “hết thuốc chữa”.

Bởi đâu mà sau hơn 30 năm ḥa b́nh, thống nhất mà nền giáo dục quốc gia lại phải chịu cảnh “thua kém” trong vùng Đông Nam Á, nơi mà trước đây Việt Nam vẫn giữ được sự kính nể.

Truy tầm căn nguyên để t́m ra diện mạo đích thực của giáo dục đại học với tấm ḷng chân thành, can đảm, không tuyên truyền, không khoe khoang thành tích là đều căn bản.

Muốn nh́n thực trạng giáo dục đại học Việt Nam, trước hết là coi lại xem đại học đă được tổ chức ra sao, cơ chế hiện tại có những điểm ǵ đặc thù, yếu kém. Các ngành học đă được phân phối ra sao. Chương tŕnh học được họach định thế nào, đâu là cốt lơi của những chương tŕnh khung và thời lượng của mỗi môn học được phân phối ra sao. T́nh trạng giáo sư và sinh viên hiện tại có những điểm nào đáng lưu tâm. Các chuyên viên, sinh viên và quần chúng đánh giá nền giáo dục đại học thế nào và sau hết, Đảng Cộng Sản giữ vai tṛ nào trong nền giáo dục đại học Việt Nam.

Mục đích của bài nghiên cứu này, trước hết, giúp cho những người quan tâm, nhất là những người Việt ở hải ngọai, thường xa lạ với cơ cấu và chương tŕnh giáo dục Việt Nam, có một cái nh́n rơ nét về nền giáo dục đại học Việt Nam. V́ vậy, phần tổ chức và chương tŕnh được tŕnh bầy có phần chi tiết. Phần phê phán và giải pháp khả thi nằm ng̣ai phạm vị bài này.

Bài viết được tŕnh bầy trên 6 điểm chính: 1. Tổ chức Đại học, 2. Chương tŕnh giáo dục, 3. T́nh trạng chung về giáo chức và sinh viên, 4. Một vài nhận xét tiêu biểu về giáo dục đại học, 5. Vai tṛ chủ yếu của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong giáo dục đại học, 6. Vài điểm nhận xét.

*

Một cách khái quát, sau đây là vài nét sơ lược về tổ chức trường Đại học, Cao đẳng và Tư thục.

I. TỔ CHỨC ĐẠI HỌC

1.1. Tổ chức trường Đại học

Tổ chức trường Đại học căn cứ vào Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg ngày 30 tháng 7 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ, gồm 10 Chương, 58 Điều, có thể tóm lược như sau:

1.1.1. Các loại h́nh trường Đại học bao gồm: công lập, bán công, dân lập và tư thục, thuộc các loại trường đại học và học viện1.

1.1. 2. Trường Đại học chịu sự quản lư nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo; chịu sự quản lư hành chính theo lănh thổ của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi trường đặt trụ sở2.

1.1.3. Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong trường Đại học lănh đạo nhà trường và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Đảng, chỉ thị, nghị quyết của Đảng.

1.1.4. Các đoàn thể, tổ chức xă hội trong trường Đại học hoạt động theo quy định của pháp luật và có trách nhiệm thực hiện mục tiêu, nguyên lư giáo dục theo quy định của Luật Giáo dục phù hợp với tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ của đoàn thể, tổ chức xă hội đă được xác định.

1.1.5. Trường đại học hợp tác với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, trong giảng dạy học tập và nghiên cứu khoa học.

1.1.6. Cơ cấu tổ chức của trường Đại học bao gồm: Hội đồng trường đối với các trường công lập hoặc Hội đồng quản trị đối với các trường ngoài công lập; Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng; Hội đồng khoa học và đào tạo; Các tổ chức khoa học và công nghệ như viện, trung tâm, các cơ sở phục vụ đào tạo, khoa học và công nghệ v v..; Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam; Các đoàn thể và tổ chức xă hội.

1.1.7. Trách nhiệm của giảng viên, cán bộ, nhân viên: Chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, thực hiện đầy đủ các quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Điều lệ trường đại học, Quy chế tổ chức, hoạt động và các quy định khác của trường do Hiệu trưởng ban hành.

1.2. Tổ chức trường Cao đẳng

Tổ chức trường Cao đẳng căn cứ vào Quyết định số 56 /2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 10 tháng 12 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, gồm 7 Chương và 41 Điều với mấy điểm chính yếu:

1.2.1. Hệ thống trường Cao đẳng bao gồm các loại trường của các cơ quan hành chính nhà nước, của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xă hội, của lực lượng vũ trang nhân dân khi được phép đào tạo để cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng của hệ thống giáo dục quốc dân.

1.2.2. Trường Cao đẳng được tổ chức theo các loại h́nh: công lập, bán công, dân lập, tư thục.

1.2.3. Trường Cao đẳng trực thuộc cơ quan chủ quản, đồng thời chịu sự quản lư nhà nước của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách v.v.. và chịu sự quản lư hành chính theo lănh thổ của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi trường đặt trụ sở.

1.2.4. Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong trường Cao đẳng lănh đạo nhà trường và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Đảng, chỉ thị, nghị quyết của Đảng.

1.2.5. Các đoàn thể, tổ chức xă hội trong trường Cao đẳng hoạt động theo quy định của pháp luật và có trách nhiệm thực hiện mục tiêu, nguyên lư giáo dục theo quy định của Luật Giáo dục, phù hợp với tôn chỉ mục đích, chức năng, nhiệm vụ của đoàn thể, tổ chức xă hội đă được xác định.

1.2.6. Cơ cấu tổ chức của trường Cao đẳng tương đối cũng giống như các đại học.

1.3. Tổ chức trường Đại học tư thục

Quy chế tổ chức và hoạt động của trường Đại học tư thục do Quyết định số 14/2005/QĐ-TTg ngày 17 tháng 01 năm 2005 gồm 7 Chương và 41 Điều, có các điểm chính yếu như sau:

1.3.1. Quy chế này quy định việc thành lập, tổ chức quản lư và hoạt động của trường Đại học tư thục. Trường Đại học tư thục có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại các ngân hàng, kho bạc nhà nước và có địa vị pháp lư như các trường Đại học công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân.

1.3.2. Trường Đại học tư thục chịu sự quản lư nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo; chịu sự quản lư hành chính theo lănh thổ của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi trường đặt trụ sở.

1.3.3. Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong trường Đại học tư thục hoạt động theo hiến pháp, pháp luật và các quy định của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các tổ chức chính trị - xă hội, các tổ chức xă hội trong trường Đại học tư thục hoạt động theo quy định của hiến pháp và pháp luật.

1.3.4. Trường Đại học tư thục quản lư, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài sản theo quy định của pháp luật.

1.3.5. Trường Đại học tư thục được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ, tài chính, quan hệ quốc tế, tổ chức và nhân sự.

1.3.6. Xây dựng chương tŕnh, giáo tŕnh, kế hoạch giảng dạy, học tập đối với các ngành nghề nhà trường được phép đào tạo trên cơ sở chương tŕnh khung do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ban hành; tổ chức tuyển sinh; tổ chức quá tŕnh đào tạo, công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo.

1.3.7. Nhận tài trợ của các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật để bổ sung nguồn tài chính cho nhà trường; góp vốn bằng tiền, tài sản, giá trị quyền sở hữu trí tuệ để tiến hành các hoạt động khoa học và công nghệ, sản xuất kinh doanh; sử dụng nguồn thu từ hoạt động kinh tế để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở vật chất của trường; tài trợ cho các hoạt động thực hiện chính sách ưu đăi đối với con, em gia đ́nh thuộc diện chính sách, các hoạt động xă hội nhân đạo và từ thiện.

1.3.8. Được Nhà nước giao quyền sử dụng đất; được thuê đất, vay vốn và được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật.

