(Bài dưới đây trích trong Chương IV của cuốn Giáo Dục Đại học Việt Nam, đang soạn thảo. Mọi trích dẫn, thu băng hoặc dịch ra Pháp hay Anh ngữ, hoặc đăng lại nguyên văn trên các báo phải được sự thỏa thuận trước của tác giả).
I. Trường đại học cộng đồng.
Đầu thập niên ’70 một mô h́nh đại học ngắn hạn được giới thiệu vào hệ thống giáo dục đại học ở Miền Nam. Mô h́nh được chính thức nh́n nhận (xem Phụ bản I, Sắc lệnh số 503-TT/SL ngày 15-8-1971 thành lập Hệ thống Viện Đại học Cộng đồng).
Thật ra từ “giáo dục cộng đồng” đă có trong danh pháp giáo dục ở Miền Nam từ thập niên ’60 với việc thiết lập những trung tâm giáo dục cộng đồng, thí dụ Trung tâm Giáo dục Cộng đồng Long an. Về sau những Trung tâm đó được hợp thức hóa và các Trường Sư phạm Cộng đồng thành h́nh, theo Nghị định số 1001-GD-PC-NĐ ngày 17-7-1963 cải danh Trung tâm giáo dục cộng đồng Long an thành Trường Sư phạm Long an (xem Công báo Việt Nam Cộng ḥa, ngày 23-7-1966, tr. 3198).
Ư thức “giáo dục cộng đồng” được phổ biến rộng răi từ sau ngày các Viện Đại học Cộng đồng ra đời. Để cổ động và xúc tiến việc dạy và học trong cộng đồng, những hội Phụ huynh học sinh trường sơ cấp, trường tiểu học được phép thành lập và hoạt động.
Thí dụ:
– hội Phụ huynh học sinh trường sơ cấp cộng đồng Hồ thạnh (Vĩnh long), ấp Long thạnh, xă Long hồ, quận Châu thành Vĩnh long (Nghị định của Bộ Nội vụ số 827/KS/14B ngày 14-12-1972);
– hội Phụ huynh học sinh trường tiểu học cộng đồng Hộ V, Vĩnh long (Nghị định của Bộ Nội vụ số 828/KS/14B ngày 14-12-1972);
– hội Phụ huynh học sinh trường tiểu học nữ tỉnh lỵ Ba xuyên (Nghị định của Bộ Nội vụ số 831/KS/14B ngày 15-12-1972), v.v.
Tuy nhiên, mô h́nh Đại học cộng đồng của Hoa kỳ đem vào Việt nam lúc bấy giờ chưa được nghiên cứu thật sát thực với t́nh trạng của đất nước thuở đó (Xem The Community Junior College concept: A Study of its relevance to the postwar reconstruction in Vietnam. Đỗ Bá Khê, [Unpublished dissertation] University of Southern California, 1970). Chưa kể đến việc cần phải t́m hiểu xă hội hậu chiến sẽ như thế nào. Cho đến khi Miền Nam ch́m trong sự kiểm soát sắt máu của cộng sản mọi người mới biết. Mô h́nh đaạ học 2-năm chưa biết có khả thi hay không với t́nh trạng “tiền” hậu chiến ở Miền Nam thời bấy giờ.
Có hai điểm cần suy nghĩ.
Một, với viễn ảnh lạc quan (. . .“despite the myriad problems. . . Vietnam must face after the war, the prospects for reconstruction were optimistic, tr. 271), mô h́nh trường đề nghị cho Việt Nam chép nguyên văn các đặc tính của trường đại học cộng đồng ở Hoa kỳ. Nghĩa là, theo ngôn từ của tác giả, đại học cộng đồng đem vào Việt Nam sẽ thi hành mười chức năng sau đây (nguyên văn tiếng Anh của luận án):
l. The Transfer Function
2. The Terminal Function
3. The Adult Education Function
4. The General Education Function
5. The Remedial Education Function
6. The Guidance and Counseling Function
7. The Community Service Function
8. The Co-curricular Function
9. The Quality of Instruction Characteristic
10. The Open-door Characteristic.
Khi đọc kỹ các đề nghị ghi trong luận án, chẳng ai thấy một chương tŕnh (program) dạy cụ thể để đào tạo những người thợ, những cặp rằng lành nghề cho xứ sở. (xem Phụ bản II: Thông cáo của Bộ Giáo dục về việc Thành lập Viện Đại học cộng đồng). Chỉ nội hai từ “junior college” được dịch ra “viện đại học” nói lên chuyện muốn thổi phồng loại trường chỉ có chương tŕnh đào tạo 2-năm. Nhằm sắp ngang hàng với những Viện Đại học Sàig̣n, Viện Đại học Huế, Viện Đại học Cần thơ, Viện Đại học Đà lạt. Chủ đích mong có tiếng “khua” thật lớn cho mô h́nh mang từ nước ngoài về.
Hai, ngây ngô chính trị về hiện t́nh của đất nước thể hiện trong Chương VI của luận án (Chapter VI: The Postwar Problems and Prospects for Reconstruction in Vietnam). Tác giả kê ra một loạt h́nh ảnh và số liệu thống kê tốt đẹp chép từ các phúc tŕnh nghiên cứu do Bộ Quốc pḥng Hoa kỳ thuê làm. Tác giả chẳng biết lúc đó Hoa kỳ đă tiến hành việc “mua bán” Miền Nam cho cộng sản qua chương tŕnh Việt Nam-hóa. Cụ thể, bản Hiệp định đ́nh chiến Paris tháng Giêng 1973. Sau ngày 30-4-1975 những đề nghị tái thiết lư tưởng đó không thực hiện được. Bởi lư do đơn giản. Kẻ chiến thắng muốn băi bỏ tất cả những ǵ được xây dựng ở Miền Nam có từ trước.
Dù trong hoàn cảnh sôi sục của chiến tranh, nhưng cho đến trước ngày Miền Nam hoàn toàn sụp đổ, Bộ Giáo dục Miền Nam đă thành công đặt những viên đá đầu tiên xây dựng đại học cộng đồng tại những địa phương sau đây (xem Phụ bản III, IV, V, VI):
l. Tiền giang, tỉnh Định tường (Sắc lệnh số 504-TT/SL ngày 15-8-1971)
2. Duyên hải, tỉnh Khánh ḥa (Sắc lệnh số 505-TT/SL ngày 15-8-1971)
3. Quảng-Đà, Thị xă Đà nẵng (Sắc lệnh số 641-TT/SL ngày 18-8-1974)
4. Qui nhơn, Thị xă Qui nhơn (Sắc lệnh số 149-TT/SL ngày 31-1-1975).
Tuy nhiên thời gian cần thiết để hoàn thành những cơ sở nói trên không c̣n đủ. Sau ngày 30-4-1975, cùng với tất các viện đại học và trường đại học ở Miền Nam bị giải thể đồng loạt, không c̣n ai được biết những đại học cộng đồng nữa. Cơ sở ở Mỹ tho là trường hợp điển h́nh, từ biến thành một trường Dự bị đại học cho các tỉnh phía Nam, rồi trở nên Cơ sở II của Đại học Cần thơ, và sau cùng là Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng tại chức Liên tỉnh Tiền giang–Bến tre–Long an. Việc làm này nói lên tư duy của những người “chiến thắng,” trong tập đoàn lănh đạo tuyên huấn–giáo dục hiện nay, chẳng ai hiểu ǵ mô h́nh trường mới rất cần cho một đất nước đă từng bị chiến tranh làm kiệt quệ trong thời gian dài như Việt Nam.
Bài viết này nhằm giúp người đọc nắm vững mô h́nh dạy và học ở trường đại học có chương tŕnh đào tạo ngắn hạn. Sau đây thử t́m xem mẫu trường này tại hai nhóm quốc gia: (1) các nước trong nhóm G-7, như Canada, Pháp, Nhật, và (2) các nước đang phát triển như Đại hàn, Đài loan.
Trừ Canada, bốn quốc gia kia đều bị ảnh hưởng chiến tranh. Khi chiến tranh chấm dứt, kinh tế quốc gia kiệt quệ. Tệ nạn xă hội hậu chiến bộc phát. Hệ thống giáo dục ở các bậc suy thái. Giáo dục đại học nói riêng, thiệt hại nặng. Vật chất lẫn tinh thần. Mặc dù vậy, với cố gắng t́m hiểu, học hỏi, chỉ trong một thời gian ngắn giáo dục đại học ở các nước này đă đem lại thành quả tốt đẹp. Giúp kinh tế phục hồi, phát triển cực nhanh.
Trong những thập niên cuối Thế kỷ 20 và đầu Thế kỷ 21 số hàng tiêu dùng sản xuất từ Đài loan, Đại hàn, rồi gần đây nhất, Trung quốc, xâm nhập quá nhanh vào thị trường Mỹ, Úc, Canada, và các nước giàu mạnh ở Âu châu. Những công ty lớn của Hoa kỳ (như Sears, Macy, J.C. Penny, K-Mart, Dayton-Hudson, Nike, Reebok, Val Mart, Sam, Home Depôt, v.v.), đă đặt hàng ở ba quốc gia này nhiều hơn tại các nước khác trên thế giới. Có người hỏi: Động lực đó nhờ vào đâu?
Một, nhờ lao động ở Đài loan, Đại hàn rẽ. Hai, nhờ tại các nước này đă có sẵn nhân lực được trang bị kiến thức và kỹ năng tối thiểu. Nhân lực đó điều khiển được những giàn máy sản xuất liên hợp với hệ thống điện toán. Chính giáo dục chuyên nghiệp và hướng nghiệp áp dụng ở cấp đại học ngắn hạn đă giữ vai tṛ chủ động trong việc dạy, truyền bá kiến thức và kỹ năng tối thiểu cho số đông lao động. Những trường đại học ngắn hạn đă trực tiếp đóng góp xây dựng các khâu sản xuất công nghiệp đại trà. Từ đó, kinh tế ở địa phương, tức cộng đổng nhỏ, có cơ hội phát triển. Cộng đồng nhỏ lớn mạnh ảnh hưởng đến quốc gia, tức cộng đồng lớn. Đấy là sự thật. Những tiến bộ về kỹ nghệ, công nghiệp, và kinh tế của Nhật, Đài loan, Đại hàn đă chứng minh.
