Dùng một số tác phẩm văn học xuất bản tại hải ngoại, William Joiner Center (WJC) thuộc University of Massachusetts Boston (UMB) thực hiện một chương tŕnh nghiên cứu toàn diện về cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản nhằm mục đích "tạo ra sự ḥa hợp giữa người tỵ nạn Cộng sản và chế độ Cộng sản tại Việt Nam ngàch nay".
I. Giới thiệu chương tŕnh:
Chương tŕnh nghiên cứu về cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản do WJC/UMB đặt tên là
"ReConstructing Indentity and Place in the Vietnamese Diaspora và cũng
do WJC/UMB dịch ra tiếng Việt là Diễn Tŕnh (Tái) Xây
Dựng Diện Mạo Và Quê Hương Của Người
Việt Ở Nước Ngoài".
Theo tập tài liệu Rockefeller Foundation Humanities Fellowship - UMass Boston Program Plan (Grant Proposal) và nói một cách đại cương, chương tŕnh này sẽ viết những vấn đề sau đâi
1. Khảo sát việc xây dựng và diễn giải lịch sử Việt Nam. Ảnh hưởng của các sự kiện lịch sử như cuộc chiến tranh chống Pháp, tù cải tạo sau 1975, Vùng Kinh Tế Mới, và vượt biên đối với Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản trong vấn đề tái xây dựng đặc trưng của ḿ cải
2. Khảo sát nền văn học, ngôn ngữ, văn hóa và vai tṛ của nhà văn, nghệ sĩ, đặc biệt là những tiếng nói đang nổi lên của nền văn học hải ngoại trong vấn đề tái xây dựng nơi cư trú, gia đ́nh và những đặc trưng của cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản.
3. Khảo sát về những tác động của chính sách đổi mới, khuynh hướng thiên về nền kinh tế thị trường của nhà nước Cộng Sản Việt Nam đối với cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản.
II. Nhận xét về nghĩa của chữ và mạch văn (semantics & contextual meanings) trong đề tài "“ReConstructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora".
1. "Diaspora" lấy từ chữ Hy lạp, có nghĩa là rải rác, phân tán. Chữ Jewish Diaspora được dùng lần đầu tiên vào năm 586 trước Công nguyên để chỉ người Do Thái bị đày ải lên thành Babylonia. Trong suốt chiều dài lịch sử của Do Thái, cho tới sau thế chiến thứ hai, được trở về lập quốc, chữ Diaspora chỉ người Do Thái sống bên ngoài lănh thổ Palestine và bây giờ là Israel (Theo Encarta ® 97 Encyclopedia). Diaspora c̣n có nghĩa là một nhóm người sống rải rác bên ngoài lănh thổ của ḿnh (World Book History). Tập tài liệu "UMass Boston Program Plan" định nghĩa "Diaspora" khác với "Immigration" v́ "Diasporra" là những người bị lịch sử ngược đăi, có ḷng mong đợi ngày hồi hương, và không ǵ có thể thay thế được sự ngự trị của quê hương củ trong tâm hồn họ. (ReConstructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora, p 4). Hoàn cảnh chính trị của người Do Thái ngày xưa và của cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản ngày nay không khác nhau. Do đó, chữ "Vietnamese Diaspora" contextually và semantically phải dịch là "cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản" v́ trên 99% người Việt sống ở nước ngoài ngày nay là người tỵ nạn Cộng sản. Hoa kỳ cũng như toàn bộ các quốc gia khác của thế giới tự do, sau sự kiện tháng tư 1975, đă đón nhận người Việt Nam vào quốc gia của họ dưới danh nghĩa "tỵ nạn chánh trị hay là 1. “Diaspora” lấy sản".
Nếu dịch như UMass Boston là "người Việt sống ở nước ngoài", người đọc có thể hiểu là những công dân của nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghiă Việt Nam đang sống ở nước ngoài, và vào cuối thế kỷ 20, không hề có cuộc ra đi ồ ạt và vĩ đại nhất trong lịch sử tỵ nạn và đấu tranh của nhân loại. Như vậy là chương tŕnh đă đi ra ngoài mục đích tài trợ của Rockefeller Foundation - nghiên cứu về nền văn học của cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản, một nền văn học rất đa dạng và hoàn toàn khác biệt với nền văn học trong nước. Văn học hải ngoại thực chất là văn học VNCH sau hơn một phần tư thế kỷ tiếp xúc trực tiếp với nền văn học phương Tây, và đă có những biến thaiù quan trọng cần được nghiên cứu: đó là mục đích của Rockefeller Foundation khi đứng ra bảo trợ chương tŕnh này. Cách dịch hoàn toàn sai trái của UMass Boston không thể nào chấp nhận được về mặt dịch thuật, chưa nói tới mặt chá ?người Việt
Di sản văn hóa của miền Nam Việt Nam đă được những người tỵ nạn mang ra hải ngoại sau sự kiện lịch sử 1975. Đảng Cộng sản đă thực hiện thống nhất văn học ngay sau khi thống nhất vể chánh trị và quân sự. Các văn hóa phẩm kể cả âm nhạc đă bị gom lại và đốt hết. Cộng sản dùng pháp luật để trừng phạt những ai c̣n lưu dụng các tác phẩm văn học, âm nhạc của VNCH. Hát nhạc vàng là nhạc của VNCH bị ghép tội "văn hóa đồi trụy" và bị đưa đi tập trung cải tạo. Bài này sẽ tŕnh bày và dẫn chứng WJC/UMB nh́n nền văn học Việt Nam hải ngoại dưới góc độ nào? và đă đặt nền tảng cho việc thực hiện chương tŕnh nghiên cứu này dưới nhăn quan nàt
2. Identity and Place là hai terminologies dùng trong ngành "Nhân văn Humanities". Nếu hiểu 2 chữ này theo nghĩa thông thường của từ điển th́ sẽ không dịch được cái nghĩa mnh nó bao hàm trong khuôn khổ của chương tŕnh nghiên cứu. V́ Việt Nam, từ thời VNCH cho tới nay, chưa có Hàn Lâm Viện Ngôn ngữ nên những chữ này rất khó để có sự đồng nhất về cách dịch giữa chúng ta. Trong giai đoạn gần đây, kể từ khi chúng ta phản đốiWJC/UMB, đă thấy xuất hiện trên báo chí và "network" nhiều cách dịch khác nhau, mặc dù cách dẫn giải có thể không khác nhiều. Chữ "identity" đă được dịch là "căn cước", "bản sắc", "bản chất", "đặc tính", và trường UMass Boston dùng chữ rất táo bạo là "diện mạo". Chữ "place" được dịch là "nơi cư trú", "nơi sinh sống", "mảnh đất tạm dung", "vị trí", và UMass Boston th́ dịch táo bạo hơn là "quê hương". Bài viết này tŕnh bày về ư nghĩa mà "identity" và "place" bao hàm trong kuôn khổ của khoa nhân văn, và được dùng trong chương tŕnh nghiên cứu nà “network”
"Identity" trong cuốn Dreams in the Shadow, Mandy Thomas (Tiến sĩ Nhân Chủng Học) có bàn về "identity" như “Identity” trong cuốn “Dreams in the Shadow”,
· Identity liên quan tới sự biểu hiện của bản thân, và những định nghĩa về bản thân được gắn liền với không gian (trong khái niệm về thời gian và không gian củasự việc)
· Identity là một quá tŕnh xây dựng và thực hành của bản thân. Các quá tŕnh này không bao giờ hoàn tất và h́nh thành trong phạm vi của sự biểu hiện.