1.3.9. Việc thành lập trường được tiến hành theo hai bước: bước thứ nhất, xây dựng và thông qua đề án tiền khả thi, bước thứ 2, xây dựng và thẩm định dự án khả thi.

1.3.10. Vốn thành lập trường là số vốn do cá nhân hoặc nhóm cá nhân đóng góp và được ghi vào điều lệ tổ chức và hoạt động của nhà trường.

1.3.11. Các trường Đại học công lập, bán công, dân lập được chuyển đổi thành loại h́nh trường đại học tư thục.

1.3.12. Cơ cấu tổ chức của trường Đại học tư thục cũng gần giống như tổ chức đại học nói chung.

1.4 . Hệ thống tổ chức giáo dục đại học

Để có cái nh́n khái lược, ở Việt Nam hiện nay có bao nhiêu đại học, ở những vùng nào, có những phân khoa nào, sự phân phối như vậy có hợp lư không. Sau đây là danh sách các trường Đại học và Cao đẳng được chia làm 2 nhóm: phía Bắc và phía Nam:

1.4. 1. Các trường Đại học và Cao đẳng Phía Bắc  ĐH Quốc gia Hà Nội: (10)
Trường Đại học Công Nghệ, Trường Đại học Khoa học tự nhiên,  Trường Đại học Khoa học Xă hội và Nhân văn, Trường Đại học Ngoại ngữ, Khoa Kinh tế, Khoa Luật,  Khoa sư phạm,  Khoa Quản trị Kinh doanh, Khoa sau Đại học.

Học viện: (13)
Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông, Hành chính quốc gia, Kỹ thuật Mật mă, An ninh nhân dân, Cảnh sát nhân dân, Ngân hàng, Quan hệ quốc tế, Tài chính, Y dược học cổ truyền, Nhạc viện Hà Nội, Báo chí - Tuyên truyền, Viện Đại học Mở Hà Nội

Trường Đại Học: (42)
Bách khoa Hà Nội, Công đoàn, Công nghiệp Hà Nội, Dược Hà Nội, Điều dưỡng Nam Định, Giao thông Vận tải, Hải Pḥng, Thái Nguyên, Hàng Hải, Hồng Đức, Hùng Vương, Kinh tế Quốc dân, Kiến trúc Hà Nội, Lao động - Xă hội, Lâm nghiệp, Luật Hà Nội, Mỏ Địa chất, Mỹ thuật Công nghiệp, Mỹ thuật Hà Nội, Ngoại ngữ Hà Nội, Ngoại thương, Nông nghiệp 1, Pḥng cháy Chữa cháy, Răng - Hàm - Mặt, Sư phạm Hà Nội, Sư phạm Hà Nội 2, Sư phạm Kỹ thuật Nam Định, Sư phạm kỹ thuật Vinh, Sân khấu Điện ảnh, Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Tây, Tây Bắc, Thể dục Thể thao I, Thương mại, Thuỷ lợi, Trường Văn hoá Hà Nội, Vinh, Xây dựng Hà Nội, Y Hà Nội, Y Hải Pḥng, Y Thái B́nh, Y tế Công cộng,

Trường Đại Học Dân lập (8)
Đông Đô, Trường Hải Pḥng, Trường Lương Thế Vinh, Phương Đông, Quản lư và Kinh doanh Hà Nội, Thăng Long, Tư thục Công nghệ Thành Đô,

Trường Cao Đẳng (39)
Công nghệ Dệt may Thời trang Hà Nội, Công nghiệp Nam Định, Công nghiệp Sao Đỏ, Công nghệ Viettronics, Công nghiệp Việt Hưng, Cơ khí luyện kim, Cộng đồng Hà Tây, Cộng đồng Hải Pḥng, Du lịch Hà Nội, Điện lực, Giao thông Vận tải, Hoá chất, Kiểm sát Hà Nội, Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I, Kinh tế - Kỹ thuật thương mại, Kinh tế - Tài chính Thái Nguyên, Kinh tế Kỹ thuật Hải Dương, Kinh tế kỹ thuật Nghệ An, Kinh tế Kỹ thuật Thái B́nh, Kỹ thuật Mỏ Quảng Ninh, Kỹ thuật Y tế I Hải Dương, Nghệ thuật Hà Nội, Múa Việt Nam, Nông Lâm Bắc Ninh, Phát thanh Truyền h́nh I - Hà Nam, Sư phạm Trung ương, Sư phạm Nhạc hoạ Trung ương, Tài chính Quản trị kinh doanh, Thống kê, Truyền h́nh, Xây dựng Công tŕnh đô thị, Xây dựng số 1, Văn Thư Trung ương, Y Tế Nghệ An, Y Tế Phú Thọ, Y Tế Thanh Hóa, Y Tế Quảng Ninh

Trường Cao Đẳng Sư Phạm: (25)
Bắc Kạn, Bắc Ninh, Cao Bằng, Điện Biên, Hà Giang, Hà Nam, Hà Nội, Hà Tây, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hưng Yên, Ḥa B́nh, Lào Cai, Lạng Sơn, Nam Định, Ngô gia Tự Bắc Giang, Nghệ An, Ninh B́nh, Quảng Ninh, Sơn La, Thái B́nh, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Yên Bái.

Trường Cao Đẳng Văn hóa Nghệ Thuật: (6)
Nghệ An, Tây Bắc, Thái B́nh, Thanh Hóa, Hạ Long (+ Du Lịch), Việt Bắc.

1.4.2. Các trường Đại học và Cao đẳng Phía Nam 

Trường Đại học :(16)
Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Bách khoa, Khoa học Tự nhiên, Khoa học Xă hội và Nhân văn, Quốc Tế, Khoa Kinh tế, Huế, Đà Nẵng, An Giang, An Ninh Nhân Dân, Cần Thơ, Cảnh Sát Nhân Dân, Bến Tre, Bán công Marketing, Bán công Tôn Đức Thắng, Quốc tế RMIT Việt Nam

Trường Cao Đẳng: (5)
Tư thục Kỹ Thuật –Công Nghệ Đồng Nai, Tư Thục Đức Trí, Tư Thục Kinh Tế Công Nghệ TP.HCM, Tư thục Kinh tế Kỹ thuật nghiệp vụ Nguyễn Tất Thành, Bến Tre.

Trường Cao Đẳng Sư Phạm: (27)
Cà Mâu, Cần Thơ, B́nh Dương, B́nh Định, B́nh Phước, B́nh Thuận, Bà Rịa-Vũng Tầu, Bạc Liêu, Đà Lạt, Đăk Lăc, Đồng Nai, Gia Lai, Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Kon Tum, Long An, Nha Trang, Ninh Thuận, Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Ngăi, Quảng Trị, Sóc Trăng, Tây Ninh, Thừ Thiên-Huế, Trà Vinh, Vĩnh Long.

Trường Cao Đẳng Văn hóa Nghệ Thuật: (3)
TP Hồ Chí Minh, Đăk Lăc, Nha Trang (+Du Lịch)

Trường Cao Đẳng Y Tế: (2)
Huế, Khánh Ḥa.

1.5. Nhận định tổng quát về tổ chức đại học Việt Nam

1.5.1. Nếu nh́n vào dân số và cơ sở giáo dục đại học ( không tính số lượng sinh viên ở mỗi trường) th́ miền Bắc có khoảng 39 triệu dân với trên 153 cơ sở giáo dục, trong khi miền Nam, từ Huế trở vào, có khoảng 44 triệu dân chỉ có 50 cơ sở giáo dục. Ng̣ai ra, theo một bản nghiên cứu cho biết, số sinh viên theo học đại học ở miền Nam ít hơn miền Bắc khá nhiều và điểm thi vào đại học của sinh viên miền Nam, nói chung kém hơn học sinh miền Bắc. Xin sẽ trở lại vấn đề này trong phần nói về giáo sư và sinh viên.