V́ thế, muốn đem đất nước tiến đến nền kinh tế vững mạnh và ổn định, xứ sở phải có nhân lực lao động được trang bị với kiến thức và kỹ năng hiện đại. Điều kiện ắt đủ để tiến lên tŕnh độ đó không phải là xây dựng thật nhiều đại học. Đào tạo cho ra nhiều tiến sĩ, giáo sư nghiên cứu cũng không giải quyết được t́nh trạng hiếu học của nhân dân. Một guồng máy đại học với tổ chức quản lư nặng nề. Một đội ngũ cán bộ giảng dạy và nhân viên phục vụ mang nặng tư duy suy tôn học vị/học hàm đại học. Những chương tŕnh dạy dỗ và học tập soạn theo yêu cầu và mục đích chính trị. Thiết tưởng các nổ lực đó chưa chắc giúp đất nước phục hồi được những ǵ tốt đẹp đă có trước khi chiến tranh bùng nỗ. Đừng nói chi đến chuyện xây dựng tương lai.
II. Vài mẫu đại học 2-năm ở các nước.
Trong phần dưới đây, qua kinh nghiệm tổ chức mô h́nh đại học ngắn hạn ở mấy nước nói trên độc giả sẽ được biết Chính phủ của họ đă làm như thế nào để cho đại học đóng góp thiết thực, hữu hiệu trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh. Giúp đất nước nhanh chóng phục hồi, đẩy mạnh và phát triển kinh tế quốc gia.
Chúng tôi nhắm vào loại h́nh đại học có chương tŕnh giáo dục ngắn hạn, 2- hay 3 năm. Những trường này có tổ chức đặc thù, thích ứng từng hoàn cảnh kinh tế–xă hội của cộng đồng tại các quốc gia đó.
Tuần tự chúng ta xem qua ở Canada, Pháp, Nhật, Đại hàn, Đài loan.
A. Canada
Các trường đại học ngắn hạn ở Canada có nhiều tên gọi khác nhau, phù hợp từng địa phương với mục đích giúp những cộng đồng cải tiến đời sống xă hội, phát triển kinh tế:
• collège communautaire/community college
• institut technique/institute of technology
• collège d’arts et de technologie appliquée/college of applied arts and technology (CAAT)
• collège d’enseignement général et professionsl/college of general education and professional training (CEGEP)
• cité collégiale/city college
• collège universitaire/university college.
Các đại học 2-năm ở Canada sinh hoạt và liên lạc mật thiết với địa phương. Chủ yếu phục vụ giáo dục thường xuyên và bồi dưỡng kỹ năng chuyên nghiệp cho công dân đă có công ăn việc làm và sống trong cộng đồng. Những trường này chú trọng chương tŕnh đào tạo liên quan đến ngành nghề. Chương tŕnh đào tạo bao gồm việc dạy và học nghề tại chỗ, cập nhật kỹ thuật, kiến thức và kỹ năng chuyên môn, từ tŕnh độ nhập môn cho đến tŕnh độ cao, sáng tạo. V́ vậy, trong khuôn viên đại học ngắn hạn người ta thường thấy những sinh viên đă đỗ đạt, đang hành nghề trở lại lớp học. Có cả cấp điều hành của các cơ sở công–kỹ nghệ địa phương cùng ngồi học với những sinh viên vừa rời trung học.
Tuổi trung b́nh của sinh viên ở các trường đại học cộng đồng thường vào khoảng 26-28 (Nguồn tài liệu: Association of Canada Community Colleges, 2004).
Tại các trường đại học cộng đồng Canada lớp học không có quá đông sinh viên như ở các lớp tại trường đại học 4-năm truyền thống. Thường được giới hạn 25 sinh viên. Có những lớp học được đem ra ngoài khuôn viên đại học theo yêu cầu của hăng xưởng hay cơ quan chính quyền địa phương. Lớp học c̣n được tổ chức ngay ở các địa điểm này, cho sinh viên tiện thực tập tại chỗ.
So với các trường đại học 4-năm, tỷ lệ thầy/tṛ ở trường đại học cộng đồng lớn hơn. Diện tích của mỗi sinh viên chiếm trong các pḥng thực tập, xưởng thực hành ở các trường đại học ngắn hạn cũng rộng rải hơn. Trong điều kiện thuận lợi đó, phương pháp giảng dạy, hướng dẫn, tất nhiên đổi. Khoảng cách giữa thầy và tṛ, giữa dạy và tiếp thu được thâu hẹp. Việc học hành có kết quả tốt, rơ rệt. Tinh thần “học để có mảnh bằng” được thay bằng “học để làm việc,” “để cải thiện cuộc sống của chính người đi học” và đồng thời “giúp mọi người trong cộng đồng cùng đi lên.”
Các trường đại học cộng đồng Canada luôn giữ liên lạc và cộng tác chặc chẽ với cơ sở thương mại và sản xuất kỹ nghệ tại địa phương. Phần lớn các chương tŕnh đào tạo được thiết kế theo đề nghị của những cơ sở này. Có hai loại chương tŕnh thường được biết là: (a) chương tŕnh hợp tác đào tạo (co-operative training) và (b) chương tŕnh đào tạo ngay trong kỹ nghệ (in-industry training). Những chương tŕnh này luôn sẵn sàng nhận sinh viên. Được tổ chức luân phiên một học kỳ ở trường, một học kỳ làm việc tại hăng xưỡng hay cơ sở thương mại, hoặc tại cơ quan chính phủ địa phương hay một phân cuộc của chính phủ trung ương Canada (thí dụ, một chi nhánh thực nghiệm rau quả của Bộ Canh nông).
Tóm lại, trường đại học cộng đồng ở Canada:
• là cầu nối đào tạo chuyên viên trung cấp với thương mại–kỹ nghệ–chính quyền;
• là nơi huấn luyện kỹ thuật và quản lư kỹ thuật sản xuất;
• là nơi bồi dưỡng và cập nhật kỹ năng chuyên nghiệp của lực lượng lao động địa phương;
• là trung tâm thiết kế các khoá tŕnh đào tạo (training curricula) cho các cơ sở sản xuất công nghiệp và nông nghiệp ở địa phương;
• giữ vai tṛ tiên phong trong việc huấn luyện;
• truyền bá kiến thức thực tiễn và kỹ năng hiện đại cho sinh viên;
• trang bị cho sinh viên tốt nghiệp vừa có kiến thức tổng quát sâu rộng, vừa có kỹ năng chuyên môn vững vàng để hội nhập ngay vào guồng máy cải tiến và xây dựng xă hội ngày thêm phong phú;
• tạo cơ hội, điều kiện cho mọi người phát huy tài năng, óc sáng tạo, từ đó góp phần vào sự phát triển và tiến bộ của cộng đồng;
• giữ chặc chẽ mối quan hệ và hợp tác với các cơ sở công-kỹ nghệ, sản xuất, thương mại;
• cung cấp dịch vụ giúp sinh viên tốt nghiệp (1) có việc làm ngay sau ngày hoàn tất học tập, (2) có điều kiện học hỏi thường xuyên, luôn cập nhật kiến thức và kỹ năng mới.
Chương tŕnh đào tạo của các trường đại học ngắn hạn ở Canada gồm có:
a) chương tŕnh 2-năm cho sinh viên ghi danh học toàn thời gian; tốt nghiệp với:
– Diplôme d’Études Collégiales (DEC), hoặc
– Diplôme d’Études Collégiales en Technique (DEC Tech).
b) chương tŕnh 1-năm cho sinh viên ghi danh học bán thời gian; tốt nghiệp với:
– Attestation d’Études Collégiales (AEC).
c) chương tŕnh đào tạo tráng niên, kết thúc tùy theo thời gian học tập; tốt nghiệp với:
– Diplôme d’Études Collégiales (DEC), hoặc
– Attestation d’Études Collégiales (AEC).
Khi chính phủ Việt Nam quyết định thành lập hệ thống trường cao đẳng cộng đồng, Canada là một trong số ít quốc gia giúp xây dựng lại loại trường nói trên. Hiện Canada hỗ trợ tỉnh Trà Vinh thí nghiệm huấn luyện chương tŕnh công nghiệp thực phẩm.
B. Pháp
Kể từ năm 1968 một loại h́nh đại học đào tạo ngắn hạn ở Pháp chính thức thành h́nh dưới tên institut universitaire de technologie –IUT (tạm dịch: học viện đại học kỹ thuật). Trong tài liệu Du học tại Pháp với EduFrance, IUT được dịch: viện đại học công nghệ. (Nguồn: Ṭa Lănh sự Pháp tại thành phố Hồ Chí Minh, 2004).
Về tổ chức, IUT trực thuộc viện đại học (université) liên hệ.
Với sự chấp thuận của Viện trưởng Hàn lâm viện (Recteur d’Académie) và Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục, Đại học và Nghiên cứu (Ministre de l’Education nationale, de l’enseignment supérieur et de la recherche), tùy theo nhu cầu của địa phương, mỗi viện đại học có thể thành lập một hay nhiều học viện đại học kỹ thuật để đào tạo cho Pháp nhiều chuyên viên trung cấp có kỹ năng. Học viện đại học kỹ thuật do một Giám đốc (Directeur IUT) điều khiển. Giám đốc được Viện trưởng Viện Đại học (Recteur de l’Université) bổ nhiệm.
Các IUT thâu nhận tất cả học sinh trung học đă có Baccalauréat de l’Enseignement du Second Degré (tương đương Tú tài toàn phần) hoặc Baccalauréat Technologique (tương đương Tú tài Kỹ thuật).
Chương tŕnh đào tạo tại IUT được thiết kế trong khoảng thời gian 2 năm, gồm 2000 giờ học lư thuyết cộng với một hay nhiều giai đoạn huấn nghệ thực hành bắt buộc. Mục đích của chương tŕnh huấn nghệ nhằm chuẩn bị cho sinh viên đi vào ngành nghề ngay sau khi tốt nghiệp, tham gia sinh hoạt sản xuất, nghiên cứu ứng dụng, hỗ trợ các dịch vụ và thương mại.
Mỗi chương tŕnh được tổ chức gồm nhiều unités d’enseignement (tạm dịch: đơn vị học phần) tùy theo ngành chuyên môn. Số đơn vị học phần được phân bố tương xứng với khối lượng giờ đào tạo tại các viện đại học (universités) hay học viện kỹ thuật quốc gia (institut national de technologie).
Chương tŕnh đào tạo tại IUT không có những cuộc thi khảo sát cuối học kỳ như ở các trường đại học. Việc kiểm tra tŕnh độ tiếp thu của sinh viên ở IUT là công tác liên tục và thường xuyên. Trong mỗi đơn vị học phần kiểm tra gồm có:
– viết hay/và vấn đáp
– nhận xét tiến triển của từng dự án
– nhận xét sinh hoạt của từng nhóm hay tổ
– báo cáo của cố vấn hay phụ đạo thực tập.