· Bản chất của Identity là hay thay đổi.
Qua 3 khái niệm trên, chữ Identity có thể dịch ra là "đặc trưng" v́ "Identity" chỉ biểu hiện nét đặc biệt nào đó và luôn luôn thay đổi theo điều kiện của không gian. Mỗi người đều có rất nhiều "identities": "identity về học vấn", "identity về nghề nghiệp", "identity về giới tính: bisexuality; homosexuality; heterosexuality" v.v. Trong một buổi hội thảo về "identity", một cô người Mỹ có chồng là người Na Uy kể một câu chuyện về American identity của cô như sau: trong một khu shopping sang trọng của thủ đô Na Uy, không khí thật là yên tĩnh và trang nghiêm, cô chợt thấy một nhóm du khách người Mỹ rất trẻ, vừa đi vừa đùa giỡn, xô đẩy nhau ồn ào lớn tiếng có vẻ như coi thường người chung quanh. Cô thấy nhiều người nh́n nhóm thanh niên Mỹ đó với con mắt khó chịu. Cô chợt thấy hổ thẹn và cầu xin sao cho những người chung quanh cô sẽ không một ai biết rằng cô là người Mỹ. Vài ngày sau, khi thăm viếng Viện Vật Lư Na Uy, tại đây đang có một chương tŕnh nghiên cứu do Mỹ bảo trợ. Khi đi vào sảnh đường, cô thấy lá cờ Mỹ được đặt ở một vị trí trang nghiêm trong pḥng. Cô thấy rất tự hào rằng ḿnh là người Mỹ, và cô thầm ước mong rằng mọi người sẽ biết cô là người Mỹ. Cô rất sung sướng với cái American identity của cô. Theo đó th́ "Identity" lệ thuộc và thay đổi theo không gian. Do đó, "identity" không thể là bản chất, đặc tính, bản sắc và cũng không thể là diện mạo như UMass Boston đă dịch. Diên mạo không thể thay đổi, trong khi đó th́ "identity" thay đ ?đặc
"Place:" Theo Mandy Thomas th́ sự xây dựng lại đặc trưng của ḿnh sau khi nhập cư có một ư nghĩa quan trọng về không gian, bởi v́ người nhập cư [di dân và tỵ nạn] luôn luôn có cảm giác bị lạc lơng cho nên họ cố gắng tạo cho ḿnh một cảm giác thoải mái trong cái "place" mới của ḿnh như ở quê nhà. Đây chính là qúa tŕnh hội nhập vào nền văn hóa mới (acculturation hay là adaptation), trong đó người nhập cư đa mặc nhiên xây dựng lại identity của ḿnh. Qua nhận định này, chữ "place" chỉ nơi mà người tỵ nạn cư trú. Nếu gặp không khí chánh trị, kinh tế và xă hội thích hợp với sự mong đợi, th́ người tỵ nạn sẽ có cảm giác ấm cúng như ở quê cũ. Một thí dụ khác liên quan đến place: xé“Place”: Theo "identity Thomas th́ sự xây dựng" th́ khi c̣n ở trong nước (place: Việt Nam) là phục tùng chồng, lo việc nội trợ, săn sóc con cái, ít hoặc không tham dự công việc xă hội. Khi "place: Việt Nam" thay đổi thành "place: Hoa Kỳ" th́ "identity của phụ nữ Việt Nam" là b́nh đẳng với chồng trong việc phân công trách nhiệm gia đ́nh, ra ngoài làm việc có income như chồng, tham dự công việc xă hội nhiều hơn là khi c̣n ở Việt Nam. Sự việc này nhấn mạnh thêm rằng "place" bao hàm nghĩa "nơi cư trhội.".