1.5.2. Hiện nay, Đại học Quốc gia –TP.HCM gồm:
     Trường đại học: Trường Đại học Bách khoa, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xă hội - Nhân văn, Đại học Quốc tế, Đại học Công nghệ Thông tin.
     Viện nghiên cứu : Viện Môi trường - Tài nguyên.
     Khoa trực thuộc : Khoa Kinh tế.
     Một số trung tâm nghiên cứu và dịch vụ : Khu Công nghệ phần mềm, Thư viện Trung tâm, Trung tâm Đào tạo Quốc tế, Trung tâm Khảo thí và Đánh giá Chất lượng Đào tạo, Trung tâm Giáo dục Quốc pḥng, Trung tâm Ngoại ngữ, Trung tâm Dịch vụ - Đời sống, Trung tâm Bồi Dưỡng Văn hoá.

1.5.3. Đại học Huế gồm có :
     Các trường: Đại học Khoa học, Đại học Kinh tế, Đại học Nghệ thuật, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Nông Lâm, Đại học Sư phạm, Đại học Y khoa.
     Các trung tâm : Giáo dục thể chất, Đào tạo từ xa, Bồi dưỡng nguồn đào tạo tiến sĩ, Công nghệ Thông tin, Giáo dục quốc pḥng, Học Liệu, Phục vụ sinh viên, Tư vấn nghề nghiệp việc làm sinh viên, Tài nguyên môi trường và Công nghệ sinh học, Thí nghiệm Thực hành.
     Các ban: Đảm bảo chất lượng và điều phối dự án giáo dục, Đào tạo Đại học, Đào tạo Sau Đại học, Công tác chính trị sinh viên, Hợp tác quốc tế, Kế hoạch - Tài chính, Khoa học Công nghệ, Quản lư dự án xây dựng cơ bản, Quản trị cơ sở vật chất, Tổ chức nhân sự, và Văn pḥng.

1.5.4. Trước đây, phần lớn các trường Đại học, Cao đẳng đều trực thuộc các bộ, ngành và các địa phương. Trong đó, bộ chủ quản nhiều trường Đại học nhất là Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (35 trường), Bộ Y tế (8 trường), Bộ Văn hóa Thông tin (6 trường). Nhiều bộ, ngành khác đều quản trị từ một đến hai trường. Một số địa phương trước đây đă thành lập các trường đại học và cũng được xem như là chủ quản các trường đó. Người ta cho rằng cơ chế quản lư theo kiểu này có những mặt thuận lợi, giúp cho bộ, ngành quản lư, hỗ trợ các trường về tài chính, tổ chức nhân sự, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, v.v. Mọi hoạt động trong nhà trường đều phải được sự đồng ư bộ chủ quản từ việc tuyển sinh, mở ngành đào tạo, tuyển dụng giảng viên, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị… Nhà nước cấp toàn bộ kinh phí hoạt động, người tốt nghiệp được phân công theo kế hoạch của bộ ngành và ngành nghề đào tạo do bộ chủ quản quy định…

Tuy nhiên, sau nhiều năm, cơ chế bộ chủ quản có những hạn chế yếu kém. Năm 2005, Thủ tướng chính phủ VN đă kư Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP về "Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020" nhằm xoá bỏ cơ chế bộ chủ quản đối với gíao dục Đại học. Mục tiêu xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản là trao quyền tự chủ và trách nhiệm cho các trường Đại học để các trường có cơ hội phát triển thông qua hoạt động của hội đồng trường và chịu trách nhiệm tổ chức, nhân sự, tài chính, đào tạo cho từng trường.

1.6. Vài nét dự phóng về gíao dục Đại học

     1.6.1. Tính từ đầu năm 2007, Việt Nam có 244 trường Đại học và Cao đẳng. Theo qui hoạch được Bộ Gíao Dục và Đào Tạo dự trù, đến năm 2020, tại VN sẽ có 600 trường, gồm 225 trường Đại học và 375 trường Cao đẳng, tăng 288 trường so với hiện tại. 
     Hiện dă có dự án thành lập 20 trường gồm 5 trường công lập và 15 trường tư thục, được Chính phủ VN chấp thuận. Ngoài ra, 10 đề án thành lập các trường Đại học khác đang trong giai đoạn hoàn thành thủ tục để Chính phủ duyệt xét. 
     Phần lớn trường Đại học mới thuộc nhiều tỉnh phía Bắc, riêng Hà Tây đă có ba trường. Số c̣n lại là Ḥa B́nh, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Nam Định, Ninh B́nh, Hà Nam, Vĩnh Phúc. Khu vực Bắc Trung bộ từ Thanh Hóa đến Quảng Trị tỉnh nào cũng lập trường mới. Khu vực Nam Trung bộ sẽ thêm trường ở B́nh Thuận, Quảng Ngăi, Phú Yên. C̣n ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, dự kiến sẽ thành lập thêm 12 trường Đại học: một trường công lập tại Bạc Liêu, một trường công lập tại Kiên Giang, hai trường công lập tại Vĩnh Long, hai trường công lập tại Cần Thơ, ba trường tư thục tại Long An, một trường tư thục tại Hậu Giang và một trường tư thục tại Bến Tre.
     Nhưng cơ sở vật chất, khả năng quản lư, đội ngũ giảng viên, chất lượng đào tạo... đang gây nhiều băn khoăn nhất. Ngay như các đại học lớn và lâu đời hiện vẫn trong t́nh trạng thiếu giảng viên. Tỉ lệ giảng viên có tŕnh độ tiến sĩ chỉ đạt b́nh quân 7%; giáo sư và phó giáo sư chỉ có 1,8%. Con số này thấp hơn nhiều so với mức b́nh quân chung - vốn đă rất thấp - của hệ thống giáo dục đại học cả nước.

     1.6.2. Vào cuối năm 2006, có một Đại học mới mở, đó là Đại học FPT, được nhiều sinh viên ghi danh.
     Chương tŕnh đào tạo của trường được xây dựng dựa trên 5 khối kiến thức - kỹ năng: chuyên môn, ngoại ngữ, văn hoá - xă hội, thực tập công nghiệp và kỹ năng phần mềm. Về mặt chuyên môn, chương tŕnh được xây dựng tuân thủ chuẩn đào tạo đại học nhóm ngành máy tính của ACM (Association for Computing Machinery) gồm 5 ngành : khoa học máy tính, kỹ thuật máy tính, kỹ thuật phần mềm, hệ thống thông tin và ứng dụng CNTT, đồng thời định hướng nghề nghiệp theo chuẩn ITSS (Information Technology Skill Standards) của Nhật Bản, gồm 11 nhóm công việc với 3 mức độ khác nhau cho mỗi nhóm.

     1.6.3. Đại học Vạn Hạnh mới được chính quyền cấp cho 30 mẫu đất ở Tân Qúi Đông làm cơ sở tân lập thay cho trụ sở cũ. Trường sẽ mở 10 phân khoa: Phật học, Văn khoa, Luật khoa, Khoa học tự nhiên, Khoa học kỹ thuật, Y Dược, Khoa học xă hội, Nông nghiệp, Kiến trúc, Giáo dục.
     Chương tŕnh giáo dục sẽ theo chế độ tín chỉ. Một năm sẽ có hai Lục cá nguyệt Xuân và Thu. Vấn đề trọng yếu được nêu ra là nhân sự và tài chánh.

II. CHƯƠNG TR̀NH GIÁO DỤC

2.1. CHƯƠNG TR̀NH KHUNG

Mỗi chương tŕnh khung tương ứng với một ngành đào tạo ở một tŕnh độ đào tạo cụ thể. Tài liệu căn cứ vào website của Vụ Đại Học Việt Nam.