Chương tŕnh huấn nghệ thực hành tại hăng xưởng được chú trọng đặc biệt và đánh giá rất cao. Sinh viên phải soạn một tiểu luận báo cáo hoàn thành dự án thực tập. Báo cáo này được tŕnh và công bố vào cuối giai đoạn thực tập.
Điểm kiểm tra mỗi đơn vị học phần được phê từ 0 đến 20. Kết quả thực tập cũng được chấm điểm, tính chung vào tổng số điểm của mỗi đơn vị học phần. Sinh viên có điểm trung b́nh của tất cả các đơn vị học phần vào cuối năm thứ I bằng hay trên 10/20 sẽ được nhận tiếp tục học lên năm thứ II. Nếu điểm trung b́nh chỉ bằng từ 8.00/20 đến 9.75/20, sinh viên sẽ được Viện trưởng Viện Đại học cho phép ngồi lại lớp một năm, theo quyết định của Hội đồng giám khảo.
Văn bằng tốt nghiệp do các IUT cấp gồm ba loại:
– Chương tŕnh 1-năm: Certificat de Technicien –CT (Chứng chỉ Kỹ thuật viên)
– Chương tŕnh 2-năm: Diplôme Universitaire de Technologie –DUT (Văn bằng Học viện Đại học Kỹ thuật)
– Chương tŕnh bồi dưỡng, có thể kéo dài từ 1 đến 12 tháng sau khi tốt nghiệp DUT; được thiết kế theo yêu cầu của các cơ sở khách hàng; cuối giai đoạn đào tạo, sinh viên phải dự cuộc thi toàn quốc để lấy Diplôme National de Technologie Specialisée –DNTS (Văn bằng Chuyên viên Kỹ thuật Quốc gia).
Vài điểm cần chú ư:
a) Các Universités, Institut national polytechniques hay Grandes Écoles không nhận sinh viên có văn bằng Diplôme Universitaire de Technologie –DUT xin chuyển vào đại học này đặng hoàn tất chương tŕnh licence. Nói một cách khác, DUT của Pháp thiếu tính uyển chuyển, không giống như ở Hoa kỳ hay Canada, sinh viên đă có bằng Associate Degree –A.A. hay A.S.có thể xin chuyển vào một đại học 4-năm để hoàn tất chương tŕnh Bachelor’s Degree –B.A. hay B.S.
b) Unité d’enseignement (đơn vị học phần), trên pháp lư được nh́n nhận là unité capitalizable nhưng thực sự không được miễn trừ nếu sinh viên ghi danh học các chương tŕnh đào tạo cùng ngành tại các viện đại học liên hệ trực tiếp hay học viện bách khoa Quốc gia trong một Académie.
c) Sinh viên đă có bằng DUT muốn đổi hướng để học lên (thí dụ, thi vào École Normale Supérieure), phải trở lại từ đầu, theo chương tŕnh lấy bằng Diplôme d’Études Universitaires Générales –DUEG. Dù đă học và đă tích lũy được những đơn vị học phần của các môn chính trong chương tŕnh lơi (major courses of the core program) như toán, lư, hóa, khoa học tự nhiên, khoa học vũ trụ, khoa học xă hội và nhân văn, v.v. Dù những môn này do chính các giáo sư thuộc bộ môn của viện đại học đó giảng dạy.
d) Tuy có những hạn chế áp dụng cho văn bằng DUT, nhưng hằng năm các sinh viên giỏi của IUT, tốt nghiệp trong khoảng 10% đứng đầu bảng, được đề cử dự thi tuyển vào các Học viện Kỹ thuật Quốc gia (Institut National de Technologie) hay các Học viện Bách khoa Quốc gia (Institut Polytechnique National hay École Polytechnique Universitaire) họ đều trúng tuyển và tốt nghiệp vẽ vang.
Để giúp người đọc hiểu rơ việc tổ chức và chương tŕnh của văn bằng Diplôme Universitaire de Technologie tại các IUT, chúng tôi chép ra đây Nghị định của Viện Đại học Paris–Descartes (Phụ bản VII).
C. Nhật
Khi Chiến tranh thế giới thứ II chấm dứt, Nhật bắt tay ngay vào việc cải tổ giáo dục đại học. Chung quanh 2 dự án.
Dự án thứ nhất—Phác họa việc Cải tổ Giáo dục ở Nhật —do Bộ trưởng Giáo dục Tanaka Kotaru tŕnh Quốc hội vào tháng 8/1946. Theo dự án này, nước Nhật được chia thành 9 khu học chính. Mỗi khu học chính có riêng một “giáo vụ cục.” Mỗi giáo vụ cục chịu trách nhiệm tổ chức, điều hành và quản lư các trường từ tiểu học lên đại học, kể cả các tổ chức giáo dục xă hội. Viện trưởng mỗi Viện Đại học Hoàng gia (Imperial University) sẽ kiêm nhiệm chức vụ “Cục trưởng” khu học chính. Theo cơ cấu này, Bộ Giáo dục cho rằng các trường học sẽ hoàn toàn độc lập với Chính phủ trung ương trong việc điều hành. Theo truyền thống tự trị đại học có từ thời các sứ quân giữ quyền nhiếp chính. Dự án không được Bộ Chỉ huy tối cao Lực lượng Đồng Minh tại Nhật chấp thuận.
Dự án thứ hai—Phúc tŕnh của Phái bộ Giáo dục Hoa kỳ tại Nhật gửi Bộ Chỉ huy Tối cao Lực lượng Đồng Minh tại Tokyo ngày 30-3-1946. Khuyến cáo của Phúc tŕnh này thật sự đổi mới xă hội Nhật bản. Căn cứ vào những đề nghị đă ghi trong Phúc tŕnh, tướng Douglas MacArthur yêu cầu Chính phủ Hoa kỳ gởi Phái bộ Giáo dục thứ II sang Nhật năm 1947 để thực hiện những khuyến cáo đó. Phái bộ này do Giáo sư Walter C. Eells hướng dẫn. Walter Eells bấy giờ là Chủ tịch Hiệp hội các Trường Đại học Cộng đồng Hoa kỳ (Association of American Community and Junior Colleges–AACJC). (Nguồn: Army Service Forces Manual M.354-15 Civil Affairs Handbook JAPAN, Section 15: Education. Washington, DC.: U.S. Government Printing Office, Department of States, Publication 2679, Far Eastern Series 11).
Trước khi bàn đến Phúc tŕnh của Phái bộ Giáo dục Hoa kỳ tại Nhật gửi Bộ Chỉ huy Tối cao Lực lượng Đồng Minh tại Tokyo, cần nói rơ hệ thống giáo dục Nhật bản.
Hệ thống trường học ở Nhật gồm có:
1. Nhà trẻ (Hoi kuen)
2. Mẫu giáo (Yo chien)
3. Tiểu học (Sho gakko)
4. Trung học cấp I (Chuto gakko)
5. Trung học cấp II (Koto gakko)
6. Đại học (Daigaku).
Bậc đại học được chia ra:
1. Viện Đại học [đào tạo tiến sĩ] (Sogo Daigaku)
2. Viện Đại học Kỹ thuật [đào tạo tiến sĩ] (Kyogo Daigaku)
3. Trường Đại học (Daigaku)
4. Trường Đại học 2-năm:
a) đoản kỳ đại học (Tanki Daigaku)
b) cộng đồng đại học (Koritsu Daigaku)
5. Trường Cao đẳng kỹ thuật (Senmon Gakko).
Văn bằng (Diploma = Sotshuryo shusho) do các trường đại học, đại học cộng đồng, và cao đẳng cấp gồm có:
1. Chứng chỉ tốt nghiệp 1-năm (1-year Certificate = Shuryousho)
2. Tốt nghiệp đại học 2-năm (Associate degree = Jun-gakushi no gakui)
3. Tốt nghiệp đại học 4-năm (Bachelor’s degree = Gakushi no gakui)
(Bachelor of Arts, B.A. = Gakushi Bungaku)
(Bachekor of Science, B.S. = Gakushi Rigaku)
4. Tốt nghiệp thạc sĩ (Master’s Degree = Shushi no gakui)
(Master of Arts, M.A. = Shushi Bungaku)
(Master of Science, M.S. = Shushi Rigaku)
5. Tốt nghiệp tiến sĩ (Doctor’s Degree = Hakase no gakui)
(Doctor of Philosophy, Ph.D. = Hakase Gakujutsu)
(Doctor of Science = Hakase Rigaku)
(Doctor of Arts = Hakase Bungaku)
(Doctor of Social Science = Hakase Syakaikagaku)
Trong Phúc tŕnh của Phái bộ Giáo dục Hoa kỳ tại Nhật gửi Bộ Chỉ huy Tối cao Lực lượng Đồng Minh tại Tokyo có những đề nghị cách mạng quan trọng liên hệ đến xă hội và giáo dục của Nhật. Các đề nghị đó chú trọng mấy lĩnh vực sau đây:
(1) xác định sứ mệnh và mục đích giáo dục ở Nhật
(2) sửa đổi cách viết và dạy tiếng Nhật trong các trường
(3) đào tạo cán bộ quản lư giáo dục
(4) Huấn luyện cán bộ giảng dạy theo mô h́nh “Đào tạo–người–Đào tạo ” (Train-the-Trainer).
(5) phát triển giáo dục tráng niên và bồi dưỡng thường xuyên
(6) cải tổ giáo dục đại học Nhật.
Đề nghị thứ sáu mang nhiều khuyến cáo quan trọng, thí dụ như:
a) Chuyển giao quyền quản lư các cơ sở đại học (Daigaku), trung học (Koto Gakko) và trường cao đẳng kỹ thuật (Senmon Gakko) về chính quyền địa phương (Khu Học chính). Bộ Giáo dục vẫn duy tŕ trực tiếp kiểm soát các Viện Đại học Hoàng gia. Khuyến cáo này bị mọi giới phản đối, quyết liệt nhất là giới đang dạy đại học.
b) Mỗi Khu Học chính có thể thành lập một trường đại học quốc gia. Khuyến cáo này được cả Bộ Giáo dục Nhật và Bộ Chỉ huy Tối cao Lực lượng Đồng Minh tại Tokyo chấp thuận. Tuy nhiên, để ngăn ngừa đại học thành lập bừa băi, Bộ Giáo dục Nhật ban hành Quyết định “Mười Một Nguyên tắc thành lập trường Đại học Quốc gia vào tháng 6-1948.”
c) Cải tổ các trường cao đẳng chuyên nghiệp và kỹ thuật hoạt động riêng rẽ 2- hay 3-năm, trước đây trực thuộc Bộ Giáo dục hoặc những Bộ khác (như Bộ Nông nghiệp, Bộ Y tế, Bộ Kinh tế, Bộ Tư pháp, Bộ An ninh, Bộ Ngoại giao, v.v.) thành những trường đại học đoản kỳ (Tanki Daigaku) hay trường đại học cộng đồng (Koritsu Daigaku) dưới quyền kiểm soát của chính quyền địa phương.