III. Tuyển nghiên cứu viên:
Chương tŕnh kéo dài 3 năm. Năm thứ nhất đặt nền tảng nghiên cứu cho 2 năm c̣n lại (UMass Boston Program Plan, p.2) và chọn 4 học giả để nghiên cứu. Hai từ Hà Nội tới là Ông Hoàng Ngọc Hiến, nguyên là Giám Đốc trường dạy viết văn Nguyễn Du Hà Nội, trường này của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Người thứ hai là Ông Nguyễn Huệ Chi, nguyên là chủ nhiệm Ban Nghiên Cứu và Lư Luận Văn Học thuộc Viện Văn Học Việt Nam tại Hà nội. Người thứ 3 là cô Michele Janette, tiến sĩ Mỹ da trắng, khoảng ngoài 30 tuổi. Người thứ tư là cô Carolin Kiều Linh, người Mỹ gốc Việt, theo gia đ́nh di tản sang Mỹ năm 1975, lúc đó mới có 4 tuổi. Hai cô này viết những vấn đề không quan trọng. Riêng 2 học giả Cộng sản th́ WJC công bố là sẽ viết những vấn đề sau đây: "Ông Hoàng Ngọc Hiến sẽ nghiên cứu văn phong, chủ đề và các nguồn sáng tác hăi ngoại, với sự chú trọng đặc biệt vào t́nh yêu và sự gắn bó với tổ quốc [Việt Nam]. Ông Nguyễn Huệ Chi sẽ thu thập và phân tích các tác phẩm phê b́nh về văn hóa cổ của Việt Nam - sự nối tiếp, thay đổi và biến thái trong môi trường hải ngoại" (Thông cáo báo chí của WJC/UMB ngà “Ông Hoàng
V́ cả Hoàng Ngọc Hiến lẫn Nguyễn Huệ Chi đều không am hiểu ǵ về nền văn học và đời sống hải ngoại nên đă phạm phải những sai lầm nghiêm trọng khi chọn các tác phẩm để nghiên cứu. Hai học giả này không hề phân biệt được tác phẩm nào là tiêu biểu cho tuyệt đại đa số người Việt tỵ nạn, tác phẩm nào chỉ thể hiện quan điểm của một thiểu số không đáng kể, hoặc chỉ là những tiếng nói lẻ loi mà không tiêu biểu cho một khuynh hướng nào ở hải ngoại hết. Sự nhầm lẫn v́ không có một chút hiểu biết nào về đời sống thực tế của người Việt hải ngoại đă dẫn đến cách mô tả cực kỳ thê thảm khi Hoàng Ngọc Hiến viết về thế hệ trẻ hải ngoại với lời nhận xét của ông ta xen lẫn vào phần trích dẫn như sau:
"Trong bài thơ Nguyễn Bính của Nguyễn Bá Chung [Giám Đốc chương tŕnh nghiên cứu], hai câu thơ: "Nữa đời mới biết công danh hăo - Giày cỏ, gươm cùn đến trắng tay" có thể hiểu với ư nghĩa thời sự là tác giả mượn thân phận của nhà thơ giang hồ họ Nguyễn để cảm khái tâm trạng vỡ mộng của ḿnh và những chàng trai cùng thế hệ hiện đương long đong nơi đất khách quê người. (Việt Báo OnlineMục Lục Lưu Trư ơ “Trong.
Chỉ cần nêu lên một điểm: Nếu tuổi trẻ hải ngoại mà như vậy, th́ lấy đâu ra tiền mà gửi về Việt Nam mỗi năm hàng hai, ba tỷ đô la. Hậu quả của sự lưa chọn nghiên cứu viên một cách "bừa băi" của WJC/UMB đă dẫn đến kết quả tai hại, chỉ v́ người nghiên cứu về cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản lại là đảng viên cao cấp của Đảng Cộng sản nên mới có nhầm lẫn giống như một người mù, sờ tai con voi rồi mô tả "con voi giống cái quạt". Đoạn trích dưới đây chứng minh rơ ràng Hoàng Ngọc Hiến không hiểu ǵ về Ngưch ?bừa băi” của WJC/UMB đă
Trong truyện Tật Nguyền của Nguyễn Ư Thuần (16), sau 5 năm ở Mỹ, nhân vật xưng tôi có cảm tưởng chung về trạng thái nhân thế trong cộng đồng người Việt ở Mỹ như sau: Năm năng vật lộn với đủ thứ nghề và lang thang trên những vùng đất xa lạ, tôi đâm ra ngán ngẩm sau khi tiếp xúc với một số cộng đồng tỵ nạn. Hầu hết đều khoác lên người một thứ ǵ đó - như lớp quần áo giấy - để sống. để khỏi khuất lẫn vào đám đông. Bằng quá khứ cũng có, bằng chức vụ hay bằng cấp. Nhưng tựu trung chỉ nằm trong ṿng thỏa măn tự ái cá nhân hay khỏa lấp mặc cảm. Nói cho cùng, tôi vẫn gặp một số người sống bằng cả tấm ḷng. Ở thiểu số này, ranh giới giữa suy nghĩ riêng tư và cuộc sống ở đây hoàn toàn cách biệt. Họ âm thầm thực hiện hoài bảo. Như những đốm lửa lạc loài trong đểm văn minh quá mức. Với họ - những đốm lửa nhỏ nhoi đó - điểm ra đi là nơi trở về (Đọc Văn Học Hải Ngoại của Hoàng Ngọc Hiến do Nguyễn Quốc Trụ giới thiệu và đăng trên Việt Báo OnlineMục Lục Lưi trở 7/31/2001).
Đối với chúng ta th́ đây chỉ là những mẩu chuyện nói năng lăm nhảm, nhưng những thế hệ sau, khi cần nghiên cứu về chúng ta, sẽ vào các thư viện nghiên cứu và các văn khố để sao lục và dùng những tài liệu NGUYÊN THỦY (PRIMARY SOURCES) như thế này để viết lại và khuếch tán hơn nữa để nói về chúng ta th́ quư vị nghĩ sao? Con cháu của chúng ta sẽ nghĩ ǵ về cha ông chúng? Sẽ nghĩ ǵ khi biết rằng chúng đả được sinh ra bởi những hạng người như chúng ta (theo cách mô tả của Hoàng Ngọc Hiến như mẩu chuyện trên)? Thật ra không ai trách Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi, người phải chịu trách nhiệm về những sai trái này là WJC/UMB, cơ quan đă mời 2 học giả Cộng sản để viết về người tỵ nạn Cộng sản là một đề tài mà họ hoàn toàn không có một sự hiểu biết nào hết.