2.1.1. Tŕnh độ Đại học
     1 Khối ngành Sư Phạm : Sư phạm Địa lư, Giáo Dục Chính Trị, Sư phạm Hóa học, Giáo dục đặc biệt, Kỹ thuật công nghiệp, Kỹ thuật nông nghiệp, Lịch sử, Quản lư giáo dục, Tâm lư – Giáo dục, Toán, Văn, Vật Lư.
     2 Khối ngành Khoa học tự nhiên : Địa lư, Khoa học tự nhiên, Công nghệ sinh học, Sinh học, Vật lư, Toán, Hóa học, Địa chất, Khoa học Môi trường, Khí tượng học.
     3 Khối ngành Khoa học nhân văn : Văn học, Triết học, Ngôn ngữ, Hán nôm, Đông phương học, Quốc tế học, Việt Nam học, Lịch sử.
     4 Khối ngành Kinh tế - Quản trị kinh doanh : Hệ thống thông tin kinh tế, Kế toán (Đại học), Kinh tế (Đại học) Quản trị kinh doanh (Đại học), Tài chính (Đại học).
     5 Khối ngành Ngoại ngữ : Tiếng Anh, Tiếng Pháp, Tiếng Nga, Tiếng Đức, Tiếng Trung Quốc, Tiếng Nhật.
     6 Khối ngành Khoa học sức khoẻ : không thấy ghi chi tiết.
     7 Khối ngành Khoa học an ninh : không thấy ghi chi tiết (vả lại cũng không nằm trong chủ trương nghiên cứu của bài này). 
     8 Khối ngành Khoa học quân sự : không thấy ghi chi tiết (vả lại cũng không nằm trong chủ trương nghiên cứu). 
     9 Khối ngành Khoa học xă hội: Báo chí, Chính trị, Địa lư học (xă hội), Hành chính học, Kinh tế chính trị, Luật, Công tác xă hội, Quan hệ Quốc tế, Tâm lư học, Xă Hội học, Đảng và Chính quyền Nhà nước.
     10 Khối ngành Công nghệ thông tin : không thấy ghi chi tiết.
     11 Khối ngành Kỹ thuật : không thấy ghi chi tiết.
     12 Khối ngành Công nghệ : không thấy ghi chi tiết.
     13 Khối ngành Nông – lâm – thuỷ sản : không thấy ghi chi tiết.
     14 Khối ngành Văn hóa nghệ thuật : không thấy ghi chi tiết.

2.1.2. Tŕnh độ Cao đẳng
     1. Khối ngành Sư Phạm : Công tác Đội, Hoá học, Địa lư, Giáo dục Công dân, Giáo dục thể chất, Kỹ thuật công nghiệp, Kỹ thuật nông nghiệp, Kinh tế gia đ́nh.
     2. Khối ngành Kinh tế - Quản trị kinh doanh: Kế toán, Quản trị kinh doanh.
     3. Khối ngành Khoa học sức khoẻ : không thấy ghi chi tiết.
     4. Khối ngành Công tác Xă hội : không thấy ghi chi tiết.

2.1.3. Quy chế đào tạo sau đại học
Căn cứ vào Quyết định số: 18 /2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 08 tháng 6 năm 2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, quy chế đào tạo sau đại học có những điểm chính yếu sau đây:
     1. Đào tạo sau đại học bao gồm đào tạo thạc sĩ, đào tạo tiến sĩ và bồi dưỡng sau đại học. 
     2. Đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ được thực hiện theo hai h́nh thức tập trung và không tập trung. Thời gian đào tạo thạc sĩ theo h́nh thức tập trung là hai năm, không tập trung là ba năm. Thời gian đào tạo tiến sĩ theo h́nh thức tập trung là bốn năm đối với người có bằng tốt nghiệp đại học; từ hai đến ba năm đối với người có bằng thạc sĩ. Thời gian đào tạo tiến sĩ theo h́nh thức không tập trung là năm năm đối với người có bằng tốt nghiệp đại học; từ ba đến bốn năm đối với người có bằng thạc sĩ.
     3. Chương tŕnh đào tạo thạc sĩ gồm ba phần:
          a) Phần 1 - Kiến thức chung: gồm các môn Triết học, Ngoại ngữ.
          b) Phần 2 - Kiến thức cơ sở và chuyên ngành.
          c) Phần 3 - Luận văn Thạc sĩ.
     4. Chương tŕnh đào tạo tiến sĩ gồm ba phần: 
          a) Phần 1 - Các môn học của chương tŕnh đào tạo thạc sĩ. 
          b) Phần 2 - Các chuyên đề tiến sĩ. 
          c) Phần 3 - Luận án tiến sĩ. 
     5. Bồi dưỡng sau đại học là phương thức đào tạo không chính quy nhằm cung cấp những kiến thức mới, bổ sung, cập nhật và hiện đại hoá các kiến thức đă học, đáp ứng các nhu cầu cấp thiết đang đặt ra trong công việc và nghề nghiệp của những người đă có bằng đại học hoặc sau đại học.

2.2. QUY CHẾ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG HỆ CHÍNH QUY
     Căn cứ vào Quyết định số 25 /2006/QĐ-BGDĐT ngày 26 tháng 6 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, quy chế này gồm 5 Chương, 19 Điều, trong đó có các điểm chính yếu như sau:
     2.2.1. Quy chế này quy định đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy về tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi học phần; thi tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp.
     2.2.2. Quy chế này áp dụng đối với sinh viên các khóa đào tạo hệ chính quy ở các tŕnh độ đại học và cao đẳng trong các đại học, học viện, trường Đại học và trường Cao đẳng 
     2.2.3. Chương tŕnh được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp.
     2.2.4. Học phần là khối lượng kiến thức trong quá tŕnh học tập. Phần lớn học phần có khối lượng từ 2 đến 5 đơn vị học tŕnh, được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Có hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn.
     2.2.5. Đơn vị học tŕnh được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên. Một đơn vị học tŕnh được quy định bằng 15 tiết học lư thuyết; bằng 30-45 tiết thực hành, thí nghiệm hay thảo luận; bằng 45-90 giờ thực tập tại cơ sở; hoặc bằng 45-60 giờ làm tiểu luận, đồ án, khoá luận tốt nghiệp. Đối với những học phần lư thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một đơn vị học tŕnh sinh viên phải dành ít nhất 15 giờ chuẩn bị cá nhân. Một tiết học được tính bằng 45 phút.
     2.2.6. Các trường tổ chức đào tạo theo khoá học và năm học. Đào tạo tŕnh độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học. Đào tạo tŕnh độ đại học được thực hiện từ bốn đến sáu năm. 
     2.2.7. Một năm học có hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 15 tuần học tập và 3 tuần thi, kiểm tra. 
     2.2.8. Đánh giá học phần: Điểm đánh giá bộ phận và điểm học phần được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tṛn đến phần nguyên.
     2.2.9. Kết quả các học phần giáo dục quốc pḥng, giáo dục thể chất và kết quả kỳ thi tốt nghiệp đối với các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh không tính vào điểm trung b́nh chung học tập của học kỳ, năm học hay khoá học. Việc đánh giá kết quả và điều kiện cấp chứng chỉ đối với các học phần này theo quy định của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo tức là phải qua một kỳ thi tốt nghiệp. Thi tốt nghiệp các môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh áp dụng cho tất cả sinh viên đại học, cao đẳng theo quy định.