Khuyến cáo táo bạo này gặp sự phản đối tích cực của lớp nhà giáo đă được đào tạo trước khi hai thành phố Hiroshima và Nagasaki bị bom nguyên tử.
Măi đến tháng 5/1949, nhằm giúp Nhật giải quyết các vấn đề khẩn cấp để phát triển kinh tế hậu chiến Bộ trưởng Giáo dục Teiyü Amano chấp thuận những khuyến cáo vừa nói trên và tŕnh Quốc hội ban hành Luật Giáo dục 1/6/1949.
Luật Giáo dục mới mở đường cho công cuộc phát triển đại học đào tạo ngắn hạn. Năm trăm chín mươi chín (599) trường cao đẳng chuyên nghiệp và cao đẳng kỹ thuật 2- hay 3-năm, đủ loại ngành nghề, đă sinh hoạt riêng rẽ trước đây như: sư phạm, sư phạm kỹ thuật, tài chính-kế toán, kiến trúc-xây dựng, công chánh, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, ngoại ngữ, truyền thông-báo chí, mỹ thuật, điện ảnh-sân khấu, công an, pḥng cháy-chữa cháy, v.v., được cấp tốc nghiên cứu, cải tổ lại thành 181 trường đại học 2-năm (Tanki Daigaku). Những trường này đặt trực thuộc sự quản lư và tài trợ của chính quyền quận hoặc khu vực (Koritsu Daigaku), hay thành phố (Chiiki Daigaku). Bấy giờ trường đại học đoản kỳ giúp Chính phủ Nhật thật sự đáp ứng yêu cầu giáo dục đại học của dân.
Tính đến năm 2002, Nhật bản có 603 Tanki Daigaku, Koritsu Daigaku, Chiiki Daigaku và Senmon Gakko, chiếm 12.7% trên tổng số đại học và trường cao đẳng toàn quốc. Trong số 603 trường đại học cộng đồng, cơ sở giáo dục tư chiếm hết 478 (79.3%). Bảng A dưới đây cho thấy sự trưởng thành của các trường đại học cộng đồng Nhật bản trong nửa thế kỷ vừa qua.
Năm 1991, Bộ Giáo dục Nhật thực hiện công tác điều nghiên nhằm thu thập thống kê để hậu thuẩn cho cuộc cải tiến hệ thống đại học. Trong các câu hỏi của bản điều nghiên có đoạn muốn t́m hiểu lư do v́ sao sinh viên theo học ở các trường đại học cộng đồng và cảm tưởng của họ về mô h́nh giáo dục ngắn hạn này. Sinh viên cho biết:
– 48.0% chọn đại học cộng đồng v́ văn bằng tốt nghiệp (Jun-gakushi no gakui) xác nhận khả năng và kỹ năng chuyên môn, giúp t́m việc làm dễ dàng.
– 38.4% chọn đại học cộng đồng để được trang bị kiến thức và kỹ năng chuyên nghiệp
mới nhất, để hội nhập ngay vào đội ngũ lao động kỹ thuật liền sau khi tốt nghiệp.
Trả lời câu hỏi cảm tưởng đối với mô h́nh giáo dục ngắn hạn, sinh viên Nhật nêu:
– 70.0% cho biết thầy dạy tận tâm, giảng rơ ràng, giúp đỡ sinh viên học hỏi, tiếp thu.
– 69.7% nh́n nhận đại học cộng đồng đúng là môi trường học tập thuận lợi nhất để tiếp thu kiến thức hiện đại và kỹ năng mới.
– 33.1% cho rằng những thiết bị của trường đại học cộng đồng rất hiện đại, giúp sinh viên hội nhập vào việc làm ngay sau khi tốt nghiệp, không bỡ ngỡ với những thiết bị đă có tại hăng xưởng.
(Nguồn số liệu: Monbunsho –Bộ Giáo dục-Khoa học-Thể thao-Văn hóa Nhật bản. http://monbu.go.jp/stat-en/em09010.html.)
Với những số liệu thống kê rơ ràng hỗ trợ mạnh mẽ, nhưng Bộ Giáo dục Nhật chưa thỏa măn lắm về mô h́nh đại học đào tạo ngắn hạn. Người dân Phù tang biết đất nước họ nhỏ, dân số đông, đời sống tuy không chật vật, song họ vẫn luôn luôn trong tư thế vật lộn với thị trường toàn cầu. Thương mại và sản xuất công nghiệp là nguồn sống của họ. Đó là hai ngành sinh hoạt nồng cốt của xă hội, gắn liền với sự nghiệp đào tạo nhân tài ở Nhật bản. Nhân tài cần thiết cho đất nước xuất thân từ các đại học. Nhưng không phải chỉ có các Viện Đại học Hoàng gia hay các Viện Đại học Kỹ thuật lớn mới có khả năng đào tạo nhân tài. Đại học cộng đồng cũng là chốn phát hiện các bậc kỳ tài Nhật bản, bắt đầu từ những người thợ lành nghề như Soichiro Honda chẳng hạn. Soichiro Honda sau này trở thành Tổng Giám đốc Điều hành của HONDA Motors Company.
Vào đầu thập niên 80 kỹ nghệ sản xuất xe hơi và thiết bị gia dụng lắp ráp với những bộ phận điện tử như máy truyền h́nh, máy chụp ảnh, radio, v.v., của Hoa kỳ đă “thấm đ̣n” với sự bành trướng của kỹ nghệ sản xuất hàng tương tợ ở Nhật. Người Mỹ vốn dĩ đầy tinh thần yêu nước, bảo vệ quê hương đến cùng, nhưng đứng trước quyết định —mua hay không mua xe Nhật thay v́ xe Ford hoặc Buick Hoa kỳ— họ nghiêng hẳn về bằng chứng hiển nhiên của những người đă hay đang dùng một chiếc Toyota Camry hoặc Honda Accord sản xuất từ Nhật. Cùng một lư do, người Mỹ thích máy chụp h́nh, màn ảnh tivi, video camera làm ở Nhật hơn. Bởi kết quả thấy rơ: ảnh đẹp, màu tươi, dễ sử dụng. Hàng của Sony, Panasonic, Yamaha được ưa chuộng hơn máy của RCA, Magnavox, Philipps, GE. Máy ảnh Nikon, Canon, Olympus chẳng lùi bưới trước Leica hay Rolleiflex của Đức. Đồng hồ Seiko, Citizen nào kém chi Omega, Rolex của Thụy sĩ. Cây bút Pilot ngày nay thay cây bút Parker ở ngôi bá chủ trên hoàn cầu, v.v.-
Để t́m hiểu v́ sao tinh thần văn hóa–dân tộc Hoa kỳ bị kỹ thuật–thương mại Nhật chế ngự, Giáo sư Nicholas J. Haiducek ghi lại những khác biệt căn bản thấy ở hai dân tộc Nhật và Mỹ như sau:
• Người Mỹ có khuynh hướng sẵn sàng ở thế tấn công nhưng hành động riêng rẽ; trong lúc đó người Nhật thường đứng ở thế thủ, sinh hoạt với tinh thần đồng đội.
• Sinh viên Mỹ có khuynh hướng tự tin, trong khi đó sinh viên Nhật thu h́nh, chờ cơ hội.
• Sinh viên Mỹ thường phê phán, hạch hỏi trong khi đó sinh viên Nhật chấp nhận t́nh trạng đă có mà không đặt nghi vấn.
• Cùng một lứa tuổi, sinh viên Nhật tỏ ra nghiêm túc và lễ độ hơn sinh viên Mỹ.
• Sinh viên Nhật chấp nhận dễ dàng được người hướng dẫn hơn sinh viên Mỹ.
• Sinh viên Nhật có nhiều khả năng học hỏi và học thuộc ḷng hơn sinh viên Mỹ.
• Sinh viên Nhật chú tâm việc chuẩn bị, xong vào chi tiết của việc làm, trong khi đó sinh viên Mỹ không được như vậy.
(Nguồn: Nicholas J. Haiducek, Japanese Education Made in the U.S.A. New York: Praeger. 1980, tr. 77).
Những nhận xét trên đây cho thấy phù hợp với hướng giáo dục của mô h́nh đại học cộng đồng đem áp dụng vào xă hội Nhật sau chiến tranh. V́ lư do đó, ngay sau khi các đại học cộng đồng đi vào sinh hoạt b́nh thường, cấp lănh đạo quốc gia ở Nhật chú tâm đặc biệt ba loại công tác quan trọng có tính cách chiến lược như sau đây:
– đào tạo chuyên nghiệp (formation professionelle/professional training)
– nghiên cứu ứng dụng (recherche appliquée/applied research)
– giảng dạy (instruction/teaching)
Đầu niên học 1962, Bộ Giáo dục Nhật đề ra cho các trường đại học cộng đồng những nhiệm vụ mới nhằm đ̣i hỏi những cơ sở đại học này đóng góp cho xă hội nhiều hơn nữa. Chính phủ muốn các trường ghi hẳn nhiệm vụ nghiên cứu vào “Bố cáo Sứ mệnh của Đại học” (College’s Mission Statement). Nói cách khác, đại học cộng đồng phải đem chương tŕnh nghiên cứu ứng dụng vào sinh hoạt thường xuyên cũng như chương tŕnh giảng dạy và đào tạo. Chương tŕnh nghiên cứu sẽ được bàn kỷ tại phần cuối của bài này..
Bước sang thiên niên kỷ mới, theo yêu cầu của giáo dục thường xuyên, đại học cộng đồng Nhật bản đáp ứng nhanh chóng với những chương tŕnh thiết thực cho sinh viên không thuộc lứa tuổi truyền thống, nhưng đại diện đủ giai tầng lao động trong xă hội. Những sinh viên này là các bà mẹ trước đây chỉ biết không ǵ khác hơn công việc nội trợ. Hay là những công nhân ngoài tuổi lao động chân tay. Hoặc là những nông dân không có, hay chẳng thu xếp được thời giờ, để đến trường như sinh viên trẻ, v.v.
Với phương tiện truyền thông hiện đại, cộng với kỹ thuật tin học, các đại học cộng đồng ở Nhật đă đem đến tận nhà những học viên thuộc dạng vừa kể trên, hiện sống trong cộng đồng, đủ loại chương tŕnh học tập, đào tạo mà họ muốn tham gia. Họ muốn biết thêm ngoài hiểu biết thông thường. Họ muốn tiếp thu những ǵ khi xưa, hồi c̣n trẻ, chưa được học ở trường, v́ chiến tranh, hay một lư do nào đó. Trường đại học cộng đồng đáp ứng ngay những cái “muốn” đó của dân Nhật.