Sự khờ dại và ngây ngô của Nguyễn Huệ Chi c̣n buồn thảm hơn nữa. Ông Chi được WJC chỉ định nghiên cứu về cổ văn hải ngoại. Vậy mà Ông Chi cũng nhảy vào giới văn học hiện đại để thưcï hiện chủ trương ḥa hợp văn học mà Hà nội và WJC đă cấu kết với nhau từ khi viết kế hoạch đề nghị xin ngân khoản của Rockefeller Foundation. Đây là đoạn trích của bài viết của Nguyễn Huệ Chi đăng trong tạp chí Văn Học của Nguyễn Mộng Giác - một tác giả có sách xuất bản tại Việt Nam.
... th́ đông đảo các nhà văn trẻ - mà số lượng nữ khá vượt trội - lại mải mê ghi lại vô vàn cảnh ngộ lư thú, nực cười của cuộc mưu sinh tất bật nơi quê hương mới, nhiều nhà văn trẻ khác dồn năng lực t́m ṭi cách viết mới, cách đặt câu xếp chữ tân kỳ, cách ẩn dụ bằng biểu tượng cho văn chương thêm đa nghĩa, và cũng không có ít nhà văn không chút thờ ơ trước luồng gió đổi mới từ trong nước, đang cố gắng thoát ra khỏi những mặc cảm quá khứ , chủ động lên tiếng hợp lưuđể cùng với ḍng văn học đổi mới từ trong nước hợp chung thành một ḍng văn học Việt có trong, có ngoài trong sự cảm thông giữa những người cầm bút (Văn Học, số 184, thán tiếng ?hợp lưu?để
Trước khi sang Mỹ, Hoàng Ngọc Hiến đă thận trọng dùng quyền lực của Đảng và nhà nước, dạy các thế hệ cầm bút phải viết những ǵ và viết như thế nào để duy tŕ nền tảng triết học duy vật và thực hiện lời dạy của "Hồ Chủ Tịch". Ông Hiến đă xuất bản cuốn sách nhan đề : "VĂN HỌC VÀ HỌC VĂN" dày 277 trang, do nhà xuất bản Văn Học Hà nội phát hành năm 1999, liền trước khi sang Mỹ để nghiên cứu về nền văn học hải ngoại. Ra hải ngoại th́ hai học giả "c̣ mồi" này lại lớn tiếng kêu gọi hải ngoại ḥa hợp với nền văn học đổi mới ở trong nước. Học giả Cộng sản cũng không thoát khỏi bản chất lừa bịp của chế độ. Ba đoạn trích sau đây chứng minh 2 học giả này là ai và họ đă lừa bịp trắng trợn như thế nà thực
1. Cứ như Hồ chủ tịch tŕnh bày về mục đích viết của ḿnh th́ mục tiêu của người nghệ sĩ cách mạng trước hết phải hướng về sự cải tạo cách mạng xă hội, mục tiêu đó phải trở thành nguyện vọng thiết tha, ham muốn tột bậc của người nghệ sĩ (Văn Học và Học Vănh nguyện vọng thiết
2. Văn học là sự phản ảnh thực tế. T́m hiểu quan điểm tiếp cận thực tế của Hồ chủ tịch có thể giúp chúng ta hiểu rơ hơn quan điểm tiếp cận văn học của người. (Văn Học và Học Văn, trang 11)
3. Văn học xă hội lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở triết học (Văn Học và Học Văn, trang 13)
Như vậy mà Kevin đă trả lời phỏng vấn của báo The Boston Globe ngày 26-10-2000, rằng nếu họ [Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi] là những học giả trực tiếp với đường lối của đảng, th́ Kevin đă không mời họ. Như vậy Kevin không hiểu ǵ về Hoàng Ngọc Hiến hay là Kevin cố t́nh lường gạt dư luận? Thái độ của WJC/UMB đối với việc thực hiện chương tŕnh nghiên cứu về cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản như thế nào, chọn ai để viết chương tŕnh này, đă bộc lộ rơ ràng trong đoạn trích dưới đây. trong toàn bộ tập "Grant Proposal", không hề có một chữ nào nói tới việc dự tính mời các nhà văn và n bộ tập “Grant
"Trong suốt ba năm[của chương tŕnh Rockefeller] chúng tôi chủ trương kết hợp càng nhiều càng tốt, các chương tŕnh đang thực hiện với các nhà văn và các học giă từ Việt Nam tới với chương tŕnh Rockefeller và t́m kiếm các phương tiện thích hợp để xuất bản và phổ biến những bài viết, những phản ảnh của các học giả này trên báo chí, và các phương tiện điện tử ở khắp nơ“" Trong suốt ba năm[của chương tŕnh
Một hành động rất "ngộ nghĩnh" là trong tập "UMass Boston Program Plan" WJC/UMB mời Ngụy Ngữ từ Hà nội sang Mỹ và giới thiệu Ngụy Ngữ là tiêu biểu của QLVNCH. Trên thực tế th́ Ngụy Ngữ là một chuẩn úy thuộc QLVNCH đă đào ngũ theo Cộng sản và đang phục vụ trong guồng máy tuyên truyền của Hà nội. Khi WJC/UMB mời đại tá Lê Lựu, một nhà văn "lỗi lạc" (nguyên văn) của quân đội Cộng sản sang Mỹ, và WJC/UMB muốn có một nhà văn của QLVNCH cùng hiện diện với Lê Lựu nên đă gắn danh hiệu QLVNCH cho Ngụy Ngữ, để cùng hiện diện với Lê Lựu cho có đủ màu sắc của cả hai miền Nam và Bắc. Đoạn trích dưới đây vạch rơ thái độ rất "hài hưộng" rất ?ngộ
Trung tâm (WJC) đă bảo trợ cho việc trao đổi các nhà văn, nghệ sĩ, học giả và giáo giới của Việt Nam và Hoa Kỳ từ năm 1987, khi đó c̣n ít cơ quan lưu tâm tới Việt Nam - với cuộc thăm viếng lịch sử của Lê Lựu, [nhà văn quân đội Cộng sản cấp đại tá] và Ngụy Ngữ [chuẩn úy QLVNCH, dào ngũ theo CS] , hai nhà văn quân đội lỗi lạc của miền Bắc và miền Nam, thuộc Quân Đội Nhân Dân và Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa... (UMass Boston Program Plan, p. 7)