2.3. Sơ lược về một số Chương Tŕnh tiêu biểu

2.3.1. Ngành Báo chí (Journalism)
Chương tŕnh

Chưa kể phần nội dung về Giáo dục Thể chất (5 đvht) và Giáo dục Quốc pḥng (165 tiết)3 , khối lượng kiến thức tối thiểu và thời gian đào tạo theo thiết kế là195 đơn vị học tŕnh (đvht).
- 29 dvht về chính trị bao gồm: Triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Chủ nghĩa xă hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Chính trị học đại cương và Các nguyên lư kinh tế.
- Các môn chuyên ngành gồm có: Văn học nước ngoài, Văn học Việt Nam, Tiếng Việt thực hành, Cơ sở văn hoá Việt Nam, Ngoại ngữ4 , Tin học đại cương, Cơ sở lư luận báo chí, Pháp luật về báo chí, Đạo đức nghề nghiệp nhà báo, Lịch sử báo chí thế giới, Lịch sử báo chí Việt Nam, Lao động nhà báo, và Tác phẩm báo chí.

2.3.2. Ngành Chính trị học (Political Science) 
Chương tŕnh : 

195 đơn vị học tŕnh (đvht), chưa kể phần nội dung về Giáo dục Thể chất (5 đvht) và Giáo dục Quốc pḥng (165 tiết), bao gồm: Triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Chủ nghĩa xă hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Xă hội học đại cương, Giáo dục học đại cương, Xây dựng Đảng, và Các nguyên lư kinh tế, Tiếng Việt thực hành, Văn học Việt Nam, Ngoại ngữ, Tin học đại cương, Lịch sử tư tưởng chính trị, Chính trị học đại cương, Quan hệ chính trị quốc tế, Lư luận nhà nước và pháp luật, Đại cương chính trị học so sánh, Thể chế chính trị thế giới đương đại, Quyền lực chính trị, Chính trị học phát triển, Chính trị Việt Nam thời kỳ quá độ lên CNXH, Chính sách công, Khoa học quản lư, Phương pháp tiếp cận và xử lư t́nh huống chính trị, Phương pháp nghiên cứu và giảng dạy Chính trị học.

2.3.3. Ngành đào tạo: Tâm lư học (Psychology) 
Chương tŕnh
180 đơn vị học tŕnh (đvht), chưa kể phần nội dung về Giáo dục Thể chất (5 đvht) và Giáo dục Quốc pḥng (165 tiết). 
- 18 dvht về chính trị bao gồm: Triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Chủ nghĩa xă hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, và Tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Môn chuyên ngành gồm có: Ngoại ngữ, Tin học đại cương, Lịch sử văn minh thế giới, Đại cương văn hoá Việt Nam, Tâm lư học đại cương, Pháp luật đại cương, Logic học5 , Xă hội học đại cương, Giải phẫu và sinh lư hoạt động thần kinh cấp cao, Lịch sử tâm lư học, Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu tâm lư học, Thống kê xă hội, Tâm lư học xă hội, Tâm lư học phát triển, Tâm lư học nhân cách, Chẩn đoán tâm lư, Tâm lư học quản lư, Tâm lư học lao động, Tâm lư học pháp luật, Tâm lư học giáo dục, Tâm lư học tham vấn, Tâm bệnh học.

2.3.4. Ngành Hành chính học (Public Administration). 
Chương tŕnh
     194 đơn vị học tŕnh (đvht), chưa kể phần nội dung về Giáo dục Thể chất (5 đvht) và Giáo dục Quốc pḥng (165 tiết)
     - 22 dvht về chính trị bao gồm 5 môn như trên.
     - Phần kiến thức chuyên ngành gồm có: Ngoại ngữ, Tin học đại cương, Lịch sử văn minh thế giới, Đại cương văn hoá Việt Nam, Tâm lư học đại cương, Pháp luật đại cương, Logic học, Xă hội học đại cương, Lư luận nhà nước và pháp luật, Lư luận hành chính nhà nước, Hiến pháp và luật tổ chức nhà nước, Luật hành chính, Hành chính so sánh, Lịch sử hành chính Việt Nam, Phân tích chính sách, Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, Nhân sự hành chính nhà nước, Tổ chức điều hành và quản trị công sở, Kỹ thuật xây dựng văn bản, Thông tin và tin học hành chính, Quản lư nhà nước về kinh tế, Quản lư tài chính công và công sản, Quản lư nhà nước về xă hội, Quản lư nhà nước về an ninh và quốc pḥng, Tâm lư học trong quản lư hành chính nhà nước.

2.3.5. Ngành Kinh tế chính trị (Political Economy) 
Chương tŕnh
     180 đơn vị học tŕnh (đvht), chưa kể phần nội dung về Giáo dục Thể chất (5 đvht) và Giáo dục Quốc pḥng (165 tiết) 
     - 25 dvht về chính trị bao gồm 5 môn như trên.
     - Phần kiến thức chuyên ngành : Ngoại ngữ, Tin học đại cương, Toán cao cấp, Lư thuyết Xác suất và Thống kê toán, Lịch sử văn minh thế giới, Đại cương văn hóa Việt Nam, Tâm lư học đại cương, Pháp luật đại cương, Xă hội học đại cương, Lô gíc học, Lịch sử kinh tế quốc dân, Kinh tế vi mô, Kinh tế vĩ mô, Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nguyên lư thống kê kinh tế, Kinh tế lượng, Kinh tế quốc tế, Kinh tế phát triển, Các học thuyết kinh tế trong tác phẩm của Các Mác, Các học thuyết kinh tế trong tác phẩm của Lênin, Kinh tế chính trị về thời kỳ quá độ ở Việt Nam.

2.3.6. Ngành Luật (Law) 
Chương tŕnh
     190 đơn vị học tŕnh (đvht), chưa kể phần nội dung về Giáo dục Thể chất (5 đvht) và Giáo dục Quốc pḥng (165 tiết)
     - 22 dvht về chính trị bao gồm 5 môn như trên.
     - Chuyên ngành gồm các môn: Ngoại ngữ, Tin học đại cương, Xây dựng văn bản pháp luật, Lịch sử văn minh thế giới, Đại cương văn hoá Việt Nam, Tâm lư học đại cương, Xă hội học đại cương, Lôgic học, Lư luận Nhà nước và pháp luật, Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam, Lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới, Luật học so sánh, Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật H́nh sự, Luật Dân sự, Luật Tố tụng h́nh sự, Luật Tố tụng dân sự, Luật Hôn nhân và gia đ́nh, Luật Thương mại, Luật Lao động, Luật Tài chính, Luật Ngân hàng, Luật Đất đai, Luật Môi trường, Công pháp quốc tế, Tư pháp quốc tế, Luật Thương mại quốc tế.

2.3.7. Ngành Quan hệ quốc tế (International Relations) 
Chương tŕnh
     195 đơn vị học tŕnh (đvht), chưa kể phần nội dung về Giáo dục Thể chất (5 đvht) và Giáo dục Quốc pḥng (165 tiết)
     - 22 dvht về chính trị bao gồm 5 môn như trên.
     - Môn chuyên ngành: Ngoại ngữ, Tin học đại cương, Lịch sử văn minh thế giới, Đại cương văn hoá Việt Nam, Tâm lư học đại cương, Pháp luật đại cương, Lôgic học, Xă hội học đại cương, Chính trị học đại cương, Lư luận Nhà nước và pháp luật, Lịch sử ngoại giao Việt Nam, Lịch sử các học thuyết kinh tế, Địa lư kinh tế Việt Nam và thế giới, Kinh tế học đại cương (Vi mô và Vĩ mô), Kinh tế đối ngoại Việt Nam, Lịch sử quan hệ quốc tế , Lư luận quan hệ quốc tế, Nhập môn quan hệ kinh tế quốc tế, Công pháp quốc tế, Tư pháp quốc tế, Chính sách đối ngoại Việt Nam, Báo chí và thông tin đối ngoại, Đàm phán quốc tế, Ngoại ngữ chuyên ngành, Quan hệ quốc tế.