Giáo tŕnh (cours/course) được soạn riêng cho từng khóa tŕnh (curriculum) học từ xa. Băng video thu h́nh giáo sư giảng từ trường chủ được gởi đi khắp nước Nhật. Học viên theo chỉ dẫn trên video, học, làm bài, và thảo luận với giáo sư trên mạng tin học. Bài thi cuối học kỳ cũng tiến hành như các sinh viên đang ngồi trong lớp tại trường chủ. Cũng ngần ấy câu hỏi hay đề tài phải viết bài luận. Vẫn cùng một thời gian ấn định. Đề tài hay câu hỏi hiện trên khung ảnh máy tin học. Nhưng học viên ngồi một góc nào đó tại nhà ḿnh, mở máy, đọc đề thi. Bắt đầu làm bài. Không có giám thị pḥng thi đứng bên cạnh trông chừng. Nhà trường tin ở sinh viên. Sinh viên tin ở sự học hỏi, tiếp thu của ḿnh. Làm bài xong, vừa đúng hết giờ, học viên đánh chữ cuối cùng, “send” (gởi). Bài thi đă nộp cùng lúc mấy ḍng hiện ra trên màn ảnh tin học tương tự như dưới đây:
Điểm thi sẽ được chuyển đến anh/chị vào ngày/tháng/năm.
Chúc mừng anh/chị thành công trong việc học tập.
Mọi thắc mắc, xin vào mạng:
www.tankidaigaku.edu.jp
hay gọi điện thoại:
(123) 456-7890
Chúc anh/chị và gia đ́nh có những ngày nghĩ vui.
Muốn có được những chương tŕnh phục vụ dân như vừa nêu trên đây, một đại học cộng đồng phải tiến hành cùng một lúc ba công tác chiến lược: đào tạo–nghiên cứu–giảng dạy (training–research–instruction).
Điều kiện ắt đủ là nhà giáo của trường đại học cộng đồng phải biết bỏ đi cái “áo thụng” và cái “mũ tấm thớt” (cap and gown) khi về sống và làm việc trong cộng đồng. Phải biết sắn quần –hay nếu cần, cắt “áo thụng” đó may thành những quần cụt, mặc cho nhẹ nhàng– để lội đi t́m học viên, mời họ đến trường giảng dạy cho họ hiểu, giúp họ học tập. Học để trở thành người có óc sáng tạo, có kỹ năng cao, có kỹ luật và trách nhiệm với chính bản thân trong việc làm. Để là một phần tử có khả năng sản xuất trong xă hội. Không mang khối óc đập đổ, tàn phá, sát nhân. Để từ đó, ư thức được vai tṛ nâng cao đời sống của mọi người trong cộng đồng. Cùng trưởng thành, đứng lên. Nhà giáo phải nhớ. Măng sẽ mọc cao hơn tre, mạnh và chắc hơn. Nếu tàng tre cản được gió lộng. Nhiệm vụ của nhà giáo là phải uốn giữ cho măng mọc thẳng, lên trời. Trong khi lớn, đâm nhiều nhánh đặng sau này trở thành cây tre, che những mụt măng khác.
Người dân Phù tang cũng như hàng ngũ lănh đạo Nhật bản đều hiểu. Đất nước họ được xây dựng trên nền tảng cộng đồng. Một cộng đồng nông thôn hay thị tứ. Một cộng đồng ở núi cao hay vùng biển của hải đảo xa. Bất kỳ ở đâu. Tất cả những cộng đồng đó xây thành Nhật bản. Kinh tế của cộng đồng có mạnh, nước Nhật mới giữ vững địa vị của một cường quốc trong nhóm G-7. Tŕnh độ văn hóa giáo dục của dân Phù tang có cao, hiểu biết có tiến bộ, kỹ năng của họ mới bảo đảm được hàng hóa sản xuất với chất lượng ưu việt.
Để tóm tắt, có thể nói giáo dục ở Nhật là vũ khí mạnh. Sắc bén như gươm hiệp sĩ đạo. Giáo dục Nhật đă giúp đất nước này giữ vững tinh thần dân tộc, văn hóa truyền thống liên tục, bảo vệ chính sách quốc gia. Dù đầu hàng lực lượng Đồng Minh cuối Thế chiến thứ II.
Giáo dục đại học Nhật nói riêng cho thấy rơ tinh thần samurai dũng mănh trong việc đất nước tiếp thu mô h́nh đào tạo tanki daigaku. T́m hiểu sâu rộng chút nữa, có lẽ không nhà giáo nào ngạc nhiên khi biết được 49 cơ sở đại học 2-năm công lập trong số 181 Tanki Daigaku đầu tiên thành h́nh từ năm 1950, ngày nay chỉ c̣n dưới 10% là đại học cộng đồng. Chín mươi phần trăm cơ sở kia đă tiến lên hàng ngũ Daigaku, Sogo Daigaku hay Kyogo Daigaku, có đầy đủ chương tŕnh đào tạo Shushi (Maîtrise/Master’s) và Hakase (Docteur/Doctor’s) song vẫn giữ quan điểm ngày xưa: phục vụ cộng đồng.
Hàng ngũ lănh đạo giáo dục đại học cùng cấp lănh đạo chính trị Nhật đă biết sử dụng “cây sào” đại học cộng đồng của Hoa kỳ để nhảy qua khỏi hố sâu do hai quả bom nguyên tử của Mỹ đào tại Nagasaki và Hiroshima. Những “cây sào” đó chẳng những giúp dân Phù tang vượt qua các khó khăn của thời hậu chiến, mà c̣n tạo điều kiện tốt giúp họ học được “cách nhảy nhanh hơn” và “thế nhảy cao hơn.” Nhờ biết “lấy thế” để nhảy cao và nhảy nhanh, cho nên chỉ trong ṿng chưa đầy hai thập niên, Nhật đă chễm chệ ngồi vào một trong các chiếc ghế hàng đầu dành cho mấy bậc đàn anh giàu nhất thế giới. . . bàn bạc việc cho hay không cho các “nước nghèo” vay tiền xây dựng đất nước bị chiến tranh tàn phá. Trong số các “nước nghèo nhất thế giới” đó có Việt Nam “anh hùng,” đă từng đánh Phát xít Nhựt ở Thái Nguyên, nộp đơn xin viện trợ và được vay! Nhục hay vinh, đảng lănh đạo?
Kinh nghiệm cải tổ giáo dục đại học và đường lối phát triển Tanki Daigaku của Nhật là bài học hay cho những quốc gia bị ảnh hưởng nặng của chiến tranh. Nhưng, không tạo điều kiện cho những đại học đào tạo ngắn hạn quan hệ thiết thực với công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, tiểu công nghiệp, và sản xuất –sản xuất đại trà lẫn thủ công– th́ chỉ làm công việc hàn lâm. Cho nên dù cải tổ đại học có sâu rộng cách mấy trong lúc kinh tế địa phương èo ọt, tỷ lệ thất nghiệp cao, nông phẩm sản xuất không bán được, guồng máy hành chánh nặng nề, quan liêu, giá trị của học vị chưa bằng được tiền thu của một chuyến xe thồ hàng lậu chở gạch bông Trung quốc vượt biên giới, th́ chuyện cải tổ chẳng khác ǵ . . . ông tiến sĩ bận áo thụng đứng trên bờ ruộng chỉ tay dạy chị thợ cấy cách cầm cây nọc.
D.Đại hàn
Đại hàn thành công về giáo dục một cách kỳ diệu. Đất nước này đă qua một thời kỳ bị Nhật đô hộ, lâm vào cảnh một nước thuộc địa non hai thập niên, và chịu hai cuộc chiến tranh –Chiến tranh Thế giới II (1945) và chiến tranh Triều tiên (1950).
Chiến tranh Triều tiên chấm
dứt, đất nước bị chia đội
Nam-Bắc như Việt nam. Sau hai cuộc chiến gần
70% cơ sở giáo dục trong nước bị phá
hủy hoàn toàn (xem Bảng B).
Nhưng chưa đầy một phần tư thế kỷ, Đại hàn đă xây dựng lại được một hệ thống giáo dục vững chắc. Vật chất lẫn tinh thần. Thành tựu giáo dục một phần lớn nhờ sự cải tạo xă hội trong thập niên 1960.
Theo tác giả Chung, Jin-Young, cuộc Đồng khởi ngày 19/4/1960 của sinh viên và cuộc đảo chánh năm 1961 của quân đội là những mốc đánh dấu thay đổi quan trọng xă hội Đại hàn. Chính phủ mới giúp kỹ nghệ cùng doanh nghiệp có nhiều cơ hội phát triển. Việc tái lập quan hệ b́nh thường giữa Nhật bản và Đại hàn khiến cho giới kỹ nghệ và doanh nghiệp có nhiều dịp tốt tiếp xúc với tiến bộ kỹ thuật cao cấp. Riêng giới đại học Đại hàn nhận thấy đường lối giáo dục phải phát triển theo chiều hướng mậu dịch quốc tế của Nhật. (Nguồn: Chung, Jin-Young. “South Korea Strategies for Dynamics Transformation 1961-1988,” tr. 37-52, trích trong Lim, Gill-Chin and Chong, Wook. 1990. Dynamics Transformation in Korea. Seoul: Myung-Bo Publishing Co.).
Hệ thống giáo dục Đại hàn gồm có:
– Giáo dục trước tuổi đi học (Yua Kyoyuk)
– Giáo dục Tiểu học (Kukmin Kyoyukhak)
– Giáo dục Trung học chia thành hai cấp:
• Trung học cấp I (Chung Hakkyo)
• Trung học cấp II (Kodung Hakkyo)
– Giáo dục Đại học (Teahak Kyokuk).
Riêng bậc đại học Chánh phủ Đại hàn giao trọng trách: “Lấy mậu dịch quốc tế làm động lực chính, dồn tất cả nổ lực nhằm đẩy mạnh kinh tế quốc gia và cải thiện đời sống của nhân dân Đại hàn.”
Với phương châm đó, tài lực (4.0% GNP dành cho giáo dục) và nhân lực được giữ riêng để đạt kỳ được kỹ thuật cao và thắng lợi lớn trên thương trường thế giới. (Xem Biểu đồ I). V́ vậy, công tác giáo dục và chiến thuật đào tạo kỹ thuật ở bậc đại học chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong mọi kế hoạch quốc gia.
Cơ sở giáo dục đại học Đại hàn gồm có:
a. Đại học [College] (Taehak) và Đại học Viện [University] (Taehakkyo).