Đây rơ ràng là WJC/UMB đang làm tṛ "qủy thuật" chứ không phải là nghiên cứu đại học (Academic research)! Tại sao WJC/UMB không mời một nhà văn quân đội thực sự là quân nhân thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, đang sống tại Hoa Kỳ và đang kêu gọi WJC cho giới viết văn hải ngoại được tham gia hội luận quốc tế hàng năm do WJC tổ chức với tư cách là hậu qủa chiến tranh Viet Nam, v́ WJC/UMB chỉ mời có CSVN mà thôi. Một mặt, WJC làm ngơ trước lời kêu gọi của giới viết văn hải ngoại thuộc QLVNCH, mặt khác WJC đem Cộng sản từ Hà nội qua và giới thiệu là nhà văn quân đội thuộc QLVNCH! Thật không c̣n có một tṛ lừa bịp nào trắng trợn hơn hành động nà ?qủy thuật? chứ
C̣n một vấn đề quan trọng trong chương tŕnh này chưa được nêu ra, nhưng v́ khuôn khổ của một bài viết trong tạp chí không thể dài hơn được nửa. Nghiên cứu về việc làm của WJC/UMB mà chưa xét tới phần "Tiểu Luận về Khái niệm về chương tŕnh Học Bổng Nhân Văn của Rockefeller Foundation" của WJC/UMB th́ chưa thấy được nền tảng triết lư của chương tŕnh này như thế nào. Do đó chưa thấy được những âm mưu đen tối của WJC/UMB khi dự trù xin ngân khoản để thực hiện chương tŕnh nghiên cứu này nhằm mục đích xóa sạch tội ác chánh trị của Việt cộng trước sự phán xét của lịch sử.
MẶT TRÁI CỦA CHƯƠNG TR̀NH NGHIÊN CỨU NHÂN VĂN ROCKEFELLER
Rockefeller Foundation tài trợ $250,000 cho UMass Boston để thực hiện một chương tŕnh nghiên cứu mang tên: "Tái Xây Dựng Đặc Trưng và Nơi Cư Trú của Người Việt Tỵ Nạn Trên Khắp Thế Giới". Chương tŕnh kéo dài 3 năm và năm thứ nhất sẽ đặt nền tảng cho sự triển khai của 2 năm c̣n lại. (UMass Boston Program Plan, trang 2) v́ vậy năm thứ nhất có tầm quan trọng trọng hơn và có ư nghĩa quyết định cho toàn bộ chương tŕnh, và đă được thực hiện xong bởi 2 học giả của đảng CS là Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi. Hiến nguyên là giám đốc trường dạy viết văn Nguyễn Du Hà nội. Khác với chúng ta ở đây, những nhà văn có uy tín ở Việt Nam phải là những người xuất thân ở trường này v́ đây là trường Đảng. Nguyễn Huệ Chi là chủ nhiệm Ban nghiên cứu và lư luận văn học của Viện Văn Học Việt Nam tại Hà nội. Tiến sĩ Kevin Bowen khẳng định rằng chỉ có một ḿnh Hiến là đảng viên thôi. Chúng ta không thể nào thẩm tra được lời nói này. Tuy nhiên, đây là một kinh nghiệm về thủ đoạn của Việt Cộng. Trước đây, tại hội nghị Paris năm 1972, khi báo chí Pháp hỏi bà Nguyễn Thị B́nh về Đảng Tịch, hay nói nôm na là bà có phải là đảng viên đảng CS không, th́ bà B́nh thề sống thề chết rằng bà không phải là đảng viên, và bà c̣n đưa ra nhiều lư luận để đảm bảo lời đă nói. Nhưng mới đây, khoảng hai, ba năm trước, báo chí ở trong nước và cả các hệ thống thông tin khác cũng đều loan báo là bà Nguyễn Thị B́nh đă được trao tặng huy chương cao nhất nhân dịp kỷ niệm 40 năm tuổi đảng của bà. Nguyễn Huệ Chi ngồi ở ghế CHỦ NHIỆM ỦY BAN NGHIÊN CỨU VÀ LƯ LUẬN VĂN HỌC là vị trí chủ chốt của guồng máy khống chế tư tưởng của cả nước mà lại không phải là đảng viên th́ thật là buồn cư:
Đem 2 viên chức cao cấp trong guồng máy tuyên truyền của nhà nước CS Việt Nam sang Mỹ để MÔ TẢ người Việt tỵ nạn CS là một nghịch lư chưa từng thấy trong lịch sử văn học của thế giới. Bản thông cáo báo chí của WJC/UMass Boston đề ngày 15-4-2000 đă xác định:
"Ông Hoàng Ngọc Hiến sẽ nghiên cứu về văn phong, chủ đề, các nguồn viết văn hải ngoại với sự chú trọng đặc biệt vào ḷng yêu nước và sự gắn bó với tổ quốc [Việt Nam] của ngư“Ông Hoàng Ngọc Hiến sẽ nghiên cứu về văn phong,"
Đă hơn một năm qua, đồng bào ta đă liên tục đấu tranh để bảo vệ phẩm giá của cộng đồng người Việt tỵ nạn. Chúng ta cương quyết không cho WJC/UMass Boston thực hiện mưu đồ đen tối của họ. Tài liệu do UMass Boston viết để xin ngân khoản của Rockefeller Foundation cho thấy rằng Hà Nội đă trực tiếp chi phối chương tŕnh nghiên cứu này từ khi c̣n trong trứng nước. Đoạn trích sau đây nói rơ vấn đề này:
Mới đây các học giả ở Việt Nam cũng bắt đầu chú ư tới cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Ngoài việc đánh giá tiềm lực kinh tế trong nước - do bởi ưu tiên tối hậu dành cho việc tái thiết đất nước bị chiến tranh tàn phá, và v́ lập trường chống đối chính phủ một cách gay gắt của nhiều người tỵ nạn sống trong cộng đồng hải ngoại. Nhưng t́nh h́nh đang thay đổi... (Re-constructing identity and Place in the Vietnamese diaspora, p.4)
Bọn CS Hà nội nhận định rằng tinh thần chống Cộng của đồng bào hải ngoại đang thay đổi có lợi cho bọn chúng, nên chúng đă cấu kết với WJC/UMass Boston để dựng lên cái gọi là H̉A HỢP giữa người tỵ nạn CS với CS Hà nội. Đoạn trích sau đây để lộ âm mưu của chúng:
...đồng thời cũng nối những nhịp cầu nhận thức và tập quán với ngành Việtnam Học [của UMass Boston]nhằm thiếp lập những hinh thức linh hoạt để giải thích những thực tế phức tạp trong nhiều mối quan hệ t́nh cảm của người Việt lưu vong và tạo ra những khả năng ḥa hợp không những giữa người Việt lưu vong và tổ quốc của họ, mà c̣n .... (Re-Constructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora, trang 4).