2.3.8. Ngành Xă hội học (Sociology) 
Chương tŕnh
     190 đơn vị học tŕnh (đvht), chưa kể phần nội dung về Giáo dục Thể chất (5 đvht) và Giáo dục Quốc pḥng (165 tiết) 
     - 22 dvht về chính trị bao gồm 5 môn như trên.
     - Chuyên ngành: Ngoại ngữ, Tin học đại cương, Lịch sử văn minh thế giới, Đại cương văn hoá Việt Nam, Tâm lư học đại cương, Pháp luật đại cương, Lôgíc học, Tâm lư học xă hội, Dân tộc học đại cương, Thống kê xă hội, Xă hội học đại cương, Lịch sử xă hội học, Các lư thuyết Xă hội học hiện đại, Phương pháp nghiên cứu Xă hội học, Xă hội học nông thôn, Xă hội học đô thị, Xă hội học kinh tế, Xă hội học chính trị, Xă hội học văn hoá, Xă hội học truyền thông đại chúng, Xă hội học về giới tính, Các vấn đề xă hội đương đại, Chính sách xă hội.

2.3.9. Ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước 
Chương tŕnh
Chưa kể phần nội dung về Giáo dục Thể chất (5 đvht) và Giáo dục Quốc pḥng (165 tiết), 195 đơn vị học tŕnh (đvht) gồm các môn: Triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Chủ nghĩa xă hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Xă hội học đại cương, Chính trị học đại cương, Giáo dục học đại cương, Nguyên lư quản lư kinh tế, Lịch sử Việt Nam, Văn học Việt Nam, Ngoại ngữ, Tin học đại cương, Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Cơ sở văn hoá Việt Nam, Lịch sử xây dựng các đảng chính trị, Lịch sử xây dựng chính quyền nhà nước, Học thuyết Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng Cộng sản, Xây dựng Đảng về chính trị, Xây dựng Đảng về tư tưởng, Xây dựng Đảng về tổ chức, Phương pháp nghiên cứu, giảng dạy Xây dựng Đảng, Lư luận Nhà nước và pháp luật, Quản lư hành chính nhà nước Việt Nam, Phương pháp nghiên cứu và giảng dạy môn học Quản lư nhà nước .

2.4. Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương tŕnh khung của Đại học Quốc gia Hà Nội được qui định chi tiết theo 2 khối: 
- Khối kiến thức chung và cơ bản chương tŕnh đào tạo cử nhân các ngành thuộc khối Khoa Học Xă Hội và Nhân Văn.
- Khối kiến thức chung và cơ bản chương tŕnh đào tạo cử nhân các ngành thuộc khối Khoa Học Tự Nhiên.
Nh́n chung th́ cũng không khác những điều ghi trong mục 5.2 và 5.3. Về chi tiết ṭan bộ chương tŕnh khung của Đại học Quốc gia Hà Nội, xin coi Phụ Bản I và II.

III .T̀NH TRẠNG CHUNG VỀ GIÁO CHỨC VÀ SINH VIÊN

Ng̣ai vấn đề Tổ chức và Chương tŕnh học, điểm kế tiếp cần lưu tâm là vấn đề nhân sự: đội ngũ giảng dậy, tỉ lệ gíao sư sinh viên ở các trường tại thành phố lớn và nhất là ở các địa phương, phẩm chất và khả năng người giảng dậy. Đối với sinh viên cũng vậy: sĩ số trong mỗi trường, mỗi lớp hiện nay, thi cử và học hành, tốt nghiệp và việc làm v.v.

3.1. Nhân sự

Theo tờ tŕnh của Chính phủ, tính đến năm học 2005-2006, cả nước có khoảng 997.7006 nhà giáo, trong đó có 47.700 giảng viên Đại học, Cao đẳng (chiếm 4,8%)7 Tính trung b́nh cả nước so với năm học 2001- 2002, số lượng nhà giáo tăng 11% (khoảng 108.900 người).

Về đội ngũ Đại học Quốc gia Thành Phố HCM có tổng cộng 2.582 cán bộ - công chức bao gồm 1.900 cán bộ giảng dạy (1.008 người có tŕnh độ sau đại học, 170 người có chức danh GS-PGS), trong đó lực lượng sau Đại học chiếm 56,4%.

Theo những cuộc điều tra và qua dư luận báo chí th́ đội ngũ giảng viên ở các trường Đại học, Cao đẳng c̣n rất thiếu, nhất là những chuyên ngành đào tạo mới, môn học mới. Đội ngũ nhà giáo đầu ngành bị thiếu hụt, không kịp bù đắp số nghỉ hưu. Năng lực, tŕnh độ khả năng cập nhật kiến thức mới, sử dụng ngoại ngữ, quy mô và chất lượng nghiên cứu khoa học phục vụ nhu cầu của thực tiễn lao động sản xuất và đào tạo, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy và nghiên cứu khoa học, quản lư giáo dục của đội ngũ giảng viên c̣n rất hạn chế.

Riêng về đội ngũ cán bộ quản lư giáo dục, hiện cả nước có 10.400 người làm việc ở bộ, sở, pḥng Gíao dục và Đào tạo, pḥng Lao động- Thương binh và xă hội, trong đó có khoảng 6% ở giáo dục nghề nghiệp, Cao đẳng, Đại học và 11 % ở các cơ quan quản lư giáo dục các cấp.

Điều kiện làm việc của các nhà giáo nh́n chung c̣n rất thiếu thốn, 30 năm qua hầu như chưa được cải thiện ở tuyệt đại đa số trường Đại học và Cao đẳng. Các nhà giáo chưa có một bộ bàn ghế riêng để ngồi và làm việc tại trường, khoa, chỉ có một pḥng họp giáo chức chung cho cả trường và cả khoa. Hầu hết giáo sư, phó giáo sư ở các trường Đại học, Cao đẳng cũng chưa có chỗ làm việc riêng, chưa có kinh phí để mua sách, tạp chí chuyên môn quốc tế.

Một cách khái quát, thu nhập của giáo chức đại học khoảng 4 triệu đồng một tháng, chưa kể đến mức đóng thuế thu nhập cá nhân. Theo Trường Đại học Nông lâm TP.HCM, hiện nay, cán bộ, giảng viên nói chung nhận được 2 khoản thu nhập: lương ngân sách (theo hệ số, ngạch, bậc) và lương của trường (từ nguồn riêng) với mỗi khoản xấp xỉ: 1,8 triệu đồng trong một tháng cho một người. Ngoài ra, giảng viên có thể tăng thêm thu nhập từ việc dạy thêm các hệ không chính quy nhưng không đều nhau giữa các ngành, các khoa v́ tùy thuộc vào số lượng lớp, sinh viên, ngành nhiều hay ít... Nh́n chung, giảng viên dạy thêm có thể đạt thêm mức b́nh quân khoảng trên dưới 2 triệu đồng, cao nhất khỏang 6 đến 8 triệu một tháng cho một người.