– Chú thích: đại học viện phải có ít nhất 3 trường đại học.
b. Đại học Chuyên khoa [Professional School]: Y (Uikwa Taehak), Dược (Yakgwa Taehak), Nha (Chikwa Taehak)
c. Đại học Cao cấp [Graduate school] (Taehakgwon): Đào tạo Cao học [Master’s degree] (Suksa Kwajong), Đào tạo Tiến sĩ (Paksa Kwajon.)
– Chú thích: Chương tŕnh Suksa Kwajong được National Council on the Evaluation of Foreign Educational Credentials công nhận tương đương với Master’s Degree của Hoa kỳ. (Gannon, P. J., 1985. The Republic of Korea, A Study of the Educational System of the Republic of Korea and a Guide to the Academic Placement of Students in Educational Institutions of the United States. Washington, DC.: American Association of Collegiate Registrars and Admissions Officers, tr. 90).
d. Đại học Giáo dục (Kyoyukhak –College of Education)
Đại học Sư phạm (Kyoyuk Taehak –Teacher Training College)
e. Đại học ngắn hạn (Chonmun Taehak –Junior College)
Đại học cộng đồng (Kongop Chonmun Taehak –Community College)
f. Đại học mở (Kaebang Taehak –Open University)
– Chú thích: Tổ chức giống mô h́nh “Open University” của Anh quốc, dạy và học trên đài phát thanh hay đài truyền h́nh.
g. Đại học từ xa (Bangson Tongshin Taehak –Correspondance University).
Văn bằng do các đại học cấp gồm có:
– Tŕnh độ 1A: Chonmun Taehak Chorupchang, tương đương với Associate Degree.
– Tŕnh độ 1B: Haksa, tương đương với Bachelor’s Degree.
– Tŕnh độ 2: Suksa, tương đương với Master’s Degree.
– Tŕnh độ 3: Paksa, tương đương với Ph.D.
Theo Luật Giáo dục Đại hàn (Luật 1949), tất cả cơ sở giáo dục, đào tạo và nghiên cứu cấp đại học công và tư đều đặt dưới sự chỉ đạo của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Giáo dục.
Hằng năm Bộ Giáo dục ra chỉ thị ấn định chỉ tiêu (quotas) tuyển sinh; điều kiện tuyển dụng giáo sư; tiêu chuẩn cấp văn bằng; và thiết kế học tŕnh.
Viện trưởng, khoa trưởng các viện đại học hay trường đại học quốc gia do Tổng thống Đại hàn bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Giáo dục.
Viện trưởng, khoa trưởng các viện đại học hay trường đại học tư do Hội đồng quản trị chọn và đề nghị Bộ trưởng Giáo dục duyệt y.
Các cơ sở giáo dục đại học Đại hàn phát triển mạnh từ nửa cuối thế kỷ 20 đến năm đầu thế kỷ 21. Chính nhờ sự h́nh thành của (a) các Chonmun Taehak, và (b) các Bangson Tongshin Taehak số lượng cơ sở đại học Đại hàn lớn mạnh nhanh (xem Bảng C).
Số sinh viên ghi danh học tại các trường đại học cộng đồng Đại hàn cho thấy nổ lực của đất nước này đạt yêu cầu của Chính phủ đề ra cho bậc đại học (xem Sơ đồ I).
Hai điểm đáng chú ư:
– Trong số 158 Chonmun Taehak hiện nay trường do tư nhân đứng ra thành lập chiếm hết 148, trường công lập chỉ có 10. (xem Bảng D).
– Kết quả đào tạo chuyên viên trung cấp, tốt nghiệp với bằng Chonmun Taehak Chorupchang, cho thấy tỷ lệ sinh viên có việc làm sau khi học xong rất cao. Tài liệu nghiên cứu của Bộ Giáo dục t́m hiểu các sinh viên tốt nghiệp ở đại học cộng đồng trong thời gian từ năm 1965 đến năm 2004 xác nhận điều này (xem Bảng E.1).
Nếu đem số liệu dử
kiện này so sánh với số sinh viên tốt nghiệp
ở đại học cùng thời gian đó hẳn các
nhà giáo ở Việt Nam không khỏi ngạc nhiên (xem
Bảng E.2).
Tiến thêm bước nữa để hiểu v́ sao những xe hơi Hyundai, Deawoo, Kia, vào những năm đầu thế kỷ 21 xuất hiện rất nhiều trên xa lộ ở Hoa kỳ, Pháp, hay Đức. Các hàng điện tử mang hiệu Sam Sung, từ tivi đến điện thoại cầm tay, có vẽ gần như “qua mặt” Sony hay Panasonic của Nhật.
Trong năm học 2004 sĩ số ghi danh theo học ngành kỹ thuật-công nghệ nhiều hơn các ngành khác, xác nhận những thắc mắc đó (xem Bảng F). Điều này chẳng phải khó hiểu lắm. Năm 1972 Viện Phát triển Giáo dục Đại hàn (The Korean Education Development Institute–KEDI) được thành lập, gồm các chuyên gia cố vấn (think-tank) về giáo dục. Nhưng dù tổ chức này đă đạt được nhiều thành tích đáng kể, Chính phủ vẫn thấy c̣n nhiều vấn đề khó khăn. Lư do: một tổ chức đơn độc không thể đảm đương tất cả các vấn đề ghi trong nghị tŕnh cải tổ giáo dục. V́ vậy, khoảng 1997-1999 ba tổ chức khác ra đời, mỗi tổ chức chịu trách nhiệm trực tiếp các vấn đề liên hệ đến chuyên môn của ḿnh.
Đó là (1) Viện Nghiên cứu Giáo dục Hướng nghiệp và Đào tạo Đại hàn (Korea Research Institute for Vocational Education and Training–KRIVET), (2) Viện [Nghiên cứu] Khóa tŕnh và Định chuẩn Đại hàn (Korea Institute of Curriculum and Evaluation–KICE), và (3) Tổ chức Dịch vụ Thông tin Giáo dục và Nghiên cứu Đại hàn (Korea Education and Research Information Service–KERIS).
Nguồn: Ministry of Education and Human Resources Development.
Table 3.A: Advancement/Employment Rate of Higher Education, Junior Colleges, 2004
http://english.moe.go.kr/html/education/?menuno=05 [9/10/2006]
Số liệu trên Bảng F cho thấy sinh viên chú trọng vào công nghệ-kỹ thuật (38.7%), ngành học sẽ giúp kỹ nghệ và công nghiệp Đại hàn phát triển. Tuy nhiên người dân xứ này vẫn luôn ư thức về những vấn đề xă hội (20.4%) của đất nước, cũng như muốn học hỏi thêm văn hóa-nghệ thuật đặc thù (16.4%) của Cao ly từ thời xa xưa.
Trong cuốn Education and Development: Some Essays and Thoughts on Korean Education (Giáo dục và Phát triển: Vài Luận văn và Suy nghĩ về Giáo dục Đại hàn) Giáo sư Jongchol Kim kể lại mẩu chuyện dưới đây, liên quan đến sự nghiệp phát triển đại học cộng đồng ở miền Nam bán đảo Cao ly.
Đầu thập niên 1970, nhằm t́m giải pháp đáp ứng yêu cầu đào tạo và xây dựng nguồn cung cấp nhân lực lao động có kỹ năng và tŕnh độ kỹ thuật cao cho chương tŕnh đổi mới sản xuất công nghiệp Đại hàn, Chính phủ hướng về cộng đồng. Mục đích t́m sự ủng hộ của nhân dân. Khắp cả nước rầm rộ phát động phong trào được biết dưới danh nghĩa saemual undong (phát triển cộng đồng mới). Tất cả 35,000 làng trên lănh thổ miền Nam Cao ly đồng loạt hưởng ứng phong trào này. Mỗi làng nhận được 330 bao ximăng của Chính phủ trung ương. Dân trong làng tùy nghi sử dụng theo ư của đa số. Tức th́ tại mỗi làng nảy sinh một lối sinh hoạt hợp tác giữa mọi người. Công việc bao gồm từ tu bổ hạ tầng kiến trúc, như cống rănh, cầu, đường đi, cổng làng, v.v., đến kế hoạch cải thiện đời sống tập thể, như sửa chữa mái trường tiểu học, giúp đỡ người lớn tuổi trong cảnh neo đơn, giúp sắp xếp chỗ bày hàng cho người bán lẻ ngoài chợ nhỏ, v.v. Đại khái, mọi người cảm thấy “có cái ǵ mới” vừa xảy ra trong cộng đồng. “Cái ǵ mới” đó là tinh thần kiên quyết, tự tin, và hợp tác của dân trong làng –trong cộng đồng nhỏ cột chặt mọi người đă sống trong đó từ lâu, gặp nhau hằng ngày, giúp đỡ nhau đủ mọi trường hợp.
Trong lúc phong trào saemual undong lan tràn khắp nơi, làm cả nước sống lại thuở thanh b́nh, đột nhiên yêu cầu giáo dục được đặt lên hàng đầu các dự án cần thực hiện ngay. Người dân trong làng cảm thấy muốn làm cho được việc, có kết quả tốt, không phí phạm thời giờ, vật liệu và tài chính, cũng như công đóng góp của mọi người, chuyện làm trước hết là “phải học.”
Xuất phát từ yêu cầu giúp mọi người trong các làng trên đất Cao ly, “Viện Đào tạo cấp Lănh đạo Cộng đồng Mới” (Saemual Undong Leader’s Training Institute) được thành lập gấp rút.
Đó là đầu năm 1973. Chính phủ trung ương vận động toàn thể lực lượng giảng dạy và chuyên viên đào tạo tức tốc soạn những giáo tŕnh ngắn hạn để huấn luyện cấp lănh đạo trong làng. Các giáo tŕnh nhắm mục đích dạy kỹ thuật thực hiện chương tŕnh phát triển cộng đồng mới. Cũng đồng thời tŕnh bày cho họ thấu triệt ư nghĩa của phong trào này trong việc bảo vệ an ninh lănh thổ ở miền Nam. Mỗi người dân có nhiệm vụ đóng góp đẩy mạnh sự phát triển của đất nước.
(Nguồn: Jongchol Kim. Education and Development: Some Essays and Thoughts on Korean Education. Seoul: Seoul National University Press. 1985, tr. 128-130).