Tập tài liệu xin ngân khoản được viết bởi một nhóm tiến sĩ của trường UMass Boston, nhưng thật t́nh không ai có thể hiểu tại sao họ lại có thể nặn ra một kế hoạch để phản lại sự hiểu biết căn bản và tối thiểu về việc nghiên cứu văn học. Những ai đă từng biết sơ qua về việc nghiên cứu đều hiểu rằng: Nghiên cứu là t́m ra sự thật nhằm trả lời câu hỏi được đặt ra cho chương tŕnh nghiên cứu. Ở đây câu hỏi là: "ĐẶC TRƯNG CỦA NGƯỜI TỴ NẠN". Nhưng UMass Boston KHÔNG TRẢ LỜI CÂU HỎI MÀ LẠI "TẠO RA NHỮNG KHẢ NĂNG H̉A HỢP", một khi đă cố tạo ra một cái ǵ đó trong quá tŕnh nghiên cứu th́ chương tŕnh này không c̣n mang tính chất nghiên cứu nữa. Đây hiển nhiên là UMass Boston đang âm mưu thực hiện một kế hoạch H̉A HỢP của Cộng sản Hà ?ĐẶC
Mở một chương tŕnh nghiên cứu về cộng đồng tỵ nạn Cộng sản, UMass Boston chỉ nói tới việc mời các học giả CS từ VN, mà không có một lời nào về học giả tỵ nạn CS. Như vậy làm sao chương tŕnh này có thể phản ảnh trung thực về đời sống của cộng đồng người Việt tỵ nạn? Đoạn trích sau đây để lộ âm mưu của UMass Boston:
"Trong suốt ba năm [ của chương tŕnh Rockefeller nghiên cứu về người Việt lưu vong], chúng tôi chủ trương kết hợp càng nhiều càng tốt, các chương tŕnh đang thực hiện với các nhà văn và các học giả từ Việt Nam tới với chương tŕnh Rockefeller và t́m kiếm các phương tiện thích hợp để xuất bản và phổ biến những bài viết, những phản ảnh của các học giả này trên báo chí, và các phương tiện điện tử ở khắp nơ“Trong" suốt ba năm [ của chương
Khi nguồn tin về vụ WJC được phát giác, các tổ chức Cộng Đồng tại khắp nơi, các đoàn thể và rất nhiều cá nhân, trong đó có nhiều người Mỹ đă gửi kháng thư ồ ạt về Rockefeller Foundation (nơi cung cấp tiền cho chương tŕnh nghiên cứu này), viện trưởng viện đại học UMass Boston và WJC.
Trong giai đoạn này có 2 sự kiện đáng chú ư là:
1/ Cuộc họp giữa phái đoàn đại biểu của Cộng Đồng Việt Nam tại Massachusetts và WJC vào ngày 14-8-2000 nhằm đề nghị WJC phổ biến chương tŕnh của họ để các
học giả, nhà văn Việt Nam tại Hoa Kỳ và các nơi khác trên thế giới có thể tham dự, v́ chương tŕnh nghiên cứu về cộng đồng người Việt tỵ nạn CS mà lại đem Cộng sản từ Việt Nam qua để viết th́ không thể chấp nhận được. Nhưng cuộc họp đă thất bại v́ thái độ ngoan cố và ngạo mạn của WJC/UMass Boston.
2/ CĐVN tại Massachusetts đă tổ chức một cuộc biểu t́nh vào ngày 26-10-2000 gồm khoảng 300 đồng bào tham dự. Báo chí Mỹ, đài truyền h́nh Boston, và Fox News đă loan tin này. Nhưng chẳng những WJC tiếp tục làm ngơ mà c̣n cho một người VN mang danh nghĩa tỵ nạn và đang làm việc cho WJC viết những bài biện bạch đưa lên mạng lưới với những lời lẽ láo xược.
Trước t́nh cảnh quá đáng đó, một nhóm gồm 12 người là các ông:
1. Ông Bùi Diễm, nguyên Đại sứ Việt Nam Cộng Ḥa tại Hoa Kỳ trước 1975
2. Ông Nguyễn Tú, kư giả đă từng viết cho tờ Chính Luận tại Saigon
3. Cô Theresa Vương Ư Như, Tiến sĩ, Giáo sư Đại học tại Philadelphia
4. Ông Nguyễn Đạt Thịnh, nhà văn quân đội, nguyên Trung tá QLVNCH
5. Ông Lê Phước Sang, Tiến sĩ, nguyên Thượng Nghị Sĩ và Viện Trưởng Viện Đại Học Ḥa Hảo tại An Giang
6. Ông Nguyễn Tường Bá, Luật Sư, nguyên Tổng thư Kư Luật Sư Đoàn của VNCH trước 1975
7. Ông Trần Minh Xuân, nguyên giáo sư Đại học tại Việt Nam
8. Nhà văn Phan Nhật Nam, nguyên sĩ quan thuộc binh chủng nhảy dù
9. Ông Lê Thanh Quang, chủ nhiệm nhật báo Thời Mới tại Philadelphia
10. Ông Nguyễn Thanh Liêm, tiến sĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục
và Thanh Niên.