3.2. Sinh viên
     Vấn đề sinh viên, có mấy con số đáng suy nghĩ như sau:
     3.2.1. Tỉ lệ sinh viên giữa các vùng miền c̣n khoảng cách lớn (22,35 sinh viên /1 ngàn dân ở đồng bằng sông Hồng; 7,05 sinh viên/1 ngàn dân ở đồng bằng sông Cửu Long); quy mô của giáo dục đại học và tầm vóc của mỗi trường Đại học c̣n nhỏ bé; chất lượng đào tạo chưa có sự cải thiện đáng kể.... 
     3.2.2. Đai học Quốc gia Thành Phố HCM.
Hiện tại, quy mô đào tạo chính quy bao gồm đại học và sau đại học của Đai học Quốc gia Thành Phố HCM là 35.391 sinh viên với 120 ngành đào tạo bậc đại học, 83 ngành đào tạo Thạc sĩ và 82 ngành đào tạo Tiến sĩ thuộc các lĩnh vực kỹ thuật công nghệ, khoa học tự nhiên, khoa học xă hội - nhân văn và khoa học kinh tế. 
     3.2.3. Theo dự phóng trên giấy tờ, sẽ nâng năng lực tuyển mới của các trường Đại học và Cao đẳng từ khoảng 250.000 sinh viên hiện nay lên 420.000 vào năm 2010, 600.000 sinh viên vào năm 2015 và đạt 1,2 triệu vào năm 2020. Qui mô đào tạo đại học đến năm 2020 sẽ tăng 5,3 lần so với hiện nay. 
Cũng theo dự phóng, sẽ cố gắng đạt tỉ lệ b́nh quân 20 sinh viên/một ngàn dân vào năm 2010 và con số này là 30 vào năm 2015; đạt 45 vào năm 2020. Đến năm 2020 hy vọng có 30-40% sinh viên học tại các cơ sở giáo dục đại học tư thục.
     3.2.4. Số thí sinh dự thi so với số đăng kư dự thi % :
     Năm 2005                                          Năm 2006
Đợt 1 471.062/633.788 = 74,32% 490.599/679.212 = 72,23%
Đợt 2 464.221/615.535 = 75,57% 489.593/647.031 = 75,67%
Cộng 935.283/1.249.323 = 74,86% 980.192/1.326.243 =73,91%
     3.2.5. Điểm số của thí sinh kỳ thi Đại học- Cao đẳng năm 2006:
Tổng số thí sinh dự thi là:                     898.1968
Thí sinh đạt 0/30 điểm :                     6.233
Thí sinh đạt 6/30 điểm trở xuống :                     295.152
Thí sinh đạt từ 15 điểm trở lên (17,99%) chỉ có           161.615 
(với tổng số cả 3 môn là 30 điểm)

3.3. Ngân sách
     Theo thống kê chính thức của Bộ Gíao Dục và Đào Tạo trên mạng Edu.net cho thấy, năm 2001 ngân sách Nhà nước chi cho giáo dục và đào tạo là 15.609 tỷ đồng, năm 2006 đă lên tới 55.300 tỷ đồng. Chưa kể dân đóng góp bằng 30% ngân sách và 1.109 triệu USD vay vốn ODA. 
     Trong khi đó, học sinh – sinh viên nh́n chung không tăng nhiều. Giáo chức tăng từ 800.000 lên 1 triệu người. Thế mà, chất lượng giáo dục vẫn luôn là mối lo lắng hàng đầu của xă hội

3.4. Học phí
     Hiện tại học phí của sinh viên đai học là 1.800.000đ/năm, (gia đ́nh nông thôn chỉ có thể gởi cho con mỗi tháng 500.000đ, trong đó tiền trọ 15.000đ, tiền cơm 300.000đ). Học phí cho 1 sinh viên học RMIT ở VN khoảng 4.500.000đ-5.000.000đ. 
     Theo đề án mới, học phí sẽ lên đến 7.800.000đ/năm. Nếu dự thảo đề án học phí của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Việt Nam được thông qua, kể từ năm 2007, mức tăng học phí b́nh quân ở các cấp học sẽ tăng từ 4-10 lần. Việc tăng học phí ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hằng ngày của người dân, vì thế nhiều người kêu gọi cần có sự tính toán kỹ lưỡng. Ngoài học phí, các gia đình ở Việt Nam còn phải đóng góp nhiều khoản chi khác cho giáo dục. Người ta cho rằng đóng góp của người dân cho giáo dục trong những năm qua đã là nhiều, và họ sẽ gặp thêm khó khăn nếu học phí lại tăng.

3.5. Nhân sự, Hiện trạng và Phẩm chất.
     Trong cuộc phỏng vấn GS Đỗ Trần Cát - Tổng thư kư Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước do Chu Hồng Vân thực hiện, ta biết được mấy điểm đáng lưu tâm như sau:
     “Tuổi đời GS Việt Nam “già” quá, người trẻ nhất Việt Nam cũng chỉ bằng lứa tuổi trung b́nh của GS các nước khác? GS b́nh luận ǵ về điều này? Có phải tiêu chuẩn của Việt Nam khắt khe quá nên nhiều người không đạt được?
     “Đến thời điểm này (tính cả những người được công nhận năm nay) có khoảng 80% GS Việt Nam ở độ tuổi 60. Có 20% GS ở tuổi 70- 80. Chỉ có khoảng 20% GS ở độ tuổi dưới 60. So với thế giới, tuổi GS Việt Nam vẫn quá già. Nhưng nh́n lại những năm đă qua th́ ta đă có một bước tiến đấy chứ. Tiêu chuẩn của ta không khắt khe so với thế giới. Thậm chí ở nhiều nước, để trở thành GS c̣n khó khăn hơn, tính cạnh tranh cao hơn. Trước khi trở thành GS, người ta đă phải thử thách, phải lăn lộn, làm việc như một GS trong một thời gian dài. Việc GS Việt Nam quá già, nguyên nhân chủ yếu là do trong một thời gian dài ta không tuyển được giảng viên đại học. Số giảng viên có khả năng trở thành GS, PGS phần lớn được tuyển vào các trường đại học từ những năm 60- 70. Mặc dù tỷ lệ giảng viên trẻ ở các trường đại học bây giờ là 50%, thậm chí hơn. Nhưng các trường đại học khó thu hút được những người trẻ thực sự xuất sắc về trường. Số c̣n lại đều chưa đủ độ chín.
     “Xin hỏi GS một điều cuối cùng, hiện nay việc công nhận chức danh GS, PGS được thực hiện theo quy tŕnh ở nhiều cấp nhưng vẫn có ư kiến cho rằng có nhiều hồ sơ không trung thực bị “lọt lưới”. Đâu đó vẫn xảy ra chuyện GS, PGS đi chép sách của người khác, đi xin giờ dạy cho đủ tiêu chuẩn, đứng tên hướng dẫn nghiên cứu sinh với người khác, nhưng thực chất không làm ǵ. Vậy sau này khi việc bổ nhiệm đưa về các trường, liệu việc xét có được làm nghiêm túc, khách quan?
     “Đúng là có những thông tin về việc người làm hồ sơ công nhận GS, PGS không trung thực. Tôi không dám khẳng định trong những hồ sơ được xét không hề có chuyện “gian lận”. V́ thực tế chúng tôi vẫn nhận được những lá đơn tố giác. Tuy nhiên đơn không nêu cụ thể, không có căn cứ. Trong khi đó, hồ sơ gửi đến chúng tôi đều hợp lệ. Việc hướng dẫn nghiên cứu sinh, giảng dạy đều có xác nhận của hiệu trưởng và dấu đỏ của các trường. Sách được liệt kê đều ghi số xuất bản, nộp lưu chiểu, đương nhiên là phải thực hiện đủ quy tŕnh xuất bản. Nếu đơn tố giác có căn cứ, chúng tôi sẽ tiến hành thẩm tra cẩn thận. Để kết luận về những sự việc liên quan đến phẩm giá, sinh mệnh chính trị của một người không phải đơn giản. C̣n sau này, khi các trường bổ nhiệm GS, PGS, hồ sơ vẫn chuyển về Hội đồng để xét. Chỉ khi các trường đủ mạnh, đủ uy tín, các trường sẽ được toàn quyền bổ nhiệm GS, PGS cho ḿnh.”
     Về tŕnh độ giáo sư, trong cuộc điều trần trước Quốc hội ngày 7.11.2006, Đại biểu Hùynh Thị Hường, tỉnh Quảng Nam phát biểu như sau:
     “90% tiến sĩ không đủ tŕnh độ áp dụng vào cuộc sống 
Về vấn đề đào tạo tại chức tŕnh độ thạc sĩ, tiến sĩ, theo nghiên cứu mới đây cho thấy, có gần 90% tiến sĩ không đủ tŕnh độ áp dụng vào cuộc sống. Một số công tŕnh khoa học chỉ là ṿng khép kín từ thư viện đến thư viện và học vị của một số vị, kể cả trong ngành giáo dục chỉ là để giữ ghế. Có người nói: “Tại cái chức mà phải đi học đại mà thôi”. Hiện có nguy cơ đáng báo động là đội ngũ kế cận những giáo sư, tiến sĩ trong ngành giáo dục ở tuổi 70 chưa có người thay. Liệu hơn 8.000 tiến sĩ hiện nay có đủ tầm thay thế lớp trước được không, đáng để chúng ta phải suy nghĩ. 
     Nhận định về bằng cấp, GS Lê Quang Minh nhận xét:
     "Chúng ta đang cấp bằng tŕnh độ cao cho những người tŕnh độ không cao"- nhận định này của GS.TS Lê Quang Minh, hiệu trưởng Trường Đại Học Cần Thơ, đă khái quát được vấn đề đáng quan tâm nhất tại Hội nghị tổng kết công tác đào tạo sau đại học do Bộ GD-ĐT tổ chức trong hai ngày 4 và 5-1-2007 tại Hà Nội.
     Tiến sĩ là học vị cao nhất trong khoa học. Tuy nhiên, tại Việt Nam, bằng tiến sĩ “hấp dẫn” chủ yếu đang chỉ bởi tư cách là “giấy thông hành” bắt buộc cho sự thăng tiến. Số người dự định theo học sau đại học với toan tính có bằng cấp cao để dễ bề tiến thân mà không phải v́ thực sự đam mê nghiên cứu khoa học ngày càng nhiều. (Thời báo Kinh Tế VN)