Mẩu chuyện trên đây cho thấy quyết tâm của dân bao giờ cũng đem lại kết quả tốt. Người dân Cao ly đă chịu ách thống trị của Phát xít Nhật trong hai thập niên. Cay đắng, tủi nhục trăm lần hơn dân thuộc địa của Anh, Pháp, Ḥa lan. Ngày nay họ đă đứng lên. Công dân Đại hàn đă làm đất nước họ vẻ vang. Họ hănh diện tổ chức Thế Vận hội Mùa Hè 1988 tại Seoul. Hàng công nghiệp hiện đại mang nhăn hiệu Samsung do xứ sở họ sản xuất được ưa chuộng khắp thế giới. Xe hơi Hyundai, Daewoo, Kia, . . . xuất hiện trên thị trường Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Âu châu. Đẹp chẳng thua xe Nhật, Đức. Cùng một cở, giá rẻ hơn xe Mỹ nhiều. Cái ǵ đă giúp họ thành công? Nếu không là những chonmun taehak?
Với 4.0% GNP dành cho giáo dục đứng liền sau Nhật bản, 5.0% (xem Biểu đồ I) giới lănh đạo Đại hàn đă thực hiện được quyết tâm dùng đại học là động lực chính để đưa công nghiệp và sản xuất kỹ nghệ vào thị trường thế giới. Thêm một bằng chứng cụ thể của một đất nước bị cắt đôi vừa tranh đấu chống lại mọi manh tâm hủy hoại, tàn phá, vừa kiến thiết, xây dựng thành công. Một nửa miền Bắc cộng sản Triều tiên nghèo đói, lạc hậu. Một nửa miền Nam quốc gia Đại hàn luôn phát triển, thịnh vượng và tiến bộ.
E. Đài loan
Kinh nghiệm xây dựng đại học ngắn hạn ở Đài loan đáng được chú ư, học hỏi. Đài loan là một trong 5 quốc gia giàu nhất ở Đông Nam Á châu, đứng sau Nhật bản, Ấn độ, và Đại hàn. Là thành viên trong bộ “tứ Long Đông Nam Á,” gồm Đài loan, Đại hàn, Hồng kông, Singapore. Đài loan hiện có số vốn đầu tư rất lớn trong vùng ven bờ Thái B́nh dương, đặc biệt tại các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế–tài chính năm 1996 chỉ có Đài loan thoát khỏi cảnh bị phá sản, trong lúc Đại hàn, Hồng kông, Singapore cùng với Thái lan và Nam dương phải nhờ sự viện trợ của Quỹ Tiền tệ Quốc tế để cứu văn t́nh trạng sụp đổ.
Thế giới khen ngợi sự phát triển nhanh chóng của ḥn đảo này về đào tạo kỹ thuật, quản lư, xây dựng công nghiệp nặng và nhẹ. Câu hỏi mọi người thường đặt ra, sau khi đi quan sát ở Đài loan về: “– Có phải nhờ sự phát triển giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, cho nên kinh tế của Đài loan cũng phát triển song song chăng?” Điều chắc chắn là tại Đài loan, cũng giống như ở Đại hàn, giáo dục đại học gắn liền với phát triển kinh tế.
Chương 13, Hiến pháp Đài loan năm 1949 minh định chính sách đó. Đường lối phát triển đại học phải nhằm vào chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế của cả nước.
Một thí dụ cụ thể: Năm 1949, sau khi Chính phủ Cộng ḥa Trung hoa Dân quốc định cư ở Đài loan kế hoạch ưu tiên để cải tiến kinh tế là kiện toàn hệ thống lưu thông trên đảo. Đường xe lửa xuyên Bắc-Nam được nới rộng thành đường “ray” kép và chuyển sang dùng điện thay v́ than đá. Nhiều đường sắt phụ được xẻ xuyên Đông-Tây, từ Đài bắc xuống Đài nam. Một xa lộ tối tân nối liền thủ đô Đài bắc xuống tận Đài nam, qua những thành phố lớn và vùng kỹ nghệ như Đài trung, Cao hùng. Chưa kể hệ thống các đường xuyên núi cao, nối liền bờ biển phía Đông với bờ biển phía Tây. Trong việc xây dựng hệ thống đường sá phải kể sự đóng góp quan trọng của các đại học ở Đài loan như các bảng thống kê dưới đây chỉ rơ.
Phúc tŕnh điều nghiên năm 2004 của National Science Foundation cho biết sinh viên Đài loan ghi danh niên khóa 2000-2001 đă đăng kư chọn chương tŕnh chuyên môn của văn bằng đầu tiên theo phân bố theo ngành như sau (Bảng G).
Truy nguyên do những thành công vừa nói trên, được biết. Phân nửa viên chức cao cấp điều hành trong Chính phủ Đài loan lúc bấy giờ đă tốt nghiệp các ngành đào tạo về khoa học tự nhiên. Xuất thân từ các đại học Anh, Đức, Nhật, và Hoa kỳ. Đă từng là những giáo sư, trưởng bộ môn, khoa trưởng, viện trưởng/phó viện trưởng đại học tại các nước đó. Thông hiểu chuyên môn. Rành việc đào tạo, soạn thảo chương tŕnh, khóa tŕnh, phương pháp và học. Chính họ góp phần cải thiện đời sống của dân trên một ḥn đảo nhỏ có nguồn tài nguyên thiên nhiên giới hạn.
Hệ thống giáo dục ở Đài loan gồm có:
1. Tiểu học (6 năm bắt buộc)
2. Trung học cấp I (3 năm)
3. Trung học cấp II (3 năm)
4. Đại học.
(Chú ư: Luật Giáo dục Đài loan quy định cưởng bách 9 năm giáo dục, từ bậc tiểu học đến hết trung học cấp I).
Các trường thuộc bậc đại học được chia ra làm 3 loại:
1. Học hiệu chuyên khoa (Zhuanke Xuexiao/Chuan-k’o Hsüeh-hsiao)– tương đương với “junior college.”
2. Học viện (Xueyuang/Hsüeh-yuan) – tương đương với “college”
3. Đại học (Daxue/Ta-hsüeh)– tương đương với “university.”
Các Học hiệu chuyên khoa (Zhuanke Xuexiao –junior college) lại chia ra làm 2 loại:
1. Học hiệu ngũ niên chế (five-year junior college) nhận học sinh tốt nghiệp Trung học cấp I.
2. Học hiệu nhị niên chế (two-year junior college) nhận học sinh tốt nghiệp trung học Kỹ thuật (Jizhi jiaoyu –Kỹ thuật giáo vụ) cấp II hay trung học Hướng nghiệp (Zhiye jiaoyu –Chức nghiệp giáo vụ) cấp II.
Những Zhuanke Xuexiao 2-năm được phân biệt thành 3 loại:
1. Shequ Zhuanke Xuexiao (Xă khu Chuyên khoa học hiệu hay Cộng đồng Chuyên khoa học hiệu) (Community junior College), trực thuộc Bộ Giáo dục.
2. Cheng Zhuanke Xuexiao (Thành khu Chuyên khoa học hiệu) (City junior College), trực thuộc chính quyền tỉnh.
3. Quoli Zhuanke Xuexiao (Thị lập Chuyên khoa học hiệu) (Municipal junior College), trực thuộc chính quyền đô thị.
Chứng chỉ hay văn bằng tốt nghiệp do các Zhuanke Xuexiao cấp gồm có:
a) Zheng shu (Yinian nianxian) –Chứng thư (nhất niên niên hạn), tương đương
“1-year Certificate” của Hoa kỳ.
b) Lixueshi xuewei (Liangnian nianxian) –Lư học sĩ học vị (lưỡng niên niên hạn), tương đương “Associate Degree” của Hoa kỳ.
Các Xueyuang và Daxue có chương tŕnh đào tạo và cấp văn bằng cho:
a) Tŕnh độ Xueshi (Học sĩ) tương đương Bachelor. Bằng tốt nghiệp: Xueshi xuewei (Học sĩ học vị).
b) Tŕnh độ Shuoshi (Thạc sĩ) tương đương Master. Bằng tốt nghiệp: Shuoshi xuewei (Thạc sĩ học vị).
c) Tŕnh độ Boshi (Bác sĩ) tương đương Doctor. Bằng tốt nghiệp: Boshi xuewei (Bác sĩ học vị).
Lịch sử phát triển các Học hiệu chuyên khoa Xă khu hay Cộng đồng (Shequ Zhuanke Xuexiao) ở Đài loan bắt đầu từ lúc Chính phủ Dân quốc c̣n ở trong lục địa. Năm 1929 Chính phủ ban hành Luật Tổ chức các Học hiệu chuyên khoa xă khu. Đến tháng 3/1931, chiếu theo Luật năm 1929, Bộ Giáo dục quy định việc tổ chức lại các học viện 2-năm này. Một năm trước khi rời lục địa Chính phủ băi bỏ Luật Tổ chức các Học hiệu chuyên khoa xă khu năm 1929, và ban hành Luật Học hiệu Chuyên khoa cộng đồng (tháng 1/1948). Hai mươi năm sau (tháng 5/1968), Bộ Giáo dục thành lập Nha Học hiệu Chuyên khoa để phụ trách những trường này. Đến tháng 10/1975, Bộ Giáo dục bắt đầu đánh giá thành quả và hiệu quả của các Zhuanke Xuexiao. Bộ chú trọng 5 ngành đào tạo kỹ nghệ: cơ khí, điện công nghệ, điện tử, công nghệ hóa học, và công chính.
Trong ṿng 30 năm sau khi Chính phủ an bài ở Đài loan, các Học hiệu Chuyên khoa xă khu phát triển với con số khiêm tốn, phần lớn v́ sự phát triển mạnh của các Học hiệu chức nghiệp (Vocational Schools) và Học hiệu kỹ thuật học (Technical Schools) (xem Bảng G).
Bộ Giáo dục quy định xây dựng Xă khu học hiệu trên hai nguyên tắc:
(1) Giáo dục chức nghiệp–kỹ thuật (vocational-technical education) cấp đại học hoàn toàn độc lập; mục đích nhằm nâng cao dân trí;
(2) Khóa tŕnh chức nghiệp–kỹ thuật (vocational-technical curriculum) phải soạn song song với sự phát triển kinh tế của Đài loan.
V́ vậy không mấy ai ngạc nhiên khi nhận ra các học hiệu tư thục phát triển nhanh và bành trướng mạnh hơn các học hiệu công lập. Sự lớn mạnh của Xă khu học hiệu (Zhuanke Xuexiao) để trở thành đại học 4- hay 5-năm truyền thống (DaXue) là điểm đánh dấu kinh tế Đài loan đă vững mạnh.