11. Ông Nguyễn Văn Chức, nguyên Luật sư Ṭa Thương Thẩm Saigon, nguyên Chủ tịch Ủy Ban Tư Pháp Định chế Thượng Viện VNCH, nguyên Tổng Thư Kư Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ
12. Ông Nguyễn Hữu Luyện, nguyên là sinh viên Cao Học tại UMass Boston đă đứng đơn dùng tố quyền tập thể (class action) để khởi tố WJC/UMass Boston, và tới nay th́ đơn khởi tố đă lên tới ṭa Thượng thẩm của tiểu bang Massachusetts.
Khi Cộng Sản kêu gọi ḥa hợp là lúc chúng đang muốn cho người quốc gia đút đầu vào cái tḥng lọng của chúng. Cộng sản Hà Nội đang âm mưu tạo ra một h́nh thức H̉A HỢP VĂN HỌC để hậu thế nghĩ rằng không có vấn đề tỵ nạn Cộng sản ở thế kỷ 20, để rửa sạch tội ác của chúng trước sự phán xét của lịch sử. Trước 1975, Việt cộng kêu gọi H̉A HỢP DÂN TỘC để làm suy yếu tinh thần chống cộng của người dân miền Nam. Nhưng sau 1975, chính những người đă buông súng để mong H̉A HỢP đă bị Cộng sản đưa vào nhà tù từ 10 tới 20 năm.
Chính Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi đang đóng vai tṛ HAI MẶT TRÁI NGƯỢC NHAU. Ở trong nước th́ hai người này dùng quyền lực của Đảng và nhà nước để thúc ép giới việt văn duy tŕ triết lư DUY VẬT BIỆN CHỨNG, và viết theo lời dạy của "Hồ chủ tịch". Nhưng khi ra hải ngoại th́ rêu rao về cái gọi là nền văn học đổi mới, và kêu gọi nền văn học của người Việt tỵ nạn CS H̉A HỢP với cái gọi là văn học dân tộc của chúng. Một khi đă ḥa hợp với bọn CS Hà nội rồi th́ c̣n đâu là tư cách tỵ nạn CS của đồng bào ta nữa? Như vậy chúng ta lấy ǵ để giải thích cho con cháu chúng ta hiểu v́ sao chúng lại sinh ra trên mảnh đất này? Lấy ǵ để giải thích về nguyên nhân của sự ra đi trong muôn ngàn đau đớn, hiểm nghèo và thống khổ của 3 triệu người Việt sau năiết theo
Cộng đồng người Việt tỵ nạn CS cương quyết ngăn chặn bàn tay tội ác của WJC/UMass Boston bởi v́ ḥa hợp với CS Hà nội có nghĩa là phản bội hơn nửa triệu sinh linh đă chết trên biển cả, phản bội hàng chục ngàn thường dân đă chết trong cuộc thảm sát tết Mậu thân, và các cuộc thảm sát trên nh́n từ điểm đầu thế kỷ XXI (3-34) của Nguyễn Huệ Chi. Đoạn trích sau đây cho thấy Nguyễn Huệ Chi đă thủ vai tṛ như WJC/UMass Boston đă nêu lên trong UMass Boston Plan là tạo khả năng H̉A HỢP giữa văn học quốc nội và văn học hải ngoại như thế nàầu
...th́ đông đảo các nhà văn trẻ - mà số lượng nữ khá vượt trội - lại mải mê ghi lại vô vàn cảnh ngộ lư thú, nực cười của cuộc mưu sinh tất bật nơi quê hương mới, nhiều nhà văn trẻ khác dồn năng lực t́m ṭi cách viết mới, cách đặt câu xếp chữ tân kỳ, cách ẩn dụ bằng biểu tượng cho văn chương thêm đa nghĩa, và cũng không có ít nhà văn không chút thờ ơ trước luồng gió đổi mới từ trong nước, đang cố gắng thoát ra khỏi những mặc cảm quá khứ , chủ động lên tiếng "hợp lưu" để cùng với ḍng văn học đổi mới từ trong nước "hợp chung thành một ḍng văn học Việt có trong, có ngoài trong sự cảm thông giữa những người cầm bút" (Văn tiếng ?hợp lưu? để cùng
TÓM LƯỢC VỤ KIỆN WJC/UMASS BOSTON
Thủ tục "hành chánh" của vụ án WJC/UMass Boston đă xong, có nghĩa là MCAD đă kết thúc giai đoạn điều tra. MCAD (Massachusetts Commission Against Discrimination) là chữ viết tắt của HỘI ĐỒNG BÀI TRỪ KỲ THỊ của tiểu bang Massachusetts. HỘI ĐỒNG XÁC NHẬN KHÔNG CÓ VẤN ĐỀ KỲ THỊ trong vụ án này. Tuy gọi là điều tra, nhưng sự thật thThủ hội đồng chỉ căn cứ vào lời khai của hai bên nguyên và bị để ra quyết định mà không hề điều tra để xác định xem lời khai là thực hay gian. Chúng ta đă có đủ chứng cớ về lời khai gian của WJC/ UMass Boston. Theo luật th́ chỉ sau khi Hội Đồng tuyên bố quyết định, th́ bên nguyên đơn mới được phép đệ đơn khởi tố vào ṭa án. Luật sư Keane nói rằng quyết định của MCAD hoàn toàn không ảnh hưởng ǵ tới sự xét xử của ṭa án. Nhưng theo thủ tục tố tụng, th́ những vụ án nào liên quan tới vấn đề kỳ thị th́ phải qua Hội Đồng này.