3.6. Thi cử
     Phản ứng sau kỳ thi tuyển Đại học năm 2006, Vũ Ngọc Tiến, trong bài “Tản mạn trước thềm năm học mới” có đọan viết như sau:
     “Điều đáng quan tâm là nửa triệu thí sinh thi trượt, đặc biệt là 6.233 thí sinh đạt 0 điểm và 295.152 thí sinh đạt 6 điểm trở xuống kia, vốn không đủ năng lực học lên Đại học, Cao đẳng, lẽ ra phải được hướng nghiệp sớm từ cuối cấp Trung học cơ sở th́ ta đă không làm được. Đó là sự lăng phí tuổi trẻ, lăng phí tiền bạc, lăng phí thời cơ lập nghiệp vô cùng lớn, nảy sinh từ một nền học hư danh, xa rời thực tế của đời sống xă hội. Lại nữa, đến tận bây giờ dù đă muộn, song vẫn c̣n kịp hướng dẫn các em đi học nghề, nhưng nhiều trường Đại học, Cao đẳng yếu kém đang cố đấm ăn xôi, t́m mọi cách hạ điểm chuẩn dưới điểm sàn, thậm chí có trường ở phía Nam vừa tuyên bố thí sinh đạt 6,5 điểm cũng có thể được xét tuyển! Hạ điểm sàn xuống dưới điểm trung b́nh (13-14 điểm) đă là sự thỏa hiệp của Bộ Gíao Dục và Đào Tạo để cứu vớt nhiều trường dân lập hay tư thục yếu kém tránh khỏi nguy cơ phá sản, nhưng nếu tiếp tục hạ điểm chuẩn tuyển sinh xuống 6,5 điểm sẽ là sự lố bịch, không thể chấp nhận.
     Phát biểu về bê bối trong kỳ thi, tại diễn đàn Quốc Hội, ngày 7.11.2006, Dân biểu Nguyễn Minh Thuyết, tỉnh Lạng Sơn nói : 
     “Tôi chắc chắn chính quyền địa phương phải có trách nhiệm chứ” Ông thêm: “Kỳ thi nào ở một địa phương báo chí cũng đăng ảnh những người bắc thang vào pḥng thi ném bài. Ai chịu trách nhiệm? Nếu chúng tôi là Chính phủ, chắc chắn tôi kỷ luật ông chủ tịch huyện, ông trưởng công an huyện, ông chủ tịch xă và ông trưởng công an xă ở đấy, chứ không chỉ kỷ luật mỗi ông chủ tịch hội đồng thi”.

IV. MỘT VÀI NHẬN XÉT TIÊU BIỂU VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Qua các nghiên cứu và trao đổi riêng tư, qua phản ảnh của các cơ quan truyền thông trong và ng̣ai nước và nhất là những phát biểu của các chuyên viên giáo dục, người ta không khỏi ái ngại về hiện trạng giáo dục đại học Việt Nam. Ở đây xin lược bỏ những “phẫn nộ”, những “cáo buộc”, nói chung là những phát biểu phát xuất từ cảm tính. Vả lại cũng không sao ghi hết được những “bức xúc” về giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng. Chỉ xin nêu ra một số phát biểu cốt lơi, tiêu biểu, liên quan tới những vấn đề lớn của giáo dục đại học hiện tại.

4.1. Về chất lượng đại học
     Một nhà giáo dục kỳ cựu đầy uy tín là GS Hoàng Tụy đă phát biểu như sau:
     “C̣n ở đại học th́ từ quan niệm về đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, cho đến việc tuyển chọn GS, PGS, đánh giá năng lực, tŕnh độ giảng viên đại học, đánh giá chất lượng đại học, tất cả cũng đều thể hiện tư duy bất cập, đến mức gọi đại học của ta là phổ thông cấp 4, như có người đă ví, thật cũng không quá đáng. Tệ hại nhất là từ cử nhân đến tiến sĩ, GS, PGS, viện sĩ nhan nhản sản phẩm dỏm, không chỉ dỏm do chạy chọt, mua bán mà nguy hại hơn, dỏm mà thật, v́ đường đường xuất xưởng từ quy tŕnh đào tạo chính quy của ta. ….”
     “Về trí dục th́ như thế, c̣n về giáo dục đạo đức, nhân cách th́ cũng không thể nói chúng ta đă thành công và có thành tựu ǵ đáng kể. Trái lại ở đây đă thể hiện một t́nh trạng xơ cứng tư duy càng rơ nét hơn. Hai mươi năm nay t́nh h́nh thế giới, t́nh h́nh trong nước, đă thay đổi biết bao, cách nh́n thế giới, cuộc đời, cách sống, cho đến cả lư tưởng xây dựng kinh tế xă hội đâu c̣n như trong giai đoạn trước, hàng ngày luôn nhắc đến quá độ lên Chủ Nghĩa Xă Hội, đấu tranh giai cấp, ai thắng ai, chuyên chính vô sản, kế hoạch hóa tập trung, v.v. …lẽ ra giáo dục phải đi trước một bước, chuẩn bị cho thanh thiếu niên tự tin bước vào cuộc cạnh tranh khốc liệt để dành cho dân tộc ta một chỗ đứng xứng đáng trong thế giới đầy cạm bẫy rủi ro nhưng cũng không ít cơ hội cho những dân tộc giàu tiềm năng trí tuệ và biết phát huy mạnh mẽ tiềm năng ấy. Tiếc thay, nhà trường của chúng ta không những không đi trước mà phần nào, mặt nào đó, c̣n chậm trễ, thậm chí đi ngược thời gian trong sự chuyển ḿnh vĩ đại đó của đất nước. Không nói ǵ nhiều, tôi chỉ xin nêu hai việc: một là cách dạy chính trị cổ lỗ, vô bổ, có tính chất kinh kệ tôn giáo, chứ không phải n