Phần tham khảo sơ lược mô h́nh trường đại học cộng đồng của Canada, Pháp, Nhật, Đại hàn và Đài loan tŕnh bày trên đây với những số liệu tóm tắt (Bảng K) cho thấy thành quả dạy và đào tạo tại các quốc gia này đă đạt vào đầu thế kỷ 21. Tỷ lệ sinh viên ghi danh học các ngành nghề thiết thực xác nhận chiến lược giáo dục ở cấp đại học 2-năm cũng như cấp đại học 4-năm phù hợp với đường lối phát triển kinh tế trong nước. Ngành công nghiệp kỹ thuật (Engineering Technology) vẫn chiếm tỷ lệ quan trọng ở Đại hàn và Đài loan. Trong khi đó, ở Nhật khuynh hướng học các ngành liên hệ Khoa học xă hội tăng mạnh, so với Canada, Pháp và Hoa kỳ.
Xă hội tiến bộ ngày nay đă thúc đẩy khinh tế phát triển. Kinh qua những khám phá và phát minh mới, khoa học và kỹ thuật tạo cơ hội để các nước đào tạo nguồn lực lao động có kỹ năng và hiểu biết kỹ thuật. Nguồn lực lao động đă được huấn luyện kỹ, có tinh thần cầu tiến, có kỹ luật trong nhiệm vụ sẽ là động cơ đẩy mạnh kinh tế trong trong nước. Chính nhờ phương tiện công nghệ thông tin hiện đại (modern information technology) xă hội sử dụng được tất cả mô h́nh để đào tạo công dân trong nước, đem kiến thức khoa học đến gần với dân hơn, kích thích hiếu kỳ, khích động t́m hiểu ở phần tử năng động trong cộng đồng.
Số liệu dẫn chứng trên Bảng K cho thấy hai hướng phát triển ngược chiều. Trong lúc tuổi trẻ ở các nước đang phát triển (Đại hàn, Đài loan) theo học nhiều về khoa học, công nghệ và kỹ thuật, th́ lớp thanh niên cùng tuổi ở các nước đă vượt lên hàng đầu sản xuất công nghiệp (Canada, Hoa kỳ, Nhật) lại thích hợp với ngành nghề quan hệ với khoa học xă hội hơn. Sinh viên ở Pháp th́ đứng lững lơ giữa ḍng hai ḍng phát triển đó.
Đấy là những h́nh ảnh ở xứ người.
Sau đây, mời người đọc quay về đất nước chúng ta. Xem từ sau tháng Tư đen năm 1975 đến nay, đă non một phần ba thế kỷ rồi, Việt nam làm được ǵ trong việc giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực lao động. Người chuyên viên hay kỹ thuật viên có hiểu biết khoa học-kỹ thuật, có được trang bị với những kỹ năng tân tiến như những phần tử lao động cấp trung ở xứ người? Hay Việt nam vẫn là ḷ luyện “anh hùng lao động xă hội chủ nghĩa, “nhà giáo ưu tú” theo mẫu mực của Trường “đại học” Phương Đông ở Liên xô khi xưa?
III. Hiện t́nh mô h́nh đại học 2-năm ở Việt nam.
Trong phần dưới đây, xin được giới hạn “trường cao đẳng” trong phạm của định nghĩa tại Luật Giáo dục Việt nam năm 2005 (Hà nội: Nhà Xuất bản Chính trị, 2005).
A. Định nghĩa “Trường cao đẳng cộng đồng” Việt nam
Giáo dục đại học, tŕnh độ cao đẳng được ghi trong Luật Giáo dục Việt nam năm 2005 trong các điều sau đây.
CHƯƠNG II
HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN
Mục 4: GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Điều 38. Giáo dục đại học.
Giáo dục đại học bao gồm:
1. Đào tạo tŕnh độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành.
2. . . .
Điều 39. Mục tiêu của giáo dục đại học.
1. Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ư thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với tŕnh độ đào tạo, có khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ qưốc.
2. Đào tạo tŕnh độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo.
3. . . .
Điều 40. Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục đại học.
1. Nội dung giáo dục đại học phải có tính cách hiện đại và phát triển, bảo đảm cơ cấu hợp lư giữa kiến thức khoa học cơ bản, ngoại ngữ và công nghệ thông tin với kiến thức chuyên môn và các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc; tương ứng với tŕnh độ chung của khu vực và thế giới.
Đào tạo tŕnh độ cao đẳng phải bảo đảm cho sinh viên những kiến thức cơ bản khoa học cơ bản và kiến thức chuyên môn cần thiết, chú trọng rèn luyện kỹ năn cơ bản và năng lực thực hiện công tác chuyên môn.
. . .
2. Phương pháp đào tạo tŕnh độ cao đẳng, tŕnh độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ư thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng.
. . .
Điều 41. Chương tŕnh, giáo tŕnh giáo dục đại học.
1. Chương tŕnh giáo dục đại học thể hiện mục tiêu giáo dục đại học; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và h́nh thức đào tạo, cách đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, tŕnh độ đào tạo của giáo dục đại học; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương tŕnh giáo dục khác.
Trên cơ cở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định ngành về chương tŕnh giáo dục đại học, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chương tŕnh khung cho từng ngành đào tạo đối với tŕnh độ cao đẳng, tŕnh độ đại học, bao gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học, giữa lư thuyết với thực hành, thực tập. Căn cứ vào chương tŕnh khung, trường cao đẳng, trường đại học xác định chương tŕnh giáo dục của trường ḿnh.
. . .
2. Giáo tŕnh giáo dục đại học cụ thể hóa yêu cầu về nội dung, kiến thức, kỹ năng quy định trong chương tŕnh giáo dục đối với mỗi môn học, ngành học, tŕnh độ đào tạo.
Hiệu trưởng trường cao đẳng, trường đại học có trách nhiệm tổ chức biên soạn và duyệt giáo tŕnh các môn học để sử dụng chính thức trong trường trên cơ sở thẩm định của Hội đồng thẩm định giáo tŕnh do Hiệu trưởng thành lập; bảo đảm có đủ giáo tŕnh phục vụ giảng dạy, học tập.
. . .
Điều 42. Cơ sở giáo dục đại học.
1. Cơ sở giáo dục đại học bao gồm:
a) Trường cao đẳng đào tạo tŕnh độ cao đẳng;
b) Trường đại học đào tạo tŕnh độ cao đẳng, tŕnh độ đại học; đào tạo tŕnh độ thạc sĩ, tŕnh độ tiến sĩ khi được Thủ tướng Chính phủ giao.
. . .
2. . . .
3. Mô h́nh tổ chức cụ thể của các loại trường đại học do Chính phủ quy định.
Điều 43. Văn bằng giáo dục đại học.
1. Sinh viên học hết chương tŕnh cao đẳng, có đủ điều kiện th́ được dự thi và nếu đạt yêu cầu theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo th́ được Hiệu trưởng trường cao đẳng hoặc trường đại học cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng.
. . .
2. . . .
Vậy, Trường Cao đẳng cộng đồng Việt nam có thể xem ngang hàng với Tangi Daigaku của Nhật, Chonmun Taehak của Đại hàn, hay Zhuanke Xuexiao của Đài loan không? Việc này, tùy sự thẩm định của các quốc gia thâu nhận sinh viên Việt nam vào cơ sở đại học của họ.
B. Trường cao đẳng cộng đồng hồi sinh tại Miền Nam.
Mô h́nh trường cao đẳng cộng đồng ở Việt nam hiện nay được khơi động lại từ tỉnh Tiền giang. Đầu năm 1995, Ủy ban Nhân dân tỉnh Tiền giang giao Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng tại chức liên tỉnh Tiền giang–Long an–Bến tre, hệ đại học, lập dự án khôi phục và phát triển Đại học Tiền giang đă có trước ngày 30/4/1975 (Quyết định số 717/QĐ-UB ngày 20/3/1995).
Báo cáo chánh trị đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tiền giang (tháng 5/1996) ghi: “Hoàn thành phương án thành lập trường ‘Đại học cộng đồng’ trên cơ sở hợp nhất trường Cao đẳng Sư phạm và Trung tâm đào tạo tại chức liên tỉnh, nhằm đào tạo công nhân có tŕnh độ sơ cấp, trung cấp, đại học đại cương phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở địa phương và khu vực” (tr. 32).
Sự kiện này xảy ra cùng thời với sự chú ư của Bộ Giáo dục–Đào tạo. Trong thư ngày 23/8/1995, Bộ trưởng đề nghị Trường Đại học cộng đồng Lansing (Lansing Community College), Michigan, giúp Việt nam tái lập mô h́nh đào tạo ngắn hạn. Được sự chấp thuận của Hội đồng Quản trị Truờng, Tiến sĩ Abel B. Sykes và một chuyên viên của Trường sang Hà nội cuối năm 1995. Nói rơ thêm: Ba năm trước đó Việt nam đă có thư mời Trường Đại học cộng đồng Lansing cố vấn công tác này (thư của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ngày 18/5/1992 và 14/9/1992). Nhưng quan hệ chính thức chỉ được thiết lập sau ngày 3/2/1994 khi lệnh cấm vận được băi bỏ và Hội đồng Quản trị của Lansing Community College cho phép nhân viên tiến hành công tác.
Tiếp theo chuyến tham quan đó, tháng 6/1996, Trường Đại học cộng đồng Lansing và Bộ Giáo dục Việt nam kư Bản Ghi nhớ (Memorandum of Understanding) xác nhận việc hợp tác giữa Vụ Đại học, Bộ Giáo dục– Đào tạo Việt nam và Trường Đại học cộng đồng Lansing, Michigan, Hoa kỳ, để tiến đến xây dựng lại các đại học cộng đồng ở Việt nam.
Theo đề nghị của Bộ trưởng, phái đoàn Trường Đại học cộng đồng Lansing đă gặp cấp lănh đạo các tỉnh sau đây: Tiền giang, An giang, Vĩnh long, Bà rịa–Vũng tàu, Hải pḥng và Thanh hóa để t́m hiểu nhu cầu đào tạo thợ lành nghề và chuyên viên trung cấp của mấy địa phương đó.
Hai sự kiện đă xảy ra ngoài sự mong muốn tái lập mô h́nh đào tạo đại học ngắn hạn của mọi người:
1. Đề nghị của Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh hoá xây dựng “Trường Đại học cộng đồng Thanh hoá” gởi lên Trung ương, được chỉ thị sửa lại thành “Trường Đại học Hồng đức,” do Quyết định số 797-TTg ngày 24/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ.
2. Đề nghị của Ủy ban Nhân dân tỉnh An giang xây dựng “Trường Đại học cộng đồng An giang” gởi lên Trung ương, cũng được chỉ thị sửa lại thành “Trường Đại học An giang,” theo Quyết định số 241/1999/QĐ-TTg ngày 30/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ.
Măi đến tháng 8/2000, do sự tranh đấu quyết liệt của Ủy ban Nhân dân các tỉnh: Bà rịa–Vũng tàu, Đồng tháp