Ngày 28-09-2001, Luật sư James P. Keane & Alice J. Klein đă đưa vụ án này ra trước Ṭa Thượng Thẩm (Superior Court) của tiểu bang Massachusetts. Đồng thời cũng đệ đơn lên Ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp của tiểu bang Massachusetts để xin mở cuộc điều tra về hành động vi phạm luật pháp của WJC/ UMass Boston. Nội dung đơn xin mở cuộc điều tra như sau:
Đầu năm 2000, WJC/UMass Boston bổ nhiệm hai người Cộng sản vào chương tŕnh nghiên cứu do Rockefeller Foundation tài trợ. Sự bổ nhiệm n ày là một vi phạm rơ ràng vào Luật của tiểu bang Massachusetts, chương 264, đoạn 20. Đính kèm đây là một bài của báo Far Eastern Economic Review, số ra ngày 30 tháng 9, 2000, trong đó Kevin Bowen, Giám đốc WJC nh́n nhận rằng một trong 2 người đă bổ nhiệm là đảng viên đảng Cộng sản. Bộ luật của tiểu bang Massachusetts đă xác định rơ ràng rằng đảng Cộng sản đă được công bố là một tổ chức có tính cách lật đổ và gây bạo loạn, do đó cấm gia nhập đảng (membership prohibited) và cấm thuê mướn các đảng viên (appointment to employment prohibited) chiếu th eo bộ luật M.G.L. a. ch. 264, sec.16 A, 17, 19 et al.
Trong đơn xin điều tra về hành vi phạm pháp của WJC/UMass Boston, Luật sư Keane có đưa ra một bằng chứng về tư cách đảng viên đảng Cộng sản của Hoàng Ngọc Hiến. Bằng chứng này là 3 đoạn trích dẫn lấy từ cuốn sách VĂN HỌC VÀ HỌC VĂN của Hoàng Ngọc Hiến, xuất bản năm 1999, ngay trước khi ông được WJC/UMass Boston mời sang Mỹ để viết về cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản. Ông Hiến nguyên là Giám Đốc trường dạy viết văn Nguyễn Du ở Hà Nội. Đó là trường của Đảng.
Về phía các luật sư của chúng ta th́ tôi nhận thấy rơ là từ sau ngày Đại Hội Yểm Trợ Vụ Kiện WJC/UMass Boston, vào ngày 26-8-2001 tại Boston, cả 3 Luật sư đang phụ trách vụ án này đều tỏ ra rất phấn khởi. Trong cuộc họp báo tại văn pḥng của Luật sư Keane, các báo chí, truyền h́nh và radio từ các tiểu bang về đông đến nỗi chỉ có một nửa đứng trong pḥng họp, c̣n một nửa phải đứng ngoài, và có cả tờ The Boston Globe là tờ báo lớn nhất của tiểu bang Massachusetts cũng tới dự. Sau buổi họp báo đó th́ văn pḥng này mới thấy rơ là họ đang biện hộ cho cả 3 triệu người tỵ nạn.
Khi chuyển vụ án này ra ṭa Thượng thẩm, tôi có nói với luật sư Keane rằng nếu ông thấy cần thiết, ông hăy mời những luật sư nào nổi tiếng nhất nước Mỹ để phụ giúp ông. Chúng tôi có 3 triệu người tỵ nạn CS, không một ai trong chúng tôi lại có thể ngồi yên để cho bọn CS mượn tay một trường đại học lớn, mượn danh nghĩa một Foundation để dùng công tŕnh nghiên cứu có tầm cỡ quốc tế này để làm nhục chúng tôi. Chúng tôi không thể để con cháu chúng tôi nh́n h́nh ảnh của cha ông chúng qua những nét bút của bọn Việt cộng. Ba triệu người tỵ nạn cộng sản, mỗi người chỉ bỏ ra $1 là chúng tôi có thừa tiền để đưa vụ kiện này tới bất cứ nơi nào, bất cứ cấp nào v́ tuy gặp khó khăn v́ thế lực của trường UMass Boston rất mạnh tại tiểu bang Massachusetts, nhưng chúng tôi cũng vẫn tin tưởng vào luật pháp Hoa kỳ. Luật sư Keane trả lời tôi rằng ông không cần bất cứ một ai khác.
Khi tôi hỏi về thời gian chờ đợi xét xử, th́ Luật sư Keane cho biết trong ṿng một năm. Tôi nhấn mạnh (insist) rằng thời gian là một yếu tố hoàn toàn bất lợi cho cộng đồng người Việt. Chúng tôi đă bị gh́m ở trong Hội Đồng bài trừ kỳ thị mất một năm rồi. C̣n 2 năm nửa, nếu chương tŕnh nghiên cứu của UMass Boston làm xong, và khi họ đă công bố và cho xuất bản rồi th́ dù có án lệnh của ṭa án cũng không thâu hồi lại được. Như vậy trong lúc chờ đợi xét xử, chúng ta có đủ bằng chứng về sự gian lận và phạm pháp của trường UMass Boston rồi th́ có thể xin án lệnh đ́nh chỉ việc nghiên cứu để chờ phán quyết của ṭa án được không?
Luật sư Keane trả lời rằng chỉ khi nào ra trước ṭa, sau khi đă tŕnh bày rơ mọi vấn đề th́ mới xin ṭa đ́nh chỉ chương tŕnh để đợi án lệnh th́ mới được. Chưa có phiên xử th́ không thể làm ǵ được hết. Tôi nhấn mạnh vào thời gian chờ xét xử để nhờ Luật sư Keane SPEED UP ngày xử bằng tất cả những biện pháp chuyên môn mà ông có thể làm được. Luật sư Keane hứa sẽ thúc đẩy việc xét xử trong ṿng 6 tháng, và khuyên tôi không nên nóng nảy quá, để ông ấy lo, và nhờ tôi nói lại với đồng bào là ông ấy rất thông cảm với cộng đồng người Việt v́ ngày xưa ông ấy đă sang Việt Nam chiến đấu rồi..